Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:22:07 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu Chiến Hiện Đại - nhà xuất bản Arsenal - 2005  (Đọc 363217 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #390 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2010, 07:11:58 pm »

Các tàu tuần duyên lớp "Quahir":

"Al-Amwaj":



"Al-Muatzzar":

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #391 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2010, 07:17:36 pm »

2. “Nils Juel”

Việc thiết kế các tàu này cho Hải quân Đan Mạch được thực hiện tại Anh (phòng Yard – Glasgow), nhưng chúng được đóng tại Đan Mạch. Ba tàu được khởi công vào năm 1976 (“Nils Juel”), 1978 (“Olfert Fischer”) và 1979 (“Peter Tordenskiold”). Việc đóng tàu hoàn thành  theo thứ tự 26 tháng 8 năm 1980, 16 tháng 10 năm 1981 và ngày 2 tháng 4 năm 1982.

Trên các tàu dự kiến lắp các thiết bị ngư lôi để bắn các loại ngư lôi – tên lửa, tuy nhiên hiện nay chúng chưa được trang bị, vì thế trang bị chống ngầm của các tàu này được đánh giá là yếu. Chỉ có đài thủy âm bố trí trên thân tàu. Các tàu này hoạt hiệu quả hơn rất nhiều trong vai trò tác chiến của các tàu nổi. Chúng được trang bị tên lửa chống tàu “Harpoon” và pháo 76mm “Oto Melara”. Thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Harpoon” lắp gần cuối tàu, ngay sau ống khói, khi đó, sự bố trí này theo mạn trái , thiết bị phóng sẽ hướng về phía cuối tàu, còn bên phải – theo hướng di chuyển của tàu. Pháo 20mm không được lắp trên toàn bộ các tàu trong lớp. Phía cuối tàu bố trí đồng thời thiết bị phóng (8 ống phóng) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Sea Sparoww”. Tuy nhiên, hầu như không lâu sau khi được hiện đại hóa, các thiết bị phóng Mk.29 được thay thế bằng thiết bị phóng đứng Mk.48 có thể phóng được 12 tên lửa điều khiển, như vào thời gian đó trên thế giới, chúng chỉ được trang bị một nửa. Trong quá trình sửa chữa hiện đại hóa, hệ thống thông tin cũng chịu những thay đổi. Xuất hiện đài ra đa định vị 3D nhằm phát hiện mục tiêu trên không và mục tiêu nổi, đồng thời hệ thống điều khiển tác chiến được tự động hóa. Tuy nhiên, do kích thước nhỏ một cách tương đối, các tàu chiến này chỉ mang tính chất canh phòng và hỗ trợ đối với các tàu của các nước khác trong khối NATO. Trong phạm vi hoạt động, một tàu trong số chúng đã tham gia trong lực lượng Liên quân chống lại Iraq vào năm 1991.

Các thông số cơ bản:

Phân loại: tàu chiến mang tên lửa điều khiển

Lớp tàu: “Nils Juel”

Lượng choán nước: 1320 tấn (đầy đủ)

Chiều dài: 84m

Chiều rộng: 10,3m

Độ mớn nước: 3,1m

Thiết bị năng lượng: hỗn hợp diezen – tuabin khí, 2 trục; 1 thiết bị tuabin khí LM2500 24 600 sức ngựa; 1 máy diezen MTU 20V 956 TB82 5120 sức ngựa

Tốc độ: 28 hải lý

Thủy thủ đoàn: 94 người

Trang bị: 2x4 thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa chống tàu Boeing “Harpoon”; 2x6 thiết bị phóng đứng Mk.48 cho tổ hợp tên lửa phòng không “Sea Sparoww”; 1 thiết bị pháo 76mm “Oto Melara”; 4 thiết bị pháo 20mm “Erlicon”; bom chìm

Trang thiết bị điện tử: DASA TRS3D – ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không; Philips 9GR 600 – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi; Mk.95 và 9LV 200 – đài ra đa định vị điều khiển bắn; Mil 009 – ra đa hàng hải.

