21. “Doke”
Tàu đầu tiên trong lớp – “Norfolk” được khởi công vào năm 1987, gia nhập biên chế năm 1990. Sau đó là 15 tàu chiến khác, cho đến tàu cuối cùng “St. Albans”, được đóng xong trong năm 2001. Những tàu chiến lớp này đã dự định được đặt hàng thêm, nhưng đã có 17 tàu chiến được hạ thủy và có thể tính rằng đây là dòng tàu có số lượng lớn nhất trong các chương trình đóng tàu của Anh sau Chiến tranh Thế giới thứ hai nếu không tính đến dòng tàu chiến lớp “Linder” (26 chiếc)
Ban đầu, các tàu chiến lớp “Doke” được dự kiến trở thành những tàu có giá thành rẻ, thay thế cho các tàu chiến lớn và phức tạp Mẫu 22. Tuy nhiên trong quá trình hoàn thiện, chúng trở thành những tàu mạnh, có khả năng thực hiện những nhiệm vụ khác nhau trong vai trò tàu phòng không và tàu chống ngầm. Hang ga trực thăng và boong cất cánh để dành cho các máy bay “Merlin” HM.1, được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang từ cuối năm 1999, mặc dù hiện nay, toàn bộ các nhiệm vụ đều được máy bay HMA.3/8 “Links” thực hiện. Theo quan sát, toàn bộ trang bị của tàu đều được tập trung tại boong trước mũi tàu và quanh thượng tầng phía trước làm cho tàu trở nên dễ tổn thương, bởi vì chúng có thể bị loại khỏi cuộc chiến nếu bị đánh trúng phía trước tàu. Ngoại lệ duy nhất chỉ có hệ thống tiếp đạn phóng ngư lôi bố trí phía trên hang ga. Hệ thống gồm có thiết bị ngư lôi kép, thời gian nạp ngư lôi “Stingrei” diễn ra dưới 10 phút. Tuy nhiên, tính dễ bị tổn thương của tàu là nhược điểm lớn nhất, bởi vì chúng được thiết kế theo công nghệ “stels” nhằm hạn chế sự bức xạ của tàu đối với nam châm điện, nhiệt và thủy âm học.
Trang bị hiện đại phức tạp được lắp trên các tàu chiến này đòi hỏi hệ thống điều khiển phải được thực hiện bằng máy vi tính. Hệ thống CACS-4 được thiết kế một cách đặc biệt đã không được chấp nhận vì không có khả năng thực hiện những nhiệm vụ này. Sự từ chối xảy ra vào năm 1987 và hệ thống SSCS điều khiển tàu nổi được sử dụng. Tuy nhiên, thiết kế của hệ thống này đòi hỏi thời gian, và nó chỉ được lắp trên tàu thứ 7 – “Wesminster”, gia nhập biên chế vào năm 1994. Các tàu trước đó ra khơi mà không có hệ thống điều khiển thống nhất. Vì thế, vào năm 1991, trong thời gian xung đột tại vùng Vịnh, các tàu này không được sử dụng trong các hoạt động quân sự. Hệ thống SSCS của mẫu được đơn giản hóa cho các tàu chiến cũ lớp “Doke” đến thời điểm này chưa được thiết kế.
Các thông số cơ bản:Phân loại: tàu chiến mang tên lửa điều khiển
Lớp tàu: “Doke”
Lượng choán nước: 3500 tấn (tiêu chuẩn), 4200 tấn (đầy đủ)
Chiều dài: 133m
Chiều rộng: 16,1m
Độ mớn nước: 7,3m
Thiết bị năng lượng: hỗn hợp điện – diezen và tuabin khí, 2 trục, 2 thiết bị tuabin khí Rolls – Roys “Space” SM1A 31 000 sức ngựa; 4 máy diezen “Pikeman” 12CM 8100 sức ngựa; 2 động cơ GES
Tốc độ và tầm hoạt động: 28 hải lý; 8980 dặm (15 hải lý)
Thủy thủ đoàn: 181 người
Trang bị: 2x4 thiết bị phóng tên lửa chống tàu Boeing “Harpoon”; 1x32 thiết bị phóng đứng của tổ hợp tên lửa phòng không GWS 26 “Sivulf”; 1 thiết bị pháo 114mm “Vikkers” Mk.8; 2 thiết bị pháo 30mm DS30B; 2x2 thiết bị ngư lôi 324mm nạp đạn tự động; ngư lôi – tên lửa “Stingrei”
Trang thiết bị điện tử: Mẫu 996 3D – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không và mục tiêu nổi; Mẫu 911 – đài ra đa định vị điều khiển bắn; Mẫu 1007 – ra đa hàng hải; Mẫu 2050 – đài thủy âm tích cực dò tìm và điều khiển vũ khí; Mẫu 2013Z – ăng ten lai thụ động của đài thủy âm; Mẫu 2087 – ăng ten lai chủ động và thụ động của đài thủy âm
Thiết bị bay: 1 trực thăng.
