Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:10:40 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bay đến Hà Nội và thoát về  (Đọc 93190 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #40 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 01:14:23 pm »

Thậm chí sau bầu cử, Johnson không trả đũa khi mà ngày 24-12-1964, khi một ô tô mang bom làm nổ khách sạn Brinks (Sài gòn) giết hai sĩ quan Mỹ và làm bị thương hơn 50 người. Tuy thế, trước đó ông nói với các cố vấn của mình rằng nếu ông quyết định ném bom Bắc Việt nam, ông không cho phép ném bom mạnh bao gồm B-52 xuống 94 mục tiêu ở Bắc Việt Nam. Chiến dịch leo thang Sấm Rền rốt cuộc nổ ra đầu tháng 2-1965, khi hơn 30 quân nhân Mỹ chết trong cuộc tấn công của cộng sản vào các kho tàng quân sự tại Pleiku và Qui Nhơn.
Những chiến dịch Sấm Rền ném bom yếu ởt ngăn cản Bắc Việt tiếp tục can thiệp tại Nam Việt nam, nhưng họ đã gửi các đơn vị bộ binh Mỹ tới chiến đấu ở đó. Chẳng bao lâu sau sự có mặt của người Mỹ bị giới hạn ở 20 nghìn “cố vấn” quân sự (bao gồm “cố vấn” không quân bay trong các phi vụ chiến đấu tại Nam Việt nam). Bắt đầu gửi hai tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến để bảo vệ sân bay Mỹ tại Đà Nẵng, Johnson tăng cường sức mạnh quân sự của Mỹ ở Nam Việt nam đến 70-75 nghìn trước tháng 7-1965, khi ông tuyên bố rằng ông sẽ đưa 50 nghìn nữa và quyết định thêm 50 nghìn. Trong ba năm ông đã đưa sang nửa triệu lính Mỹ sang Việt nam, kết hợp với hơn nửa triệu lính Nam Việt nam.
Một vài ngày trước khi bắt đầu Sấm Rền, đa số những người ủng hộ nồng nhiệt ném bom mạnh Bắc Việt nam ở không quân đã phải về hưu. Mặc dù tướng Curtis E. LeMay là tướng 4 sao suốt thời gian kỷ lục 13 năm và vẫn còn khoẻ mạnh ở tuổi 58. Ông là tấm gương chính trong chiến tranh thế giới thứ hai, khi chỉ huy những máy bay ném bom B-17 trên bầu trời Đức và B-29 ném bom các thành phố Nhật bản, LeMay nổi tiếng trong việc xây dựng Bộ tư lệnh không quân chiến lược sau chiến tranh, nhưng ông không mấy thành công tại chức vụ Tham mưu trưởng không quân ở Washington, nơi mà những quan điểm của ông dường như được coi là ấu trĩ trong con mắt của những giáo sư trẻ quanh tổng thống John F. Kennedy.
Trẻ hơn LeMay 10 tuổi, Bộ trưởng quốc phòng Robert S. McNamara mang đến Lầu Năm Góc một đội gồm toàn những người trẻ. Trong thời gian chiến tranh ở chiến trường Trung Quốc-Miến Điện-Ấn Độ và ở Thái Bình Dương, trung tá McNamara, đã ngưỡng mộ hào quang chiến thuật của tướng LeMay. Nhưng khi là Bộ trưởng quốc phòng, McNamara cùng các tướng lĩnh mới và đám người trẻ hãnh tiến của ông coi thường LeMay.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #41 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 01:15:35 pm »

Quan điểm của McNamara hình như ít bạo lực hơn. Sau khi Kennedy bị ám sát tháng 11-1963, hy vọng của LeMay về sự được chính quyền Johnson đối xử tốt hơn đã tiêu tan khi tổng thống Johnson giữ lại McNamara và những cố vấn của Kennedy.
Uy tín LeMay đối với các nhà lập pháp có uy tín như thượng nghị sỹ Symington từng làm việc cho cả hai tổng thống Kennedy và Johnson lo ngại trước việc thay thế viên tham mưu trưởng quyền thế này. Nhưng khi thời hạn hai năm đầu của LeMay đã qua vào tháng 6-1963, Kennedy gia hạn cho LeMay chỉ một năm. Johnson chọn gia hạn cho ông ta hơn là muốn đụng phải sự giận dữ của những người bạn của LeMay trong năm bầu cử. Thay vì chấp thuận cho LeMay đủ một năm, Johnson bắt phải LeMay phải về hưu ngày 1-2-1965, sau 35 năm phục vụ. LeMay không về hưu một cách im lặng. Khi một phóng viên hỏi ông ta nghĩ gì về Washington, LeMay cằn nhằn rằng cái đó làm cho ông phát ốm. Ông ta viết cuốn hồi ký bao gồm một đoạn nói về Bắc Việt nam: “Giải pháp của tôi là nói với họ một cách thẳng thừng rằng họ phải rút quân về và ngừng ngay việc xâm lược, hoặc chúng ta sẽ ném bom đưa họ về thời kỳ đồ đá”.
Sự nhận xét của LeMay chưa hề làm ông ta quên một câu mà lẽ ra ông phải tiếc nuối:
“Việc làm cho tôi nổi danh là do một số người, muốn giải quyết mọi vấn đề bằng ném bom họ dữ dội. Đó không phải là ý tưởng của tôi về cách giải quyết mọi vấn đề”.
LeMay là người tiệm lời. Những câu chuyện về tính lầm lỳ, hăm doạ của ông nhiều vô kể, nhưng khi ông bỏ điếu thuốc để nói, thì ông thường lắp bắp buông ra những cốt lõi tình hình theo quan điểm của ông. Ông khuyên Washington nên từ bỏ những “chuyến bay đập ruồi” ở Nam Việt nam và đi tìm “một đống phân” ở Bắc Việt nam. Vị tướng từng ném bom Tokyo đã không đề xuất san bằng Hà nội. LeMay sẵn sàng sử dụng B-52 đánh phá 94 mục tiêu được phê chuẩn của các tham mưu trưởng liên quân, nhưng lại không sẵn sàng để ném bom toàn bộ vùng đông dân cư. Nếu ném bom những mục tiêu ban đầu chưa tương xứng, thì lại tăng thêm. LeMay công khai phản đối quyết định dùng vũ khí hạt nhân ném bom Bắc Việt nam.
Nguyên tắc của ông là đòn hạt nhân có giá trị huỷ diệt mạnh, thậm chí Hoa Kỳ không có ý định dùng vũ khí hạt nhân. Ngay từ đầu năm 1954, khi Mỹ viện trợ giúp chống cộng sản, LeMay đã gợi ý với một nhóm sĩ quan Mỹ: “Trong món bài “poker” như Triều Tiên và Đông Dương, chúng tôi chưa bao giờ tăng tiền tố - chúng ta luôn gọi cá độ. Đôi khi chúng ta phải cố gắng tăng tiền tố”. Nhưng ông cũng nói với nhóm này rằng ông phản đối tiếp tục chiến tranh ở Đông Dương.
Ở thập kỷ 1950, chủ nghĩa chống Cộng của LeMay tập trung vào Liên Xô. Ông ít tập trung vào Trung Quốc - nước dẫn dắt cộng sản Việt nam. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, khi là tư lệnh máy bay B-29 ở Trung Quốc, LeMay đã thuyết phục Mao Trạch Đông và những người cộng sản Trung Quốc cung cấp những số liệu thời tiết và giúp đỡ trong việc cứu những phi công Mỹ bị bắn rơi. Một Tư lệnh không quân khác ở nam ở Trung Quốc, tướng Chennault, cũng có sự hợp tác với Hồ Chí Minh - người lãnh đạo cộng sản Việt nam. Chỉ vào thập kỷ 1960 LeMay mới ủng hộ vai trò lớn lao của Mỹ ở Việt nam (và chỉ bằng không lực và chỉ nếu Hoa Kỳ đồng ý làm một cái gì đó cần thiết để kết thúc chiến tranh nhanh chóng).
LeMay biện luận rằng sự theo đuổi mãnh liệt chiến tranh có thể cứu được nhiều sinh mạng của cả hai bên khi kết thúc chiến tranh sớm hơn. Chính sách leo thang có thể làm mất chiến tranh trong khi phải trả giá nhiều sinh mạng. Nhưng tổng thống Johnson lo ngại rằng cách tiến hành chiến tranh của LeMay có nghĩa là một cuộc chiến tranh lớn với Trung Quốc, thậm chí với cả Liên Xô, chưa tính đến dư luận đối với Lyndon Johnson. Tổng thống hy vọng tiếp tục chiến tranh ở Đông Nam Á tránh xa báo chí chừng nào hay chừng đó. Là người nhiều năm người cầm đầu đa số nghị sĩ giúp Lyndon Johnson vượt qua chương trình quốc nội tốn kém nhất kể từ thời “Chính sách mới” của Franklin Roosevelt, và Johnson xác định rằng tiếp tục chiến tranh Việt nam làm hỏng chương trình “xã hội vĩ đại”. Một mặt, ông không muốn bị buộc tội làm mất Việt nam vào tay chủ nghĩa cộng sản như tổng thống Truman bị nguyền rủa vì để mất Trung Quốc. Trong khung cảnh suy nghĩ này, Johnson thay LeMay bằng một viên tướng có nhiều điểm tương với mình.
Bảy năm trước khi chọn “J. P”. McConnell làm Tham mưu trưởng không quân, Johnson đã mời vị tướng tới trang trại của thượng nghị sỹ LBJ ở Austin (miền tây Texas). Sau này McConnell là sếp của kế hoạch LeMay tại Bộ tư lệnh không quân chiến lược và đã tuyên thệ trước Johnson một vài lần.
Johnson dùng ngày nghỉ cuối tuần dẫn McConnell thăm trang trại, và làm quen với trang trại láng giềng, thậm chí tự tay chuẩn bị cho ông ăn sáng trong khi nghe kể về Bộ tư lệnh không quân chiến lược. Đây là cách trình diễn của Johnson, làm cho McConnell có ấn tượng rằng họ đã có quan hệ cá nhân, dù rằng họ chưa từng gặp riêng nhau cho mãi đến 1964 khi McConnell là tư lệnh không quân Mỹ ở châu Âu và Johnson muốn ông thay thế LeMay. Mùa hè ấy McConnell trở thành Phó tham mưu trưởng và nghĩ rằng mình phải trở thành Tham mưu trưởng sau sáu tháng.
Sinh ra cùng năm với tổng thống Johnson (1908) trong một thị trấn nhỏ ở Arkansas, McConnell chẳng khó khăn gì song hành cùng Johnson. Cả hai người kết hợp tính cởi mở của người miền nam với suy nghĩ thực tế. McConnell học tại Học viện quân sự Mỹ ở West Point và tham gia không quân. Sau khi làm việc tại tham mưu Bộ tư lệnh Đông Nam Á dưới quyền của đô đốc Lord Louis Mountbatten (hải quân Anh) trong chiến tranh thế giới thứ hai, McConnell tới Trung Quốc làm cố vấn không quân cho Tưởng Giới Thạch sau chiến tranh. Trong suốt công việc của mình, ông chỉ là một sĩ quan tham mưu dễ thương có nụ cười thuyết phục.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #42 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 01:19:09 pm »

Mặc dù không được thay LeMay làm Tham mưu trưởng, McConnell tán thành kế hoạch LeMay dùng B-52 tại Guam ném bom Bắc Việt nam. Nhưng McConnell lại không làm nổi đình đám khi ông thắng thế, và trong bất kỳ trường hợp nào ông phải bàn bạc rất vất vả. Tổng thống Johnson nghe lời khuyên về quân sự phần nhiều từ Bộ trưởng quốc phòng McNamara, người dựa vào trợ lý của mình về an ninh quốc tế John T. McNaughton (trước đó là giáo sư luật tại Harvard) hơn là vào tham mưu trưởng liên quân. Thậm chí Chủ tịch tham mưu trưởng liên quân, tướng Earle G. Wheeler cũng thường không được mời trong những cuộc họp quan trọng. Wheeler lập ra một Uỷ ban trong Tham mưu trưởng liên quân để bàn việc ném bom, và hai tháng sau khi bắt đầu chiến dịch Sấm Rền, McConnell rốt cuộc có được đại tá Henry H. Edelen làm tham mưu tình báo trong Uỷ ban.
Khởi đầu chiến dịch Sấm Rền, Johnson mời họp vào bữa ăn trưa thứ ba hằng tuần với McNamara và ngoại trưởng Dean Rusk. Nhân dịp này và những dịp khác khi cả ba người ngồi cùng nhau, McNamara thường đưa ra danh sách những mục tiêu ném bom đề nghị phối hợp với Bộ ngoại giao. McNamara cung cấp cho Johnson những ước lượng về khả năng thương vong dân thường và những rủi ro khác liên quan tới những mục tiêu chọn lựa. Johnson chấp thuận có lẽ đến một tá mục tiêu, nhưng thường ít hơn, và phải ném bom trong vòng một tuần lễ hoặc là sự phê chuẩn của Johnson sẽ được xem xét lại. Do thời tiết xấu nên bom không trúng đích, nhiều đám mây xuất hiện trong tháng 3-1965 trên bầu trời Bắc Việt Nam chắc chắn rằng không thể ném bom một số mục tiêu đã thông qua trong vòng một tuần lễ. Mãi tới tháng 9-1965 mọi mục tiêu được chấp thuận vô hạn. Năm 1966, chương trình ném bom hàng tuần được thay bằng những chương trình nhiều tuần lễ (Sấm Rền 48, 48, 50, 51, và 52) mỗi chương trình kéo dài từ một tới bốn tháng. Đến cuối năm 1966, tổng thống Johnson chấp thuận hơn hai trăm mục tiêu, nhưng ông kiên quyết không chấp thuận nhiều mục tiêu trong số 94 mục tiêu của bản danh sách ban đầu.
***
Danh sách mục tiêu ném bom Bắc Việt nam do Tham mưu trưởng liên quân đưa ra bao gồm, khởi đầu là một tá các đường xá. Thí dụ, đường sắt và quốc lộ dài 150 dặm từ Hà nội đến Vinh, mỗi một đoạn đường chia thành hai đoạn nhỏ bởi chiếc cầu tại Thanh Hoá. Mặc dù cầu Hàm Rồng là một mục tiêu riêng lẻ, những chiếc cầu nhỏ là một phần của đoạn đường được chấp thuận ném bom khi các máy bay trinh sát vũ trang tấn công những mục tiêu khi có cơ hội, thí dụ những xe tải hoặc tàu hoả cũng như những mục tiêu cố định như cầu, mà việc phá huỷ nó hoàn toàn làm cản trở dòng tiếp vận vào Nam.
Khi tổng thống Johnson chấp thuận những mục tiêu, dần từ vùng cán xoong phía nam ra phía bắc, các máy bay trinh sát vũ trang được phép ném bom đoạn đường nhỏ trừ mục tiêu đặc biệt trừ những mục tiêu theo quy tắc tổng thống (chẳng hạn, khu đông dân cư).
Các máy bay trinh sát vũ trang bò dần ra phía bắc từ mùa xuân tới mùa hè 1965. Sau khi tới 20° vĩ bắc đầu tháng tư, nó không leo tới 20°30 phút vĩ bắc cho đến tận tháng 9. Đường ranh giới ném bom đông-tây nối bởi đường bắc-nam tại 105°20 phút kinh đông cho phép máy bay trinh sát vũ trang hoạt động ở đông bắc Bắc Việt Nam (ít nhất 30 hải lý cách nam biên giới Trung Quốc).
Hai tuyến đường này gói mục tiêu 6 (“vòng cung đông bắc” gồm hai thành phố lớn Hà Nội và Hải Phòng) được trinh sát vũ trang đến mùa xuân 1966, khi đường sắt và đường bộ là mục tiêu ném bom.
Cuối tháng 7-1966, máy bay trinh sát được phép bay toàn bộ Bắc Việt Nam trừ ba vùng hạn chế:
(1) dọc biên giới Trung Quốc, vùng đệm 30 hải lý sâu về phía tây 106° và 25 hải lý sâu về phía đông ở đó;
(2) xung quanh cảng Hải Phòng, một vòng tròn với bán kính 10 hải lý;
(3) xung quanh thủ đô Hà nội, một vòng tròn với bán kính 30 hải lý. Trinh sát vũ trang được phép tại một vài gói mục tiêu bên trong vòng tròn Hà nội, bao gồm một mục tiêu cách trung tâm thành phố 12 dặm(1).
____________________
(1)Vùng hạn chế theo quy tắc được đo bằng hải lý - một hải lý dài hơn một dặm trên bộ khoảng 15%.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #43 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 01:20:31 pm »

Trên thực tế, phòng không xung quanh Hà Nội mạnh đến mức việc tuần tra trinh sát là khá mạo hiểm. Bởi vậy, trinh sát vũ trang tại gói mục tiêu 6 chỉ là bắn phá những mục tiêu cố định và những mục tiêu có cơ hội xuất hiện vào ban đêm. Mặc dù nhiều chuyến tuần tra trên không dọc theo đường vận tải tại vùng cán xoong Bắc Việt nam, thậm chí máy bay trinh sát bay tới sau khi những danh sách những mục tiêu đã được định.
Dù danh sách mục tiêu là riêng biệt, Tham mưu trưởng liên quân, Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương, và tư lệnh Tập đoàn không quân số 7 cố gắng kiểm soát những gì được ném bom và không được ném bom. Lúc bắt đầu chiến tranh, Cục tình báo quân đội có danh sách khoảng 5 nghìn những mục tiêu cần ném bom ở Bắc Việt nam. Rất ít trong số này có đủ điều kiện, và Tham mưu trưởng liên quân lựa ra 82 mục tiêu trong số đó cùng với một tá những mục tiêu đường xá trong danh sách mục tiêu ban đầu. Khi danh sách kéo dài gấp đôi, có nhiều danh sách mục tiêu “không ném bom”. Có những mục tiêu chính quyền Johnson không muốn chấp thuận vì nỗi khiếp sợ phản ứng của Liên Xô và Trung Quốc hoặc báo chí tại Mỹ.
Trong thời gian ấy, Bộ chỉ huy Thái Bình Dương và Tập đoàn không quân số 7 đưa ra danh sách những mục tiêu theo cách đánh số của họ. Tham mưu trưởng liên quân tách biệt khỏi cách đánh số mục tiêu mà Cục tình báo quân đội tiến hành, cách đó cho thấy là khá dài và kềnh càng. Vấn đề tăng mạnh cách đánh số đơn giản là hỗn độn gây ra do mỗi mục tiêu tới bốn số nhận biết - hơn nữa khi những mục tiêu rộng được chia ra thành những mục tiêu nhỏ hơn (mỗi mục tiêu có bốn con số khác nhau). Thực tế, bản danh sách những mục tiêu Tập đoàn không quân số 7 lên đến hơn sáu nghìn tại Bắc Việt Nam và Lào.
Tư lệnh Tập đoàn không quân số 7, tướng Momyer, cho rằng đa số những mục tiêu quan trọng nằm ở đồng bằng sông Hồng. Ở đây, người Việt đã xây dựng mạng lưới đê điều và kênh mương để trồng lúa, chỗ dựa nền kinh tế của họ. Ở đây họ kiên trì tìm kiếm tự do thoát khỏi sự thống trị của Trung Quốc.
Từ nơi đây, một số dân rời xuống phía nam, lập làng ấp dọc theo các dải ven sông và cứ thế họ kiểm soát được vùng châu thổ sông Mekong. Nam Việt nam phát triển mạnh mẽ đủ để tách khỏi miền bắc Việt nam từ trước năm 1802 khi hoàng đế thống nhất đất nước có thủ đô Huế ở Trung bộ. Sự phát triển của thủ đô cũ Hà nội được người Pháp hồi sinh, và coi đó là thủ đô của Đông Dương thuộc Pháp (bao gồm Lào và Campuchia cũng như Việt nam).
Khi chính quyền Hồ Chí Minh kiểm soát Bắc Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ hai, họ thừa hưởng một hạ tầng cơ sở kinh tế dưới sự che chở của Pháp. Thêm vào những toà nhà hành chính, dinh thự và nhà thờ, người Pháp đã trực tiếp xây dựng cảng Hải Phòng và đường sắt không những nối cảng này với Hà Nội, mà còn chạy xuống phía nam tới Saigon và những đồn điền cao su của Pháp cũng như lên phía bắc tới Trung Quốc.
Trong khi tuyến đường chạy về phía nam dọc bờ biển và cạnh tranh với tàu thuỷ, người Pháp hy vọng rằng tuyến đường Hải Phòng-Hà nội về phía tây chia nó thành đường đông bắc và tây bắc tới Trung Quốc làm cho Hải Phòng trở thành một cảng chủ yếu cho toàn bộ nam Trung Quốc thậm chí còn tạo cho Pháp một quyền lực mạnh ở nam Trung Quốc.
Kết quả những tham vọng của Pháp là một thực tế kỳ lạ là đường sắt Bắc Việt nam trở thành một con đường nối giữa tỉnh Vân Nam sâu trong nội địa Trung Quốc với tỉnh Quảng Tây ven biển. Đồng, thiếc, và chì từ Vân Nam qua đường sắt Bắc Việt nam tới duyên hải Trung Quốc, còn máy móc, thực phẩm, và hàng tiêu dùng chạy theo chiều ngược lại. Thời gian đầu chiến dịch Sấm Rền, hơn một trăm nghìn công binh và lính phòng không Trung Quốc sang bảo vệ đường xe lửa Bắc Việt nam. Để chuẩn bị chiến tranh với Hoa Kỳ, Mao Trạch Đông bắt tay vào một chương trình tốn kém chuyển nền công nghiệp chủ chốt nằm dọc duyên hải vào sâu nội địa, còn đường sắt đông-tây ở nam Trung Quốc thì nằm lại. Việc hoàn thành con đường sắt này mùa hè năm 1966 đã làm bớt tải tuyến đường sắt Bắc Việt nam nối nam Trung Quốc, khiến nhiều đồ tiếp vận chạy qua tuyến đường này vào Bắc Việt nam. Tuyến đường sắt tây bắc nối giữa Vân Nam và Hà Nội trở nên ít quan trọng hơn tuyến đường sắt đông bắc dài 75 dặm nối Hà Nội và Quảng Tây.
Gần một phần ba nhập khẩu của Bắc Việt nam qua tuyến đường sắt đông bắc và phần còn lại qua cảng biển Hải Phòng. Vì Bắc Việt Nam nhập hầu như toàn bộ hàng quân sự bao gồm cả nhiên liệu, tướng Momyer cho thấy cần phải bịt cảng Hải Phòng và đường sắt nối với Trung Quốc. Nhưng Những tàu thuỷ Liên Xô ở Hải Phòng làm cho tổng thống Johnson lo ngại rằng một bê bối quốc tế có thể dẫn đến chiến tranh lớn. Tổng thống không cho phép hải quân ném bom hoặc thả mìn cảng Hải Phòng, và không cho không quân Mỹ ném bom tuyến đường sắt đông bắc với nhiều hy vọng gây sức ép. Trong nhiều trường hợp, những chiếc cầu dọc tuyến đường bộ rất khó bị ném trúng bằng bom thông thường dưới lưới lửa phòng không. Johnson thậm chí không chấp thuận ném bom những cây cầu lớn nhất bắc qua sông Hồng ở Hà nội và cầu qua sông Đuống (Canal des Rapides) vì lo ngại thương vong dân thường. Những đoàn tàu hoả có thể chạy nhanh vào ban đêm từ biên giới Trung Quốc về Hà Nội, bỏ qua các ga.
Không những Bắc Việt chiến đấu bảo vệ tuyến đường sắt trong chiến dịch Sấm Rền, thậm chí còn xây dựng một tuyến mới. Trung Quốc giúp đỡ họ hoàn thành một tuyến đường sắt tây bắc qua Thái Nguyên và khu gang thép đến Hòn Gai (Vịnh Bắc Bộ), một cảng nhỏ phía bắc Hải Phòng gần mỏ than. Tuyến đường mới cắt ngang tuyến đường sắt đông bắc tại Kép, và khi đoạn Kép-Thái Nguyên hoạt động vào mùa thu 1966, Bắc Việt có thể đi xuống phía nam qua tuyến đông bắc.
Trong thời gian ấy, tại vùng cán xoong phía nam, Bắc Việt đã xây dựng đoạn đường sắt Vinh tới Đồng Hới và Nam Việt nam. Họ đã phá hoại tuyến đường sắt này trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chưa hoàn thành khôi phục đoạn đường sắt phía nam Vinh khi Sấm Rền. Phía bắc Vinh, tại Thanh Hoá, họ xây lại chiếc qua sông Mã, chiếc cầu này từng bị phá huỷ khi họ hai đầu máy đầy thuốc nổ đâm nhau giữa cầu. Bắc Việt mất 7 năm trời để xây lại nó đến mức khó có thể phá lại được. Họ gọi nó là Hàm Rồng (the Dragon’s Jaw), và lọt thỏm giữa hai mỏm núi, suốt chiến dịch Sấm Rền, máy bay không quân và hải quân ném bom nhiều lần nhưng nó vẫn đứng vững.
Có những chiếc cầu nhỏ trên tuyến đường nam Thanh Hoá cũ nát mà Bắc Việt ít khi sử dụng cho những đoàn tàu hoả bình thường, nhưng những ô tô ray vẫn kéo những toa xe nhỏ chạy qua. Dưới Vinh vẫn có những chuyến vận tải con thoi gồm những xe tải từ các hướng tới gặp đường sắt cách 50 dặm về phía bắc Nam Việt nam.
Hàng tiếp vận chạy dọc bờ biển, chở qua núi sang Lào, hoặc mang vác trên lưng, và bằng xe thồ thẳng qua khu phi quân sự, hoặc cất giữ trong hang động, hầm hào phía bắc vùng này. Cuối mùa hè năm 1966, B-52 bắt đầu ném bom khu phi quân sự và dải hẹp dọc theo nó khoảng 10 dặm của gói mục tiêu 1. Khu vực này phía bắc sông Bến Hải là nơi thu hút hơn hai nghìn B-52 xuất kích trong Sấm Rền; trong khi dưới 1% máy bay chiến đấu ném bom Bắc Việt Nam trong cùng một năm, mỗi B-52 mang ít nhất gấp 10 lần máy bay chiến đấu. Tại chỗ B-52 ném bom sinh ra hàng trăm những cụm lỗ sat nhau đến mức các phi công so sánh nó với bề mặt mặt trăng. Vẫn còn những địa đạo không bị bom làm sập, đàn ông, đàn bà, trẻ con Bắc Việt nam tiếp tục sống và duy trì dòng tiếp vận cho lực lượng cộng sản tại chỗ và tại Nam Việt nam.
Trong khi máy bay bắn phá những xe tải và những đoàn tàu hoả đi về phía nam vào ban ngày, thì bóng đêm bảo vệ tốt cho họ. Mỗi người lái xe biết rõ cung đường ngắn để đi mà không cần bật đèn. Phi công cố gắng xua tan bóng tối bằng pháo sáng và bắn phá xe tải, nhưng khá nhiều những xe tải khác vẫn chạy dưới làn bom một cách thành công. Một chiếc cầu có thể bị gãy gục, hoặc một đoạn đường bị chặt nham nhở, nhưng lại có phà hoặc cầu tạm hoặc con đường khác có thể sử dụng cho đến khi người ta sửa lại chỗ bị ném bom. Mạng lưới radar Mỹ ở Nam Việt nam và Thái Lan cho phép kiểm soát và hướng dẫn B-52 và máy bay ném bom chính xác những mục tiêu cố định tại vùng cán xoong Bắc Việt nam - những mục tiêu có thể bị ném bom bất cứ giờ nào trong mọi thời tiết. Những mục tiêu di động, tuy thế, là vấn đề rất khó về ban đêm và trong thời tiết xấu. Những tuyến đường chạy qua những rặng núi tại Lào, bị máy bay cánh quạt thậm chí máy bay vận tải chậm chạp gắn súng và thiết bị nhìn hồng ngoại tấn công. Nhưng chỉ có B-52 và máy bay chiến đấu là không kích các xe vận tải ở Bắc Việt nam, nhưng không thích hợp trong việc phát hiện những xe tải để phá huỷ chúng.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #44 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 01:21:15 pm »

Dãy Trường Sơn không những phân chia đất nước mà còn cả hệ thống thời tiết. Trong khi mây gió mùa đông bắc che phủ nhiều nơi ở Bắc Việt Nam từ tháng 11 đến tháng 4, thì bầu trời thường trong sáng tại vùng cán xoong ở Lào.
Khi đường khô ráo, hàng nghìn xe tải chạy xuống mạng đường mòn Hồ Chí Minh tại Lào thẳng tới Nam Việt nam. Tại đỉnh điểm gió mùa đông bắc, hơn một nửa trong số 20 nghìn lượt xuất kích tới Bắc Việt Nam và Lào ném bom vùng cán xoong ở Lào. Việc chia sẻ ném bom những mục tiêu tại đồng bằng sông Hồng phải ném bom nhiều hơn con số 20 nghìn. Sự chia sẻ này vượt quá 5 nghìn thậm chí trong gió mùa tây nam từ tháng 5 đến tháng 10. Vùng châu thổ bị phần lớn trận ném bom mạnh trong gió mùa tây nam, nhưng ít nhất những cơn bão rải rác trong thời kỳ thời tiết trong trẻo. Trong thời kỳ gió mùa đông bắc khô ráo, ngược lại, mây che phủ vùng châu thổ hiếm khi tan. Bởi vậy, việc ném bom thường chuyển hướng tới Bắc Việt nam và vùng cán xoong ở Lào, nơi bị ném bom nặng nề hơn đồng bằng sông Hồng.
Những gói mục tiêu của đô đốc Sharp thêm vào trong sự phân chia tự nhiên giữa vùng châu thổ và vùng cán xoong. Không quân Mỹ xuất kích nhiều hơn theo lịch trình ném bom gói mục tiêu 1, vì Sở chỉ huy chẳng có không có cơ sở nào khác tại vùng cán xoong, khi thời tiết xấu đành phải chuyển hướng từ đồng bằng sông Hồng; những gói mục tiêu vùng cán xoong khác dưới sự kiểm soát của hải quân.
Khi gió mùa tây nam, không quân Mỹ chuyển sang hàng nghìn lượt xuất kích một tháng sang gói mục tiêu 1. Thậm chí sau quyết định của Sharp vào tháng 8-1966 cho phép không quân không kích phần tây gói mục tiêu vùng cán xoong (do hải quân kiểm soát), tướng Momyer ở Nam Việt nam và Tham mưu không quân ở Washington tiếp tục đánh mạnh thêm nữa. Trừ những con đường dẫn đến Lào, đa số những mục tiêu tại vùng cán xoong Bắc Việt đều sát bờ biển, và Momyer muốn ném bom chúng.
Sự tranh cãi về những gói mục tiêu vùng cán xoong xảy ra đầu tháng 11-1966. Tham mưu không quân ở Washington chuẩn bị văn bản để tướng Moore, phó tư lệnh không quân Mỹ ở Thái Bình Dương và cựu tư lệnh Tập đoàn không quân số 7, sử dụng để chỉ dẫn cho Sharp. Cơ sở để Tham mưu không quân ném bom vùng bờ biển trong gói mục tiêu của hải quân được xây dựng theo khái niệm cũ của vành đai ngăn chặn. Được áp dụng ở chiến dịch tại Ý năm 1944, khái niệm này nhấn mạnh tầm quan trọng phải bao vây những tuyến đường giao thông song song tại những điểm nghẽn để con đường bị phong toả không thể qua dễ dàng. Khái niệm này được Moore làm sống lại vài tháng trước đó dưới tên gọi “người lính canh cổng” để sử dụng cho gói mục tiêu 1 và Lào, nhưng chừng mực nào Sharp nhìn thấy những nỗ lực sửa chữa của Bắc Việt nam đã vượt lên khỏi những trận bom. Sharp không ưa cái từ “người lính canh cổng” mà Moore xoá đi khỏi bản chỉ dẫn. Ông tranh luận về sự hình thành vành đai ngăn chặn trong những gói mục tiêu của hải quân với những máy bay không quân.
Về sau này, khi Moore thông báo cho Tham mưu không quân, bộ phận của ông với đô đốc Sharp nảy sinh “khá căng thẳng”. Đô đốc Roy L. Johnson, tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương, trách không quân Mỹ kiểm soát gói mục tiêu của hải quân. Sharp quở trách cả hai bên, tuyên bố rằng ông chỉ thực hiện mệnh lệnh, và nhấn mạnh ông mong đợi hệ thống gói mục tiêu phải được thực hiện. Không quân Mỹ không cho phép kiểm soát gói mục tiêu của hải quân, nhưng Sharp hy vọng cấp dưới của không quân và hải quân cấp dưới thương lượng thu xếp xuất kích đến nơi khác.
Sự dàn xếp đạt được không cho phép vành đai ngăn chặn không quân ở phần của hải quân tại vùng cán xoong Bắc Việt, và không quân Mỹ ngừng ý định này. Tướng Momyer ở Sài gòn cũng như đô đốc Sharp rất quan tâm tới việc ném bom đồng bằng sông Hồng. Momyer thiên về ném bom vùng châu thổ trong một thời hạn những nơi tập trung tiếp liệu của địch. Sharp không tranh luận về thời hạn cắt đứt dòng tiếp liệu tới Nam Việt nam (ông không tin điều này thực hiện được), mà đánh mạnh Bắc Việt. Cả hai người nghĩ rằng ném bom ở vùng châu thổ có khả năng tác động nhiều hơn là ném bom ở vùng cán xoong.
Trong trường hợp này, vành đai ngăn chặn tại vùng cán xoong tương tự với khái niệm “hàng rào McNamara” đưa ra nhằm thay thế ném bom Bắc Việt Nam bằng hàng rào ngăn sự thâm nhập dọc góc phía bắc của Nam Việt nam và qua đường mòn Hồ Chí Minh tại Lào. Phần “Hàng rào McNamara” tại Nam Việt nam gồm công sự do lính Mỹ canh giữ, nhưng việc tổng thống Johnson khước từ đưa bộ binh vào Lào có nghĩa rằng ở đó Hàng rào McNamara phải được bảo vệ dưới không lực Mỹ, dẫu cho không lực Mỹ được các bộ cảm biến điện tử và một vài toán lính trinh sát trợ giúp.
Việc McNamara vỡ mộng ném bom Bắc Việt Nam chuyển theo hướng ngược lại từ đa số thuộc hạ quân sự của ông. Họ không đồng ý chính sách leo thang Sấm Rền từ lúc khởi đầu, nhưng tiếp tục tranh luận về tăng cường độ leo thang để tổng thống đồng ý. McNamara tranh luận về chính sách leo thang cho tới cuối 1966 khi ông muốn kết thúc Sấm Rền, nhưng ông lại vẫn chưa đề xuất loại bỏ nó cho tổng thống Johnson - người đang cảm thấy bị phản bội bởi sự trở mặt này.
Bộ trưởng quốc phòng bi quan do thất bại của chiến dịch Sấm Rền ném bom các kho chứa dầu Bắc Việt nam mùa hè năm 1966. Không quân Mỹ và hải quân đã được phép ném bom các kho dầu từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh. Không có xăng dầu, những xe tải Bắc Việt nam trở nên vô dụng. Nhưng những kho dầu lớn lại nằm ở Hải Phòng và Hà Nội, nơi tổng thống Johnson ngần ngại ném bom. Trước khi Johnson mạnh bạo lên, Bắc Việt nam đã sơ tán xăng dầu xung quanh nông thôn bằng những thùng chứa dầu nhỏ. Khi trúng ném bom, các kho dầu ngùn ngụt bốc lên những ngọn lửa và khói, dấu hiệu đó thực tế đã bị cắt giảm đến mức tối thiểu. Máy bay Mỹ suốt mùa hè chỉ phá được những thùng chứa dầu, còn những xe tải Bắc Việt nam cũng cứ chạy.
Người đề xướng ném bom các kho dầu là người thẳng tính, đầy lạc quan tuy kết quả thu được ít ỏi đã không ngăn cản ông đề nghị ném bom mạnh hơn. Walt Whitman Rostow là một sinh viên từ chiến tranh thế giới thứ hai, khi ông là một thiếu tá trẻ tại Cơ quan phục vụ chiến lược (tiền thân CIA). Ông là nhà sử học về kinh tế. Thập kỷ 1960, cũng như thập kỷ 1940, ông là người tham gia ném bom các kho dầu và cầu; năm 1944, ông tranh luận chống lại sự bảo thủ của một nhà phân tích người Anh Solly Zuckerman rằng đồng minh tập trung ném bom vào nhà ga xe lửa hơn là vào các kho dầu và cầu trong nhiều tháng trước khi đổ bộ vào Pháp. Từ đó, sự nghiệp giảng dạy của Rostow ở Trường Đại học kỹ thuật Massachusetts bị cắt ngắn khi tổng thống Kennedy đưa ông về Washington. Mùa xuân 1966, ông thay McGeorge Bundy làm cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống Johnson. Mùa thu năm ấy, người anh cả của Rostow Eugene trở thành trợ lý bộ trưởng ngoại giao về công việc chính trị; anh cả của Bundy là William Bundy là trợ lý bộ trưởng ngoại giao về Viễn Đông. Cả bốn người này từng học tại Đại học Yale vào năm thập kỷ 1930 và cả bốn người đều đồng lòng trong việc ném bom Bắc Việt nam, nhưng anh em Rostow duy trì nhiệt tình của họ lâu hơn. Walt Rostow đưa những lời chúc mừng nồng nhiệt cho những người lính hơn là người tiền nhiệm của mình. Mặc dù kiến thức quân sự của Rostow còn yếu, nhưng ông tìm được một sĩ quan, người có thể làm việc gần gũi, đó là tiến sĩ đại tá Robert N. Ginsburgh của trường Harvard. Robert N. Ginsburgh thiếu từng trải về không quân, và trong thế chiến II ông là sĩ quan pháo binh, xa vời với các tướng không quân, nhưng nhờ Rostow, ông nhảy vào hàng ngũ của họ.
Sự nghiệp của Ginsburgh cũng được giúp ích từ mối quan hệ thu qua người cha, một vị thiếu tướng, người bỏ bộ binh gia nhập không quân năm 1948 khi đó là phó giám đốc về quan hệ công chúng; sau khi có mối quan hệ nồng ấm với Bộ trưởng không quân Mỹ Symington, Ginsburgh (cha) tiếp tục phục vụ bốn bộ trưởng quốc phòng trước khi về hưu năm 1953 và qua đời năm 1958. Ginsburgh (con) thoạt đầu làm việc với Rostow tại bộ phận hoạch định chính sách, và Rostow đưa ông vào Nhà Trắng làm người liên lạc với Tham mưu trưởng liên quân tại văn phòng Rostow. Vì tướng Wheeler không phải nằm trong vòng những cố vấn thân cận của tổng thống Johnson, nên ông Chủ tịch thường phải dựa vào Ginsburgh để có những thông tin về quyết định Nhà Trắng bàn bạc. Hơn một năm sau, Ginsburgh có chút tiến bộ trong việc nhận lời mời thay mặt cho Wheeler tham dự bữa ăn trưa vào ngày thứ ba và các cuộc họp khác khi tổng thống Johnson, Bộ trưởng quốc phòng McNamara, ngoại trưởng Rusk, và Rostow đã thảo luận sự lựa chọn mục tiêu ném bom.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #45 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 01:24:10 pm »

Sự so sánh Ginsburgh với Rostow không có nghĩa hai người này cùng có cách nhìn giống nhau trong việc ném bom Bắc Việt nam. Giống như nhiều sĩ quan không quân, Ginsburgh tin rằng chí ít thì ném bom cũng là thảm hoạ, nếu không ném bom một cách ồ ạt khi khởi đầu. Rostow, mặt khác, muốn leo thang mạnh hơn để gây sức ép mà ông hy vọng kẻ địch sẽ bị nứt rạn tại một số điểm. Từng là sinh viên kinh tế, Rostow ủng hộ ném bom những nhà máy điện Bắc Việt nam và một số nhà máy hiện đại ở đồng bằng sông Hồng, nhưng ông không ủng hộ tập trung nỗ lực không quân tại vùng châu thổ. Vị cố vấn an ninh quốc gia muốn ném bom vừa đủ ở vùng châu thổ để kìm chân phòng không Bắc Việt nam và khả năng sửa chữa tập trung ở đó như là một cách trợ giúp ném bom ngăn chặn vùng phía nam xa hơn.
Ginsburgh chú trọng nhiều hơn ở đồng bằng sông Hồng. Hình như ông cho rằng cách tốt nhất phá hoại nền kinh tế nông nghiệp Bắc Việt nam là ném bom hệ thống đê điều. Ông chịu ảnh hưởng bởi Robert F. Futrell của không quân Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên; Futrell chỉ ra rằng ném bom những đập nước tưới tiêu khi gần gần kết thúc chiến tranh đã có lợi mang đến ngừng bắn. Chẳng phải Rostow hoặc tổng thống Johnson tán thành sự tranh luận về nước đi này, thậm chí tướng McConnell, Tham mưu trưởng không quân Mỹ cũng nghi ngờ tính khả thi chọc thủng những con đê bằng đất to lớn này.
***
Trong Sấm Rền, chính quyền Johnson mưu đồ ném bom mạnh mẽ theo cách tính toán để đe doạ sự sống còn của chế độ Bắc Việt nam. Tổng thống Johnson nhiều lần cam đoan với chính quyền Bắc Việt Nam rằng không quân Mỹ không phá hoại chế độ của họ và ông nghĩ vậy. Công sở chính phủ nằm ở khu đông dân cư Hà Nội chưa bao giờ là mục tiêu ném bom. Thậm chí các cơ sở thông tin của chính phủ vẫn chưa bị đụng đến. Mạng điện thoại nối giữa đại sứ quán Liên Xô và quan chức Uỷ ban kiểm soát quốc tế tại Hà nội vẫn được miễn ném bom. Theo Hiệp định Geneva 1954, Uỷ ban kiểm soát quốc tế được thành lập gồm đại diện Ấn Độ, Canada, và Ba Lan; phái đoàn kiểm soát hoà bình từ lâu đã vô dụng.
Giới lãnh đạo Bắc Việt là nhóm người khá cứng rắn đáp ứng những thuận lợi mà Johnson đưa cho họ. Hồ Chí Minh dường như khá nhu nhược so với tuổi 70 của mình, nhưng ông chí ít vẫn còn là thần tượng “Bác Hồ” vây quanh bởi Đảng cộng sản Việt nam đoàn kết. Tên của ông nghĩa là “Mang lại ánh sáng” và là tên cuối cùng trong một loạt bí danh sử dụng cho tuyên truyền và tôn sùng nguỵ trang. Họ thật của ông là Nguyễn, một cái họ phổ biến ở Việt nam. Giống như đa số những học sinh trẻ tuổi, ông lớn lên tại bờ biển Trung bộ Việt nam. Cha ông là một người được học hành đủ tiền gửi cho con học trường Quốc Học Huế, nơi Ngô Đình Diệm và nhiều người Việt nam có tinh thần dân tộc cũng theo học. Sau khi làm phụ bếp trên tàu thuỷ và ở London, ông đã gặp được Đảng cộng sản Pháp. Hồ Chí Minh sống nhiều năm ở Nga, Trung Quốc, và Thái Lan làm điệp viên cho Quốc tế cộng sản.
Năm 1966, Mỹ không nắm rõ người nào trong số thân cận của ông Hồ nắm quyền lực nhất. Ba năm sau khi Hồ Chí Minh qua đời, Lê Duẩn, thực sự là người rất có ảnh hưởng, nổi bật là một lãnh tụ chủ chốt. Lê Duẩn sống nhiều năm ở đồng bằng Cửu Long, ông mong có chiến thắng ở đó. Trường Chinh được xem là ít chỉ đạo đấu tranh tại Nam Việt nam, và ông có khuyết điểm trong cuộc Cải cách ruộng đất dữ dội tại Bắc Việt nam - một quá trình đẫm máu giết 50 nghìn địa chủ. Ông được coi là người bị nhiều mê hoặc với Trung Hoa; thậm chí tên của ông cũng có nghĩa là cuộc “Trường Chinh” tôn vinh Mao Trạch Đông. Phạm Văn Đồng, thủ tướng, người xuất hiện giữa Lê Duẩn và Trường Chinh, từng có cuộc sống đày đủ thời học sinh và bị Pháp cầm tù nhiều năm.
Vì Phạm Văn Đồng là một trong những người cộng sản Việt nam theo học Trường quân chính Hoàng Phố của Tưởng Giới Thạch, lẽ ra ông phải là một vị tướng của Hồ Chí Minh. Nhưng Hồ Chí Minh lại chọn một giáo viên lịch sử, Võ Nguyên Giáp, lãnh đạo quân đội. Đây là một sự lựa chọn sáng suốt. Thắng lợi của tướng Giáp năm 1954 tại Điện Biên Phủ - một căn cứ gần biên giới Lào cách Hà nội hai trăm dặm về phía tây, làm ông nổi tiếng những tướng Mỹ đối đầu với ông 12 năm sau này. Ở tuổi ngũ tuần, ông là người trẻ nhất trong số những người thân cận của Hồ Chí Minh. Tuy thận trọng hơn và ít có ảnh hưởng hơn so với Lê Duẩn, uy tín của Giáp bên trong quân đội chắc chắn ông có vai trò quan trọng trong sự bổ xung chiến lược (nếu không phải là luôn hoạch định nó).
Trong Sấm Rền, Giáp chỉ huy một quân đội đông người. Tại Bắc Việt Nam dân số mười tám triệu, ông có nửa triệu quân, bao gồm 250.000 quân thường trực. Năm mươi nghìn trong số này tại Nam Việt nam, nơi họ gấp bốn lần số du kích võ trang trong khi dân số 16 triệu. Tại Nam Việt nam, đội quân đông người của Giáp dựa vào dân cứ sống rừng rậm và làng mạc; lực lượng của ông thường ẩn náu cho tới khi sẵn sàng chiến đấu. Ở miền Bắc, tuy thế, không lực Mỹ đặt trước ông một số vấn đề mới. Quân Pháp trước đây đã kiểm soát các thành phố, và quân đội của Giáp có thể ẩn náu trong rừng rậm. Nhưng bây giờ Giáp đã có những thành phố, đường sắt, và hải cảng cần phải được bảo vệ.
Lần đầu tiên khi bom Mỹ rơi xuống Bắc Việt nam vào tháng 8-1964, Giáp chưa được chuẩn bị tốt. Từ 1956 không quân nhỏ bé của ông luyện tập tại những sân bay ở Trung Quốc và Liên Xô, trong khi những sân bay của ông đang được xây dựng. Liên Xô cung cấp những máy bay Mikoyan-Guryevich MiG-17 - kế tiếp MiG-15 mà Trung Quốc sử dụng đánh nhau với Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên. Các phi công Việt nam học bay và duy trì MiG ở Trung Quốc cho tới khi sân bay Phúc Yên gần làng Nội Bài (15 dặm về phía bắc Hà Nội) hoàn thành cho máy bay phản lực vào mùa hè năm 1964. Một ngày sau trận không kích xuống Bắc Việt nam, ba tá MiG bay từ Trung Quốc về Phúc Yên. Nhưng Mỹ lại không ném bom trong sáu tháng.
Cộng sản lúc đó vượt qua một số mối thù cũ giữa Trung Quốc và Việt nam. Trong thời gian vài năm Trung Quốc giúp đỡ Việt nam nhiều hơn Liên Xô, nhưng tình thế đã thay đổi khi Nikita Khrushchev, lãnh tụ Liên Xô, bị hạ bệ vào mùa thu 1964. Lãnh tụ mới của Liên Xô, Leonid Brezhnev và Alexei Kosygin, cạnh tranh với Trung Quốc về ảnh hưởng ở Việt nam. Trong khi Trung Quốc cung cấp sức người, Liên Xô mời chào nhiều về kỹ thuật.
Hà Nội háo hức ôm chặt kỹ thuật Liên Xô trong khi nhận khá nhiều lính Trung Quốc. Khi bom lại rơi xuống vùng cán xoong Bắc Việt Nam vào tháng 2-1965, Kosygin có mặt tại Hà Nội cùng với bộ trưởng và tư lệnh không quân Liên Xô.
Dùng viện trợ để gặt hái uy tín ở Hà nội và nơi khác trong thời gian cộng sản, Liên Xô cũng mong chờ sự quay lại cụ thể. Bắc Việt Nam là nơi thử vũ khí và học thuyết của Liên Xô chống lại vũ khí và học thuyết của Mỹ.
Liên Xô thu nhặt mẫu những máy bay của Mỹ bị rơi và những mảnh vụn khác để họ có thể sử dụng để phát triển quốc phòng và bắt chước. Nhưng Bắc Việt không phải lúc nào cũng hợp tác với Liên Xô thích đáng, và Liên Xô phàn nàn rằng Trung Quốc nhận được đối xử ưu đãi hơn. Một sự khó chịu là việc dỡ hàng chậm chạp từ tàu thuỷ Liên Xô tại Hải Phòng, nơi họ đặt cao xạ gần cảng. Việc làm khó chịu là họ không ngừng đưa ra những đòi hỏi tăng thiết bị trong khi hàng hoá được mở ra chưa sử dụng và bị han rỉ. Không có sự thất vọng nào ngăn bước Liên Xô hoàn toàn hăng hái với Trung Quốc đối với bổn phận Bắc Việt nam .
Bắc Việt tỏ ra giỏi giang khai thác sự kình địch Xô-Trung, mặc dù nó làm việc giao hàng của Liên Xô trở nên gặp thách thức. Khi Trung Quốc đồng ý cho Liên Xô chuyên chở hàng hoá qua Trung Quốc bằng tàu hoả, mỗi máy bay vận tải bay qua lãnh thổ Trung Quốc phải được sự đồng ý. Giao thông đường sắt trở nên mạo hiểm trong thời kỳ “Cách mạng văn hoá” của Mao năm 1966-68, khi đám đông sinh viên tấn công những người chỉ trích Mao (kể cả Liên Xô). Người Mỹ, mặt khác, làm cho ông Giáp dễ dàng hơn bằng cách bỏ ngỏ cảng Hải Phòng cho tàu Liên Xô và tàu các nước khác. Sự thật việc Trung Quốc lúc ấy đang giữ một lực lượng tại biên giới Liên Xô nhiều hơn là ở biên giới Việt nam, điều này giảm nhẹ chút ít sự lo âu của tổng thống Johnson rằng Trung Quốc có thể tiến hành cuộc chiến tranh toàn diện ở Đông Nam Á. Không phải chính quyền Johnson liều lĩnh đe doạ Bắc Việt nam khiến Trung Quốc can thiệp mạnh; mà Hoa Kỳ buộc Bắc Việt dựa hẳn vào Trung Quốc vì sự tồn vong chế độ, điều này có thể hiểu được rằng Bắc Việt phải tìm cách tránh việc mang lại chôn vùi sự hiện diện của Trung Quốc - thậm chí nếu tránh được có thể hoãn lại việc chiếm Nam Việt nam.
Trước mùa thu 1966, Giáp có hơn 40 MiG tại Phúc Yên, thêm 10 chiếc ở sân bay Gia Lâm (Hà nội) và 5 chiếc tại sân bay Kép (30 dặm về phía đông bắc Hà nội). Ông cũng còn những sân bay chưa sử dụng tại Hải Phòng, và đang xây dựng những sân bay mới tại Yên Bái (50 dặm về phía tây bắc Hà Nội) và Hoà Lạc (chỉ 10 dặm về phía tây Hà Nội). Trong thời gian ấy, Trung Quốc đã xây dựng một số sân bay gần Bắc Việt Nam. Như thế Mỹ đã từ bỏ học thuyết của họ (ném bom những sân bay ngay khi bắt đầu chiến dịch) và không đụng đến tất cả những sân bay chính ở đồng bằng sông Hồng; chính quyền Johnson lo ngại không những cố vấn Liên Xô và Trung Quốc có thể bị giết trong các vụ ném bom sân bay, mà không quân Bắc Việt có thể chuyển sang Trung Quốc và tạo ra áp lực từ không lực Hoa Kỳ và đồng minh của mình phải ném bom những sân bay Trung Quốc. Xa hơn về phía nam, những sân bay cũ tại Vinh và Đồng Hới cũng như một sân bay mới đang được xây dựng tại Bái Thượng gần Thanh Hoá bị ném bom làm cho máy bay Bắc Việt nam không thể tấn công Nam Việt nam hoặc cản trở máy bay Mỹ ném bom Bắc Việt và vùng cán xoong ở Lào.
Không quân của Giáp bao gồm mười bốn MiG-21, nhanh hơn và mới hơn MiG-17; MiG-17 thường sử dụng súng bắn máy bay đối phương, trong khi MiG-21 có tên lửa tầm nhiệt không đối không của họ(1).
_______________________
(1) Phi công Mỹ quan sát MiG-21 bắn chỉ 5 tên lửa dẫn bằng radar trong toàn bộ cuộc chiến tranh Việt nam.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #46 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 01:31:41 pm »

Giáp cũng có sáu máy bay ném bom kiểu cổ Ilyushin Il-28. Có được máy bay dễ dàng hơn đào tạo phi công. Đa số được đào tạo tại Trung Quốc và Liên Xô. Trước mùa xuân 1965, MiG-17 chiến đấu với máy bay Mỹ, và gần một năm sau MiG-21 mới được triển khai.
Mặc dù thua kém F-4 về tốc độ và tầm xa, MiG thiết kế một chỗ ngồi nhỏ, không bỏ được vệt khói và khó quan sát tại một khoảng cách - một ưu thế mà máy bay Mỹ có được khi dùng tên lửa dẫn bằng radar nhìn từ xa bằng mắt thường. MiG-17 có vòng lượn hẹp có thể làm nó trở thành một đối thủ dữ dằn trong không chiến. MiG-21 khó xoay xở về phía trong một chiếc F-4, và khoang lái khó quan sát về phía sau là điều bất lợi khi cặp F-4 bay phía sau. Thuận lợi lớn nhất của Mỹ ban đầu là ưu thế về đào tạo. Nhưng từ lúc không chiến xảy ra trên bầu trời Bắc Việt nam, thì phi công Bắc Việt có dịp tốt quay lại chiến đấu sau khi bị bắn rơi. Nhiều tháng năm trôi qua, các phi công Bắc Việt nam từng trải hơn trong khi chính sách luân phiên của Mỹ lại đưq đến những phi công ít kinh nghiệm. Đu thế nào đi nữa, MiG không cần bắn rơi máy bay Mỹ để bảo vệ Bắc Việt nam - cứ mỗi lần một máy bay Mỹ vứt bỏ bom của mình đương đầu với MiG, thì MiG luôn là người thắng trận.
Theo truyền thống Liên Xô, hoạt động của MiG được quản lý chặt chẽ bởi đại tá Đặng Tính, sử dụng mạng radar để chỉ huy cả không quân lẫn hàng trăm súng phòng không vây quanh Hà Nội. Mùa xuân 1965, Liên Xô bắt đầu xây dựng trận địa tên lửa đất đối không SA-2 (SAM), và ngày 24-7-1965, tốp sĩ quan Liên Xô điều khiển tên lửa bắn rơi một chiếc F-4.
Sự đáp trả của Mỹ đối với SAM là không xứng với thất bại của nó khi tấn công những sân bay Bắc Việt nam. Tháng 4-1965 khi máy bay trinh sát bắt đầu quan sát việc xây dựng một những trận địa SAM quanh Hà nội 20 dặm, Bộ trưởng quốc phòng McNamara theo lời khuyên của trợ lý McNaughton cấm tấn công vào câc trận địa tên lửa. Vào tháng 5 khi tổng thống Johnson tăng cơ hội đánh phá, McNamara ly luận rằng không thể tấn công các trận địa SAM cho tới khi B-52 ném bom những sân bay - một lời gợi ý làm giảm bớt mau lẹ chú ý của Johnson vào việc tấn công các trận địa SAM. Nhờ chính sách leo thang, Hà Nội không bị ném bom và bởi vậy một vòng tròn các trận địa tên lửa ở đó dường như chỉ để đe doạ chút ít máy bay Mỹ. Trong một lúc nào đó thậm chí nó chỉ có khả năng như là dấu hiệu không ném bom Hà Nội. Nhưng chiếc F-4 bắn rơi 40 dặm phía tây Hà Nội vào tháng 7 đã báo động cho chính quyền Johnson rằng Bắc Việt đã xây dựng ít nhất hai trận địa tên lửa ngoài xa Hà Nội hơn trận địa số 5. Trận địa số 6 và 7 cách Hà Nội 30 dặm về phía tây.
Những máy bay Mỹ đầu tiên bị SAM bắn rơi buộc chính quyền Johnson đứng giữa sự cân nhắc có nên Mỹ hoá cuộc chiến tranh tại Nam Việt nam. Tướng McConnell và những tướng lĩnh khác được mời tới Nhà Trắng để Johnson thăm dò họ về sự thay đổi lớn chính sách đối với Nam Việt nam. McConnell đưa ra lời khẳng định đầy hứa hẹn, nhưng ông chỉ hứa rằng lính Mỹ tại Nam Việt nam cộng với ném bom mạnh ở miền Bắc cho phép Hoa Kỳ “làm tốt hơn cái đang làm bây giờ”. Harold Brown, một nhà vật lý trẻ tuổi được McNamara chọn để làm Bộ trưởng không quân, cũng không nhiệt tình hơn: “Hình như tất cả sự lựa chọn của chúng ta đều là bóng tối. Chẳng có ai nói thật về quyết định bộ binh Mỹ do Johnson nêu ra. Hoặc họ được mới đến không phải để khuyên Johnson phải làm gì đối với SAM.
Chủ tịch tham mưu trưởng liên quân, tướng Wheeler, chí ít cũng tham gia trong cuộc thảo luận về SAM trong Nhà Trắng ngày 26-7. Ông đề nghị ngay lập tức ném bom tất cả các trận địa SAM - ít nhất trận địa 6 và 7. Không ai trong số những quan chức dân sự có mặt ủng hộ đánh tiếp các trận địa gần Hà Nội hơn, thậm chí thứ trưởng ngoại giao George Ball (một cựu chiến binh máy bay ném bom chiến lược trong thế chiến II và là người phản đối Mỹ can thiệp sâu vào Việt nam) đồng ý rằng nếu trận địa 6 và 7 là chỗ ngoài cùng vòng ngoài SAM, họ có thể phải bị loại bỏ. Ngoại trưởng Rusk nhắc nhở rằng việc giết lính Liên Xô tại trận địa là mạo hiểm, đó cũng là lời cảnh báo có ích. Bộ trưởng quốc phòng McNamara nói với tổng thống rằng ném bom những mục tiêu bên trong tầm các trận địa SAM chẳng phải là khôn ngoan, trừ khi trước hết tấn công những trận địa SAM. McNamara gợi ý ném bom trận địa 6 và 7 dùng máy bay bay thấp khoét vào nhược điểm của SAM.
Tổng thống Johnson quyết định phá trận địa SAM 6 và 7, nhưng nói dễ hơn làm. Ngày 27-7-1965, không quân Mỹ cho 54 F-105 đánh phá hai trận địa và những doanh trại gần đấy được cho là nhân viên SAM sống ở đó. Theo lệnh từ Washington, những chiếc F-105 bay dưới năm trăm feet thì chạm trán với một bẫy súng phòng không gồm một tên lửa giả và bị rơi bốn F-105. Hai chiếc bị rơi khi va chạm trên đường về căn cứ trong khi một chiếc kia cố sức kiểm soát hư hại khác. Đây là giá đắt nhất trong chiến tranh trên không.
Sau đó không quân Mỹ và hải quân tránh đánh trận địa SAM bị sa bẫy súng phòng không và giới hạn mỗi lần đánh phá một trận địa chỉ dùng bốn máy bay hoặc ít hơn. Số lượng các trận địa tên lửa tăng nhanh, nhiều hơn số tên lửa mà những tiểu đoàn phóng lên - mỗi tiểu đoàn có tới sáu bệ phóng, có thể di chuyển từ trận địa này sang trận địa kia trong vài giờ. Thay vì chờ SAM bắn và di chuyển trước khi tiến hành đòn trả đũa, không quân Mỹ cho những máy bay biệt danh “Bàn tay sắt” để trấn áp SAM. Trong vài tháng, mỗi tốp F-105 “Bàn tay sắt” được dẫn bởi một chiếc F-100F “Con chồn hoang” hai ghế lái mang thiết bị xác định radar của trận địa. Chiếc F-100F có thể dùng tên lửa để đánh dấu trận địa SAM để F-105 tới bỏ bom. Trước mùa hè năm 1966, hai cải tiến đã sử dụng cho “Bàn tay sắt”. Những F-100F bay chậm được thay thế bằng F-105F hai ghế lái “Những con chồn hoang” (giống F-100F, máy bay huấn luyện có chỗ đặt thiết bị dò tìm cùng với một sĩ quan điện tử để dùng nó)(1), và tên lửa đánh dấu mục tiêu được thay bằng shrike - tên lửa tìm kiếm radar. Shrike chứa hàng nghìn hạt nổ bằng những khối thép nhỏ đã phá huỷ nhiều radar, những các sĩ quan radar chống lại bằng cách tắt radar tức thời. Sau khi thêm phốt-pho trắng vào hạt nổ, sức nổ định vị ít nhất một trận địa SAM để mà nó có thể bị ném bom.
Mặc dù tổ lái “Con chồn hoang” hiếm khi đảm bảo Shrike trúng radar địch, họ có thể phát hiện radar tắt máy khi “Những con chồn hoang” xuất hiện. Có lẽ, tốp điều khiển SAM (lính Bắc Việt nam nhiều hơn lính Liên Xô) bắt đầu sử dụng radar giám sát đường đi và bật máy ở phút cuối cùng. Trong thời gian ấy, máy bay Mỹ xem như vượt trội hơn SAM chậm chạp được ví như trạm điện thoại bay, nhưng được lái trong vùng tìm kiếm của súng phòng không. Mặc dù “Những con chồn hoang” cũng tấn công những radar điều khiển pháo phòng không cỡ lớn nhất và bay cao hơn tầm hiệu quả của các súng phòng không nhỏ mà phần lớn thời gian, phòng không Bắc Việt nam tiếp tục gây nguy hiểm cho các phi vụ “Bàn tay sắt”. Trong số mười một máy bay F-105F “Những con chồn hoang” tới Thái Lan vào mùa xuân 1966, chỉ còn lại bốn chiếc vào giữa tháng 8. Những máy bay thay thế sớm được đưa đến, nhưng không thể xuất kích trong mỗi phi vụ “Bàn tay sắt” bốn chiếc; đôi khi chỉ có một máy bay “Con chồn hoang” trên một phi vụ.
Từ khi SAM chứng tỏ được tính cơ động cao, pháo phòng không khá nhiều và lượng máy bay MiG không bị hạn chế, toàn bộ 3 cánh tay phòng không Bắc Việt nam là khá mạnh. Chúng phối hợp với nhau rất tốt qua thực tế và qua mạng radar thông tin. Đặt SAM và súng gần đê điều, bệnh viện và trường học, Bắc Việt đặt phi công Mỹ vào tình thế “không thắng được”, hoặc là cho phép những đơn vị này nổ súng mà không bị cản trở hoặc cho Bắc Việt công khai rằng có thể thắng bạn bè ở Hoa Kỳ và đe doạ sự nghiệp phi công. Có nhiều thời gian để sơ tán máy móc ở Hà nội vào những căn hầm ngoại ô Hà Nội đề phòng Mỹ ném bom thành phố. Dân chúng có thể chiến đấu trong những hầm trú ẩn, bao gồm hàng chục nghìn những hầm trú ẩn cá nhân cũng như những hầm trú ẩn lớn hơn. Tại khu vực ném bom một số người được trang bị súng trường; thay vì chạy vào hầm trú ẩn, họ bắn vào máy bay Mỹ lòng nhiệt tình hình như ít nhất có lợi về mặt tinh thần.
Bằng cách đó nhà cầm quyền Bắc Việt Nam thuyết phục nhân dân họ, cũng như người Mỹ, rằng kỹ thuật cao của Mỹ có thể bị đánh bại. Chính phủ Mỹ tiến hành Sấm Rền từ từ, thậm chí còn thăm dò việc ngừng ném bom. Họ nói rằng không thương lượng khi Mỹ còn ném bom, chính quyền Johnson cảm thấy áp lực phải ngừng ném bom để chứng tỏ sự quan tâm đến thương lượng hoà bình. Đầu tháng 4-1965, thượng nghị sỹ Robert F. Kennedy (New York) thăm Johnson để tranh luận về ngừng ném bom. Em trai của vị tổng thống bị ám sát là người cạnh tranh nặng ký đối với Johnson trong đảng Dân chủ, và Johnson theo đuổi để giữ vững đường lối chính trị của tổng thống Kennedy.
Đợt ngừng ném bom đầu tiên vào tháng 5-1965 kéo dài sáu ngày. Thoạt đầu chỉ ngừng 5 ngày, nhưng trước khi nó hết hạn, Bộ trưởng quốc phòng McNamara lý luận rằng tờ báo New York Times mong một tuần lễ trọn vẹn 7 ngày và Johnson đành trung bình cộng. Niềm hy vọng của Johnson việc ngừng ném bom sẽ làm ông ít bị chỉ trích lại thất bại. Họ phản đối rằng việc ngừng ném bom là quá ngắn ngủi để Bắc Việt Nam và đồng minh của họ có sự đáp ứng tích cực. McNamara trở thành giọng nói chính bên trong chính quyền về một cuộc ngừng ném bom dài ngày hơn. Tháng 7-1965 ông bắt đầu bàn việc ngừng ném bom kéo dài từ sáu đến tám tuần lễ (bắt đầu vào tháng 12). ngoại trưởng Rusk cũng nhìn thấy một điểm nhỏ trong việc ngừng ném bom khi không có dấu hiệu Bắc Việt sẵn sàng đàm phán, nhưng Johnson đồng ý ngừng ném bom 5 tuần từ tháng 24-12-1965 đến 31-1-1966. Bắc Việt chỉ có thể được cổ vũ bởi quang cảnh hàng tá phái viên cộng sản chạy khắp thế giới để “giữ gìn hoà bình”.
Bộ trưởng McNamara và trợ lý của mình McNaughton chuẩn bị cho sự thất bại của cuộc ngừng bắn dài ngày bằng việc đưa ra một đề nghị ngừng ném bom dài ngày khác vào cuối năm 1966. Nhưng tổng thống Johnson không đủ kiên nhẫn với ngừng ném bom dài ngày, và mặc dù ông đồng ý cắt ngắn việc ngừng ném bom và lần tránh hết lần này đến lần khác, không phải mãi đến cuộc tấn công Tết năm 1968 ông mới đồng ý. Trong thời gian ấy, ông cố gắng ném bom để nó làm trọn vẹn hơn 40 “sáng kiến hoà bình” hoặc “những người thăm dò hoà bình” như các nhà ngoại giao gọi. Chẳng phải sự bí mật của “những người thăm dò hoà bình”, không quân Mỹ trở thành câu đố trước chính sách ném bom của tổng thống.
________________________

(1) Không giống phi công ghế sau F-4, sĩ quan điện tử trên F-105F là một hoa tiêu (không phải phi công). Anh ta thường được gọi là “con gấu”
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #47 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 01:35:49 pm »

2. Chiến thuật mới, chiến lược cũ
Gió mùa đông bắc tràn về đầu năm 1966. Giữa tháng 10, nó che Hà Nội và Hải Phòng dưới những đám mây dày đặc dưới một nghìn feet. Mặc dù những cơn bão mạnh thường xảy ra từ tháng 5 đến tháng 9, tháng 10 trời u ám hiếm gây ra những cơn mưa trút nước. Suốt sáu tháng mây bay thấp che phủ đồng bằng sông Hồng. Yếu tố tự nhiên này có ảnh hưởng lớn đến những chiến dịch ném bom của Mỹ vào cuối 1966 hơn là năm trước. Lúc đó, chiến dịch leo thang từng bước động tới trái tim Bắc Việt nam. Không phải tới tháng 6-1966, mười sáu tháng sau khi chiến dịch tiến hành, bom bắt đầu nổ thường xuyên gần Hà Nội và Hải Phòng. Áp lực ở đồng bằng sông Hồng không thể duy trì qua gió mùa đông bắc, tuy thế, việc không sử dụng B-52 hoặc thời tiết không tốt, ảnh hưởng tói khả năng ném bom của Mỹ. Những đám mây tháng 10 làm trì hoãn cho việc ném bom vùng châu thổ trừ khi Mỹ cho ném bom vùng đông dân. Điều này Mỹ không làm.
Thậm chí trong gió mùa đông bắc, cũng có một số trận không kích vùng châu thổ. Sự thay đổi thời tiết cho phép không kích vào một nhà ga nằm ngay bắc Hà Nội, vào một bến xe tải nằm ngay phía nam thành phố, và khu gang thép cách Hà nội 35 dặm. Những mục tiêu này chưa từng bị ném bom trước đó, và những trận không kích báo hiệu đợt ném bom mạnh hơn. Không quân Mỹ nổi bật lên từ gió mùa đông bắc hơn là đương đầu với Phòng không Bắc Việt nam. Trước tháng 4-1967, máy bay cường kích mang theo những thùng máy điện tử làm nhiễu radar dẫn đường SAM và súng phòng không. Các thùng điện tử cho phép máy bay cường kích bay trên vùng châu thổ tại tầm cao hơn SAM gây nguy hiểm; sau đó những chiếc F-105 và F-4 phơi mình trước súng phòng không tầm thấp trước khi lao xuống mục tiêu. Trước tháng 4, những máy bay cường kích thường lao xuống trên khu vực súng phòng không yếu, và trên vùng châu thổ hình thành một hệ thống gồm súng phòng không chính xác mà những bom bi có thể giết hoặc đe doạ pháo thủ.
Thời tiết tốt cho việc ném bom cuối cùng đã đến, Tập đoàn không quân số 7 bắt đầu ném bom những sân bay MiG và sau đó có mất mát trên không với MiG. Từ dạo đấy, F-4 hộ tống phần lớn F-105 trên vùng châu thổ để phi công F-105 tập trung vào việc ném bom và không phải vứt bỏ bom hoặc chuyển sang hệ thống báo hiệu tấn công sang chế độ không đối không. Dù có những thay đổi quan trọng, chiến thuật ném bom vẫn là thông thường và dự đoán trước được. Hôm nào thời tiết đẹp, khoảng hai trăm máy bay từ Thái Lan và Vịnh Bắc Bộ bay đến vùng châu thổ. Không quân Mỹ lên lịch bốn đợt trong một ngày - hai đợt vào buổi sáng và hai đợt vào buổi chiều, mỗi đợt có từ tám đến 24 máy bay được hộ tống và đôi khi nhiều hơn. Việc tiếp dầu cho máy bay cường kích bay tới vùng châu thổ từ Thái Lan buộc họ phải lên lịch cho máy bay tiếp dầu. Do không đủ máy bay tiếp dầu cho các máy bay tham gia các đợt cả sáng lẫn chiều nên máy bay tiếp dầu không có thời gian vài giờ vào giữa ngày để nhận thêm dầu. Vì những tàu sân bay gần Bắc Việt nam hơn là những sân bay ở Thái Lan, máy bay hải quân ít phụ thuộc vào tiếp dầu(1). Máy bay hải quân có sự mềm dẻo về thời gian không kích và những đợt bay nhỏ hơn không quân. Dù vậy, radar Bắc Việt nam phát hiện được những cuộc tấn công từ hơn 100 dặm, không mấy khi bị bất ngờ. Phần lớn thiết bị điện tử chống radar đối phương phải phải xác định chính xác từng máy bay; chúng đã làm cho sự hiện diện của tốp bay thậm chí rõ ràng hơn.
Việc ném bom leo thang giúp Bắc Việt có thời gian để bảo vệ đồng bằng sông Hồng bằng hệ thống phòng không rất khó bị đánh phá. Thí dụ một tiểu đoàn SAM 25 chiếc (mỗi tiểu đoàn có sáu bệ phóng tên lửa) quay tròn trong khoảng 150 trận địa. Các máy bay Mỹ đi ném bom SAM thường gặp phải những trận địa bỏ trống, vì trận địa SAM vừa sử dụng xong lập tức rút đi biến thành bẫy súng phòng không. Bắc Việt rất nhanh chóng di chuyển súng phòng không cũng như SAM; không đòi hỏi công sức chuẩn bị trận địa cũng như không cần đường xá tốt, các khẩu pháo phòng không di chuyển dễ dàng. Sự di chuyển của họ và sự bày đặt hình nộm tạo ra ấn tượng lớn trong phạm vi phòng không Bắc Việt nam. Khi những nhân viên tình báo Mỹ nhìn qua cảnh này, họ đã đánh giá thấp đi số lượng súng phòng không Bắc Việt nam cỡ nòng ít nhất 37 ly (cỡ nòng 100 ly) từ hơn 7 nghìn chiếc đầu 1967 tới còn một nghìn vào năm 1972. Tuy thế họ vẫn có số lượng nhiều ở đồng bằng sông Hồng, phối hợp khoảng 150 bệ phóng SAM và hơn một trăm MiG. Thành phần quan trọng nhất của hệ thống phòng không là hơn hai trăm radar có khả năng cảnh báo dẫn đường cho MiG, SAM, và cao xạ.
Vì các cuộc không kích không đạt được bất ngờ, áp lực chịu đựng là đáng kể. Nhưng khả năng hạn chế để không kích chính xác về ban đêm và trong thời tiết xấu khiến áp lực kéo dài và làm thất bại ý đồ chiếm lợi thế trong tầm nhìn kém bằng cách bay dưới tầm kiểm soát của radar đối phương.
Tại vùng đồng bằng sông Hồng đông dân cư và phòng không dày đặc, máy bay Mỹ rất khó khăn không kích về ban đêm hoặc trong thời tiết xấu mà phải tránh thương vong cho dân thường. Sự thận trọng của chính quyền Johnson không ngăn cản bộ máy tuyên truyền của Bắc Việt nam cho là nhiều thương vong tương trong thời kỳ gió mùa đông bắc năm 1966-1967. Mặc dù Mỹ ý định mở rộng chiến dịch ném bom vùng châu thổ về đêm và thời tiết xấu, nhưng những cuộc không kích ở đó vẫn diễn ra vào ban ngày và thời tiết tốt.
______________________
(1) Mặc dù tàu sân bay có máy bay tiếp dầu KA-3 trên boong, máy bay hải quân đôi khi cần tiếp dầu từ những KC-135 của không quân to hơn và số lượng nhiều hơn. Ngày 31-5-1967, một KC-135 tiếp dầu cho KA-3 của hải quân cùng lúc đó nạp dầu cho một F-8 của hải quân - đây là là lần đầu tiên có việc tiếp dầu trên không có 3 máy bay. Hai chiếc KA-3 của hải quân và bốn máy bay không quân được nạp dầu trước khi KC-135 hạ cánh. Tổ lái (thiếu tá John J. Casteel, đại uý Dean L. Hoar, đại uý Richard L. Trail, và thượng sĩ Nathan C. Campbell) nhận “National Aeronautic Association’s Mackay Trophy” chuyến bay xuất sắc nhất năm 1967. Xem Charles K. Hopkins, SAC Tanker Những chiến dịch ở  chiến tranh Đông Nam Á  (Offutt AFB, 1979), trang 68-69.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #48 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 01:37:39 pm »

Ngày 10-11-1966, tổng thống Johnson chấp thuận chương trình ném bom một vài mục tiêu ở đồng bằng sông Hồng, bao gồm khu gang thép Thái Nguyên; nhà máy xi măng và hai nhà máy điện ở Hải Phòng; ga Yên Viên và xưởng sửa chữa ô tô Văn Điển, cả hai đều gần Hà Nội; và những kho dầu tại Ha Gia và Can Thon. Mặc dù đã mất ba tháng thông qua danh sách các mục tiêu này, Johnson vẫn trì hoãn 4 mục tiêu chính: khu gang thép, nhà máy xi măng, và hai nhà máy điện. Hơn ba tháng trôi đi trước khi tổng thống bắt đầu thông qua những mục tiêu này. Trong thời gian ấy, ông chờ đợi một sáng kiến hoà bình khác.
Danh sách các mục tiêu được thông qua và phần nào bị trì hoãn tới tháng 11 là do có một vài đề xuất đưa ra vào tháng 8. Lúc đó, chiến dịch phá huỷ nguồn nhiên liệu đã trôi qua do thất bại trong trong việc phá huỷ các khu vực chứa dầu. Các thùng dầu được chôn dưới đất, giấu trong rừng rậm, hoặc chứa ở dọc đường thôn quê, ngoài ranh giới chính quyền Johnson cho phép ném bom. Không quân Mỹ ở Thái Bình Dương gợi ý mở rộng những mục tiêu trọng yếu tương tự khu gang thép Thái Nguyên, ga Yên Viên, và xưởng sửa chữa ô tô Văn Điển. Mặc dù Sharp tán thành những mục tiêu này trước tháng 11, nhưng đầu tháng 8 ông vẫn còn ủng hộ chiến dịch phá kho dầu.
Đứng đầu danh sách là khu vực chứa dầu Ha Gia và Can Thon, nhưng chưa được phép tấn công trước vì nó nằm gần sân bay Phúc Yên và Kép. Chính quyền Johnson lo ngại ném bom những sân bay MiG có thể khiêu khích phản ứng của Liên Xô và Trung Quốc. Khi hai danh sách mục tiêu từ Hawaii đưa tới Washington, Tham mưu trưởng liên quân kết hợp chúng và đưa thêm nhà máy điện Hải Phòng và nhà máy xi măng.
Nhà máy xi măng Hải Phòng là nhà máy duy nhất ở Bắc Việt nam. Tầm quan trọng của nó được CIA khẳng định vào tháng 3-1966, khi CIA tính nó trong số những mục tiêu ném bom các kho dầu cùng với cảng Hải Phòng nằm sát nó và tuyến đường sắt đông bắc tới Trung Quốc; cho dù đường sắt không bị cắt đứt trong thời kỳ ném bom mở rộng, thì xăng dầu và xi măng cũng như những hàng hoá khác đã thâm nhập vào qua đường biển. CIA gợi ý bổ xung chỉ một phần. Ngoài việc đánh phá kho dầu, tuyến đường sắt đông bắc bị ném bom thường xuyên đến nỗi trở thành một cái bẫy súng phòng không, nhưng hàng đoàn tàu hoả vẫn tiếp tục lăn bánh. Nhà máy xi măng Hải Phòng, cũng như cảng Hải Phòng vẫn chưa bị đụng đến và vô cùng tấp nập.
Sự gọi ý các mục tiêu của tất cả các cơ quan quân sự từ Tham mưu trưởng liên quân (JCS) đôi khi xoay quanh sự phán xử của họ giữa cái tổng thống chấp thuận và cái là cần thiết nhất. Mặc dù việc bịt cảng Hải Phòng được xem như một đối tượng chính, tướng Wheeler tránh nhắc lại một cách gợi ý này. Sharp và những người khác cấp dưới dè dặt hơn, thậm chí họ không đánh mạnh Hải Phòng mỗi lần. Phớt lờ sự kiềm chế của Wheeler, chính quyền Johnson thường bỏ qua gợi ý của JCS. Tổng thống chuẩn y một cách chậm chạp, chấp thuận danh sách mục tiêu tháng 8-1966, cái này đến tháng 11 rốt cuộc trở thành chương trình ném bom thứ 52 được ra lệnh kể từ khi bắt đầu Sấm Rền. Hồi đầu chiến dịch, những chương trình ném bom kéo dài một tuần, nhưng chương trình thứ 51 kéo dài bốn tháng. Bấy giờ chính sách leo thang đã ném bom tới ngoại vi Hà Nội và Hải Phòng, nhưng chính quyền ngần ngại đi xa thêm.
Ngày 11-11, tổng thống Johnson trì hoãn bốn mục tiêu mà ông vừa chấp thuận, các cố vấn quân sự của ông tin rằng sự trì hoãn sẽ bớt thương vong. Wheeler giải thích cho Sharp rằng những mục tiêu bị trì hoãn chỉ tới sau chuyến thăm Moscow của George Brown, ngoại trưởng Anh. Brown theo lịch sẽ rời Moscow ngày 25-11, và Wheeler được cam đoan những mục tiêu bị trì hoãn lúc đó sẽ bị đánh mạnh. Sự trì hoãn giữ qua Tết (vào tháng 2-1967). Trong khi Sharp và Momyer có thể kìm lại về sự chậm trễ này, chính quyền Johnson lại khám phá khả năng nghi ngờ rằng những người lãnh đạo có thể thiện chí bàn chuyện nghiêm túc một cuộc dàn xếp có thể chấp nhận được đối với Hoa Kỳ. Hoạt động ngoại giao bắt đầu bằng việc Brown thăm Moscow tháng 11 và kết thúc với chuyến thăm London trong tháng 2 của nhà lãnh đạo Liên Xô, Alexei Kosygin. Ba Lan cố gắng thu xếp một cuộc gặp giữa những quan chức Bắc Việt nam và Mỹ tại Warsaw.
Bộ ngoại giao đặt tên cho mỗi người thăm dò hoà bình bằng một bông hoa, đã gọi sáng kiến của Ba Lan là “cúc vạn thọ” (Marigold). Từ mùa hè năm 1966, một đại diện Ba Lan trong Uỷ ban kiểm soát quốc tế ở Việt nam cố gắng tìm mảnh đất chung ở vị trí Mỹ và Bắc Việt nam. Ngày 30-11, ông chuyển cho đại sứ Lodge ở Saigon danh sách 10 điểm mà Chính phủ Bắc Việt nam coi như cơ sở cho cuộc đàm phán với những quan chức Mỹ tại Warsaw. Bất chấp sự e dè của Bộ ngoại giao, đại sứ Mỹ tại Warsaw đầu tháng 12 thăm dò liệu cuộc đàm phán với Bắc Việt có thể thu xếp qua bộ trưởng ngoại giao Ba Lan hay không. Tại thời điểm này, Marigold đã chết. Theo bộ trưởng ngoại giao Ba Lan, việc Mỹ ném bom gần Hà Nội bóp chết những quan tâm của Bắc Việt nam trong việc tiếp xúc.
Tháng 11, việc trì hoãn những mục tiêu có thể gây nguy hiểmnhững người thương lượng không cứu chính quyền Johnson thoát khỏi gánh bị buộc tội làm những việc như thế. Hai trong số những mục tiêu không bị trì hoãn đều gần Hà nội: ga Yên Viên (cách trung tâm Hà nội 5 dặm về phía đông bắc Hà nội) và xưởng sửa chữa ô tô Văn Điển (bốn dặm về phía đông nam Hà Nội). Không phải từ lúc không quân Mỹ ném bom kho xăng Hà Nội ngày 29-6-1966, mà bom đã rơi gần trung tâm Hà Nội. Trong ba tuần lễ sau khi Johnson phê chuẩn những mục tiêu này, thời tiết lại cản trở không kích. Ngày 2-12, những đám mây đã bớt đi, hải quân không kích xưởng sửa chữa ô tô. Hai ngày sau không quân Mỹ ném bom nhà ga.
Có người nói việc quyết định thời gian ném bom là do thời tiết và chứ không phải do Marigold, bộ trưởng ngoại giao Ba Lan phản đối rằng chính sách quan trọng hơn thời tiết. Bộ ngoại giao, tuy thế, thông báo cho đại sứ của mình tại Warsaw rằng không có thay đổi trong chương trình ném bom hiện tại. Một mặt, tổng thống đưa ra phản ứng không hài lòng với đòi hỏi của tướng Wheeler trì hoãn những mục tiêu bị tấn công. Wheeler cho Sharp biết sự chậm trễ là do “các vấn đề chính trị”.
Khi thời tiết vùng châu thổ tốt lên vào ngày 13, 14-12, máy bay không quân và hải quân trở lại ném bom những mục tiêu mà họ đã bắn phá hai tuần trước đó.
Sau những cuộc không kích này, bộ trưởng ngoại giao Ba Lan nói với đại sứ Mỹ rằng Bắc Việt sẽ không nói chuyện với chính phủ Mỹ. Tổng thống Johnson cố gắng cứu vãn mối liên lạc Warsaw bằng cách đưa ra đề nghị: Mỹ sẽ không ném bom bên trong 10 hải lý tính từ trung tâm Hà Nội, nếu Bắc Việt và Việt Cộng cũng kiềm chế tấn công bên trong 10 dặm tính từ trung tâm Saigon. Không có sự đáp lại của Bắc Việt nam, Johnson đơn phương thành lập một vùng hạn chế với bán kính 10 hải lý cho Hà Nội; máy bay Mỹ thậm chí không bay trên vùng hạn chế. Qua diễn biến của năm sau, tuy thế, tổng thống cho phép nhiều cuộc tấn công vào những mục tiêu bên trong vùng hạn chế.
Vùng hạn chế ném bom ở Hà nội có thêm một hạn chế đối với những phi công Mỹ non tay và khuyến khích phòng không Bắc Việt nam tập trung gần những mục tiêu cần bảo vệ. Xung quanh vùng hạn chế 30 dặm vẫn còn chỗ. Các phi công phải kiếm lấy một số chỗ tự do ném bom: trận địa SAM và nơi chứa dầu có thể bị ném bom hoặc bất mục tiêu nào được cho phép từ trước mà không bị rút đi; thêm nữa, máy bay trinh sát vũ trang được phép bay dọc đường sắt. Hải Phòng cũng được bảo vệ bởi vùng hạn chế (10 hải lý từ trung tâm) và sau này được nhận một vùng hạn chế (bốn hải lý từ trung tâm). Vùng đệm dọc biên giới Trung Quốc vẫn còn bị hạn chế tất cả những mục tiêu trong danh sách của JCS không cho phép.
***
Việc tổng thống Johnson hạn chế ném bom gần Hà Nội đúng lúc bắt đầu một sáng kiến tuyên truyền quan trọng nhất của Bắc Việt nam trước khi cuộc tiến công Tết Mậu Thân 1968 nổ ra. TASS, cơ quan thông tin Liên Xô, đưa ra một báo cáo rằng những cuộc ném bom trong tháng 12-1966 đã giết nhiều dân thường ở khu đông dân cư Hà Nội, đã nổi bật trên các tít báo ở Mỹ và châu Âu. Đó mới chỉ là bắt đầu. Thời gian đầu chiến dịch Sấm Rền, Bắc Việt Nam cho phép một phóng viên Mỹ tới thăm. Trong nhiều người xin visa, Bắc Việt Nam chọn Harrison Salisbury, trợ lý chủ bút tờ New York Times.
Sau khi bài báo của Salisbury xuất hiện, chính phủ Anh kêu gọi nói chuyện tức thời để chấm dứt thù địch. Chủ tịch Uỷ ban đối ngoại Thượng nghị viện, J. William Fulbright (đảng Cộng Hoà, Arkansas), tổ chức buổi điều trần. Thượng nghị sỹ Vance Hartke (đảng Cộng Hoà, Indiana) kêu gọi chấm dứt ném bom và đánh giá nỗ lực bởi cựu thứ trưởng ngoại giao George Ball và cựu đại sứ tại Ấn Độ John Kenneth Galbraith. Mặt khác, chủ tịch Uỷ ban quân lực, L. Mendel Rivers (đảng Cộng Hoà, Nam Carolina), cho rằng Hoa Kỳ “tiêu diệt” Hà Nội nếu cần thiết: “Cho họ hai tuần lễ để suy nghĩ và sau đó san phẳng thành phố”. Trong khi các chuyên gia Bộ quốc phòng hết sức làm dịu sự tranh cãi công khai, thì các sếp của họ lại đóng góp vào việc này. Arthur Sylvester, trợ lý bộ trưởng quốc phòng về công chúng, thẳng thừng tấn công “Harrison Salisbury” của tờ báo “New Hà Nội Times”. Năm sau, tác giả Tom Wolfe gọi Salisbury là “kèn ocarina” mà Bắc Việt sử dụng “dường như họ đang nhả khói khỏi tẩu và ngón tay làm việc đúng và bài ca cất lên tốt hơn là họ tự hát”.
Bắc Việt đã làm một việc tốt khi chọn một phóng viên. Salisbury đại diện cho một tờ báo có thanh thế nhất nước Mỹ, và ông phản đối ném bom Bắc Việt nam. Suốt nhiều tháng ông thu xếp để Bắc Việt nam cho phép vào đất nước của họ. Tháng 6-1967, ông đã nói chuyện với lãnh sự Bắc Việt nam ở Phnom Penh, Campuchia, và đã điền tờ khai xin visa của mình ở đó. Một bức thư thay mặt ông được gửi tới Hà nội do Anne Morrison viết, bà là người theo đạo Quaker, chồng bà được Bắc Việt nam tôn sùng là anh hùng sau khi tự thiêu ở trước Lầu Năm Góc. Ngày 15-12 chính phủ Bắc Việt nam gửi điện cho Salisbury nói rằng visa của ông đang chờ tại Paris. Ông đến Hà Nội ngày 23-12 và ở lại hai tuần lễ. Những bài báo trên trang một bắt đầu xuất hiện vào ngày Nô-en.
Salisbury trú tại khách sạn Metropole (cũ) ở Hà nội, khách sạn này được đổi tên là Thống Nhất, minh hoạ kế hoạch của Bắc Việt nam chiếm Nam Việt nam. Khi ông ở đó, khách sạn có phó giám đốc TASS; bốn phụ nữ Mỹ đi thăm theo sự thu xếp của David Dellinger, một chiến sĩ hoà bình nổi bật; và một đoàn đại biểu 7 người đi tìm kiếm bằng chứng cho nhà triết học Anh Bertrand Russell, người đang chuẩn bị một phiên toà chế giễu tổng thống Johnson và “những tội phạm chiến tranh người Mỹ”. Mỗi nhóm và Salisbury theo các chuyến đi riêng rẽ dưới làn bom nguy hiểm.
Salisbury lần đầu tiên nhìn thấy những chỗ ở Hà Nội, nơi gần ba trăm ngôi nhà bị phá huỷ và 10 người chết. Khu đông dân bị phá huỷ, cách ga Yên Viên hoặc xưởng sửa chữa ô tô Văn Điển chừng khoảng 5 dặm. Ông mô tả xưởng sửa chữa ô tô (nơi sửa xe tải lớn có 180 ngôi nhà) là “một khu vực rộng có những toà nhà sáng đèn có thể và không có thể là bãi đỗ xe tải”. Salisbury quan tâm nhiều đến sự phá huỷ trường trung học hữu nghị Việt nam - Ba Lan “khoảng ba phần tư dặm từ nơi được coi là mục tiêu ném bom của Mỹ”. Ông không tính thương vong trong trường hợp này. Khi tới ga Yên Viên, người ta nói cho ông rằng những toà nhà bị phá huỷ và bị hư hại gần như chỉ còn lại dấu vết là những căn nhà.
Báo cáo về những hư hại do bom Mỹ gây ra còn miêu tả thêm những hư hại đối với khu tổ hợp kho hàng gắn liền với nhà ga lớn nhất đất nước. Tính toán của Salisbury không tính đến những kho hàng.
Ngày Nô-en Salisbury được đưa đến thành phố Nam Định, 60 dặm về phía đông nam Hà nội.
Nơi đây là chứng cớ chính của Bắc Việt nam đối với bom Mỹ. Theo Salisbury, thành phố bị ném bom 52 lần trong một năm, 89 người chết, và 13% nhà cửa trong thành phố bị phá huỷ. Salisbury kết luận rằng máy bay Mỹ “ném một khối lượng lớn chất nổ xuống những mục tiêu hoàn toàn dân sự”.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #49 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 01:39:05 pm »

Chính quyền Johnson cố gắng bác bỏ các bài báo của Salisbury hình như ngượng nghịu, cho đây là sự hiểu chủ quan của Salisbury hơn những số liệu của ông. Thật ra, những thống kê của ông đều do chính phủ Bắc Việt nam cung cấp, nhưng phần lớn những số liệu này không có chênh lệch với ước lượng của Mỹ.
Thêm nữa, Bộ trưởng McNamara bối rối khi nghe từ CIA rằng con số người chết do bom Mỹ tại Bắc Việt Nam có thể lên đến con số 29 nghìn, bao gồm hơn hai nghìn dân thường. Không cần nói tiếp, tuy thế, dân thường là mục tiêu. Nếu vậy con số thương vong còn cao hơn.
Chính quyền Johnson áp dụng những biện pháp lạ thường để làm giảm thiểu con số thương vong dân thường. Vấn đề là ở chỗ chính quyền không nói cho công chúng những hạn chế của việc ném bom. Thậm chí một phi công nhắm đúng một mục tiêu, đa số bom của anh ta có chiều sai lạc. Khi ném bom trên lưới lửa súng phòng không, chỉ khoảng một nửa bom do những F-105 (thường mang sáu bom 750 cân Anh) ném xuống là trúng trong bán kính năm trăm feet từ điểm ngắm. Dân Mỹ, người không hiểu rằng sự chính xác của bom không giống trên mặt phòng thủ được xác định, có thể dễ chấp nhận những kết luận của Salisbury.
Salisbury nhìn thấy chút ít phòng không Bắc Việt nam. Phi công hải quân biết rất rõ thành phố Nam Định về sự tập trung pháo cao xạ và SAM đón chào họ khi họ bay tới đồng bằng sông Hồng theo con đường trực tiếp từ phía nam. Theo Cục tình báo quân đội, tại Nam Định có khoảng một trăm súng cỡ nòng ít nhất 85 ly và khoảng 50 súng cỡ nòng nhỏ hơn - ít nhất 37 ly, không tính đến một tiểu đoàn gồm sáu bệ phóng SAM. Salisbury không nói nhìn thấy súng cao xạ ở Nam Định. Vì ông tới thăm trong dịp ngừng bắn Nô-en, không có sự tấn công để khiêu khích việc bắn trả. Nam Định báo động ba lần do máy bay trinh sát Mỹ.
Salisbury làm cho dân Mỹ hiểu sai khi kể rằng những mục tiêu ở Nam Định ngoài con người còn là đê điều và một nhà máy dệt. Mặc dù đây là nhà máy dệt lớn nhất ở Bắc Việt nam, nhưng nó không được coi là mục tiêu. Một nhà máy điện kề bên bị ném bom một vài lần, và những quả bom lạc hướng đã làm hư hai nhà máy dệt; 20 nghìn công nhân nhà máy dệt đã sơ tán đến các nhà máy nhỏ hơn.
Trong suốt cuộc chiến tranh, Bắc Việt tố cáo Hoa Kỳ ném bom hệ thống đê điều phục vụ việc trồng lúa. Nếu bị ném bom sau trận mưa lớn, lúc có gió mùa tây nam, đê điều bị thủng có thể gây ra lụt lội lớn. Đôi lúc khi tấn công những súng phòng không bắn lên từ đê điều, phi công không hề được phép tấn công đê điều. Vì Nam Định cách bờ biển 20 dặm, phần lớn các vụ không kích là của hải quân, và hải quân đã ném bom một cảng sông nằm cạnh đê điều. Không có một trận lụt lớn nào do ném bom gây ra ở bất cứ nơi nào ở Bắc Việt nam. Những mục tiêu chính ở Nam Định là kho xăng, nhà máy điện, nhà ga, cảng sông, và những trận địa phòng không. Chẳng có điều nào trong số này được miêu tả trong những bài báo của Salisbury.
Mặc dù Salisbury kể về những hư hại ở Nam Định lớn hơn ở Hà Nội, nhưng lại khó giải thích hơn, vì những mục tiêu được phép ném bom cách xa khoảng 5 dặm. Không ảnh do máy bay trinh sát chụp chỉ ra một số phi công không quân đã nhầm ga Gia Lâm thành ga Yên Viên. Gia Lâm nằm giữa Yên Viên và trung tâm Hà Nội. Hai nhà ga rất dễ bị lẫn bởi những đám mây che phủ vì Yên Viên nằm ở đông cầu Đuống (Canal des Rapides) và Gia Lâm nằm phía đông cầu Long Biên bắc qua sông Hồng. Phía nam cầu Long Biên là trung tâm Hà Nội. Tuy thế, thực chất của sự sai lầm này không được đưa ra công khai. Chính quyền chỉ nói có một số tai nạn có thể xảy ra.
Chính quyền Johnson không bình luận công khai về những thiệt hại do máy bay vứt bỏ bom, tên lửa không đối đất, hoặc thùng dầu phụ khi bỏ chạy khỏi MiG. Sự nguy hiểm của những vụ nổ đủ làm mất can đảm những phi công khi hạ cánh còn bom trong khoang. Vì lý do này và để bảo tồn dầu, những quả bom không cần nữa được ném xuống biển hoặc trên những đỉnh núi trên đường về căn cứ. Mặc dù bom bị vứt bỏ không nhằm vào họ, nhưng một quả bom 750 cân Anh bom khi rơi từ độ cao một vài nghìn feet có thể gây ra một hư hại đáng kể thậm chí chẳng cần nó phát nổ. Việc chính quyền không thực hiện bàn luận một cách thoải mái về những câu hỏi rành mạch đã làm giảm tín nhiệm khi giải thích việc đã làm. Chính quyền nhấn mạnh rằng đó là hậu quả máy bay bị cháy bắn ra những mảnh rơi xuống đất. Đây là sự giải thích khéo léo cho những hư hại nhẹ mà Salisbury kể về đại sứ quán Trung Quốc và Romanie. Những phi công Mỹ từng nhìn thấy SAM bay mất phương hướng và nổ trên mặt đất; điều này có thể giải thích những vụ phá huỷ mạnh hơn.
Bắc Việt nam gửi một thông điệp hoàn toàn đẹp đẽ tới nhân dân Mỹ qua Harrison Salisbury. Bức thông điệp không đơn giản về tội ác của Mỹ, mà còn là sự phản đối của Bắc Việt nam. Những quan chức Bắc Việt nam cẩn thận thổi phồng thiệt hại do bom Mỹ gây ra và giảm nỗ lực của họ tại Nam Việt nam. Họ nói với Salisbury rằng họ chờ đợi Hà Nội sẽ bị phá huỷ và họ đã chuẩn bị những bản thiết kế cho thủ đô tương lai. Salisbury cũng nghe rằng nhiều dân chúng thành phố và nhà máy của họ đã sơ tán về nông thôn. Tại Nam Định - thành phố lớn thứ ba của Bắc Việt nam, chỉ 20 nghìn người trong số 90 nghin ở lại nội thành. Với thông tin này, con số thương vong thấp có thể tương thích với những thiệt hại lớn, và có lẽ người Mỹ có thể bị thuyết phục rằng mọi cố gắng ném bom vào công nghiệp và dân chúng sẽ là vô ích. Bản thân Salisbury nhìn thấy khá nhiều người ở lại trong những thành phố có thể nấp dưới hâm trú ẩn. Mặc dù ông không chứng kiến một cuộc không kích, nhưng nhiều báo động phòng không đã cổ vũ dân chúng cầm súng trường sẵn sàng bắn vào máy bay Mỹ.
Những quan chức Bắc Việt nam khoác lác rằng Nam Việt nam không dám đương đầu với dân chúng của mình. Nhưng những bằng chứng ở Hà Nội không phải là toàn bộ câu chuyện.
Vì những cuộc ném bom bị hạn chế vào ban ngày, cửa hàng và phố xá hối hả về đêm.
Salisbury nhìn thấy hàng nghìn thùng xăng thể tích 55 gallon nằm dọc đường làng và rải rác trên cánh đồng lúa. Bom Mỹ đã phá huỷ những kho lớn chứa xăng dầu, vì nó không thể phân tán. Tương tự, phụ tùng thay thế nằm dọc đường sắt và quốc lộ. Hư hỏng có thể được công nhân đường bộ sửa chữa nhanh chóng, và dòng xe cộ chạy suốt đêm. Trong một cuốn sách xuất bản ba tháng sau khi về nước, Salisbury mở rộng đề tài này. Ông hỏi tại sao khá nhiều mục tiêu tầm thường bị ném bom trong khi những mục tiêu rành rành là quan trọng như cầu Long Biên và nhà máy điện Hà nội vẫn chưa bị đụng đến? Đây là câu hỏi mà đô đốc Sharp và tướng Momyer đang hỏi. Trong vòng bốn tháng khi cuốn sách xuất bản, cả hai mục tiêu bị ném bom.
Leo thang không kích vẫn tiếp diễn, theo một khảo sát tháng 2-1967 do Lou Harris tiến hành, ông thấy rằng 67% dân chúng Mỹ ủng hộ ném bom Bắc Việt nam. Một phát hiện cũng đáng chú ý không kém là 85% dân chúng Mỹ đồng ý rằng việc ném bom đang giết hại thường dân. Từ nay về sau, các tranh luận về ném bom chuyển hướng khỏi sự cân nhắc về mặt nhân đạo và tập trung vào cái giá phải trả và tính hiệu quả của nó .
***
Cái giá của chiến dịch Sấm Rền nhận nhiều sự chú ý chính thức vào cuối năm 1966 và đầu năm 1967. Việc ném bom thường xuyên vào đồng bằng sông Hồng làm tăng cái giá người Mỹ phải trả tiền. Từ bắt đầu tháng 7-1966 đến cuôi tháng 9, 51 máy bay Mỹ rơi tại gói mục tiêu 6, quanh đa số vùng châu thổ; trong đó 44 chiếc thuộc về không quân, chịu tỷ lệ thiệt hại vượt quá 25/1000 lượt xuất kích. Trước khi ném bom vùng châu thổ, Mỹ chỉ bị thiệt hại không quá 3/1000 ở Đông Nam Á và trung bình là dưới 1/1000. Thiệt hại ở vùng châu thổ là việc gần như không có khả năng cứu phi công tại vùng khá đông dân và phòng không dày đặc.
Thiệt hại nặng nề của không quân ở gói mục tiêu 6 tương phản mạnh so sánh với thiệt hại nhẹ của hải quân - 7 máy bay hải quân bị rơi từ tháng 7 tới tháng 9 (so sánh với không quân là 44) với tỷ lệ thiệt hại là 3/1000 lượt xuất kích. Trong thời kỳ này, hải quân xuất kích nhiều lượt vào gói mục tiêu 6 hơn không quân Mỹ (1,695 so với 1,557 của không quân). Trước khi ném bom vùng châu thổ giữa năm 1966, tỷ lệ thiệt hại trên bầu trời Bắc Việt Nam của hải quân và không quân là tương đương nhau, hải quân có chút ít nhẹ hơn. Sự thay đổi tối đa được áp dụng trong những chiến dịch giữa năm 1966 không tiếp tục được vào năm sau, mặc dù tỷ lệ thiệt hại của hải quân vô cùng khá tốt ở mọi chỗ). Đôi khi có lời giải thích rằng ưu thế ghi nhận thiệt hại thấp của hải quân là do những mục tiêu của hải quân gần bờ biển, điều này nghĩa rằng chặng đường ngắn hơn khi bay qua đất liền được phòng thủ; gói mục tiêu 6 chia thành phân nhóm B dọc bờ biển dành cho hải quân và phân nhóm A ở đất liền dành cho không quân. Nhưng vì phần lớn mất mát xảy ra gần mục tiêu ném bom, vị trí những mục tiêu hải quân không thể giải thích nổi sự thay đổi những thiệt hại xảy ra năm 1966. Những tiến bộ về kỹ thuật của hải quân là đa số máy bay tham gia không kích đều mang thiết bị điện tử chống radar, phát ra những vị trí giả để lừa radar Bắc Việt nam.
Trong năm 1967, thiệt hại của không quân mất ở gói mục tiêu 6 giảm xuống dưới 10/1000 lượt xuất kích. Sự cải thiện này do ba thay đổi: tăng độ cao bỏ bom, tăng việc sử dụng bom bi để trấn áp súng phòng không, và áp dụng thiết bị điện tử.
Bổ nhào thả bom càng cao và ngóc nhanh khỏi mục tiêu, thì khả năng sống sót càng cao nhưng bom trúng mục tiêu cũng ít hơn. Khi không quân Mỹ ném bom mạnh đồng bằng sông Hồng năm 1966 và 1967, sự tập trung súng phòng không ở đó buộc các phi đội phải thả bom ở độ cao từ dưới sáu nghìn feet lên tới chín nghìn feet, ngóc nhanh ở độ cao từ dưới bốn nghìn feet lên đến 7 nghìn feet.
Không may, tăng độ cao thả bom cũng tăng sai sót của vòng tròn trúng bom (tức là bán kính trong đó nửa số bom có xu hướng rơi) từ dưới ba trăm feet lên hơn năm trăm feet.
Mặc dù độ cao thả bom của cả không quân và hải quân được tăng lên ở đồng bằng sông Hồng năm 1966 và 1967, nhưng những phi công hải quân vẫn thả bom và ngóc lên ở độ cao khoảng một nghìn feet thấp hơn phi công không quân.
Sự thật đáng ngạc nhiên này hình như không tương ứng và tỷ lệ mất mát thấp của hải quân - không những cho những gói mục tiêu 6 nó chung, mà còn cả việc bổ nhào và ngóc lên nói riêng.
Một số phi công nói thả bom ở độ cao được gợi ý nhưng thực tế thì họ thả bom ở độ cao thấp hơn hoặc cao hơn. Nhưng nó không chỉ ra rằng những báo cáo không đúng thường phổ biến trong hải quân hơn là không quân. Phần nào có thể giải thích là hải quân thay đổi độ cao thả bom cho từng mục tiêu hơn là theo gợi ý chung cho gói mục tiêu 6. Với những mục tiêu được phòng thủ mạnh, phi công hải quân nói họ thả bom tại độ cao cao hơn.
Độ cao thả bom cao hơn hình như là tương xứng với sự giảm đáng kể mất mát tại gói mục tiêu 6. Trong tháng 8-1966, sáu F-105 bị rơi trong khi lao xuống hoặc vọt lên tại mục tiêu trong gói mục tiêu 6. Trong tháng 5-1967 (khi không quân Mỹ bay một nghìn lượt xuất kích, hoặc nhiều hơn hai lần tháng 8-1966) chỉ có ba F-105 bị bắn rơi. Bốn F-105 rơi vào tháng 8-1966 do trúng đạn ở đội cao dưới bốn nghìn feet. Chỉ có một trong số F-105 rơi vào tháng 5-1967 là bị trúng đạn ở độ cao nói trên. Mặc dù súng phòng không được tăng tầm nhìn, họ không những bị lạc hướng do độ cao, mà còn do bom bi nổ xung quanh họ.
Bom bi - loại bom mới ra đời - là một cái thùng được thiết kế để tung ra hàng trăm quả bom nhỏ mà khi nổ sẽ bắn ra hàng nghìn viên bi ra các hướng. Mặc dù bom bi ít hiệu quả hơn súng, nhưng có thể làm những pháo thủ bị thương. Những mẫu bom bi đầu tiên không được sử dụng tại vùng đồng bằng sông Hồng, vì chúng đòi hỏi thả ra ở độ cao khoảng ba trăm feet. Năm 1966 không quân Mỹ sử dụng bom bi có thể thả ở độ cao hơn ba nghìn feet khi bổ nhào. Do việc tăng khả năng sử dụng bom bi kiểu mới, mà một trong số bốn máy bay có thể dùng bom bi để trấn áp súng phòng không trong khi ba chiếc còn tại tấn công mục tiêu. Để làm các pháo thủ đối phương mất dũng cảm, lâu hồi phục sức chiến đấu tại các vị trí của họ, những mẫu mới nhất đã cải tiến để những bom con nổ bất ngờ trong thời gian 2 giờ; thực tế thời gian nổ cắt giảm còn 20 phút - chỉ có ít cuộc không kích kéo dài lâu hơn. Khiếm khuyết của bom bi lần đầu tiên đưa vào sử dụng là sự khan hiếm chúng. Mãi tới đầu năm 1967 vẫn chưa sản xuất đủ. Thậm chí, Tập đoàn không quân số 7 yêu cầu 500 quả hàng tháng mà chỉ nhận được 1/8 số này, và hải quân cũng muốn chúng.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM