33. MEKO 200
MEKO 200 – dòng tàu chiến mang tên lửa được Đức thiết kế rất thành công, được thừa nhận rộng rãi ngoài biên giới. Nhiều quốc gia đã đặt mua loại tàu chiến này và các đường viền trên tàu thường không phân biệt, nhưng mỗi khách hàng có thể lựa chọn cho tàu trang bị về thiết bị năng lượng.
Năm 1988, Hy Lạp thực hiện quyết định đặt mua 4 tàu chiến lớp MEKO 200 và tàu đầu tiên (“Hydra”) được khởi công vào tháng 2 năm 1989. Việc đóng tàu được thực hiện tại Tập đoàn “Blohm và Foss” tại Hamburg. Tháng 11 năm 1992 tàu đầu tiên được hoàn thành. Ba tàu còn lại được đóng tại các xưởng tàu Hy Lạp. Tàu đầu tiên “Spetset” được hoàn thành tháng 4 năm 1996, các tàu còn lại – vào năm 1998. Rõ ràng nhất rằng các tàu này đều được trang bị cùng loại trực thăng CH-70B-6.
Sớm hơn trước Hy Lạp, đã có đơn đặt hàng 3 tàu chiến đóng cho Bồ Đào Nha (năm 1986), và tất cả được khởi công năm 1989. Công việc đóng tàu được thực hiện tại Tập đoàn “Bolhm và Foss” và “Hobaldsberks”. Năm 1991, chúng được đóng xong. Các tàu này không khác so với các tàu của Hy Lạp, từ kích thước thân tàu, thiết bị năng lượng và trang bị. Điểm khác biệt ở đây gồm có việc thay thiết bị pháo 127mm FMC bằng pháo 100mm của Pháp, còn sự phóng tên lửa phòng không “Sea Sparoww” thực hiện từ thiết bị phóng Mk.29 thay cho thiết bị phóng đứng. Hang ga và boong cất cánh của trực thăng bố trí 2 trực thăng “Super Links” Mk.95.
Sớm hơn nữa, Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã đặt hàng các tàu chiến lớp MEKO 200 (nơi gọi chúng là “Yavuz”). Việc này diễn ra vào năm 1982. Dòng tàu gồm 4 chiếc được đóng tại Đức (2 tàu) và Thổ Nhĩ Kỳ (2 tàu). Trong nguyên tắc, chúng không khác với các tàu Hy Lạp, chỉ có nóc hang ga trực thăng bố trí thiết bị phóng của tổ hợp tên lửa phòng không “Sea Sparoww” và đồng thời có 3 thiết bị pháo 25mm Erlicon Contraves “Sea Zenit”. Đây là thiết bị pháo không bình thường có khả năng bắn dưới góc 90 độ và bắn cháy mục tiêu trên tàu một cách trực tiếp. Mỗi pháo có 4 nòng và tốc độ bắn 3400 viên/phút. Sau đó, Thổ Nhĩ Kỳ đặt hàng thêm 4 tàu lớp MEKO 200 với một số thay đổi trong thiết kế. Việc này diễn ra vào năm 1990, và một lần nữa việc đóng tàu được thực hiện ở Đức (2 tàu) và Thổ Nhĩ Kỳ (2 tàu). Các tàu chiến này thuộc dòng “Barbaros” và khác với lớp “Yavuz” trước đó ở kích thước lớn hơn và thiết bị năng lượng diezen – tuabin khí thay cho động cơ diezen. Trên một số tàu có lắp thiết bị phóng đứng Mk.41 cho tổ hợp tên lửa phòng không “Aspid”.
Các thông số cơ bản:Phân loại: tàu chiến mang tên lửa điều khiển
Lớp tàu: MEKO 200
Lượng choán nước: 2710 tấn (tiêu chuẩn), 3350 tấn (đầy đủ)
Chiều dài: 117m
Chiều rộng: 14,8m
Độ mớn nước: 6m
Thiết bị năng lượng: diezen – tuabin khí, 2 trục với bước chân vịt thay đổi; 2 thiết bị tuabin khí LM 2500 60 000 sức ngựa; 2 máy diezen MTU 20V 956 TB82 10 420 sực ngựa
Tốc độ và tầm hoạt động: 31 hải lý; 4100 dặm (15 hải lý)
Thủy thủ đoàn: 173 người
Trang bị: 2x4 thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa chống tàu Boeing “Harpoon”; 1x16 thiết bị phóng đứng Mk.48 cho tổ hợp tên lửa phòng không “Sea Sparoww”; 1 thiết bị pháo 127mm FMC; 2 thiết bị pháo 20mm 6 nòng “Vulcan/Falancs”; 2x3 thiết bị ngư lôi 324mm Mk.32; các ngư lôi Mk.46; bẫy ngư lôi SLQ-25 “Nicsi”
Trang thiết bị điện tử: Signaal MWO8 – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không; DA08 – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không và mục tiêu nổi; STIR – đài ra đa định vị điều khiển bắn; Racal Decca 2690BT – ra đa hàng hải; SQS-56/DE 1160 – đài thủy âm hỗn hợp
Thiết bị bay: 1 trực thăng.
