1. “Kirov” (Thiết kế 1144)
Các tàu tuần dương thuộc lớp “Kirov” là những tàu chiến trên mặt nước lớn nhất thế giới, được khởi công sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, nêu không tính đến các tàu sân bay. Đây cũng đồng thời là những tàu tuần dương đầu tiên của Liên Xô lắp thiết bị năng lượng hạt nhân, được bổ xung thêm các thiết bị hiếm có nhằm tăng áp suất hơi nước trong nồi hơi làm việc bằng chất lỏng.
Công việc thiết kế tàu bắt đầu vào cuối những năm 1960, tàu đầu tiên trong số 5 chiếc được khởi công vào năm 1973, gia nhập biên chế năm 1980. Tàu mang tên gọi “Kirov” (năm 1992, đổi tên thành “Admiral Ushakov” (“Thống chế Ushakov”)). Tàu tuần dương thứ hai “Frunze” (từ năm 1992 là “Thống chế Lazarev”) được tiếp nhận năm 1984. Hai tàu này nằm trong lực lượng dự bị một thời gian, còn hiện tại đã được tháo dỡ. Hai tàu còn lại, “Thống chế Nakhimov” và “Pyotr Đại đế”, khi khởi công mang tên “Kalinin” và “Yuri Andropov” vào năm 1983 và 1986, đã gia nhập Hải quân Liên Xô (cũ) vào năm 1988 và 1989 và hiện tại đang phục vụ trong thành phần Hạm đội Phương Bắc.
Trang bị cơ bản của các tàu tuần dương gồm có tổ hợp tên lửa chống tàu “Granit”, thiết bị phóng được bố trí trên boong tàu dài, còn tên lửa được lắp bên trong với góc nghiêng 45 độ. Tổ hợp tên lửa chống tàu này được thiết kế trên cơ sở tổ hợp “Bazalt”, nhưng tên lửa có tầm bay thấp hơn trên mặt biển mặc dù tầm xa và đầu đạn của hai tổ hợp này giống nhau. Để phòng thủ, các tàu tuần dương lớp “Kirov” trang bị các tổ hợp tên lửa phòng không vào thiết bị pháo khác nhau. Theo một số tài liệu, cơ số tên lửa chung gồm 130 quả. Ngoài ra, trên mạn tàu còn có vũ khí chống ngầm mạnh, đồng thời với 3 trực thăng săn ngầm Ka-27. Việc cất cánh được thực hiện trên các boong cất cánh phía cuối tàu, còn các trực thăng sẽ được nâng lên từ các hang-ga được bố trí thấp hơn với sự hỗ trợ của thiết bị nâng máy bay trực thăng. Các trực thăng còn làm nhiệm vụ xác định mục tiêu dẫn bắn cho tổ hợp tên lửa chống tàu điều khiển “Granit”.
Bằng sự hỗ trợ với trang bị tấn công và phòng thủ mạnh, cùng với thiết bị năng lượng hạt nhân, các tàu tuần dương lớp “Kirov” có khả năng thực hiện mọi nhiệm vụ, nhưng trong mục đích cơ bản, chúng được sử dụng để hỗ trợ các tàu sân bay hạng nặng, được đóng theo kế hoạch ban đầu của Liên Xô. Bởi vì hiện nay, tại Nga chỉ có 1 tàu sân bay, vai trò trong biên chế của các tàu tuần dương hạt nhân trở nên rất hạn chế. Chúng rất tốn kém trong quá trình khai thác sử dụng và yêu cầu số lượng người trong thủy thủ đoàn rất lớn.
Các thông số cơ bản:Phân loại: tàu tuần dương tên lửa năng lượng hạt nhân hạng nặng
Lớp tàu: “Kirov” (Thiết kế 1144)
Lượng choán nước: 23 750 tấn (tiêu chuẩn), 25 860 (đầy đủ)
Chiều dài: 250,1m
Chiều rộng: 28,5m
Độ mớn nước: 10,3m
Thiết bị năng lượng: thiết bị năng lượng hạt nhân với tua bin hơi nước, 2 trục; 2 lò phản ứng hạt nhân KN-3 PBR, 300 Gigawat; 2 nồi hơi, 2 tua bin hơi nước GT3A-688 140 000 sức ngựa
Tốc độ và tầm hoạt động: 32 hải lý; 14 000 dặm (14 hải lý)
Thủy thủ đoàn: 610 người với 82 sĩ quan
Trang bị: 20 thiết bị phóng đứng tổ hợp tên lửa chống tàu “Granit”; 1 thiết bị phóng tổ hợp tên lửa chống ngầm “Metel” (chỉ có trên “Kirov”); 1 thiết bị phóng tổ hợp tên lửa chống ngầm “Vodopad” (trên các tàu khác, ngoài “Kirov”); 2x12 thiết bị phóng tổ hợp tên lửa phòng không “Fort” (trên “Kirov” – 1x12); 2x12 thiết bị pháo 130mm A-218 (trên “Kirov” – 2x1 thiết bị pháo 100mm AK-100); 8x6 thiết bị pháo 30mm AK-630M (trên “Thống chế Nakhimov thay cho thiết bị pháo AK-630mm – 8 tổ hợp tên lửa phòng không “Kortik”); 2x5 thiết bị ngư lôi 533mm; 1x12 thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000 (dự trữ bom phản lực chìm RGB-60); 2x6 thiết bị RBU-1000
Thiết bị bay: 2 trực thăng săn chống ngầm Ka-25 hoặc Ka-27.