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #392 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2010, 07:20:36 pm »

Các tàu chiến lớp "Nils Juel":

“Nils Juel”



“Olfert Fischer”



“Peter Tordenskiold”

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #393 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2010, 11:52:42 pm »

3. “Avenger”

Giới chỉ huy Hải quân Mỹ dành ít sự chú ý tới việc thiết kế các tàu quét mìn hiện đại, và dòng 14 tàu lớp “Avenger” được đóng từ năm 1987 đến 1994 là lớp tàu quét mìn cuối cùng cho đến hiện nay trong biên chế Hải quân Mỹ. Hai tàu đầu tiên trong lớp được tang bị thiết bị năng lượng diezen Uaukwsha L-1616M, nhưng bởi vì chúng không đem lại hiệu quả nên trên các tàu quét mìn sau đó đã lắp động cơ do Italia sản xuất. Để giảm sự bức xạ từ, thân tàu được đóng với sự sử dụng các loại gỗ nguyên chất với sự tiếp nhận chất dẻo thủy tinh bền, chắc. Trong các chi tiết, bộ phận lớn của thượng tầng được làm từ chất liệu này.

Các loại lưới quét mìn “Oroneza” được tiếp nhận để quét các loại mìn neo, còn các loại mìn âm thanh từ trường – lưới quét mìn điện từ SLQ-73. Hai lưới thiết bị dò mìn SLQ-48 điều khiển từ xa cũng được tiếp nhận để thực hiện công việc một cách cẩn thận hơn. Chúng có tốc độ khoảng 6 hải lý với hai động cơ điện và có thể kiểm tra bề mặt biển trong bán kính 1500 mét (chiều dài của dây cáp). Trên mỗi tàu có thiết bị phá mìn và cắt ngắn cáp neo thủy lôi. Thiết bị dò mìn với sự hỗ trợ của động cơ điện có độ cơ động không tồi, tăng hiệu quả một cách đặc biệt trong quá trình tìm mìn. Hai tàu cuối cùng (“Dextrous” và “Chief”) được trang bị thiết bị thông tin điều khiển dò mìn NAUTIS-M do Anh sản xuất. Còn hiện nay nó đã được lắp trên các tàu còn lại trong lớp “Aveger”.

Tuy nhiên, các tàu quét mìn lớp “Avenger” – một trong những tàu quét mìn lớn nhất thế giới chỉ được trang bị 2 súng máy.

Các thông số cơ bản:

Phân loại: tàu dò – quét mìn

Lớp tàu: “Avenger”

Lượng choán nước: 1312 tấn (đầy đủ)

Chiều dài: 68,3m

Chiều rộng: 11,9m

Độ mớn nước: 3,7m

Thiết bị năng lượng: điện – diezen, 2 trục với bước chân vịt thay đổi; 4 thiết bị diezen Izotta Fraskin ID36 SS 6V AM 2400 sức ngựa; 2 động cơ điện 400 sức ngựa; động cơ phun nước

Tốc độ: 13,5 hải lý

Thủy thủ đoàn: 81 thành viên

Trang bị: 2 súng máy 12,7mm

Trang thiết bị điện tử: SPS-55 – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi; SPS-66, LN66 hoặc SPS-73 – ra đa hàng hải; SQQ-30 hoặc SQQ-32 – đài thủy âm dò mìn tần số cao.

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #394 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2010, 11:55:16 pm »

Các tàu dò - quét mìn trong lớp "Avenger":

"Avenger" MCM-1:



"Defender" MCM-2:



"Sentry" MCM-3:



"Champion" MCM-4:

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #395 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 12:00:16 am »

"Guardian" MCM-5:



"Devastator" MCM-6:



"Patriot" MCM-7:



"Scout" MCM-8:



"Pioneer" MCM-9:

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #396 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 12:04:22 am »

"Warrior" MCM-10:



"Gladiator" MCM-11:



"Ardent" MCM-12:



"Dextrous" MCM-13:



"Chief" MCM-14:

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #397 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 07:49:25 pm »

4. “Minerva”

Dòng tàu chống ngầm loại nhỏ lớp “Minerva” gồm 8 chiếc. Bốn chiếc đầu tiên (“Minerva”, “Urania”, “Danaide”, “Sfinge”) được đặt vào năm 1982, còn năm 1987, thêm 4 tàu nữa gia nhập biên chế (“Driade”, “Chimera” ”Fenise” và “Sibilla”). Việc đóng tàu lớp này hiện nay ở Italia đã ngừng lại sau khi Italia giữ lại 4 tàu chiến lớp “Artiglers” – ban đầu dự định đóng cho Hải quân Iraq. Toàn bộ các tàu lớp “Minerva” được khởi công từ năm 1985 đến 1989, còn gia nhập biên chế từ tháng 6 năm 1987 đến tháng 5 năm 1991 với mục tiêu thay thế cho các tàu tuần duyên lớp “Albatros” được đóng từ những năm 50 có lượng choán nước 800 tấn.

Ngoài nhiệm vụ tác chiến trên biển, các tàu tuần duyên lớp “Minerva” được sử dụng bảo vệ bờ biển và ngư nghiệp (nghề cá). Ngoài ra, trong Hải quân Italia, các tàu này còn được sử dụng trong mục đích huấn luyện sĩ quan. Trang bị của tàu gồm có pháo 76mm bố trí ở mũi tàu, 2 thiết bị ngư lôi 3 thùng phóng để bắn ngư lôi chống ngầm và thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa phòng không “Aspid” phía cuối tàu. Trên boong giữa trước và sau thượng tầng có thể bố trí tổ hợp tên lửa chống tàu “Tezeo”, mặc dù hiện nay tổ hợp này chưa được lắp.

Tàu tuần duyên Italia theo cấu trúc giống với các tàu Đạn Mạch lớp “Nils Juel” nhưng có thiết bị năng lượng đơn giản và kích thước nhỏ hơn. Trong đó, tốc độ của “Minerva” cũng thấp hơn. Tuy nhiên, các tàu này rất phù hợp với điều kiện của biển Địa Trung Hải và có kiểu dáng bên ngoài rất đẹp.

Các thông số cơ bản:

Phân loại: tàu tuần duyên

Lớp tàu: “Minerva”

Lượng choán nước: 1029 tấn (tiêu chuẩn), 1285 tấn (đầy đủ)

Chiều dài: 86,6m

Chiều rộng: 10,5m

Độ mớn nước: 3,2m

Thiết bị năng lượng: diezen, 2 trục với bước chân vịt thay đổi; 2 máy diezen Fincanteri GMT BM230.20DVM 12 600 sức ngựa

Tốc độ và tầm hoạt động: 24 hải lý; 3500 dặm (18 hải lý)

Thủy thủ đoàn: 123 người

Trang bị: 4 hoặc 6 thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Tezeo Otomat”; 1x8 thiết bị phóng “Albatros” cho tổ hợp tên lửa phòng không “Aspid”; 1 thiết bị pháo 76mm “Oto Melara”; 2x3 thiết bị ngư lôi 324mm B-515; các ngư lôi Mk.46; bẫy ngư lôi SLQ-25 “Nicsi”

Trang thiết bị điện tử: SPS-774 (RAN 10S) – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không và mục tiêu nổi; SPN-728(V)2 – ra đa hàng hải; SPG-76 (RTN 30X) – đài ra đa định vị điều khiển bắn; DE 1167 – đài thủy âm chủ động, tìm kiếm và điều khiển vũ khí.

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #398 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 07:51:32 pm »

Các tàu tuần duyên lớp "Minerva":

"Minerva" F551:



"Urania" F552:



"Danaide" F553:



"Sfinge" F554:

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #399 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 07:53:21 pm »

"Driade" F555:



"Chimera" F556:



"Fenice" F557:



"Sibilla" F558:

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM