Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:21:00 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bay đến Hà Nội và thoát về  (Đọc 93195 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #60 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:20:23 pm »


Trong những năm ở Thượng nghị viện, Lyndon Johnson từng là chủ tịch Tiểu ban điều tra sơ bộ của uỷ ban quân lực. Vị chủ tịch hiện nay, John Stennis (đảng Cộng Hoà, Mississippi), thường đóng vai trò của Johnson thậm chí khi Johnson còn ở Thượng nghị viện, vì Johnson bị thu hút bởi những công việc quan trọng hơn. Mặc dù lập trường tự do của Johnson tăng lên trong quyền dân sự đã đã làm lúng túng Stennis, nhưng ông đã ủng hộ Johnson trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1960. Thậm chí sau khi Johnson vào Nhà Trắng và ban hành bộ luật quyền dân sự, Stennis vẫn tiếp tục ủng hộ ông trong nhiều vấn đề khác, bao gồm chiến tranh ở Việt nam. Nhưng ông rất không tán thành việc Johnson ngả sang tăng thêm ném bom xuống Bắc Việt nam.
Lo ngại rằng người Mỹ có thể tiếp tục chết ở Nam Việt nam từ năm này sang năm khác, một số nhân vật cứng rắn nhất trong giới quân sự tại Thượng nghị viện bắt đầu nghĩ rằng một sự rút lui có thể là thích hợp hơn chính sách leo thang. Ngày 1-8-1967, thượng nghị sỹ Ernest F. Hollings (đảng Cộng Hoà, Nam Carolina) cảnh báo Walt Rostow về những chính sách của tổng thống đang gây khó khăn cho một số người hậu thuẫn chủ chốt của ông, chẳng hạn Stennis và thượng nghị sỹ Richard Russell (đảng Cộng Hoà, Georgia), chủ tịch Uỷ ban quân lực.
Trong những năm làm việc ở thượng nghị viện, Johnson được coi như là người che chở Russell. Giờ đây, theo Hollings, Russell đang khá chán ngán với chính sách leo thang, điều mà ông muốn là tuyên bố chiến tranh hoặc rút quân ra khỏi Việt nam. Stennis cũng cảm thấy rằng Mỹ dính quá sâu và đã bỏ lỡ sáng kiến đối với kẻ thù.
Vấn đề liên quan đến sức mạnh không quân, một uỷ viên có ảnh hưởng và người phát ngôn của tiểu ban Stennis là thượng nghị sỹ Stuart Symington (đảng Cộng Hoà, Missouri). Từ khi là Bộ trưởng đầu tiên không quân Mỹ cuối những năm 1940, ông là người bênh vực quân sự trong hơn một tá năm tại Thượng nghị viện. Ông được Johnson đưa vào uỷ ban quân lực, sau đó là lãnh tụ chủ chốt. Tình bạn của họ nguội lạnh đi trong thời kỳ trước trước chiến dịch bầu cử tổng thống 1960, khi cả hai người tìm kiếm sự bổ nhiệm của bữa tiệc của họ. Kể từ đó, họ tiếp tục là những đồng minh chính trị, nhưng Symington tan ảo mộng với cuộc chiến ở Việt nam.
Symington đã thăm Đông Nam Á một vài lần dể cố gắng hiểu cuộc chiến tranh. Khi ông nói chuyện với phi công và tướng tá về những hạn chế được bãi bỏ, ông đặc biệt căm ghét theo lệnh của tổng thống Johnson cấm ném bom những sân bay Bắc Việt Nam. Thậm chí sau khi một số sân bay được thêm vào danh sách mục tiêu cho phép ném bom vào mùa xuân 1967, ông tiếp tục mới tấn công những mục tiêu khác, bao gồm cả sân bay chính của MiG tại Phúc Yên. Khi ông nghe thấy Bộ trưởng quốc phòng McNamara đang cố gắng cắt giảm ném bom, Symington kêu gọi mở một cuộc điều tra.
Các đồng nghiệp của Symington tại tiểu ban Stennis chia sẻ sự bất bình của ông đối với cách tiến hành chiến tranh. Cộng thêm với Stennis, những người khác của đảng Dân chủ Henry M. Jackson (Washington), Howard W. Cannon (Nevada), và Robert C. Byrd (Tây Virginia); những người đảng Cộng hoài là Margaret Chase Smith (Maine), Strom Thurmond (Nam Carolina), và Jack Miller (Iowa). Trong phiên họp kín từ 9 đến 29--1967, tiểu ban đã hỏi 7 tướng, ba đô đốc, và bộ trưởng quốc phòng. Theo quan điểm của tiểu ban, tỷ số là 10:1, McNamara đơn độc một phía.
Người đầu tiên làm chứng là tư lệnh Thái Bình Dương, đô đốc Sharp, được hỗ trợ bởi hai thuộc hạ ở Hawaii, tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương (đô đốc Roy Johnson) và tư lệnh không quân Mỹ ở Thái Bình Dương (tướng Ryan).
Họ và những người hỏi có thể chúc mừng nhau rằng những điều nghe được là bản danh sách mục tiêu được mở rộng thậm chí trước khi họ tiến hành. Vào một buổi sáng của phiên họp mở, tổng thống Johnson chấp thuận những mục tiêu đường sắt bên trong 10 hải lý Hà Nội (bao gồm cầu Long Biên) và bên trong 25 hải lý biên giới Trung Quốc, không tính đến việc cho phép trinh sát vũ trang bên trong 10 dặm Hải Phòng. Tuy thế, Sharp nhấn mạnh rằng ông không yêu cầu nhiều mục tiêu hơn: “Điều quan trọng là chúng ta tiếp tục nhận những mục tiêu tốt này và tấn công nó”.
Những nỗ lực của tổng thống Johnson để giành chiến thắng trước những thượng nghị sĩ đang có xu hướng hạn chế ném bom. Thượng nghị sỹ Smith quan tâm nhiều tới gốc gác khái niệm hàng rào McNamara và mối gắn kết của nó với đề xuất giảm ném bom. Sharp cam đoan với bà rằng hàng rào chưa bao giờ “thay thế ném bom”. Vì khả năng giảm ném bom đã bớt đi, tiểu ban tập trung vào việc cần thiết thả mìn cảng Hải Phòng và ném bom sân bay Phúc Yên.
Thượng nghị sỹ Symington giải thích rằng ông kêu gọi người nghe bởi vì ông lo ngại rằng “cách thức không quân sử dụng sức mạnh đối với Bắc Việt Nam đang được bàn cãi, nó đang bị phỉ báng trước khi dân chúng biết đến những vũ khí lớn hơn của hải quân và không quân, sẽ bị loại bỏ”. Không quân chiến thuật là khá yếu. Các phi công ở Đông Nam Á đã trình bày với ông để được phép ném bom sân bay Phúc Yên. Tại sao Sharp bị từ chối quyền ném bom sân bay Phúc Yên? “Tôi không được đưa lý do”, đô đốc đáp lời.
Walt Rostow thoạt tiên nghĩ rằng Symington muốn ném bom tỉnh tỉnh Phúc Kiến ở Trung Quốc. Cố vấn an ninh quốc gia nghiêm túc cảnh báo tổng thống rằng một cuộc tấn công như thế có nghĩa là gây chiến tranh với Trung Quốc. Nhưng có một điểm mà Symington đang cố gắng làm là không nên coi sân bay Phúc Yên một mục tiêu đặc biệt nhậy cảm. Đây là kho hàng quân sự cách Hà nội hơn 10 dặm. Nếu Tư lệnh Thái Bình Dương thậm chí không nói tại sao Phúc Yên không bị ném bom, thì sự kết luận hợp lý là những người cầm đầu quân sự không được nhúng tay hoàn toàn vào quá trình lựa chọn mục tiêu.
Về những vấn đề quân sự, tổng thống có thể hơi tồi vì ông hiếm khi tổ chức cuộc gặp mặt những đô đốc và tướng lĩnh với các cố vấn chủ chốt của mình. Thậm chí chủ tịch Tham mưu trưởng liên quân, tướng Wheeler, cũng không có mặt trong đa số các cuộc thảo luận năm 1965, và ông có mặt chỉ là tình cờ. Theo lịch sắp xếp Wheeler làm chứng tiếp theo Sharp, Rostow cho rằng Johnson nên có “phiên họp vòng tròn” đối với Wheeler để ông dễ nói rằng ông đã được bàn bạc về tất cả những mục tiêu. Nhưng khi Wheeler làm chứng, ông đề cập cởi mở một số thứ. Ông phàn nàn ít có mặt “thường xuyên”, nói riêng là những chương trình “lớn” ném bom.
Thượng nghị sỹ Thurmond muốn biết xem những mục tiêu được xem xét có khi nào bị gạt đi không khi Wheeler vắng mặt. Wheeler trả lời một cách khẳng định, trong lúc ghi những mục tiêu ấy cũng có khi bị gạt đi khi ông có mặt.
Mặc dù Wheeler cố gắng câm lặng không chỉ trích chính quyền, ông không thể né tránh câu hỏi trực tiếp về những quan điểm của ông đối với Hải Phòng. Ông ủng hộ thả mìn Hải Phòng; các tham mưu trưởng khác ủng hộ việc này; tổng thống và bộ trưởng quốc phòng phản đối nó. Symington hỏi Wheeler ông có xem là chơi đẹp hay không khi chỉ trích các tướng lĩnh về thất bại trong chính sách leo thang. Wheeler đồng ý rằng phê phán như vậy là không đẹp. Về vấn đề sân bay Phúc Yên, tuy thế, ông tự giới hạn nói rằng các tham mưu trưởng liên quân trong suốt hai năm đã đề nghị ném bom nó, nhưng họ không được phép bởi vì nó gần Hà nội, vì giá phải trả cho sinh mạng phi công Mỹ và máy bay, thêm nữa sự đe doạ của MiG cũng yếu.
Việc Symington ủng hộ ném bom Phúc Yên sau này được hiểu rõ bởi tư lệnh Tập đoàn không quân số 7, tướng Momyer. Như trong một cuộc gặp của mình với McNamara ở Sài Gòn, Momyer đã tranh luận một cách thuyết phục về việc tăng hiệu quả của máy bay Mỹ ném bom lực lượng phòng không Bắc Việt nam, đặc biệt là MiG. Những cuộc tấn công sân bay và không chiến mùa xuân đã phá tan sự kháng cự của MiG. “Chúng tôi đã lừa những máy bay MiG lên trời để làm mục tiêu tập bắn”. Những phi công MiG sẽ chẳng bao lâu nữa cho Momyer phải hối hận vì câu này, nhưng tại thời điểm này nó làm bốc hơi hết những chỉ trích của Symington.
Khi tổng thống Johnson gặp các cố vấn chủ chốt của mình, Bộ trưởng quốc phòng McNamara hoàn toàn ca ngợi Wheeler và Momyer. Wheeler có mặt nhân dịp này và nhấn mạnh rằng trong khi Symington là một người thẩm vấn dữ dội, thì ông là “giống như một kỷ lục bị phá ở Phúc Yên”. McNamara dự đoán rằng tiểu ban sẽ thất bại trong cố gắng tìm một vết nứt giữa ông và Wheeler hoặc giữa họ với tổng thống: “chắc chắn có một sự khác nhau nhỏ giữa những người đang thực hiện”.
Lời khai của Wheele đã vẽ lên một bức tranh tăng sự hài hoà giới lãnh đạo quân sự và dân sự. Sau hết, nhiều mục tiêu có lần bị cấm đã được chấp thuận, và ông tin chắc rằng việc phê chuẩn nằm ở phía trước. Thêm nữa, trong số người nghe, tổng thống Johnson chấp thuận thêm 13 mục tiêu (cộng với 16 mục tiêu ông chấp thuận ngay trước khi mở phiên điều trần).
Khi thượng nghị sỹ Smith hỏi tham mưu trưởng không quân Mỹ về việc này, tướng McConnell đưa ra quan điểm mà chuyến đi vừa rồi của McNamara có thể làm cho ông lần đầu tiên đánh giá đúng giá trị của việc ném bom Bắc Việt nam. Nhưng, McConnell nói thêm “Tôi chưa hề nói chuyện với ông ta về việc này một chút nào”.
Bất cứ thành công nào mà các tham mưu trưởng liên quân có được khi miêu tả cuộc đàm luận với McNamara theo quan điểm của họ đã bị bốc hơi khi McNamara làm chứng. Bộ trưởng quốc phòng hăng hái gạt bỏ việc bỏ lại khá nhiều những mục tiêu mới. Những mục tiêu mới là không quan trọng, và ông không thay đổi ý nghĩ của mình về ném bom. Theo quan điểm của McNamara, chưa từng có sự bất đồng lớn giữa ông và các tham mưu trưởng liên quân về việc ném bom - nhưng có một khác nhau về quan điểm phân chia của chỉ có 5% số lượt xuất kích ném bom Bắc Việt nam. Symington xen vào cho rằng tấn công một con bạch tuộc vào đầu hình như “đánh vào đúng nền tảng” mặc dù cái đầu chỉ chiếm 5% con bạch tuộc. “Nhưng nếu anh tấn công 95% con bạch tuộc cùng một lúc”, McNamara đáp lại, “thì sự tương tự không phải như thế…”.
Tiểu ban không chấp nhận sự bất đồng của McNamara rằng tấn công những mục tiêu mới sẽ làm ít khác nhau hơn. Họ cùng một phe với những người làm chứng mặc quân phục, những người này nhấn mạnh sự quan trọng đóng cửa các cảng Bắc Việt nam, đặc biệt Hải Phòng. McNamara cố gắng làm giảm bớt giá trị Hải Phòng, ông tranh luận rằng những cuộc hành quân của cộng sản ở Nam Việt nam chỉ cần một số lượng nhỏ tiếp liệu: nếu lực lượng cộng sản tại Nam Việt nam cần một lượng dưới 1% nhập khẩu Bắc Việt nam, thường chắc chắn tiếp liệu có thể được mang lên bờ bằng xà lan tại vô số điểm dọc theo hàng trăm dặm bờ biển Bắc Việt nam hoặc chở qua đất liền từ Trung Quốc. Trong thời gian bom Mỹ phá huỷ những nơi nạp dầu của họ, thì xà lan Bắc Việt nam chở dầy bằng thùng phuy.
Sự thất vọng của Tiểu ban về lời trần của McNamara là hiển nhiên. Thượng nghị sỹ Howard W. Cannon (đảng Cộng Hoà, Nevada), từng là thiếu tướng trong lực lượng trù bị không quân Mỹ, chỉ ra rằng nhập khẩu qua Hải Phòng đã hỗ trợ những nỗ lực chiến tranh của cộng sản có hay không tiếp liệu này qua biên giới vào Nam Việt nam. Đáp lại luận cứ của McNamara rằng Bắc Việt sẽ đơn giản tìm cách khác để nhập khẩu tiếp liệu cần thiết, Cannon phản đối rằng nếu Mỹ quăng những bàn tay của họ trên không với những khó khăn như vậy, họ nên nói thẳng ra “Hãy để chúng tôi rút đi bởi vì chúng tôi không thể xử lý vấn đề này”. Symington ủng hộ cánh nhìn này.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #61 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:21:11 pm »

Cuối tháng 8-1967, tiểu ban Stennis đưa ra báo cáo của mình. “Cái gì cần bây giờ”, tiểu ban bắt đầu, “là quyết định khó khăn để làm bất cứ thứ gì cho là cần thiết, sự liều lĩnh đã có, và sử dụng sức mạnh được đòi hỏi để nhìn thấy công việc cũng đã qua”. Nhưng cốt lõi gợi ý của tiểu ban là một cái gì đó ít đậm đà hơn những lời hoa mỹ này.
Theo tiểu ban, cần thiết phải đóng cửa cảng Hải Phòng, nhưng nó lại không cần thiết là bắt các thành phố Bắc Việt nam chịu ném bom diện rộng hoặc thậm chí dùng B-52 đối với những mục tiêu gần những thành phố nàys.
Không có ai trong số những người làm chứng yêu cầu dùng B-52 ném bom đồng bằng sông Hồng đông dân cư. Đô đốc Sharp biểu thị lo lắng về khả năng lửa đất đối không có thể bắn rơi B-52. Tướng McConnell nhấn mạnh rằng lực lượng phòng không Bắc Việt nam năm 1967 mạnh hơn nhiều so với năm 1965, khi đó ông ủng hộ dùng B-52 ném bom những mục tiêu ở vùng châu thổ.
Tướng Wheeler tuyên bố rằng “một tư lệnh quân sự không có trách nhiệm mà tôi biết đã từng tán thành tấn công khu đông dân coi như mục tiêu”. Wheeler còn chút nghi ngờ rằng phạm trù của những tư lệnh quân sự không có trách nhiệm không bao gồm tướng LeMay, đề xuất nổi tiếng của ông này là ném bom Bắc Việt trở về thời kỳ đồ được Wheeler dịch ra có nghĩa là tấn công khu đông dân.
Trong khi Wheeler đang băn khoăn rằng việc ném bom mà ông ủng hộ sẽ đánh vào dân thường, McNamara sử dụng lời nói này như là một luận cứ chống lại những mục tiêu mới. “chẳng có cơ sở để tin - McNamara quả quyết - rằng bất cứ chiến dịch ném bom, lấy dân thường làm mục tiêu, sẽ buộc chế độ Hồ Chí Minh khuất phục”. Nhưng không có ai tại buổi điều trần gợi ý rằng ném bom ở Bắc Việt Nam có lẽ là một cái gì đó nhiều hơn là một người bạn của cuộc chiến tranh trên bộ tại Nam Việt nam.
Sau khi hơn hai năm leo thang dường như có có chút nhỏ hành động việc gây ấn tượng. Những tướng lĩnh và những thượng nghị sĩ có thể hối tiếc việc không thực hiện sử dụng B-52 ném bom đồng bằng sông Hồng năm 1965, nhưng Bắc Việt quen dần với ném bom leo thang và xây dựng lực lượng phòng thủ chống lại nó. Trong bất kỳ trường hợp nào, không có ai trong số những người điều trần năm năm 1967 tranh cãi với quyết định của chính quyền Johnson không lật đổ sự tồn tại chính phủ cộng sản Bắc Việt nam. Nhiều thượng nghị sĩ trong tiểu ban không thích chính sách leo thang, theo phần lớn những gợi ý của họ có thể đạt được nhỏ hơn hơn leo thang từng nấc trong chiến dịch ném bom. Chỉ lời kêu gọi của họ đóng cửa cảng Hải Phòng hứa hẹn hành động mang tính chất tương đối gây ấn tượng.
Tiểu ban Stennis report để lộ vết nứt giữa Bộ trưởng quốc phòng McNamara và các tham mưu trưởng liên quân. Tại một cuộc họp báo ngày hôm sau, tổng thống Johnson đề nghị rằng trong lúc có thể có sự khác nhau về quan điểm, “không nên có sự chia cắt sâu”. Trong bất kỳ trường hợp nào, các tham mưu trưởng liên quân có thể trực tiếp gặp ông tại bất cứ thời gian nào mà họ chọn. Sự khác nhau về quan điểm cũng là tự nhiên trong hệ thống chính phủ Mỹ, và Johnson nhớ lại rằng cuối những năm 1940, Bộ trưởng không quân Mỹ Symington đã yêu cầu một uỷ ban của Quốc hội về một cơ hội làm chứng thay mặt cho một nhân vật của không quân lớn hơn nhân vật chính quyền Truman có thể thực hiện được. Với McNamara, Johnson cho rằng tin đồn bộ trưởng quốc phòng doạ từ chức nếu chương trình ném bom được mở rộng là không có thật: “Ông ta đừng đi xung quanh đe doạ mọi người một cái gì đó”.
Chỉ ba tháng sau, Johnson tuyên bố McNamara ra đi khỏi Bộ quốc phòng để làm chủ tịch Ngân hàng thế giới.
Việc McNamara bảo vệ chính sách của chính quyền tại phiên điểu trần Uỷ ban Stennis không được tổng thống quý chuộng. Mặc dù Johnson tiếp tục phản đối thả mìn Hải Phòng, ông sẵn sàng xoa dịu những người đề xướng ném bom những mục tiêu ít mạo hiểm hơn. Đánh giá ảm đạm của McNamara về hiệu quả ném bom tại phiên điều trần và hậu trường của nó tìm cách ra thoát khỏi Việt nam cả hai đã làm yếu đi ảnh hưởng của ông. Lời điều trần thường được ca ngợi bởi những người chỉ trích ném bom, bao gồm các đại diện Bắc Việt ở Paris.
Cuối tháng 11, khi khả năng ra đi của McNamara tăng lên tại một cuộc họp Hội đồng an ninh quốc gia, tổng thống Johnson cảm thấy buộc phải nhấn mạnh rằng không một thành viên Tham mưu trưởng liên quân được nói với ông ta về việc từ chức. Tướng Wheeler ngay lập tức khẳng định rằng không một thành viên Tham mưu trưởng liên quân doạ từ chức: “Chừng nào tôi còn liên quan tới bất kỳ báo cáo giống như thế này thì tôi còn sống”. Tuy thế, chuyện vỉa hè về sự đe doạ từ chức tiếp tục lan truyền.
Theo một giả thuyết, có một số hoặc tất cả những tham mưu trưởng đã đe doạ từ chức vào tháng 5. Theo giả thuyết khác, Wheeler đã tổ chức một cuộc họp những tham mưu trưởng trong buổi chiều ngay sau khi McNamara điều trần trước Uỷ ban Stennis cuối tháng 8; tất cả những người tham dự đã đồng ý từ chức, nhưng đến sáng sáng hôm sau Wheeler đã thay đổi ý nghĩ của mình và tất cả bọn họ giữ im lặng. Khi giả thuyết sau được xuất bản năm 1989, chỉ có một vị tham mưu trưởng từ 1967 còn sống sót, đô đốc Thomas Moorer (tư lệnh những chiến dịch hải quân) và tướng Wallace M. Greene, Jr. (tư lệnh thuỷ quân lục chiến), cả hai thẳng thừng chối rằng các tham mưu trưởng liên quân chưa bao giờ đồng ý từ chức.
Trong khi rút sự ủng hộ khỏi McNamara, tổng thống Johnson phát triển quan hệ nồng ấm với Wheeler. Wheeler là vị tướng văn phòng đầy khôn ngoan nhưng thiếu từng trải chiến đấu. Gần một tuần sau phiên điều trần Stennis, Wheeler vào bệnh viện vì một cơn đau tim. Johnson tỏ ra thương cảm. Khi Wheeler ngỏ ý từ chức Chủ tịch hội đồng tham mưu trưởng liên quân, Johnson nắm tay ông và nói với ông ta rằng tổng thống không thể đủ sức để bỏ ông. Wheeler sẽ nhớ một cách tự hào rằng nhân dịp này Johnson cũng ca ngợi ông ta về việc ông chưa có một lời khuyên tồi nào cả. Từ đấy về sau, Wheeler luôn là người tham gia thường xuyên tại các những cuộc họp của Johnson bàn về ném bom Bắc Việt nam.
***
Sau bản điều trần của Uỷ ban Stennis, danh sách mục tiêu mà tổng thống Johnson thông qua dài thêm. Vài giờ trước khi phiên điều trần bắt đầu ngày 9-8-1967, tổng thống chấp thuận những mục tiêu mới về tuyến đường sắt đông bắc. Lần đầu tiên, máy bay Mỹ được phép không kích nhà ga và những chiếc cầu ở vùng đệm dọc biên giới Trung Quốc- nghĩa là bên trong 25 hải lý của Trung Quốc. Tại đoạn cuối của tuyến đường sắt đông bắc có cầu Long Biên (Paul Doumer) bắc qua sông Hồng cuối cùng trở thành mục tiêu.
Dưới chế độ cộng sản, cầu Paul Doumer được gọi là Long Biên. Paul Doumer là tên của một người Pháp mà những phi công Mỹ thường dùng, mặc dù rất ít người biết Doumer là ai. Hơn bốn thập kỷ đã qua kể từ khi tổng thống Pháp Doumer bị ám sát, và cầu là một sản phẩm trong thời kỳ ông cai trị Việt nam hồi đầu thế kỷ XX. Là toàn quyền Đông Dương thuộc Pháp, Doumer cố gắng tập trung hoá chính quyền thuộc địa Pháp trong vùng và làm họ đem lợi cho Pháp. Ông cũng xây dựng đường sắt nối miền bắc Việt nam với miền nam Việt nam và với Trung Quốc. Mặc dù đường sắt được xây dựng, họ không thúc đẩy nhanh phát triển kinh tế như Doumer mong đợi. Nhưng khi những người cộng sản bắt đầu phát triển Bắc Việt Nam vào thập kỷ 1950, hệ thống đường sắt Doumer đóng vai trò quan trọng trong kế hoạch của họ.
Cái chốt của hệ thống đường sắt Doumer là cầu Long Biên ở Hà nội. Giao thông đường sắt mang hàng hoá từ Trung Quốc hoặc từ cảng Hải Phòng phải qua cầu Long Biên đến Hà nội và hướng về nam tới Sài Gòn. Chiếc cầu này là một trong những mục tiêu rõ ràng ở Bắc Việt nam, và nó được dự trữ khá lâu chỉ bởi vì một đầu cầu đâm thẳng vào trung tâm Hà Nội. Mặc dù được bảo vệ bằng cao xạ và SAM, độ dài của chiếc cầu làm nó ít bị nguy hiểm. Đây là chiếc cầu dài nhất Việt nam, chiều dài hơn một dặm, gấp 10 lần độ dài chiếc cầu khó ném trúng bom - cầu Hàm Rồng.
Việc thất bại trong việc ném bom cầu Hàm Rồng đã đè nặng lên vai những người vạch kế hoạch tấn công cầu Long Biên. Trong khi hệ thống điều khiển chính xác bom truyền hình Walleye đã được ngưỡng mộ để đánh cầu Long Biên và tránh được khu dân cư, bom 1.100 cân Anh Walleye có đầu nổ 825 cân Anh đã chứng tỏ là quá yếu đối với cầu Thanh Hoá dù ném trúng. Do vậy, không quân Mỹ quyết định dùng bom không điều khiển 3.000 cân Anh. Ngày 9-8, tổng thống Johnson ra lệnh ném bom trở lại nhà máy điện Hà nội bằng bom Walleyes và ra lệnh sau đó một tuần sẽ ném bom cầu Long Biên. Thế mà, ngày hôm sau, tổng thống thu lại lệnh tấn công vì có vấn đề với bom Walleyes.
Sáng ngày 11-8-1967, Tập đoàn không quân số 7 ra lệnh phi đoàn F-105 tại Takhli và Korat, cùng với phi đoàn F-4 tại Ubon, ném bom cầu Long Biên vào từng buổi chiều. Máy bay mang bom 750 cân Anh được ghép thành bom 3.000 pound. Lực lượng không kích gồm 36 máy bay tiến vào Bắc Việt Nam tại mười nghìn feet và bay dưới dãy núi Tam Đảo trước khi ngóc lên đến 13 nghìn feet và lao xuống mục tiêu. Mặc dù bom không điều khiển được thả hơn một dặm trên cầu, nó trúng một vài quả - phá huỷ một trong 19 nhịp cầu đường sắt và những phần đường bộ dọc theo hai bên cầu. Như Walt Rostow bình luận cho tổng thống Johnson, “lần đầu tiên bom rơi xuồng một nhịp của chiếc cầu là một chiến công khá lạ thường”. Tuy vậy, không phải ai cũng có ấn tượng như thế. Hai tuần lễ sau khi ném bom, Bộ trưởng quốc phòng McNamara nói với tiểu ban Stennis rằng mục tiêu lại thêm một chiếc cầu khác: “Chúng ta đã tấn công hàng chục nếu không phải hàng trăm những chiếc cầu tương tự”.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #62 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:23:00 pm »

Vì những đoàn tàu hoả không còn qua cầu Long Biên, Bắc Việt nam phải dỡ hàng sang xe tải và phà để qua sông, khiến cho việc chở hàng từ Hải Phòng (phía tây) cũng như từ Trung Quốc (phía nam) bị chậm trễ.
Dòng chảy hàng hoá về phía nam ngay lập tức đã bị chậm trễ sau khi không quân Mỹ ném bom hai chiếc cầu qua sông Đuống (cách cầu Long Biên khoảng bốn dặm về phía đông bắc). Sau đợt không kích đầu tiên vào cầu Đuống hồi tháng 5, Bắc Việt đã xây dựng thêm một cầu tạm và sửa chữa cầu Đuống; vào tháng 8 cả hai đã ngừng hoạt động. Hiệu quả của tuyến đường sắt đông bắc bị giảm mạnh do những cuộc tấn công nhà ga và những chiếc cầu ở vùng đệm dọc biên giới Trung Quốc.
Vận tải trên tuyến đường sắt đông bắc bị khó khăn làm nhiều toa xe chở hàng ngừng trệ tại các nhà ga. Ga lớn nhất Bắc Việt Nam là ga Yên Viên nằm bên bờ bắc sông Đuống từng bị ném bom vào tháng 12 và tháng 5, nhưng vì sau đó nó nằm trong vùng hạn chế dọc theo đa số mục tiêu khác bên trong 10 hải lý of Hà Nội. Ngày 21-8-1967, máy bay Mỹ ném bom vào ga Yên Viên nơi đang đỗ khoảng 150 toa xe. Hai mươi F-105 và tám F-4 phá huỷ hơn một nửa số toa xe kín và làm những toa xe còn lại bị kẹt tại ga, để hai ngày sau, chúng bị ném bom trở lại. Tuy vậy, không quân Mỹ cũng phải trả giá. Ngày 21-8, hai F-105 bị cao xạ bắn rơi, một F-4 rơi ngày 23-8. Nhưng ngạc nhiên và mất tinh thần hơn là việc một cặp F-4 bị MiG-21 bắn hạ ngày 23-8.
Sau khi bị thiệt hại nặng nề trong những trận không chiến vào tháng 5-1967, máy bay MiG đã rút lui. Ngày 23-8, khi tấn công họ sử dụng một chiến thuật mới “bắn và chạy”. Bay thấp hơn máy bay Mỹ đang tiến vào theo dãy núi Tam Đảo, hai MiG-21 đã vọt lên rất nhanh và tấn công từ phia sau và hai tên lửa tầm nhiệt Atoll bắn rơi hai F-4. Diện mạo đáng chú ý nhất của sự kiện này là ở chỗ nó không có cái gì giống với những thứ từng xảy ra trước đây. Phi công khi không kích mục tiêu có thói quan tìm kiếm MiG ở phía trước, mặc dù họ đã được dạy là “nhìn sáu”- nghĩa là nhìn “sáu giờ” (hoặc phía sau). Lời cảnh báo cũ lần này hình như đáng giá hơn. Hệ thống dẫn đường radar mặt đất của Bắc Việt nam đã chứng minh rằng họ có thể dẫn máy bay MiG vào cả vị trí nguy hiểm “sáu giờ”.
Cuộc không kích của F-4 và F-105 vào ga Yên Viên hôm đó được những tốp F-4 hộ tống, chỉ lo việc không chiến và do tư lệnh phi đoàn máy bay chiến thuật số 8, đại tá Robin Olds, dẫn đầu. Olds là phi công giởi trong thế chiến II, thành tích hạ 4 MiG Bắc Việt Nam làm ông cũng trở thành sát thủ MiG. Máy bay của ông bay sau những F-105 và đi đầu trong toán F-4. “Tôi nghe thấy tiếng thất thanh của họ - ông nhớ lại - Tôi quay lại, và những gì tôi nhìn thấy là hai chiếc máy bay đang bốc cháy…”. Ông trở nên giận dữ khi biết những sĩ quan tình báo của Tập đoàn không quân số 7 đã biết từ một vài ngày trước đó rằng MiG đã tập một chiến thuật mới. Ông tuyên bố rằng giá như biết trước thì ông chia tốp 4 máy bay hộ tống thành hai nhóm nhỏ và cả hai nhóm này dẫn đầu lực lượng không kích - một nhóm bay thấp và một nhóm bay cao, nhóm này sẽ nhào xuống khi họ bay dưới dãy núi Tam Đảo. Olds nghĩ rằng động tác này sẽ làm hệ thống dẫn đường Bắc Việt nam hoãn tấn công.
Không may, những MiG-21 gây thiệt hại ngày 23-8 cũng chỉ là một phần của những thiệt hại không quân Mỹ ngày hôm đó. Một chiếc F-4 khác bị pháo cao xạ tại ga Yên Viên bắn rơi; chiếc thứ tư bỏ chạy do thiếu dầu và bốc cháy chạy về Thái Lan. Thêm một F-105 trúng đạn cao xạ ở gói mục tiêu 6 và một F-4 tại gói mục tiêu 1, mất cả thảy sáu máy bay của không quân và một máy bay của hải quân trên bầu trời Bắc Việt Nam ngày 23-8-1967 khiến cho phi công Mỹ gọi đó là “Ngày thứ tư đen”. Đây là ngày tệ hại nhất trên vùng trời Bắc Việt Nam kể từ “Ngày thứ sáu đen”, 2-12-1966, khi 5 máy bay không quân và 3 máy bay hải quân bị bắn rơi.
“Ngày thứ tư đen” gây ấn tượng tương đối nhỏ ở Washington, nơi sự thiệt hại của máy bay Mỹ thông thường ít được chú ý hơn không thương vong dân thường Bắc Việt nam. Tuy vậy, một ngoại lệ xảy ra ngoài quy luật chung vào hai ngày trước đó, hai máy bay A-6 hải quân bay lạc vào Trung Quốc và bị MiG-19 Trung Quốc bắn rơi. Điều đó gây chú ý ở Washington, lại làm thất vọng những người cho rằng sự kiện này bênh vực luận cứ của họ chống lại ném bom những mục tiêu gần biên giới Trung Quốc. Những máy bay A-6 này ném bom một nhà ga gần Hà Nội cách xa biên giới và đang cố gắng quay về tàu sân bay Constellation, thì có giông tố làm họ bay về phía bắc. Tàu sân bay và máy bay radar cố gắng cảnh báo những máy bay A-6 việc họ sắp vi phạm không phận Trung Quốc, nhưng những cảnh báo này hình như không nhận được. Trung Quốc không làm to chuyện bắn rơi những máy bay A-6 và lên án sự vi phạm biên giới trong cuộc đàm phán giữa tổng thống Johnson và thủ tướng Liên Xô Kosygin. Từ những cuộc không kích gần biên giới, phản ứng tương đối kiềm chế này của Trung Quốc làm cho Mỹ thêm tin tưởng rằng Trung Quốc sẽ không tăng sự lôi cuốn của họ vào chiến tranh.
Trong khi tiếp tục cho phép ném bom gần biên giới Trung Quốc, tổng thống Johnson khôi phục lại hạn chế ném bom bên trong 10 hải lý từ trung tâm Hà Nội - bắt đầu từ 24-8, chỉ hai tuần lễ sau khi ông cho phép ném bom những mục tiêu ở đó. Không ai ở Thái Bình Dương được biết lý do của sự trở mặt này, cái đó liên quan với những hoạt động của Henry A. Kissinger, sau này là giám đốc chương trình nghiên cứu quốc phòng tại Harvard. Kissinger quen biết một nhà sinh vật học tại Paris, Herbert Marcovich, ông này là bạn của Raymond Aubrac, một người có quan hệ gần gũi với Hồ Chí Minh. Trong thời gian Hồ Chí Minh hội đàm với Pháp tại Versailles năm 1946, Hồ Chí Minh đã ở nhà của Aubrac. Giờ đây Aubrac đang làm việc cho Liên hợp quốc tại Rome và được mời làm người trung gian. Với sự cổ vũ của Bộ ngoại giao (thông qua Kissinger), Aubrac và Marcovich đã thăm Hà Nội tháng 7-1967. Họ đề nghị một phương án về công thức hai pha do Mỹ đưa ra.
Từ cuối 1966, chính quyền Johnson đã bày tỏ thiện chí ngừng ném bom (pha A) trước khi Bắc Việt Nam đáp lại việc đưa quân và tiếp liệu vào Nam Việt nam (pha B). Vì hai pha không thể chập lại một cách công khai, Bắc Việt Nam có thể tuyên bố rằng Hoa Kỳ dừng ném bom không điều kiện. Sau khi trao đổi với Kissinger, Aubrac và Marcovich biến đổi pha B, để Bắc Việt chỉ cần cam kết không tăng thâm nhập của họ; vấn đề cắt giảm sự thâm nhập đó được xem xét trong những cuộc hội đàm được tiến hành mau lẹ sau khi ngừng ném bom. Kể từ đây, Hoa Kỳ trao đổi đơn thuần việc ngừng ném bom lấy hội đàm. Sau khi Bắc Việt bày tỏ sự chú ý, tổng thống Johnson chấp thuận công thức hai pha mới ngày 18-8; ngày hôm sau ông đồng ý dừng ném bom gần Hà Nội từ 24-8 đến 4-9 để Aubrac và Marcovich có nhiều thời gian cho cuộc đi thăm Hà nội lần thứ hai trong bầu không khí không bị ném bom.
Bắc Việt nam lấy lý do các cuộc không kích giữa tháng 8 vào khu vực Hà nội để từ chối cấp giấy phép cho Aubrac và Marcovich viếng thăm lần thứ hai. Họ phải tiến hành công việc qua ông Mai Văn Bộ, đại diện Bắc Việt tại Paris. Suốt hai tháng, Bắc Việt dùng đề xuất hai pha mới để nhử mồi, trong lúc tổng thống Johnson hạn chế ném bom bên trong 10 hải lý từ trung tâm Hà Nội. Johnson công khai đưa ra đề xuất này trong lời phát biểu tại San Antonio, Texas, ngày 29-9-1967, và từ nay về sau đề xuất này được gọi là công thức San Antonio. Nhưng ngày 20-10, Mai Văn Bộ từ chối gặp Aubrac và Marcovich; cùng ngày Wilfred Burchett, một nhà báo cộng sản Australian, nói từ Hà Nội rằng Bắc Việt “không ở trong tâm trạng nhượng bộ hoặc thương lượng”.
Sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa sáng kiến Kissinger và sự điều trần của Uỷ ban Stennis làm tổng thống Johnson ngượng hơn. Như thường lệ, ông cố gắng làm cân bằng đòi hỏi của những người tìm kiếm thương lượng và những người muốn tăng áp lực với Bắc Việt nam. Sau khi cho phép không kích hai tuần lễ để phá huỷ những cây cầu bắc qua sông Hồng và sông Đuống, ông đã cho Bắc Việt hai tháng để sửa chữa chúng. Để xoa dịu Uỷ ban Stennis, ông cho phép ném bom những mục tiêu mới nằm xa Hà Nội, bao gồm một mục tiêu từng bị Bộ trưởng McNamara phản đối trong phiên điều trần - cảng xuất khẩu than Cẩm Phả, chỉ khi không có tàu thuỷ nào đỗ ở cảng. Vì luôn có tầu thuỷ đỗ tại Hải Phòng và thường là tàu Liên Xô, Johnson đã bác bỏ yêu cầu của Uỷ ban Stennis đóng cửa cảng Hải Phòng bằng cách thả mìn hoặc ném bom.
Khi sáng kiến Kissinger kéo dài lê thê, tổng thống hết kiên nhẫn. Tại bữa ăn trưa với các cố vấn của mình ngày 12-9, ông muốn biết liệu Kissinger có phải là một sứ giả hoà bình không. Ngoại trưởng Rusk cam đoan với Johnson rằng Kissinger đứng ở phía chính quyền, mặc dù Rusk nghi ngờ những cuộc thương lượng thật sự sẽ theo sau việc ngừng ném bom; theo quan điểm của Rusk, việc ngừng ném bom chỉ là tạm thời. Walt Rostow lo ngại rằng Kissinger có thể là mềm tay. Nhưng bản thân Rostow đang trở nên thiên về ngừng ném bom, bởi vì ông tin rằng những người cộng sản đang bị thiệt hại trong cuộc chiến tranh ở Nam Việt nam và do vậy ném bom Bắc Việt Nam cũng chẳng cần thiết. Sự lạc quan của Rostow, sự hoài nghi của Rusk, và sự bi quan của McNamara cả thảy đều theo hướng hạn chế ném bom. Tuy thế, mùa thu 1967, tổng thống Johnson đã phải lưu ý nhiều hơn yêu cầu ném bom mạnh hơn từ Tham mưu trưởng liên quân và đồng minh của họ tại Thượng nghị viện.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #63 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:24:44 pm »

Trong thời gian đợi sáng kiến Kissinger tàn lụi và bỏ những mục tiêu gần Hà Nội, các tham mưu trưởng liên quân tìm kiếm sự phê chuẩn của Johnson không kích sân bay Phúc Yên - cách trung tâm Hà nội hơn 10 dặm. Trong phiên điều trần của Uỷ ban Stennis, thượng nghị sỹ Symington nhiều lần yêu cầu ném bom Phúc Yên, nhưng yêu cầu này bị tướng Momyer gạt bỏ với lý do là những máy bay MiG không còn sức lực vào tháng 5. Tuy thế trước khi phiên điều trần kết thúc, những máy bay MiG bắt đầu thể hiện sự xông xáo và hiệu quả. Vào tháng 9, thời tiết xấu và hạn chế ném bom gần Hà Nội làm bớt đi không chiến và những máy bay MiG chỉ một chiếc rơi, nhưng 48 máy bay Mỹ phải vứt bỏ bom trong khi chống đỡ MiG.
Giữa tháng 9, Richard Helms, giám đốc CIA gọi điện cho Walt Rostow để báo rằng thượng nghị sỹ Symington đang ở trong tâm trạng rất ảm đạm khi ông chuẩn bị rời Washington đi Đông Nam Á. Symington lo lắng về gánh nặng kinh tế do leo thang chiến tranh. Rostow gửi điện cho đại sứ Ellsworth Bunker ở Sài Gòn nói rằng ông có nhiều việc cần bàn nhiều với Symington. Nhưng không có lượng công việc nào ngăn nổi thượng nghị sỹ thuyết phục rằng Hoa Kỳ phải đánh mạnh Bắc Việt Nam hoặc rút lui.
Lúc trở về Washington, Symington đề nghị rằng Hoa Kỳ ngừng mọi hành động quân sự ở cả Bắc Việt Nam và Nam Việt nam - nhưng nếu thương lượng không có đạt ý muốn, giới quân sự Mỹ sẽ phải được tự do tiến hành chiến dịch ném bom mạnh mẽ hơn. Đề xuất này ngay lập tức va phải phe đối lập ở cả Bộ quốc phòng và Bộ ngoại giao. Thứ trưởng ngoại giao Katzenbach phản đối rằng “ý định chấm dứt hành động quân sự theo cách này có thể chứng tỏ sự leo thang lớn”.Tướng Wheeler, mặt khác, cho thấy “không có khả năng bất kỳ sự ngừng bắn khả thi làm tăng phạm vi và cường độ những chiến dịch của chúng ta có thể nhanh chóng bù đắp những thuận lợi mà địch thu được trong đề nghị chấm dứt thù địch”.
Trước khi Symington quay cuồng với đề xuất ngừng bắn mới của mình, tổng thống Johnson đã làm hài lòng yêu cầu của vị thượng nghị sỹ này bằng cách cho không quân Mỹ được phép ném bom sân bay MIG tại Phúc Yên. Nhưng ngày 26-9-1967, Johnson lại không chấp thuận mục tiêu này khi người ta thuyết phục ông rút nó đi vài ngày sau đó. Nhà Trắng chậm phát hiện rằng thủ tướng Rumani, Ion Gheorghe Maurer, sắp hạ cánh xuống sân bay Phúc Yên trong vòng vài giờ của trận không kích theo kế hoạch. Bộ ngoại giao đang chuẩn bị cho Maurer đóng vai cỗ xe sáng kiến hoà bình mới nhất và đã hứa hẹn với ông ta thăm Hà nội mà không bị ném bom. CIA cũng thêm vào cơ hội làm chậm trễ ném bom Phúc Yên bằng cách chỉ ra rằng có lẽ có hai trăm cố vấn Liên Xô ở đó.
CIA nhận sự ủng hộ từ một đồng minh khi đại tá Robin Olds thăm Nhà Trắng ngày 2-10. Olds đã thôi chức tư lệnh phi đoàn F-4 tại Ubon để về làm hiệu trưởng trường đào tạo phi công trẻ tại học viện không quân Mỹ. Ông khẳng định rằng việc MiG thay đổi chiến thuật đang gây ra vấn đề, nhưng ông phản đối ném bom Phúc Yên: “Tôi thà rằng hạ gục trên bầu trời … Tôi muốn họ đến từ Phúc Yên về, bởi vì tôi biết họ đang ở đâu”.
Tham mưu trưởng không quân Mỹ, tướng McConnell, kinh hoàng về lời khuyên của Olds cho tổng thống về vụ Phúc Yên. Sau khi hoãn không kích Phúc Yên, máy bay MiG của Bắc Việt nam đã hạ gục thêm ba máy bay Mỹ. Khi McConnell đứng cạnh Wheeler tại cuộc gặp Johnson và các cố vấn chủ chốt của mình ngày 11-10, McConnell thúc giục tấn công Phúc Yên. Ông hy vọng phá huỷ ít nhất tám trong số mười sáu máy bay MiG ở đó dường như nó đáng giá ba máy bay Mỹ. Bộ trưởng quốc phòng McNamara gạt bỏ Phúc Yên ra lề, và ngoại trưởng Rusk đồng ý. Nhưng Rusk cũng nói rằng ông không lo âu nhiều về hậu quả không lường được do ném bom Phúc Yên - ông muốn chỉ hoãn tấn công thêm vài ngày. Do sáng kiến hoà bình của Kissinger thất bại một tuần sau đó, tổng thống Johnson chấp thuận không kích Phúc Yên cùng với tái không kích những chiếc cầu và nhà máy điện ở Hà nội.
Sân bay Phúc Yên nằm trong nửa tây gói mục tiêu 6, nơi không quân Mỹ thường được phép ném bom. Nhưng hải quân muốn được cùng tấn công sân bay chính của MiG. Cả những tàu sân bay đang ở Vịnh Bắc Bộ cũng tham gia trận tấn công Phúc Yên ngày 24 và 25-10-1967, cùng một chiếc A-6 của thuỷ quân lục chiến từ Nam Việt nam. Không quân tất nhiên, là một lực lượng chính. Thêm vào những chiếc F-4 hộ tống F-105 từ Takhli và Korat, Ubon còn có F-4 nạp đầy bom.
Mặc dù mục tiêu được bảo vệ hết sức mạnh, đây là phi vụ mà nhiều phi công háo hức. Khi ba máy bay trong số bốn chiếc của một phi đội Ubon không được nạp bom đúng lúc cho đợt không kích đầu tiên ngày 24-10, phi đoàn trưởng phải mượn một F-4 từ một phi đoàn khác và họ cất cánh với một tốp hai chiếc - bị mất đi sự bảo vệ tương hỗ (đặc biệt vấn đề nhiễu điện tử) do một tốp 4 máy bay cung cấp. Hải quân không may mắn, mất hai F-4 ngày 24-10 và một A-4 ngày 25-10 - trong khi không quân Mỹ chỉ mất một F-105 trúng đạn khi lao xuống ném bom pháo cao xạ.
Những cuộc tấn công này làm hư hỏng đường băng và đài chỉ huy sân bay Phúc Yên, do bom Walleye ném trúng. Phần lớn trong số mười tám MiG khi đó đang đậu tại Phúc Yên đã trúng đạn; ảnh trinh sát chi thấy hơn một tá máy bay bị hư hỏng phải sửa chữa.
Ngày 24-10, hai MiG-21 cất cánh đánh lại F-105 của không quân và F-4 từ Thái Lan. Khi hai máy bay MiG cố gắng bay đằng sau máy bay Mỹ, một F-4 hộ tống sử dụng pháo 20-millimet bắn rơi một chiếc.
Với súng còn gắn trên cánh hơn là gắn vào trong, F-4 dựa nhiều vào những tên lửa của nó trong phần lớn không chiến. Sau này vẫn còn lắp súng ngoài cánh cho dù được gắn súng bên trong vào năm 1967. Vũ khí hiệu quả nhất trong không chiến trong thời kỳ hai năm rưỡi từ khi bắt đầu chiến tranh là tên lửa tầm nhiệt Sidewinder. Khi đuổi theo máy bay địch, Sidewinder được bắn cách một vài trăm feet gần hơn tên lửa dẫn bằng radar Sparrow trang bị cho F-4 trong năm ấy. Đầu mùa thu 1967, tuy thế, Sparrow đã hất cẳng Sidewinder và được coi là vũ khí không chiến xuất sắc ở Đông Nam Á. Đây là kết quả của việc đưa vào kiểu máy bay mới F-4D không mang Sidewinder. Thay cho Sparrows gắn trên F-4D là một cặp tên lửa tầm nhiệt Falcon, giống như tên lửa dẫn bằng radar. Không may, tên lửa tầm nhiệt Falcon chứng tỏ ít hiểu quả hơn Sidewinder ở Đông Nam Á.
Kỷ lục buồn thảm của Falcon làm thất vọng không quân, bởi vì vũ khí này được phát triển dưới sự bảo trợ của không quân. Sidewinder và Sparrow, mặt khác, giống F-4, là sản phẩm của hải quân. Không may, không quân Mỹ theo đuổi chế tạo Falcon rẻ tiền hơn là bỏ tiền ra cải tiến Sidewinder mà hải quân đưa vào sử dụng năm 1966. Cả ba loại tên lửa đều có sự trở ngại do được thiết kế để phòng vệ đánh trả những máy bay ném bom tốc độ thấp. Về mặt thiết kế, Falcon có tốc độ bay siêu âm tỏ ra thuận lợi hơn Sidewinders và Sparrows tốc độ dưới tốc độ âm thanh. Với khả năng bắn trúng mục tiêu tại tầm xa dưới hai nghìn feet, Falcon có thể xem như có nhiều ích lợi trong không chiến hơn là Sidewinder hoặc Sparrow. Nhưng Falcon bất lợi ở chỗ đầu đạn rất nhỏ làm yếu khả năng hạ rơi máy bay địch.
Không giống Sidewinder và Sparrow, Falcon phải bắn trúng mới phá huỷ được máy bay. Falcon cũng phức tạp hơn khi bắn, bởi vì đầu dò hồng ngoại của Falcon đòi hỏi làm lạnh (không giống Sidewinder), và thiết bị làm lạnh (phải được bật trước khi bắn) làm cạn nhiên liệu trong hai phút.
Đại tá Robin Olds khi đang còn là tư lệnh phi đoàn máy bay chiến thuật số 8 tại Ubon mùa hè năm 1967, thì F-4D bắt đầu thay thế F-4C của phi đoàn ông. Ông thích khả năng ném bom bằng radar của F-4D và máy tính thả bom cho độ chính xác tốt hơn thả ở độ cao (trên 7 nghìn feet hiếm khi dưới 5 nghìn feet); thậm chí bom Walleye trên F-4D mang nhiều hứa hẹn, bất chấp sự thật chỉ trục trặc đến một nửa. Nhưng Olds phản đối sự thay thế Sidewinder bằng Falcon cho F-4D. Thêm nữa, ông chửi rủa Falcon về việc đã cướp chiến công thứ năm của ông ở Việt nam (1).
______________________

(1) Đại tá Olds thường chống đối những thay đổi áp đặt từ Washington. Trong trường hợp Falcon, ông có những F-4D mang Sidewinders. Sự thu xếp thay thế tạm thời này không hạ được MiG nào, nhưng thực tế không quân Mỹ lại trang bị nó cho những F-4 thiết kế chở Sidewinders. Ngay từ đầu tại Ubon, Olds đã phản đối mạnh đối với “Rapid Roger”, một thử nghiệm được đặt ra theo yêu cầu của Bộ trưởng không quân. Bộ trưởng Brown yêu cầu tỷ lệ xuất kích có được tăng cường hay không; thay vì mở rộng bằng cách tung nhiều máy bay hơn, ông muốn tăng số lượt xuất kích bằng máy bay sẵn sàng triển khai. Tỷ lệ xuất kích tại các căn cứ ở Thái Lan vào khoảng 0,8 hoặc ít hơn một lượt xuất kích trên một ngày trên một máy bay sẵn có. Tại Nam Việt nam và những tàu sân bay hải quân, tỷ lệ xuất kích có thể vượt quá 1.2 bởi vì khoảng cách tới những mục tiêu là khá ngắn. Chỉ có căn cứ Ubon có thể hy vọng đạt được tỷ lệ xuất kích cao như thế khi sử dụng cùng máy bay cho các phi vụ ngày và đêm. Nhân viên bảo trì không đủ sức tìm kiếm nổi những yêu cầu trong tình thế này, và một số phi công cất cánh không có bảo trì. Cuối cùng khi Rapid Roger đến và kết thúc, những phi công của Olds đã nằm trong quan tài và chôn dưới đất. Xem Ralph F. Wetterhahn, “Thay đổi tư lệnh”, Air và Space, Aug/Sep 1997, pp 62-69; hist, USAF Chiến thuật Air War Center, Jan-Jun 1967; hist, 8 TFW, Jul-Dec 1966.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #64 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:25:38 pm »

F-4D không bắn rơi một chiếc MiG nào bằng tên lửa Falcon cho tới 26-10-1967, sau khi Olds và tất cả F-4C ra đi khỏi Ubon. Tiếp theo vụ không kích sân bay MIG tại Phúc Yên, một tốp bốn F-4D trở lại hộ tống một phi vụ trinh sát. Khi vào họ được máy bay EC-121 giám sát bằng radar cảnh báo rằng máy bay MiG đang tiến về hướng của họ.
Khi những F-4 đi đầu phía đông nam dưới dãy núi Tam Đảo chừng mười tám nghìn feet, họ phát hiện ra sáu MiG-17 ở mười nghìn feet. Thay vì chờ F-4 xuống thấp, nơi mà những chiếc MiG-17 bay chậm hơn, cơ động hơn có thể chiến đấu với những thuận lợi nhất, những phi công MiG đã làm một sai lầm tai hại là bò lên cao mười sáu nghìn feet. Ở đây họ hình thành chiến thuật bánh xe, có hiệu quả trong không chiến vì những máy bay MiG được định vị tốt để bảo vệ đuôi lẫn nhau. Nhưng những F-4 nhanh chóng vượt qua kiểu đánh hình bánh xe là bắn và chạy. Trong khi một tốp gồm hai F-4 đang phá vỡ đội hình máy bay MiG, tốp khác đang lựa khoảng cách để phóng tên lửa. Hai trong số sáu tên lửa Sparrow trúng đích, một trong ba Falcon cũng trúng đích, trong lúc tất cả F-4 không bị thiệt hại. Hơn bốn năm đã trôi qua trước khi không quân Mỹ có thể có một ngày với những chiến thắng trong không chiến. Trong những tháng còn lại của chiến dịch Sấm Rền, phi công MiG chiến đấu cẩn thận hơn và chỉ giao chiến khi có lợi thế.
Máy bay MiG của Bắc Việt nam tiếp tục quấy rối máy bay Mỹ dù có nhiều cuộc tấn công vào hầu hết sân bay ở Bắc Việt nam - nói là hầu hết, nhưng không phải tất cả. Sân bay Gia Lâm (Hà nội) vẫn nằm ngoài ranh giới, và những máy bay MiG luôn coi đó là thánh địa, cũng như qua biên giới Trung Quốc. Sân bay Bạch Mai ở phía nam Hà Nội không có đường băng đủ dài cho MiG, nhưng một hầm ngầm ở đó đặt bộ tư lệnh phòng không. Tổng thống Johnson không tán thành tấn công sân bay Gia Lâm, vì nó thường được các nhà ngoại giao (bao gồm những người làm việc ở Uỷ ban kiểm soát quốc tế thành lập bởi Hiệp định Geneva năm 1954) sử dụng. Với trường hợp Bạch Mai, tuy thế, ông lại tán thành, dù có một trại giam tù binh Mỹ gần phi trường.
Bạch Mai có một vai trò quan trọng trong việc chỉ huy không những máy bay MiG, mà còn cả SAM và pháo cao xạ. Trong suốt cuộc chiến tranh, pháo cao xạ và tên lửa tiếp tục bắn hạ nhiều máy bay Mỹ hơn là máy bay MiG. Ngày 27-10-1967, ở đây xảy ra một sự kiện đáng nhớ khi tấn công những chiếc cầu qua sông Đuống.
Hai F-105 bị SAM bắn rơi, còn pháo cao xạ bắn rơi chiếc thứ ba. Cuối ngày, thêm một F-105 trúng đạn pháo cao xạ khi tấn công một trận địa tên lửa. Tên lửa, pháo cao xạ, và máy bay MiG cùng nhau phối hợp chặt chẽ đến nỗi không quân Mỹ phải không kích sân bay Bạch Mai. Tuy thế, trận ném bom ngày 17-11, đã thất bại đối với mạng lưới phòng không Bắc Việt nam, mặc dù một quả bom nổ ngay ở cái gò đất che phủ hầm chỉ huy.
Tác động của trận không kích vào sân bay Bạch Mai có thể đo được bằng nhiều cách, một số trong số này thuần tuý cá nhân. Theo đại uý Gene I. Basel, trận không kích Bạch Mai do một người bạn thân ông và là chỉ huy tốp bay, thiếu tá Charles E. “Cappy” Cappelli, và F-105 của ông trúng tên lửa SAM. Basel nhớ lại rằng trước khi ném bom “Cappy” đã phá vỡ một quy tắc bất thành văn là sẽ làm công việc văn phòng khi ông quay về: “Nếu không làm được. Anh đừng nói đến chuyện quay về”. Cái chết xảy ra ngay trước mắt của một trung sĩ của đoàn Ấn Độ trong văn phòng Uỷ ban kiểm soát quốc tế ở khu đông dân cư Hà Nội, cách Bạch Mai hơn hai dặm. Không ai biết ông chết do mảnh bom Mỹ hoặc mảnh đạn phòng không, cái chết của ông đã dấy lên lần nữa cái giá chính trị phải trả cho việc ném bom gần thành phố.
***
Tháng 11-1967, gió mùa đông bắc kết thúc trận ném bom cuối cùng do thời tiết tốt ở đồng bằng sông Hồng. Lúc đó mưa phùn xuất hiện để tái diễn cho những đứt quãng trong 5 tháng rút kinh nghiệm trong mỗi thời kỳ hai năm trước đây. Một số ít người hy vọng trước khi 5 tháng trôi qua, tổng thống Johnson sẽ ngừng ném bom ở vùng châu thổ. Điều trần của Uỷ ban Stennis đã làm lung lay những mục tiêu bị từ chối từ lâu: cầu Long Biên, tuyến đường sắt sát Trung Quốc, sân bay MiG tại Phúc Yên, và trung tâm điều khiển phòng không tại Bạch Mai. Nhưng tổng thống Johnson có ít mục tiêu chính còn lại để chấp thuận không cho phép những người mà ông coi là khá nhạy cảm đến mức họ có thể phá vỡ ranh giới chính sách leo thang và đe doạ một cuộc chiến tranh lớn. Ông tiếp tục rút bớt việc leo thang tại cảng Hải Phòng, cho dù các tham mưu trưởng liên quân gợi ý ném bom hệ thống đê điều sông Hồng, vùng đông dân Bắc Việt nam, hoặc những sân bay ở Trung Quốc.
Khái niệm về chính sách leo thang đã làm mất đa số những người ủng hộ. Bộ trưởng quốc phòng McNamara và những người khác lúc đầu tán thành bây giờ muốn hạn chế ném bom.
Những người như tướng LeMay và McConnell từng ủng hộ chiến dịch ném bom mạnh hơn vào năm 1965 đã phát hiện ra nhiều mục trong bản danh sách gốc đã bị ném bom hoặc thả mìn - trừ cảng Hải Phòng.
Mỹ đã đánh mất dịp may để giáng một đòn mạnh gây sửng sốt và khó tìn lại được cơ hội này. Thậm chí tổng thống Johnson từng cho phép thả mìn cảng Hải Phòng, hành động này lẽ ra có tác động mạnh nếu ngay từ đầu chiến dịch ném bom phần lớn những mục tiêu chính. Tất cả những thứ mà người đề xướng một đòn phủ đầu mạnh có thể thu được là đẩy mạnh nhịp độ chính sách leo thang.
Dù có những khiếm khuyết, chính sách leo thang sau hai năm cuối cùng cũng đạt tới một cường độ hình như gây cho Bắc Việt khó khăn thực sự. Tháng 9-1967, khi John Colvin rời bỏ chức vụ tổng lãnh sự Anh tại Hà Nội, ông phán đoán rằng Bắc Việt Nam “không có khả năng tự duy trì được nền kinh tế hoặc đẩy mạnh chiến tranh với láng giềng của mình”. Ông cho rằng việc ngăn chặn quân đội và tiếp liệu luôn thu được kết quả trước các cuộc ném bom vào mùa hè, ông tin rằng sẽ làm sụp đổ chính phủ Bắc Việt nam - nếu ném bom tiếp tục và nếu các cảng Bắc Việt bị đóng cửa. Ngoài ra, theo quan điểm Colvin, tình hình như thế lẽ ra đã thu được kết quả vào năm 1965 bằng một chiến dịch ném bom mạnh mẽ hơn.
Bất cứ thứ gì có thể có được, tình báo Mỹ rất ít lạc quan về tiến triển của Sấm Rền. Khi phát hiện rằng hệ thống đường sắt Bắc Việt nam đang ở tình trạng tồi tệ nhất, CIA và Cục tình báo quân đội nói rằng việc chuyển vận những hàng hoá kinh tế và quân sự thiết yếu vẫn tiếp tục trên đường bộ và đường biển; các đồng minh cộng sản cung cấp những thứ cần thiết mà nền công nghiệp bị phá hoại của Bắc Việt nam không làm được. Do tác động của Sấm Rền đối với cuộc chiến tranh trên bộ tại Nam Việt nam, nhân viên tình báo nhắc lại quan điểm cũ của họ rằng Bắc Việt có đủ năng lực để duy trì những chiến dịch ở Nam Việt nam và Lào “tại lúc này hoặc tăng cường mức giao tranh”. Nhân viên tình báo thừa nhận rằng những cuộc không kích đã làm “giảm sút” khả năng của Bắc Việt nam chống đỡ những chiến dịch ở mức rộng lớn.
Lính Mỹ ở Đông Nam Á phải trả giá cao cho chính sách leo thang. Nó tạo cho Bắc Việt Nam cơ hội lớn để xây dựng sự phòng thủ mạnh kinh khủng. Với tất cả những chiến dịch ném bom tốn kém, câu hỏi là bên nào sẽ xuống thang. Nhưng câu hỏi này không có sự trả lời trong cuộc chiến tranh trên không ở Bắc Việt nam, với những người cộng sản để kết thúc ném bom ở đó phải tấn công các thành phố tại Nam Việt nam. Hai tháng còn lại trước cuộc tấn công Tết Mậu Thân, chiến dịch Sấm Rền lại thất bại sức mạnh của mình chọc thủng những đám mây dai dẳng của gió mùa đông bắc.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #65 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:26:45 pm »

4. Lý do bất bình

Đợt gió mùa đông bắc thứ tư và là đợt cuối cùng của Sấm Rền đã mang đến thất vọng lớn. Từ tháng 11-1967 đến tháng 3-1968, lính Mỹ phải chạm chán với thời tiết ném bom tồi tệ nhất ở Bắc Việt Nam. Những cố gắng của họ để ném bom chính xác qua những đám mây ít thu được kết quả; hoặc là không dùng mìn rải xuống đường vận tải, khá dễ dàng nhìn thấy được trên mặt nước và trên đường bộ. Thời gian này, còn ít máy bay MiG, nhưng họ từng trải nhiều hơn. Dù rằng máy phát nhiễu radar bây giờ được mang thành cặp trên mỗi máy bay Mỹ, nhưng pháo cao xạ và tên lửa SAM vẫn còn là nguy hiểm - đặc biệt khi một máy bay ra khỏi đội hình và ra khỏi sự bảo vệ của máy gây nhiễu do máy bay khác mang, hoặc khi Bắc Việt bắn thành một hàng rào vào đội hình lớn, hoặc khi họ sử dụng kính quang học thay cho radar.
Sau một năm tiến hành cuộc chiến tranh trên không, trong giới không quân gần như mất nhuệ khí. Tướng Momyer, tư lệnh Tập đoàn không quân số 7 ở Sài Gòn, và tướng Ryan, tư lệnh không quân Mỹ ở Thái Bình Dương ở Hawaii, bắt đầu thấy căng thẳng thần kinh. Họ có cái nhìn khác nhau về những gì mà Tập đoàn không quân số 7 lẽ ra phải làm trong những tháng thời tiết xấu. Những năm mà Ryan còn làm việc ở Bộ tư lệnh không quân chiến lược giúp ông chú trọng vấn đề ném bom trong mọi thời tiết. Mùa đông đầu tiên ở Hawaii, ông ủng hộ việc dùng F-105F hai ghế lái để ném bom tầm thấp trong thời tiết xấu. Dù “đội đột kích của Ryan” không vượt qua nổi khiếm khuyết của radar (bay ở tầm thấp và ném bom chính xác), ông tiếp tục ủng hộ của cuộc không kích không hiệu quả của họ ở mức độ cao. Tuy vậy, Momyer ưa thích dùng F-105F làm máy bay ném bom hơn là sử dụng “Những con chồn hoang” đánh nhau với SAM.
Sự nghiệp của Momyer gắn liền với không quân chiến thuật. Tướng Gabriel P. Disoways, khi đó lãnh đạo Bộ chỉ huy không quân chiến thuật (TAC), nói rằng “Spike biết TAC, tôi ước chừng, hơn tất cả mọi người” có lẽ trừ tướng Otto P. Weyland, tư lệnh không quân Mỹ ở Viễn Đông trong chiến tranh Triều Tiên. Theo Disoways, Momyer là người khắt khe trong công việc bởi vì ông là “khá thông minh hơn nhiều người khác”, rằng “ông là người rất thiếu kiên nhẫn - ông luôn biết câu trả lời trước người khác thậm chí ông bắt đầu nghĩ tới câu hỏi”. Về việc ném bom trong mọi thời tiết, Momyer tin rằng nếu được cung cấp một thiết bị và hạn chế diện tích ném bom những mục tiêu dân cư, có thể làm được chút ít.
Khi thời tiết xấu, Momyer muốn tập trung đánh vào hệ thống phòng không của địch - đặc biệt là MiG. Mặc dù những cuộc tấn công phi trường và không chiến đã làm giảm bớt số lượng MiG của Bắc Việt Nam từ hơn một trăm đầu năm 1967 còn khoảng 20 cuối năm, phi công những máy bay MiG sót lại đã tỏ ra có kỹ thuật và xông xáo hơn. Tháng 12 họ buộc hơn 10% máy bay Mỹ đi ném bom gói mục tiêu 6 phải vứt bỏ bom trước khi tới mục tiêu. Dù đã cắt giảm tỷ lệ vứt bỏ xuống dưới 1% trước đó, Momyer làm cái mà ông có thể kiểm soát tình hình. Ông tăng cường tỷ số máy bay hộ tống, tuần tra trên máy bay không kích từ dưới tỷ lệ 1/5 lên 2/1. Điều này làm tỷ lệ vứt bỏ bom xuống khoảng 3% nhưng không tăng tỷ số MiG bị bắn rơi, chừng bốn hoặc 5 chiếc một tháng.
Trong khi những máy bay MiG bị phá huỷ ở Bắc Việt Nam luôn được thay thế bởi những máy bay gửi ở Trung Quốc, những chiến thắng không chiến có lẽ giáng thiệt hại xuống những phi công tốt nhất của Bắc Việt nam. Momyer có lý do để tự hào về vai trò của mình trong kế hoạch Hành quân Bolo, bắn rơi 7 MiG trên không ngày 2-1-1967. Nhưng khi ông có một đợt xuất kích tương tự ngày 6-1-1968, chỉ có một số ít MiG tới gần và không có chiếc nào bị bắn rơi. Thay vì những F-4 đóng giả F-105 trong Bolo, đợt xuất kích mới của Momyer nổi bật là 34 chiếc F-105 trần trụi, tháo hết bom và sẵn sàng không chiến. Đa số F-105 qua dãy núi Tam Đảo tại độ cao mười bốn nghìn feet và quay về phía đông dường như định không kích sân bay Kép hoặc chiếc cầu đường sắt tại Mỏ Tràng, cách Kép 15 dặm về phía tây trên tuyến đi Thái Nguyên. Không ngạc nhiên, thủ đoạn của họ sớm được phát hiện khi hai cặp MiG-21 tấn công từ phía sau. Chiến thuật điển hình của Bắc Việt nam từ tháng 8, là bắn và chạy trong nắng chiều muộn. Máy bay MiG và lực lượng không kích Mỹ đã bắn nhau bằng những tên lửa tầm nhiệt mà cả hai bên không thiệt hại gì, và phi công MiG chạy thoát đã báo về Sở chỉ huy rằng những F-105 không mang bom. Vài phút sau một cơ hội đến, khi một phi công F-105 lưu ý rằng một máy bay vận tải Il-14 đang bay ở độ cao vài nghìn feet phía dưới, hướng về Hà Nội. Khi phi công F-105 đang nhận lệnh của chỉ huy cho phép tấn công chiếc máy bay vận tải màu xám với ngôi sao đỏ, thì nó kịp chui vào đám mây gần nhất; F-105 nổ súng và bị trượt.
“Theo quan điểm của tôi - Ryan thông báo cho Momyer - lối đánh như thế này là không có hiệu quả… Việc bắn vào máy bay vận tải… là vi phạm quy tắc chiến đấu”. Momyer phải đồng ý rằng có một quy tắc hạn chế tấn công vào máy bay vận tải địch, nhưng ông phản đối rằng đây là một “quy tắc ngoại lệ” theo cách nhìn nhận súng của địch vẫn bắn vào những máy bay dân sự ở Nam Việt nam (không kể máy bay vận tải quân sự). Momyer nói rằng nếu ông không vẽ ra Bolo, máy bay của ông cũng chẳng có việc gì làm tốt hơn khi gió mùa đông bắc.
Ryan kết hợp bài thuyết giáo ngắn của mình về xuất kích của MiG với đề xuất sử dụng nhiều hơn bom Walleye, nhưng Momyer ít hưởng ứng. Từ khi đưa vào sử dụng ở Đông Nam Á trong 1967, bom Walleyes ít được cung cấp. Nhưng dự trữ của số bom này tại sân bay Ubon (Thái Lan), không làm cho Momyer tin rằng chúng có thể được dùng khi thời tiết không thuận lợi. Hiếm khi ông thấy được bầu trời trong trẻo để F-4 thả Walleyes vào mục tiêu. Hơn nữa, bom Walleye của không quân Mỹ vẫn không tốt bằng bom chính gốc của hải quân. Momyer phàn nàn rằng loại bom của không quân Mỹ được “ném vào cuộc chiến” bất chấp những nhược điểm của nó là bắt buộc dùng trong điều kiện tối ưu khi nắng ban trưa. “Tuy thế - ông nói với Ryan - chúng tôi sẽ dùng Walleye bất cứ nơi nào nó đáng giá”.
Momyer cũng chỉ ra rằng ông sẽ có phương án xuất kích sau khi thử nghiệm một cách khác để hạ gục MiG. Ông cho đội hộ tống gồm F-4 dẫn đầu lực lượng không kích bay trước 1/4 giờ; ông cho thêm một phi đội bay ở tầm 40 nghìn feet, cao hơn hẳn lực lượng không kích; ông cho hai phi đội bay dưới tầm radar địch vọt lên bất ngờ và làm cho MiG ngạc nhiên; ông đã kết hợp sự hộ tống gần bằng một phi đội bay lòng vòng. Nhưng vấn đề căn bản là Tập đoàn không quân số 7 “đang hành động với ít thông tin thực hơn kẻ thù”.
Một trong những đối tượng chính của Momyer là cải tiến hệ thống dẫn đường và cảnh báo của Tập đoàn không quân số 7 đồng thời làm suy yếu hệ thống dẫn đường Bắc Việt Nam. Hiệu quả của MiG phụ thuộc vào dẫn đường mặt đất, bị nhiễu cảnh báo sớm và radar đánh chặn làm suy giảm. Những máy phát tương đối nhỏ gắn trên máy bay Mỹ dùng để làm nhiễu SAM và radar điều khiển pháo cao xạ và hệ thống cảnh báo sớm và radar cảnh báo MiG mạnh hơn, trừ những máy phát nhiễu do Douglas EB-66 chuyên chở. Năm 1965, EB-66 đã yểm trợ lực lượng không kích trong vòng vài dặm của những mục tiêu ở đồng bằng sông Hồng, nhưng MiG và SAM đã buộc EB-66 phải chạy xa hơn. Trước mùa hè năm 1967, hai hoặc ba EB-66 bay theo vĩ tuyến 20 và biên giới Lào, cách Hà nội 75 dặm về phía tây nam, trong lúc cũng số lượng máy bay đó bay qua Vịnh Bắc Bộ.
Ngày 15-11-1967, Tập đoàn không quân số 7 cho hai EB-66 tới bắc dãy núi Tam Đảo lần đầu tiên kể từ 1966. Sự táo bạo này được khuyến khích nói riêng bởi những bệ phóng SAM đã di chuyển khỏi dãy núi đông nam về Hà Nội và vào vùng cán xoong. EB-66 ít bị nguy hiểm do MiG tấn công, đặc biệt bởi vì máy phát nhiễu làm nhiễu liên lạc từ phi đội hộ tống và máy bay cảnh giới bằng radar EC-121. Một máy radio mới đã giải quyết được khó khăn này, và được thực nghiệm ngày 15-11. Ngày hôm đó hai EB-66 đã bay theo đường bay bị loại bỏ từ lâu mà không gặp khó khăn.
Năm ngày sau một EB-66 bay ở bắc dãy núi Tam Đảo bị một cặp MiG-21 tấn công từ phía sau, một chiếc lao xuống và một chiếc vọt lên. Hai F-4 hộ tống phía sau EB-66 nhìn thấy hai máy bay MiG và cảnh báo EB-66 chúc xuống theo đường dích dắc - vừa đúng lúc tránh được tên lửa tầm nhiệt Atoll do chiếc MiG vọt lên phóng ra. Mặc dù EB-66 và những máy bay hộ tống thoát ra được mà không bị hư hại gì, nhưng những phi công F-4 ở sân bay Ubon (Thái Lan), hú hồn với lối bay này. Bay phía sau EB-66 hình như không phải là cách an toàn hỗ trợ tốc độ bay chậm hơn của nó, và họ tin chắc rằng họ có thể vạch ra một chiến thuật tốt hơn thông qua thảo luận với những phi công EB-66 tại sân bay Takhli, Thái Lan. Chẳng có kế hoạch nào thực hiện cả. Tập đoàn không quân số 7 yêu cầu EB-66 bay xa phía nam Hà Nội.
Táng sau, Tập đoàn không quân số 7 cố gắng cải tiến làm nhiễu bằng cách tăng số lượng EB-66 trong một cuộc không kích lên tới mười bốn chiếc. Lực lượng tăng cường này bắt đầu thả những sợi kim loại làm nhiễu radar Bắc Việt nam đối với lực lượng không kích và cả bản thân EB-66. Ngày 14-1-1968, tuy thế, chỉ có 5 EB-66 bay theo trợ giúp không kích những mục tiêu ở gói mục tiêu 5. Một cặp MiG-21 cất cánh từ Phúc Yên và bay về phía nam theo hướng Thanh Hoá. Trước khi tới vĩ tuyến 20, họ ngoặt sang phía tây và tấn công một máy bay EB-66 không được hộ tống đang bay gần biên giới Lào. Một tên lửa không đối không Atoll bắn trúng cánh phải chiếc EB-66. Tất cả tổ lái 7 người nhảy dù ra khỏi máy bay. Phi công, hoa tiêu dẫn đường, và một sĩ quan chiến tranh điện tử được cứu thoát hai ngày sau, cùng với 5 người của tổ lái trực thăng, bị rơi trong khi cố gắng lôi tốp lái EB-66 lên trong thời tiết xấu. Ba sĩ quan chiến tranh điện tử còn lại của chiếc EB-66 và một hoa tiêu bị bắt giam. Đây là lần cuối cùng EB-66 được phép bay ở Bắc Việt Nam. Từ đấy về sau, EB-66 hoạt động bị giới hạn tại Lào, Vịnh Bắc Bộ, và Nam Việt nam; một hàng rào máy bay chiến đấu bắt đầu bảo vệ những EB-66 tại Lào, cũng như những máy bay hải quân bảo vệ lâu dài EB-66 hoạt động ở Vịnh Bắc Bộ.
EB-66 thất bại trong việc làm nhiễu hiệu quả hệ thống radar dẫn đường mặt đất của MiG một phần nào được bù đắp do sự cải thiện năng lực dẫn đường cho các máy bay của mình ở Tập đoàn không quân số 7. Do nhiều khoảng không ở Bắc Việt Nam không thể theo dõi bằng radar tàu thuỷ, vì radar ở khoảng cách khá xa, Tập đoàn không quân số 7 dùng radar hàng không gắn trên máy bay cánh quạt Lockheed EC-121 của Bộ chỉ huy không quân. “Connie” là một kiểu của máy bay vận tải Super Constellation. Radar của nó được thiết kế để phát hiện máy bay ném bom tiếp cận vùng biển Bắc Mỹ. Nhìn xuống đất, màn hình radar Connie đầy nhiễu hỗn loạn, nhưng Connie bay là là 50 feet trên Vịnh Bắc Bộ có thể quan sát bầu trời Hà Nội trên mười nghìn feet.
Giá trị hơn rada của nó là Connie có thể thẩm vấn máy xác định bạn-thù gắn trên cả máy bay Mỹ và Bắc Việt nam. Nếu máy xác định bạn-thù bật lên, nó phát ra tín hiệu radio và truyền danh tính và vị trí của nó. Thoạt đầu, Connie chỉ thẩm vấn máy bay của Mỹ, và làm phi công khó chịu vì những phi công đã bay khá gần biên giới Trung Quốc đuổi theo MiG; những phi công Mỹ tắt máy hỏi đáp để tránh bị Connie thẩm vấn. Quan hệ thù địch giữa tổ lái EC-121 và phi công đã trở nên đỉnh điểm vào tháng 2-1967, khi phi đoàn F-4 Ubon bị buộc chia sẻ thiết bị của nó với Connie. Họ rời Sở chỉ huy không quân Mỹ số 7 tại Tân Sơn Nhất để làm một phòng cho công việc khác. Tư lệnh phi đoàn máy bay chiến thuật số 8 Ubon, đại tá Olds, trước tiên không hài lòng với người hàng xóm mới của mình, nhưng thay đổi trọng tâm từ theo dõi cảnh báo MiG ở biên giới. Đầu năm 1967, kết quả tốt nhất Connie có thể làm được là dùng radar của mình để thông báo rằng có một MiG nằm trong vùng rộng 30 dặm nhân 30 dặm. Olds cho rằng thông tin này là ít hữu ích hơn: “45 nghìn dặm khối của bầu trời, và anh nói với tôi là có một MiG khát máu ở đó”.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #66 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:28:00 pm »

Sau cuộc thử thiết bị thẩm vấn máy bay địch tháng 1-1967, Connie bắt đầu thẩm vấn những máy bay MiG mùa hè ấy. Trong một lúc nào đó, Connie làm việc dưới những hạn chế của Cơ quan an ninh quốc gia nhằm ngăn chặn Bắc Việt phát hiện ra khả năng mới, nhưng trước mùa thu 1967, máy thẩm vấn đã thay thế radar coi như là cách chủ yếu và chính xác hơn nhiều trong việc theo dõi máy bay địch.
Việc sử dụng đầy đủ hơn khả năng của Connie được kích thích bởi “Rivet Top” tới Thái Lan, một máy bay Connie thực nghiệm được Bộ chỉ huy không quân chiến thuật tài trợ. Rivet Top không thể bắt phi công tắt máy phát hỏi-đáp, nhưng nó đã thuyết phục tướng Momyer rằng Connie có thể đóng góp vào việc bắn rơi MiG. Tác động của Rivet Top có thể một phần là công lao cải tiến và một phần do người tài trợ. Tướng Disoways ở Bộ chỉ huy không quân chiến thuật có vị thế tốt tạo ảnh hưởng với Momyer (một sự lựa chọn rõ ràng thay thế Disoways) hơn là trung tướng Arthur C. Agan, Jr., ở Bộ chỉ huy không quân. Tư lệnh Tập đoàn không quân số 7 và các phi công của ông cảnh báo Rivet Top theo cách họ chưa bao giờ có đối với Connie của Bộ chỉ huy không quân, những máy bay này bị chuyển từ sân bay chật chội này sang sân bay chật chội khác và bị nhiếc móc về bộ dạng nhếch nhác của máy bay và tổ lái. Rivet Top thà bị gắn chặt sự giúp đỡ chống lại MiG còn hơn một sĩ quan biên phòng ngăn trở F-4 và F-105. Mặc dù sự phân biệt đối xử này khuấy động oán giận trong số những người chỉ huy Bộ chỉ huy không quân, Rivet Top phá vỡ những hàng rào đang ngăn cản những Connie khác từ bỏ vai trò đáng kể hơn .
Thậm chí khi những máy bay Connie của Bộ chỉ huy không quân được phép thẩm vấn không giới hạn máy bay địch, tuy thế, họ vẫn không được yên khi đi cùng Rivet Top để phát hiện MiG. Trong khi những máy bay Connie của Bộ chỉ huy không quân có thể thẩm vấn đa số máy hỏi đáp của Bắc Việt nam (do Liên Xô chế tạo), Rivet Top có thể thẩm vấn nhiều hơn. Rivet Top cũng có thể so sánh tín hiệu phát của radar SAM với kho dữ liệu của máy tính về trận địa tên lửa; không may, hệ thống phát hiện tên lửa này chỉ có thể làm việc đối với ba trận địa cùng một lúc và thường là quá tải. Sự đổi mới hữu ích hơn trùm lên cả nhân sự và máy móc của Cơ quan an toàn không quân, đến mức Rivet Top có thể mang cả radar và nhân viên tình báo thông tin để theo dõi hoạt động của MiG.
Đối mặt với sự thi đua từ Rivet Top, Bộ chỉ huy không quân phải nâng cấp mẫu máy bay của họ. Trước mùa hè năm 1968, những máy bay Connie của Bộ chỉ huy không quân cũng mang theo nhân viên Cơ quan an toàn không quân. Điều này củng cố quyết định của tướng Momyer tháng 10-1967 cho phép liên lạc trực tiếp Connies và máy bay chiến đấu. Những người thu thập tin tức tình báo tiếp tục phá vỡ quy tắc chống nói chuyện trực tiếp với phi công. Những cảnh báo nặc danh thường được nhắc đi nhắc lại bởi những phi công, tạo ra những tiếng lảm nhảm nhức óc.
Từ 1966, Tập đoàn không quân số 7 cố gắng chèn trung tâm kiểm soát Sơn Trà (gần Đà Nẵng, Nam Việt nam) vào giữa nguồn tình báo và người sử dụng. Sơn Trà được coi là “trung tâm xử lý” nơi các bức ảnh tình báo đến cùng nhau và dẫn các phi công bay đến Bắc Việt nam. Việc sử dụng những thiết bị tiên tiến đã giúp Bộ chỉ huy không quân bảo vệ vùng Bắc Mỹ, Tập đoàn không quân số 7 đang xây dựng một Sở chỉ huy tại Sơn Trà cung cấp những chỉ dẫn cho những phi công chiến đấu với MiG. Trung tâm kiểm soát tại sân bay Udorn, Thái Lan, và Tân Sơn Nhất gần Sài Gòn cũng được trang bị tương tự, nhưng vào cuối năm 1967, chỉ có Sơn Trà đang bắt đầu dùng hệ thống hiển thị và xử lý tự động. Tập đoàn không quân số 7 vẫn kém xa hạm đội 7 trong việc kiểm soát tự động trên không. Các máy tính Sơn Trà cho phép Tập đoàn không quân số 7 nối vào hệ thống dữ liệu chiến thuật của hải quân và thuỷ quân lục chiến tháng 3-1968.
Trong thời gian ấy, các máy bay MiG tiếp tục gây cho không quân Mỹ ngạc nhiên. Mặc dù cảnh báo của Connie thường chính xác hơn và thông báo trực tiếp tới tổ lái tổ lái, đôi khi việc liên lạc không đủ hoặc các máy bay MiG đơn giản không được phát hiện đúng lúc. Thậm chí một lực lượng được hình thành chuyên để bắn hạ MiG trên không, giống như đợt xuất kích lớn của Momyer ngày 6-1-1968, có thể bị MiG-21 bắn hạ mà không có cảnh báo từ máy bay Connie hoặc từ Sơn Trà, đặt ra sự cần thiết dẫn đường để đánh chặn MiG. “Chúng ta vẫn còn đằng sau quân địch”, Momyer buồn bã giải thích cho Ryan.
***
Trong khi tướng Momyer đặc biệt chán nản bởi thất bại trong tiến trình đè bẹp phòng không Bắc Việt nam, thất vọng chủ yếu của tướng Ryan là sự ít thành công ném bom trong thời tiết mây mù kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4. Grumman A-6 Intruder, là máy bay phản lực dưới tốc độ âm thanh có radar chống va xuống đất, là máy bay ném bom hiệu quả nhất trong thời tiết xấu ở Đông Nam Á. Ryan đã thành công trong việc đưa một số máy bay thuỷ quân lục chiến A-6 vào ném bom những mục tiêu ở đồng bằng sông Hồng do không quân đảm nhiệm, nhưng vì không đủ, nên máy bay A-6 của thuỷ quân lục chiến và hải quân không làm được hơn là quấy rối Bắc Việt nam. Ông háo hức việc tung máy bay chiến thuật mới General Dynamics F-111, hứa hẹn chính xác hơn A-6.
Ngay sau khi sáu chiếc F-111 tới Takhli tháng 3-1968, tuy thế, ba chiếc trong số này bị va chạm. Những mảnh của một trong ba chiếc, cùng với chiếc khác bị va đụng ở Nevada, chỉ ra mối hàn yếu ở que điều khiển đuôi. Đây chỉ là một trong một loạt vấn đề đã quấy rầy chương trình phát triển F-111 kể từ khi Bộ trưởng quốc phòng McNamara cố gắng ghép kế hoạch của không quân chế tạo máy bay ném bom chiến thuật với kế hoạch của hải quân chế tạo máy bay có ưu thế chiến đấu trên không. Năng lực mới cho phép thay đổi hình dạng trong khi bay bằng cách dùng những chiếc cánh khác nhau không giảm được khoảng cách giữa hai chức năng này, và trong khi F-111 của không quân đang bị va chạm ở Đông Nam Á, hải quân đã rút hẳn ra khỏi chương trình.
Có ít phi vụ F-111 của Takhli tuân theo kế hoạch - một máy bay đơn độc len lỏi qua đỉnh núi về ban đêm và bay thấp qua đất phẳng ven biển vùng cán xoong Bắc Việt thả bom vào bãi xe tải và các kho hàng. Khi về căn cứ những phi công và sĩ quan hệ thống vũ khí của F-111 nói nhìn thấy đạn địch, nhưng họ khó nhận dạng mục tiêu đúng lúc phải ném bom. Trong số 71 lượt xuất kích ném bom Bắc Việt nam, chỉ có mười tám lần có kết quả tốt ghi nhận được. Một nửa số bom rơi vào bên trong vòng năm trăm feet của mục tiêu - tương đương với bổ nhào ném bom ban ngày trong thời tiết tốt và tốt hơn A-6 trong thời tiết xấu, nhưng sự thất vọng ở chương trình này là người ta hy vọng một nửa số bom rơi vào bên trong hai trăm feet mục tiêu.
Không quân Mỹ nhận sự chỉ trích về việc đưa hệ thống vũ khí mới vào chiến đấu trước khi nó được hoàn hảo. Tham mưu trưởng McConnell dũ bỏ sự chỉ trích này, nói rằng giành được nhiều từ việc thử thiết bị trong chiến đấu và rằng F-111 cũng bị rơi ở Hoa Kỳ trong khi thử. Bộ trưởng Brown nghi ngờ rằng Liên Xô có lẽ biết nhiều từ mảnh vụn F-111 ở Bắc Việt nam. Nhưng tướng Ryan hối tiếc đã vận động mạnh mẽ để F-111 triển khai sớm. Nó còn chưa hoàn hảo, trong bất kỳ trường hợp nào, nó không nên tới Đông Nam Á đúng lúc để làm một sự khác nhau thực tế. Chỉ một vài ngày sau khi F-111 đến Thái Lan, Hoa Kỳ đã ngừng ném bom những mục tiêu ở đồng bằng sông Hồng. Mãi tới tận 1972, F-111 mới có cơ hội thể hiện khả năng của nó ném bom những mục tiêu được phòng thủ mạnh mẽ ở Bắc Việt nam. Trong gió mùa đông bắc năm 1967-68, không quân Mỹ phải làm việc này bằng máy bay cũ.
Một năm trước, tướng Ryan cho những F-105F hai ghế lái đi ném bom tầm thấp trong thời tiết xấu. Nhưng radar chống chạm đất và máy tính ném bom đã chứng tỏ sự kém cỏi. Vì “đội đột kích của Ryan” đã bò lên độ cao trên 10 nghìn feet, nơi mà việc ném bom thậm chí ít chính xác hơn. Do vậy họ nhập những F-4D có thiết bị mới hơn chứng tỏ cũng không có hiệu quả hơn với sai số trung bình ba nghìn feet cho cả hai kiểu máy bay. Một phần của vấn đề là cắt giảm mục tiêu có tín hiệu radar tốt. Thông thường, cần phải đánh dấu mục tiêu vào bản đồ địa hình và làm cho trùng khớp việc thả bom. Khi tổ lái có thêm từng trải và thư viện phim radar lớn lên, thì độ chính xác ném bom được cải thiện.
Trong thời gian ấy, tại Nam Việt nam, không quân Mỹ gặp ít khó khăn để ném bom qua những đám mây. Dẫn đường mặt đất sử dụng thiết bị ghi nhận bom “Skyspot” để theo dõi B-52 và máy bay khác; khi máy bay đến vị trí chính xác, người dẫn đường phát tín hiệu để máy bay thả bom. Trạm điều khiển nằm gần khu phi quân sự và tại Nakhon Phanom (Thái Lan), cho phép không quân Mỹ khai thác hệ thống này tại vùng cán xoong Bắc Việt Nam. Nhưng đồng bằng sông Hồng còn nằm ngoài tầm xa mãi cho đến khi Mỹ xây dựng được một trạm dẫn đường tại Lào, cách Hà nội khoảng 125 dặm về phía tây.
Cùng với tất cả những hoạt động khác của không quân Mỹ tại Lào, trạm 85 dẫn đường tại Phou Pha Thi phải được đại sứ Mỹ, William H. Sullivan chấp thuận. Thoạt đầu ông phản đối, bởi vì ông nghi ngờ rằng thủ tướng, hoàng thân Souvanna Phouma, không muốn Lào bị lôi cuốn trực tiếp vào chiến dịch ném bom Bắc Việt nam - mặc dù quân đội Bắc Việt Nam đang chiến đấu tại Lào. Thêm nữa, vấn đề vị trí tại Phou Pha Thi là chỗ dễ bị nguy hiểm khi Bắc Việt nam tấn công. Tuy thế, Souvanna Phouma cho phép lập một trạm dẫn đường mới, nhưng quân nhân Mỹ không được điều hành. Không quân Mỹ vất vả quanh việc hạn chế này, và họ tháo gỡ vấn đề bằng cách những nhân viên dẫn đường sẽ mặc quần áo dân sự và ký giấy là tạm thời rời bỏ quân đội; những toán sĩ quan dẫn đường tới đó bằng trực thăng từ Thái Lan. Thêm một nỗ lực khác để nguỵ trang vai trò Phou Pha Thi, các sĩ quan dẫn đường này liên lạc với máy bay cường kích thông qua máy bay chuyển tiếp tín hiệu radio EC-135.
Đỉnh núi Phou Pha Thi trấn giữ tuyến đường từ Hà Nội đến Trung Lào. Lực lượng người Mèo của tướng Vang Pao phòng vệ nó như quyền lợi của chính họ, và CIA đã xây dựng một bãi đáp tại chân núi để tiếp liệu cho họ. Trước khi đưa những sĩ quan dẫn đường lên đỉnh núi, không quân Mỹ đã xây dựng một cột dẫn đường bằng radio cho những máy bay cường kích trên đường đến Bắc Việt Nam. Các sĩ quan dẫn đường ở Phou Pha Thi tròn hai tháng, khi ngày 12-1-1968, Bắc Việt dùng không quân tấn công. Ít nhất hai máy bay Antonov An-2 cánh kép do Liên Xô sản xuất phóng tên lửa và ném bom thô (làm bằng đạn súng cối) trước khi súng mặt đất và trực thăng Mỹ bắn rơi họ.
Dù có sự phong toả ở Phou Pha Thi, không quân Mỹ nghi ngờ rằng Vang Pao có thể giữ nó; thuốc nổ được gắn vào tất cả các thiết bị trên đỉnh núi được chuẩn bị trước để rút lui nhanh. Nhưng khi cộng sản chiếm được Phou Pha Thi tháng 3-1968, tướng Momyer và đại sứ Sullivan đã chờ đợi khá lâu để ra lệnh giải cứu. Mười hai trong số mười tám người Mỹ tại trạm đã bị chết hoặc mất tích, và máy móc của họ không bị phá huỷ(1). Không quân Mỹ đã ném bom trạm này, trong lúc Momyer và Sullivan trực diện tranh luận về trách nhiệm không bảo vệ được nó và không giải cứu đúng lúc.
______________________

(1) Một trong 12 người bị chết trong khoang một chiếc trực thăng sau khi rút ra. Năm 1990 một sĩ quan không quân nói rằng, theo cuộc phỏng vấn một tướng Lào, một người Mỹ bị bắt tại Phou Pha Thi được đưa về Hà Nội. Một năm sau khi thượng sĩ William Gadoury của Trung tâm giải quyết vấn đề thương vong Mỹ hỏi tướng Singkapo Sikhotchounamaly về lời tuyên bố này, thì ông nói rằng ông bị hiểu nhầm. Xem Timothy N. Castle, At War in the Shadow Việt nam: U.S. Viện trợ quân sự to the Royal Lao Government, 1955-1975 (New York, 1993), pp 96-97, và One Day Too Long: Top Secret Site 85 và ném bom của Bắc Việt nam (New York, 1999), pp 196-200.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #67 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:29:23 pm »

Từ tháng 11-1967 đến tháng 3-1968, các sĩ quan tại Phou Pha Thi đã dẫn đường gần một trăm phi vụ “Commando Club” (khoảng năm trăm lượt xuất kích) đi ném bom đồng bằng sông Hồng. Nhưng việc ném bom do mặt đất điều khiển chứng tỏ sự thất vọng tại vùng đó của Bắc Việt nam. Trạm này nằm khá xa những mục tiêu để ném bom chính xác. Kể từ đó, để làm địch hư hại nhiều hơn, không quân Mỹ đưa một lực lượng lớn đánh một mục tiêu lớn. Trong một trận ném bom như thế xuống sân bay Phúc Yên, phòng không của họ đã bắn rơi bốn F-105 và làm cho những máy bay còn lại của lực lượng không kích phải vứt bỏ bom. Phi đoàn không quân chiến thuật 388 tại sân bay Korat, Thái Lan, bị mất vị tư lệnh của mình, đại tá Edward B. Burdett, chỉ ba tuần lễ sau khi viên phó tư lệnh đại tá John P. Flynn, bị bắn rơi trên vùng trời Hà Nội. Không giống đại tá Flynn, đại tá Burdett và ba người bị rơi cũng với ông đã không trở về nhà khi kết thúc chiến tranh.
Trận ném bom điều khiển từ mặt đất xuống Phúc Yên xảy ra buổi sáng ngày 18-11-1967. Một tá F-105 mang bom được bốn F-4 hộ tống chống MiG, và hơn tám F-105 chống SAM. Một nửa số F-105 này hình thành phi đội “Bàn tay sắt” trang bị tên lửa chống radar Shrike, mà sự có mặt của nó khiến Bắc Việt phải tắt radar dẫn SAM trong hoàn cảnh cụ thể; phi đội bốn F-105 còn lại mang máy gây nhiễu radar. Năm chiếc EB-66 bay cách 100 dặm về phía nam mục tiêu cũng góp thêm sức làm nhiễu, trong lúc ba máy bay radar EC-121 quan sát máy bay MiG.
Lực lượng không kích gặp khó khăn bắt đầu từ cách Phúc Yên 40 dặm về phía tây khi tốp “Bàn tay sắt” bị hai MiG-21 tấn công từ phía sau. Những tên lửa tầm nhiệt Atoll băn rơi chiếc F-105F hai ghế lái và làm bị thương chiếc F-105D một ghế lái; những chiếc còn lại của phi đội hộ tống chiếc máy bay bị thương trở về Lào, nơi phi công nhảy dù và được cứu thoát. Họ được máy bay EC-121 cảnh báo ba lần về MiG, nhưng những cảnh báo này bị sai lạc khi liên lạc giữa lực lượng không kích và trạm điều khiển mặt đất tại Phou Pha Thi.
Do thiếu vũ khí tấn công trận địa SAM, lực lượng không kích bây giờ phải hoàn toàn dựa vào nhiễu điện tử. Một cặp máy bay mang máy gây nhiễu không thể bảo vệ nó được nhiều, vì thế mỗi phi đội bay một đội hình gần nhau để máy gây nhiễu của cả bốn máy bay làm việc cùng với nhau - những cũng phải đủ lỏng lẻo để tạo thành diện rộng khiến radar Bắc Việt nam không thể xác định chính xác. Đội hình mang máy gây nhiễu không thể được dùng trên đầu mục tiêu. Việc ném bom điều khiển từ mặt đất đòi hỏi máy bay bay sát nhau trong khu vực ném bom chật hẹp, vì tất cả bọn họ phải ném bom cùng một lúc với máy bay dẫn đầu. Chín mươi giây trước khi tới điểm thả bom, các máy bay của từng phi đội phải giảm khoảng cách ngang từ 1500 xuống năm trăm feet.
Đội hình bay thẳng và gần nhau tại độ cao mười tám nghìn feet là mục tiêu hấp dẫn đối với SAM. Bắc Việt bắn lên thành một hàng rào khoảng 12 tên lửa, và bắn rơi thêm hai F-105 (kể cả máy bay đại tá Burdett). Tỷ lệ cao khác thường này dẫn đến suy đoán rằng radar Bắc Việt nam có khả năng phân biệt từng phi đội, bởi vì các phi đội không bay sát gần nhau. Kể từ đây, tên lửa Bắc Việt nam có thể nhằm vào một khoảng nền nhiễu tương đối nhỏ do máy gây nhiễu của từng phi đội tạo ra. Bất chấp khả năng thay đổi dạng của một đội hình lớn có thể đưa đến những kết quả tốt hơn, Tập đoàn không quân số 7 đã ngừng thực nghiệm ném bom được điều khiển từ mặt đất trên vùng trời đồng bằng sông Hồng với những đội hình lớn hơn một phi đội.
Mặc dù SAM không bắn rơi máy bay nào trong cuộc tập kích với đội hình nhỏ mang tên “Commando Club” (không quân Mỹ đặt tên cho tất cả những phi vụ điều khiển từ mặt đất trên vùng trời đồng bằng sông Hồng), tổ lái nhớ lại cuộc tập kích lớn vào Phúc Yên và gọi những cuộc tập kích nhỏ là “Commando Kaze”.
Thí nghiệm về điều khiển từ mặt đất cho những đội hình lớn đáng lẽ vẫn tiếp tục nếu như thiệt hại trong cuộc tập kích lớn vào Phúc Yên không gặp phải khủng hoảng lớn. Trong vòng bốn ngày, SAM bắn rơi 10 máy bay Mỹ. Không có cái gì giống như điều này xảy ra ngày 2-12-1966, khi SAM bắn rơi 5 máy bay không quân Mỹ. Nhưng “Ngày thứ sáu đen” đó những tên lửa bắn rơi những máy bay chưa được trang bị máy gây nhiễu điện tử. Những máy gây nhiễu như thế đã cắt giảm tỷ lệ trung bình SAM hạ máy bay Mỹ từ khoảng ba máy bay bị rơi trên 100 tên lửa được phóng lên xuống còn 2 chiếc. Vì đa số máy bay trúng SAM tháng 11-1967 không được chiến đấu trong việc ném bom được điều khiển từ mặt đất, Tập đoàn không quân số 7 có thể kết luận rằng có một vấn đề khác cần được giải quyết, nên khôi phục lại những đợt không kích lớn hơn điều khiển từ mặt đất. Chiều hướng của sự khủng hoảng tăng lên do sự xuất hiện của một toán phân tích từ hành dinh không quân và Bộ chỉ huy hệ thống không quân Mỹ. Họ made một vài gợi ý và Tập đoàn không quân số 7 cố gắng bổ xung tất cả điều đó bao gồm cả những người yêu cầu loại bỏ những đợt không kích lớn hơn điều khiển từ mặt đất ở khu vực Hà Nội.
Trong khi những đội hình ném bom được điều khiển từ mặt đất có thể là một phần của vấn đề SAM, toán phân tích của hành dinh không quân có thể nhìn thấy vấn đề có kích thước khác. Những mất mát của máy bay Mỹ bởi SAM tại vùng trời Phúc Yên ngày 18-11-1967, có thể do máy bay ra khỏi đội hình mang máy gây nhiễu, khi F-105 sát tới khu vực ném bom chật hẹp. Tương tự, khi thời tiết trong trẻo một phi đội thông thường bay gần nhau ngay trước khi lượn vòng bổ nhào - việc ra khỏi đội hình mang máy gây nhiễu có thể là nguyên nhân SAM hạ rơi hai máy bay vào tuần lễ đó. Nhưng một máy bay bị rơi ngày 19-11, mà chiếc này nằm chính xác ở phi đội bốn chiếc trong đội hình máy gây nhiễu. Do Bắc Việt giờ đây bắn thành hàng rào, từ sáu đến 30 tên lửa, đơn giản họ đã gặp may mà thôi.
Tuy thế, những giải thích khác làm đau đầu toán hành dinh không quân. Bắc Việt Nam có lẽ dùng ở tần số thấp hơn tần số nó bị nhiễu. Trong khi máy phát nhiễu có thể được điều chỉnh một cách phù hợp, có nhiều khả năng nguy hiểm hơn là Bắc Việt đang thẩm vấn máy thu phát của máy bay Mỹ - giống hệt như radar giám sát EC-121 luôn thẩm vấn máy thu phát của MiG. Chắc chắn Bắc Việt đã bắn rơi đủ máy bay Mỹ để thu được máy thu phát của Mỹ của Mỹ.
Thêm vào sự cải tiến năng lực phát hiện máy bay Mỹ trong lĩnh vực điện tử, những người điều khiển SAM hình như còn dùng cả kính quang học trong những ngày trời trong trẻo. Việc tắt máy hỏi-đáp bạn thù hoặc làm nhiễu radar Bắc Việt nam không thể đánh lừa được kính quang học. Nhưng sự liên lạc của tên lửa với trạm điều khiển mặt đất của nó luôn ít bị nhiễu gây nguy hiểm. Tháng 12-1967, máy bay cường kích không quân bắt đầu làm nhiễu tần số radio dẫn đường trong từng quả tên lửa. Những sĩ quan điều khiển Bắc Việt nam có lẽ có khả năng theo dõi máy bay Mỹ, nhưng từ nay về sau họ gặp phải những khó khăn lớn hơn để theo dõi những tên lửa của chính họ. Đây là biện pháp hữu hiệu nhất để giảm mối đe doạ của SAM vào cuối năm 1967.
Những nỗ lực cản trở SAM về mặt điện tử đã làm tăng bất lực phá huỷ chúng. Khoảng 150 bệ phóng được quây tụ thành những nhóm gồm tối đa 6 bệ tại khoảng 30 trong số 200 trận địa có sẵn. Bắc Việt và cố vấn Liên Xô di chuyển bệ phóng một cách thường xuyên, đến nỗi máy bay Mỹ tấn công một trận địa tên lửa có thể chỉ gặp phải súng phòng không hạng nặng. “Những con chồn hoang” F-105F của không quân hiếm khi đè bẹp được hoạt động của SAM trong khoảng thời gian cuộc tập kích hoặc bắn tên lửa Shrike vào radar của SAM. Bắc Việt thường tắt máy phát radar của họ khi bị đe doạ. Do Bắc Việt nhanh chóng bật máy radar của họ lại ngay khi “Những con chồn hoang” đi khỏi, đa số lực lượng không kích có cả bảo vệ trước và sau cho “Những con chồn hoang”; mỗi vị trí bảo vệ này thông thường là một phi đội “Bàn tay sắt” gồm hai “Con chồn hoang” F-105F dẫn đầu hai F-105D.
Năm 1967, Tập đoàn không quân số 7 tiêu tốn 1.322 quả Shrikes, và trước cuối năm đó, phi đoàn máy bay F-105 tại Takhli phàn nàn về sự thiếu hụt. Đầu năm 1968, tên lửa tìm diệt radar loại mới AGM-78 được đưa tới. Nó bay nhanh hơn và xa hơn Shrike và đắt gấp 10 lần - hai trăm nghìn dollars/chiếc. Tên lửa này chưa có dịp thể hiện ở vùng châu thổ và không quân Mỹ ít sử dụng nó tại vùng cán xoong vì sợ rằng tầm xa của nó có thể trúng một trong những tàu hải quân hoặc trúng trạm radar quân đội ngay sát nam khu phi quân sự.
Radar của một trận địa SAM có thể ngừng phát sóng tận đến trước khi phóng tên lửa nếu trận địa được nối với những radar tại vị trí khác. Cộng với hơn 100 radar điều khiển tên lửa và pháo cao xạ, Bắc Việt có hơn 150 radar cảnh báo sớm và radar dẫn đường cho MiG. Không quân Mỹ phải đối mặt với một mạng lưới radar có thể đễ dàng bổ xung một vài mất mát rải rác qua hệ thống.
Đô đốc Sharp, Tư lệnh Thái Bình Dương ở Hawaii, một lần nữa nghĩ tới việc tấn công toàn bộ hệ thống phòng không Bắc Việt nam trong vòng một vài ngày. Đề xuất này luôn gặp phải khó khăn vì các máy bay trinh sát không thu được những bức ảnh những trận địa tên lửa đang có mặt đúng lúc để máy bay ném bom họ trước khi những bệ phóng rời đi. Tuy thế, thêm vào khả năng trinh sát chụp ảnh vào mùa xuân 1967, làm cho đô đốc Sharp băn khoăn liệu những rào cản cũ này bây giờ có thể được vượt qua hay không.
Đô đốc Sharp bất ngờ về những bức ảnh Bắc Việt Nam mà ông nhận được từ Trung tâm phân tích ảnh quốc gia ở Washington. Những bức ảnh này do máy bay Lockheed A-12 (ra đời trước SR-71 Blackbird) chụp.
Những bức ảnh chụp Bắc Việt Nam cũng được vệ tinh thực hiện, nhưng nó bay qua Bắc Việt Nam không nhiều hơn đôi lần trong một tháng. Thí dụ, vệ tinh Corona gắn máy ảnh KH-4A đã bay qua Bắc Việt Nam trong một phi vụ (từ 17 đến 22-6-1967) theo quỹ đạo cũng qua cả Liên Xô và Trung Quốc. Mây che phủ làm hơn một nửa ảnh Corona mất giá trị. Máy bay A-12 có thể được bay thường xuyên và có ưu thế bay trong thời tiết xấu.
Lockheed U-2 (ra đời trước A-12) bây giờ được xem là rất bị nguy hiểm khi bay trên đồng bằng sông Hồng; các máy bay MiG và SAM dễ dàng hạ rơi nó. Máy bay A-12 có thể bay cao hơn chút ít (hơn tám nghìn feet) và nhanh hơn (hơn Mach 3 - tức 3 lần tiếng động). Trong điều kiện thời tiết trong sáng nó có thể chụp toàn bộ đồng bằng sông Hồng trong một phi vụ. Khi tổng thống Johnson cho phép dùng A-12s chụp ảnh Bắc Việt nam, ông hy vọng rằng những chiếc máy bay đời mới có khả năng cung cấp những cảnh báo sớm nhất về sự có mắt của tên lửa đất đối đất đe doạ tàu chiến ở Vịnh Bắc Bộ. Những bức ảnh như thế cũng theo dõi được sự thay đổi triển khai SAM.
Nhược điểm lớn nhất của phi vụ đầu tiên của máy bay A-12 chụp ảnh Bắc Việt Nam là phim phải được gửi bằng mọi cách về Washington để xử lý. Điều này sớm được khắc phục bằng cách gửi phim về trung tâm xử lý ảnh U-2 thuộc Bộ tư lệnh không quân chiến lược tại sân bay Tân Sơn Nhất, hành dinh của cả Bộ chỉ huy cố vấn quân sự và Tập đoàn không quân số 7. Tân Sơn Nhất là nơi thuận tiện để xử lý ảnh U-2 không những do khách hàng chính ở đó, mà đặc biệt bởi vì U-2 bay từ sân bay Biên Hoà gần nó.
Máy bay A-12 bay từ Kadena (Okinawa), bởi vậy, tháng 9-1967, trách nhiệm xử lý ảnh A-12 được chuyển cho Phi đoàn trinh sát kỹ thuật thuộc Tập đoàn không quân số 5 tại sân bay Yokota (Nhật). Phi đoàn này có thể cung cấp cho Tập đoàn không quân số 7 vị trí những trận địa SAM một ngày một phi vụ A-12; những bức ảnh tiếp theo sau một ngày nữa.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #68 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:31:54 pm »

Tướng Momyer nhấn mạnh với đô đốc Sharp sự thật là những bức ảnh A-12 cho thấy tám trận địa SAM nằm trong vòng 10 hải lý từ trung tâm Hà Nội - tức là nằm trong vòng tròn hạn chế mà tổng thống Johnson đã vạch ra quanh Hà Nội. Do vậy máy bay Mỹ chỉ có thể tấn công trận địa tên lửa với những mục tiêu được phép. Trừ khi quy tắc này thay đổi, thì chiến dịch đánh phá những tên lửa vẫn bị bó tay. Tuy thế, sự thay đổi về quy tắc có thể có nhận thuận lợi trong việc tập trung nhiều tên lửa gần Hà nội hơn là trước đây; các trận địa được sắp xếp lại và những bệ phóng ít khi dời đi. Ở những nơi khác của đồng bằng sông Hồng, số lượng bệ phóng đã giảm đi, một số chuyển về các trận địa Hà nội và một số khác đưa về phía nam nơi họ có thể đe doạ B-52 đang không kích nguồn tiếp liệu và lực lượng Bắc Việt nam nằm sát bắc khu phi quân sự. Việc di chuyển các bệ phóng tên lửa về phía nam đã làm giảm số lượng các trận địa tên lửa ở gói mục tiêu 6 từ 30 xuống còn 21.
Đô đốc Sharp muốn có một kế hoạch đánh phá radar điều khiển SAM và MiG, radar cảnh báo sớm, và Trung tâm chỉ huy phòng không. Ông nói với tướng Ryan về kế hoạch như thế cùng với đô đốc Johnson, tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương. Đô đốc Johnson phàn nàn rằng ảnh A-12 không cung cấp cho phi công triển vọng để họ đánh phá các trận địa radar và tên lửa một cách thành công, còn Trung tâm chỉ huy phòng không thì không biết chính xác vị trí của nó khi dùng không ảnh diện rộng. Triển vọng ảnh độ phân giải cao gây ấn tượng khác hơn triển vọng chụp ảnh bằng máy ảnh tại độ cao thấp hơn. Đô đốc Johnson yêu cầu tăng cường cập nhật những bức ảnh chụp ở tầm thấp.
Trong khi máy bay không người lái tầm thấp có thể chụp ảnh một số trận địa tên lửa trong thời tiết trời có mây, hoặc khá nhiều ảnh khi thời tiết tốt như đô đốc Johnson yêu cầu. Tuy thế, kế hoạch của tướng Ryan kết hợp chặt chẽ với những yêu cầu riêng của đô đốc Johnson và thêm nữa thậm chí thời tiết tốt hơn là cần thiết, không còn điểm nào tiếp theo phòng không trừ khi có cơ hội phong phú khai thác uy thế không quân ném bom những mục tiêu mà sự bảo vệ nó bị loại bỏ. Kế hoạch Ryan cam đoan rằng đây không phải một chiến dịch lớn đánh phá SAM ít nhất cho đến khi thời tiết trở lại tốt hơn trong mùa hè sắp đến - và có thể chẳng bao giờ có nữa.
***
Mặc dù đôi lần hạn chế số lượng máy bay mà Momyer dùng để đánh phá phòng không địch, Ryan ít thành công trong việc tìm đủ những phi vụ trong thời kỳ gió mùa đông bắc cho máy bay đỗ tại Thái Lan. Năm trước, nhiều lượt xuất kích được chuyển từ Bắc Việt Nam sang Lào, nơi thời tiết tốt thịnh hành ở những tuyến đường giao thông vùng cán xoong được Bắc Việt nam về ban đêm sử dụng xe tải chở hàng vào phía nam. Trong thời gian ấy, phần lớn những con đường ở Bắc Việt Nam cũng có thể sử dụng vào ban ngày, vì trong những ngày âm u họ tránh được những cuộc không kích. Các cuộc không kích bằng ném bom theo radar hoặc theo điều khiển từ mặt đất không có đủ độ chính xác để phá huỷ những cầu, nên họ phải đơn độc bắn phá xe tải và toa xe chở hàng.
Lần đầu tiên chính quyền Johnson cho phép thả mìn ở sông tại bắc vĩ tuyến 20, và giữa những thời gian nghỉ hiếm hoi khi thời tiết không thuận lợi ném bom cầu, những F-4D và A-6 đánh vào phà và những cơ sở sửa chữa cầu bằng cách thả thuỷ lôi Mk-36. Thời tiết hạn chế vị trí chính xác và tình báo về hiệu quả thả mìn, nhưng kết quả lại tỏ ra tốt nhất. Ba xe tải lớn bị phá huỷ trong khi qua phà sông Hồng (Hà nội) và làm nổ tung hai xà lan trên sông Cấm ở Hải Phòng.
Sự kém cỏi về kỹ thuật của thuỷ lôi Mk-36 đã hạn chế sự hữu dụng của nó. Đó là một quả bom năm trăm cân Anh Mk-82 gắn thêm ngòi nổ từ tính sẽ phát nổ khi gặp mẩu sắt hay kim loại. Không may, ngòi nổ khá nhậy, đến mức thuỷ lôi thường nổ cách mục tiêu khá xa, và những tấm lưới đánh cá hoặc một thùng phuy rỗng có thể sử dụng để làm nổ nó. Phiên bản cuối cùng của Mk-36 có ngòi nổ bớt nhạy hơn, mà nó ngắt theo chu kỳ để máy rà mìn không thể chắc chắn là đã hoàn thành việc chưa. Tuy không đủ thuỷ lôi Mk-36, nhưng chúng có thể nằm chờ trên đường vận tải của Bắc Việt nam trong khi mây mù gây khó khăn ném bom. Những quả mìn mày cũng được thả xuống đường bộ và cũng đạt được một số thành công.
Trong khi thuỷ lôi được thả thường xuyên xuống những mục tiêu định sẵn, có hai trường hợp bị sai sót rõ ràng. Vài giờ trước khi kết thúc năm 1967, phi đoàn máy bay chiến thuật số 8 tại sân bay Ubon (Thái Lan), nói rằng một phi đội F-4 đã ném 48 quả Mk-36 vào vùng biển quốc tế cách bờ biển Bắc Việt nam khoảng 5 dặm và khoảng 40 dặm về phía bắc khu phi quân sự. Gần một tuần sau, ngày 4-1, một A-6 từ tàu sân bay Kitty Hawk thả mìn thẳng vào tầu chở hàng Liên Xô Pereslavl-Zalesskiy đang neo tại sông Cấm (Hải Phòng). Tổ lái chiếc A-6 này và hai chiếc A-6 khác đang cố gắng thả Mk-36 gần một chiếc cầu bắc qua sông, nhưng một sai sót trên tỷ lệ bản đồ dẫn họ đến sai sót này. Cộng với số mìn trúng tầu và nổ, những quả mìn khác nằm ngay sát bờ. Việc này làm Washington lo âu, ngoại trưởng Rusk đưa cho đại sứ Liên Xô Dobrynin một bản đồ chỉ rõ vị trí gần đúng của những quả mìn cũng như khu vực mục tiêu cần được thả theo dự định.
Như thường làn trong những lần trước đây, tổng thống Johnson phản ứng với tai nạn này bằng cách xác lập một vùng hạn chế ném bom và thả mìn. Khi máy bay hải quân bị cáo buộc oanh tạc tàu Mikhail Frunze tháng 6-1967, Johnson đã tuyên bố một vùng hạn chế với bán kính bốn hải lý từ trung tâm Hải Phòng. Lần này ông mở rộng bán kính tới 5 hải lý. Chỉ một vài ngày trước đó, ngày 3-1, ông đã xác lập một vùng hạn chế 5 hải lý tính từ trung tâm Hà Nội. Trong khi vùng hạn chế mới ném bom Hà Nội là nhỏ hơn vùng hạn chế cũ (bán kính 10 dặm) được ông tuyên bố một năm trước đây, điều được làm trong đợt không kích mùa hè vào một vài mục tiêu bao gồm cầu Long Biên bắc qua sông Hồng.
Cơ sở hợp lý của tổng thống Johnson về vùng hạn chế mới xung quanh Hải Phòng hình như quá rõ ràng, nhưng tại sao lại hạn chế những cuộc không kích khác vào cầu Long Biên - và tại sao không tính đến việc kết thúc thả mìn trên sông ở đó? Không quân đã trở nên quen thuộc với câu hỏi tại sao những quyết định như vậy lại được ban ra. Một lần nữa Hà nội đã yên tâm về những hạn chế ném bom bằng cách nhùng nhằng triển vọng thương lượng.
Cuối tháng 11-1967, một vài tuần lễ sau khi thủ tướng Rumani Ion Gheorghe Maurer từ Hà Nội về nước, tổng thống Johnson cử đại sứ lưu động W. Averell Harriman đến Bucharest. Vì Maurer có mặt ở Hà nội khi Johnson đưa ra lời tuyên bố ngày 29-9 tại San Antonio, Harriman muốn biết tại sao giới lãnh đạo Bắc Việt từ chối đề nghị của Johnson ngừng ném bom Bắc Việt Nam để đổi lấy đàm phán - chừng nào Bắc Việt không chiếm được thuận lợi ngừng đưa quân đội và tiếp liệu vào Nam. Maurer nói rằng ông không biết, bởi vì văn bản bài diễn văn lúc đó chưa đến tay Phạm Văn Đồng trước khi họ kết thúc thảo luận. Nhưng Harriman biết rằng lời đề nghị được gửi bằng con đường cá nhân cho Hà Nội ngay từ đầu tháng 8.
Tuy thế, một trong những hồi ức của Maurer đem lại một chút hy vọng. Phạm Văn Đồng chỉ ra rằng nếu ngừng ném bom, Hà Nội “có thể” thảo luận với Hoa Kỳ. “Tôi còn nghi ngờ từ “có thể” - Harriman điện cho ngoại trưởng Rusk. Hà Nội thường dùng chữ “có thể”, nhưng Maurer không tin chắc từ này được dùng; ông nói rằng không thành vấn đề, bởi vì tiếng Pháp của Phạm Văn Đồng là khá nghèo đối với sắc thái này. Một chút quan tâm hiếm hoi của Hà nội đến thương lượng khiến Washington như chết đuối vớ được cọc. Benjamin Read, văn phòng Bộ ngoại giao nghĩ rằng kênh Rumani có lẽ chứng tỏ là “một người thắng cuộc” và phong cho nó là “Packers” sau khi đội bóng Packers vô địch biển Xanh.
Giữa tháng 12-1967, thứ trưởng thứ nhất Bộ ngoại giao Rumani, Gheorghe Macovescu, thăm Hà Nội. Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Duy Trinh nói với Macovescu lời tuyên bố mới của chính phủ của ông: sau khi “chấm dứt vô điều kiện” ném bom, Bắc Việt Nam “sẽ bước vào thảo luận nghiêm túc” với Hoa Kỳ. Không những ông Nguyễn Duy Trinh dùng từ “sẽ”, mà còn buông chữ “hoàn toàn” trong câu “chấm dứt vô điều kiện và hoàn toàn”. Macovescu sau đó nói với Harriman khi được hỏi về sự bỏ sót này, Nguyễn Duy Trinh nói một cách chắc chắn rằng câu bị cắt ngắn là câu của chính phủ ông. Ngày 29-12, một tuần sau khi Macovescu rời Hà nội, Nguyễn Duy Trinh cũng có lời tuyên bố công khai như vậy tại buổi tiếp đại sứ Mông Cổ. Thêm vào từ “sẽ” và bỏ từ “hoàn toàn” là ngừng tất cả các cuộc ném bom và thả mìn bên trong 5 hải lý từ trung tâm Hà nội.
Chủ tịch Tham mưu trưởng liên quân, tướng Wheeler, bị ấn tượng mạnh bởi phản ứng của Washington với lời tuyên bố Nguyễn Duy Trinh rằng ông báo động cho đô đốc Sharp và tướng Westmoreland chuẩn bị ngừng ném bom.
Wheeler tuyên bố công khai xem xét sự kiện này, vì ông nghĩ điều này có nghĩa rằng Bắc Việt sẽ giảm bớt hoạt động quân sự gần khu phi quân sự và có thể Westmoreland sẽ di chuyển quân đội của ông từ đó về phần còn lại Nam Việt nam. Westmoreland và đại sứ Bunker thận trọng nhắc ngoại trưởng Rusk phải cảnh giác trước sáng kiến hoà bình của Bắc Việt nam trong khi Bắc Việt nam tăng cường lực lượng tại bắc khu phi quân sự. Sharp ngay lập tức đáp lại Wheeler: “Nói chung, tôi hiểu rõ sự bất lợi và thấy được sự bất lợi lớn nhất khi chấm dứt ném bom…”.
Theo quan điểm của giới không quân, việc nhượng bộ Bắc Việt nam chỉ có thể giành được bằng gia tăng áp lực quân sự. Thậm chí giới không quân còn được hé lộ những chi tiết ngoại giao, nghi ngờ rằng họ thông cảm với suy luận của tổng thống Johnson. Cuộc gặp Nguyễn Duy Trinh-Macovescu xảy ra trong đợt ngừng ném bom do thời tiết xấu kéo dài 5 ngày, một khoảng thời gian dài nhất trong điều kiện tốt để ném bom thời kỳ gió mùa đông bắc từ tháng 11-1967 qua tháng 3-1968. Chẳng cần quan tâm đến việc Nguyễn Duy Trinh thay đổi từ ngữ là dấu hiệu nhận thấy được, họ thả bom phá gục gầu Long Biên cách trung tâm Hà nội một dặm.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #69 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 02:34:11 pm »

Cuộc tập kích ngày 14 và 18-12-1967, một lần nữa làm hư hỏng cầu Long Biên bắc qua sông Hồng. Khoảng 50 F-105 xuất kích tấn công cầu bằng hai quả bom nặng 3 nghìn cân Anh chập làm một. Bom không dẫn đường thậm chí chứng tỏ chính xác hơn và phá huỷ mạnh hơn những đợt ném bom vào tháng 8 và tháng 10-1967. Bẩy trong số 19 nhịp cầu đã gục xuống nước. Cuộc tập kích tháng 10 khiến cầu bị ngừng trệ chỉ một tháng, nhưng sau khi cuộc tập kích tháng 12 nó bị ngưng trệ tới sáu tháng. Thêm nữa, Bắc Việt không gắng sửa chữa cầu cho tới khi ngừng ném bom vùng Hà Nội cuối tháng 3; hoặc họ đã đưa vào sử dụng cầu phao cho đến lúc đó. Trong thời gian ấy, họ sử dụng phà để nối Hà Nội với Hải Phòng và Trung Quốc.
Không máy bay nào bị bắn rơi khi tấn công cầu Long Biên trong một tuần lễ thời tiết tốt của tháng 12, nhưng hai F-105 và hai F-4 bị rơi khi tập kích vào những mục tiêu khác ở khu vực Hà Nội. Sáu sĩ quan không quân trong khoang những máy bay này đã nhảy dù thoát may mắn, và trở về nhà cuối cuộc chiến tranh. Trừ một nạn nhân của MiG kể từ mùa xuân 1967. Hai mươi máy bay MiG bay lên ngày 17-12 và có lẽ mười bốn chiếc bay lên hai ngày sau đó. Thêm vào lối đánh cổ điển của MiG-21 là bắn và chạy, MiG-17 cố kéo máy bay Mỹ xuống tầm thấp không chiến. Cuộc hỗn chiến tiếp tục trên bầu trời khu vực mục tiêu, nơi mà SAM kém linh hoạt nhường chỗ cho MiG. Khi MiG-21 bỏ chạy khỏi chiến dịch của Mỹ trong thời tiết tốt từ ngày 14 đến 19-12, thì Mỹ giành được hai chiến thắng và không thiệt hại, MiG-17 không ghi được điểm. Chiến thắng đơn độc của họ là thiệt hại bốn chiếc.
Mặc dù tướng Ryan, tư lệnh không quân Mỹ ở Thái Bình Dương phản đối xuất kích độc lập, nhưng ông không phản đối không chiến bằng cách tăng nhiệm vụ hộ tống. Thêm nữa, ông có lý do đặc biệt tự hào về một F-4 bắn rơi một MiG-17 ngày 17-12, bởi vì con trai cả của ông (trung uý John D. Ryan, Jr.) là phi công phụ F-4. Chiến thắng này cũng là ngoại lệ trong hai vinh dự: viên đại uý phi công Doyle D. Baker là thuỷ quân lục chiến, và vũ khí là một tên lửa tầm nhiệt Falcon. Sự kém cỏi ngòi nổ của Falcon làm tiêu tan toàn bộ 5 đầu nổ nhỏ, nhưng may mắn nó trúng ngay ống xả MiG-17.
Theo quy tắc lúc đó, trung uý Ryan nhận một nửa điểm cho phần của mình trong việc hạ rơi MiG, và đại uý Doyle nhận một nửa điểm. Bốn năm sau (tức hai năm sau khi Ryan (con) chết trong một tai nạn máy bay) khi tướng Ryan là Tham mưu trưởng và không quân Mỹ một lần nữa ném bom Bắc Việt nam, ông đã thay đổi quy tắc tính điểm tức là phi công và phi công phụ mỗi người đều nhận một điểm khi hạ rơi MiG; quy tắc được sửa lại từng có hiệu lực trước năm 1965. Trước khi tướng Ryan thay đổi quy tắc tính điểm, bốn chiến công của đại tá Olds trên F-4 chỉ được tính là hai điểm và xếp ông vào hạng ưu tú cùng với phi công F-105 một ghế lái, đại uý Max C. Brestel, người bắn rơi hai MiG-17 ngày 10-3-1967. Sát gót họ là trung tá Robert F. Titus và phi công phụ, thiếu uý Milan Zimer, người chia sẻ điểm với 3 chiến công.
Chiến công ở vị trí thứ năm ngày 19-12 là thiếu uý George H. McKinney, Jr., một phi công phụ F-4 quê Bessemer, Alabama. Cũng như trung uý Ryan và trung uý Zimer, trung uý McKinney được đào tạo là phi công, và ít nhiệt tình khi làm phi công phụ vận hành radar. Công cuộc này nên chuyển cho những người được đào tạo làm hoa tiêu. Chỉ cần phi công ngồi ghế sau, họ cũng chính thức được gọi là “phi công” và phi công ngồi ghế trước được gọi là “chỉ huy máy bay”. Chẳng có vấn đề gì về cái danh xưng nào được dùng, một phi công phụ đôi khi cũng cảm thấy chút ít nản lòng trong hoàn cảnh của mình - đặc biệt khi anh ta từng bay nhiều lần vào Bắc Việt Nam và một phi công mới lại ngồi ghế trước.
Tiền đồ những phi công phụ được cải thiện vào tháng 11-1967, khi họ được phép lên ghế trước mà không cần hoàn toàn chuyến đi của họ và không cần quay về Hoa Kỳ để huấn luyện.
Việc đánh giá bằng nhau điểm chiến công là một sự cố gắng khác để nâng cao tinh thần của phi công phụ. Ngoài ra, vai trò của họ rất cần trong không chiến; khi họ không thấy MiG xuất hiện trên màn radar, thì trước tiên họ phải nhìn thấy nó đang tấn công từ phía sau. Công việc quan trọng nhất của họ là “khoá” radar vào chiếc MiG nằm trong các thông số để tên lửa tiêu diệt. Công sức của phi công phụ đều góp vào một phần chiến công, và họ cũng được thưởng điểm chiến công ngang bằng phi công chính. Trung uý McKinney đã ghi điểm chiến công ngày 6-11, khi đại uý Darrell D. Simmonds ngồi ghế trước bắn rơi hai MiG-17 bằng pháo 20 ly gắn ở cánh F-4 của họ.
Trong khi chỉ hai phi công này được công nhận hai điểm chiến công ở Đông Nam Á, thì một vài người cũng ghi được một điểm. McKinney đứng đầu nhóm sau giành được một phần tư điểm ngày 19-12. Lúc ấy ngồi ghế trước (phi công chính) là thiếu tá Joseph D. Moore, con trai trung tướng Joseph H. Moore (bạn thời thơ ấu của Westmoreland, người tiền nhiệm của Momyer là tư lệnh Tập đoàn không quân số 7, và người tiền nhiệm thứ hai của Ryan ở chức tư lệnh không quân Mỹ ở Thái Bình Dương trước khi trở thành tổng thanh tra không quân Mỹ vào tháng 8-1967). Một lần nữa súng gắn dưới cánh được sử dụng, nhưng súng lại không được tốt nhả đạn chậm và không đủ sức hạ gục MiG-17. Sau khi chiếc F-105F hai ghế lái “Con chồn hoang” hạ được chiếc MiG-17 đó, điểm chiến công được chia cho 4 người .
Dù mất hai MiG mà không hạ được một máy bay nào của Mỹ, nhưng nỗ lực của MiG được xem là thành công tại một buổi chiều cuối cùng trong những tuần khá hiếm hoi thời tiết tốt. Hai mươi bốn máy bay Mỹ trong số 40 chiếc đã phải vứt bom. “Tôi cố gắng phát hiện MiG-17 ở đâu”, thiếu tá Moore nhớ lại, “những tôi không thể kể sự va chạm máy bay từ tất cả những vụ nổ”. Bất cứ thứ gì bom thổi bay, không phải là nhà ga. Vì thế người ta khôi phục lại chiến dịch mùa hè năm trước đánh phá tuyến đường sắt giữa Hà Nội và biên giới Trung Quốc.
Năm ngày là một khoảng thời gian quá ngắn ngủi để tấn công một khu vực rộng. Cầu Long Biên là chiếc cầu dài nhất ở Bắc Việt nam, nhưng nhiều chiếc cầu khác cũng cho tàu hoả chạy từ Trung Quốc sang. Cầu Đuống cũ (cách cầu Long Biên ba dặm về phía đông bắc) bị đánh bom ngày 12-12, nhưng cũng cần phải đánh nốt hai chiếc cầu tạm bắc qua sông này. Cả ba cầu được sửa chữa nhanh và dễ dàng, vì thế hiệu quả chỉ là tạm thời.
Trong bất kỳ trường hợp nào, thời tiết cũng cản trở tấn công đầu máy xe lửa đỗ tại các nhà ga và trên đường nhánh. Yên Viên, ga lớn nhất, cũng như nhà máy sửa chữa xe lửa Gia Lâm, bị đánh phá, nhưng Bắc Việt vẫn đưa hơn một trăm toa xe vào các đường nhánh để nó không bị tấn công. Vào hôm cuối cùng thời tiết tốt, yêu cầu của Tập đoàn không quân số 7 đánh phá những đường nhánh do Washington phê chuẩn được gửi quá chậm tới Sài gòn mãi tới sáng hôm sau.
Không mấy ai biết rằng cuộc đánh phá cầu Long Biên ngày 18-12-1967 là trận ném bom lớn thành công nhất ở Hà nội trong suốt hơn bốn năm. Những F-105 của phi đoàn không quân chiến thuật 388 (Korat, Thái Lan) đóng góp phần lớn việc phá hỏng chiếc cầu này. Ba ngày sau tư lệnh phi đoàn, đại tá Neil J. Graham, nghe tin tổng thống Johnson chuẩn bị thăm Korat. Một tháng kể từ Graham nhận chức tư lệnh phi đoàn, sau khi đại tá Burdett bị bắn rơi ở Phúc Yên, Graham được Tham mưu trưởng không quân Mỹ (tướng McConnell), tư lệnh không quân Mỹ ở Thái Bình Dương (tướng Ryan), và Hạ nghị sĩ Joseph Y. Resnick (đảng Cộng Hoà of New York), tới thăm; vua hề Bob Hope sẽ đến thăm sau cuộc thăm viếng của tổng thống. Sự kết hợp việc thời tiết xấu để ném bom và các khách quý tới thăm đưa đến việc trì hoãn chiến dịch Sấm Rền đang được phi đoàn Korat và giới lãnh đạo nó tiến hành. Tư lệnh và phó tư lệnh phi đoàn vừa hy sinh, trưởng phòng hành quân, đại tá James E. Bean, cũng bị bắn rơi và bị bắt đầu tháng 1 và đại tá Graham chết do đau tim sau này trong cùng một tháng.
Tất nhiên đây không phải là chiến thắng cuối cùng của phi đoàn đối với cầu Long Biên để kéo tổng thống Johnson qua Thái Bình Dương. Ngày 21-12, ông tham dự tang lễ thủ tướng Úc Harold Holt - một trong số ít nước gửi lính tới Việt nam. Johnson có chuyến đi vòng quanh thế giới dịp Giáng Sinh, thăm lính Mỹ ở Đông Nam Á và Giáo Hoàng ở Rome. Johnson đã từng đến thăm Việt nam lần đầu tiên với cương vị phó tổng thống, và ông đã bỏ hội nghị năm 1966 để đến bắt tay lính Mỹ tại vịnh Cam Ranh. Trước khi trở lại vịnh Cam Ranh ngày 23-12-1967, ông nghỉ đêm tại sân bay Korat. Có một ngôi nhà ở ngoại ô chưa sử dụng và còn mới được dùng làm nơi ở cho đoàn tháp tùng tổng thống khoảng ba trăm người, trong đó có tới 75 phóng viên. George Christian, thư ký báo chí của tổng thống, nói với các phóng viên rằng vì lý do an ninh họ không thể tường thuật tin tức trước khi tổng thống rời đi vào sáng sớm. Nhưng báo chí Thái Lan đã làm được việc tường thuật, và các phóng viên suốt đêm sử dụng điện thoại và máy chữ tại hành dinh phi đoàn.
Giới báo chí bị ngăn không được tham dự cuộc gặp buổi sáng của Johnson tại câu lạc bộ sĩ quan với tướng Momyer và những phi công của những phi đoàn đang có mặt tại Thái Lan. Họ mô tả việc không kích cầu Long Biên và các cuộc ném bom một cách chung chung. Một trong những người báo cáo là trung uý McKinney, kể về không chiến. không có phi công phụ nào từng được khá nhiều nổi bật như anh ta. Trước sáng sớm tinh mơ hôm sau tại hàng rào danh dự trước khoảng 5 nghìn người, tổng thống tặng Huân chương chữ thập cho McKinney và 5 phi công chính.
McKinney kiếm được huân chương này do phi vụ ngày 19-9 với thiếu tá Lloyd W. Boothby lái chính; Boothby cũng được nhận Huân chương chữ thập. Chiếc F-4 của họ trúng đạn cao xạ trong khi ném bom một tuyến đường sắt phía bắc Hà Nội; dù hệ thống dẫn đường hư hỏng, họ cố gắng bay ngược về tới Thái Lan trước khi nhảy dù.
Tổng thống Johnson đã nghe nhiều từ thượng nghị sỹ Symington và những người khác việc phi công thất vọng về những mục tiêu tầm thường và quy tắc chiến đấu bị hạn chế quá mức. Trong những tháng mới đây Johnson cho những phi công này những mục tiêu tốt hơn, bao gồm cầu Long Biên mà họ vừa mới ném bom trở lại. Giờ đây ông động viên họ: “Chiến tranh du kích quy định những mục tiêu không không dễ dàng”, ông giải thích. Nhưng một số quân nhân không quân “đang kẹp chặt” hơn nửa triệu người Bắc Việt nam cố giữ đường vận tải. Ông ca ngợi tính kỷ luật, kiềm chế, và kiên định của quân nhân Mỹ. Đồng thời hình như ông cũng tự động viên mình: “Tinh thần nước Mỹ không được đọc trên các khẩu hiệu và biểu ngữ”, ông tuyên bố. “Không ai có thể đến đây dù chỉ chốc lát và bắt tay các bạn hoặc tận mắt nhìn các bạn và có chút nghi ngờ rằng nước Mỹ sẽ đoàn kết và nước Mỹ sẽ luôn trung thành suốt quá trình cho đến khi một nề hoà bình trong danh dự được bảo đảm”.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM