Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:21:07 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu Chiến Hiện Đại - nhà xuất bản Arsenal - 2005  (Đọc 363585 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #460 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2010, 04:17:32 pm »

4. “Ocean”

Năm 1987, Bộ Quốc phòng Anh đã tuyên bố cuộc thi thiết kế những con tàu thuộc lớp tàu đổ bộ, nhưng chỉ vào năm 1993 việc đặt hàng mới được tiếp nhận bởi tập đoàn “Vikkers Shipbuilding and Enginering Limited” (hiện nay là tập đoàn “BAE system”). Tàu chở trực thăng “Ocean” gia nhập biên chế tháng 9 năm 1998 và tăng cường một cách đáng kể cho lực lượng lính thủy đánh bộ của Hải quân Hoàng gia và có khả năng thực hiện các cuộc đổ bộ một cách nhanh chóng với sự hỗ trợ của trực thăng và xuồng đổ bộ.

Tàu chở trực thăng được thiết kế trên cơ sở tàu sân bay lớp “Invincibl”, chỉ có sự thay đổi ở thượng tầng. Ban đầu, công ty “Cwerner Govan” đã hoàn thành việc đóng thân tàu và thiết bị năng lượng tại các công xưởng của họ trên sông Claid, sau đó, nó được đưa đến xưởng của “BAE system” để lắp hệ thống vũ khí. Trong biên chế của tàu gồm 255 người trong thủy thủ đoàn, 206 người thuộc đội bay và 480 lính thủy đánh bộ. Trong trường hợp cần thiết trên tàu còn có thể bố trí trong thời gian ngắn thêm 320 lính đổ bộ. Tàu đổ bộ lớp “Ocean” được sử dụng để vận chuyển đến vị trí cần đổ bộ 800 lính cùng pháo, thiết bị kỹ thuật và đạn dược. Trong tàu có thế bố trí đến 40 đơn vị kỹ thuật thiết giáp, tuy nhiên, việc đổ các xe tăng hạng nặng từ tàu đã không được tính toán đến. Trên các trụ treo bố trí 4 tàu đổ bộ hạng nhẹ Mk.5 để đổ lính và phương tiện kỹ thuật. Đồng thời có tổ hợp thiết bị cho 12 trực thăng EH 101 “Merlin” và 6 “Lynx”, còn có thể tiếp nhận hạ cánh và tiếp nhiên liệu cho trực thăng “Chinook”. Trên “Ocean” có thể mang được 20 máy bay “Sea Harrier”, tuy nhiên trên tàu không có sự bảo trì dành cho chúng. Boong cất cánh được trang bị hai thang máy. Trang bị điện tử trên các tàu lớp này gồm có hệ thống thông tin tác chiến ADAWS 2000 do tập đoàn “BAE system” sản xuất, hệ thống thông tin liên lạc “Lynx” 11, 14 và 16, hệ thống liên lạc vệ tinh Marta Marconi SATCOM 1D và máy vi tính “Merlin”. Hệ thống thông tin tác chiến ADAWS 2000 được lắp trên các tàu đổ bộ lớp “Ocean” và trên các lớp tàu đổ bộ khác thuộc Hải quân Anh.

Các thông số kỹ thuật:

Phân loại: tàu chở trực thăng đổ bộ

Lớp tàu: “Ocean”

Lượng choán nước: 21 758 (đầy đủ)

Chiều dài: 203,4m (boong cất cánh – 170m)

Chiều rộng: 34m

Độ mớn nước: 6,6m

Thiết bị năng lượng: diezen, 2 trục với bước chân vịt thay đổ và thiết bị lái ở mũi; 2 máy diezen Crosley – Pilstic 16 PC2.6 V400, 23 900 sức ngựa

Tốc độ và tầm hoạt động: 19 hải lý, 9200 dặm (15 hải lý)

Thủy thủ đoàn: 265 người + 180 người trong đội bay + lính đổ bộ

Trang bị: 3 thiết bị pháo 20mm “Vulcan/Falancs”, 4 thiết bị pháo 20mm GAM B03

Trang thiết bị điện tử: Plassi Taip 996 – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không và mục tiêu nổi; Kelvin Hughes Taip 1007 – ra đa hàng hải và điều khiển bay.

Thiết bị bay: 18 trực thăng (tối đa).

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #461 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2010, 04:18:26 pm »

Một vài hình ảnh về tàu đổ bộ L12 "Ocean":



Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #462 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2010, 04:18:59 pm »



Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #463 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2010, 04:19:44 pm »



Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #464 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2010, 12:55:02 pm »

5. "Albion"

Trong thời gian hàng chục năm, lực lượng Lính thủy đánh bộ của Hải quân Anh được trang bị hai tàu đổ bộ “Fearless” và “Intrepid”, được đóng từ những năm 60 của thế kỷ trước. Tuy nhiên, vào đầu những năm 90, yêu cầu thay thế những tàu này đã trở nên rõ ràng, những hợp đồng đặt mua hai tàu đổ bộ mới “Albion” và “Bulwark” chỉ được tiếp nhận vào năm 1996. Năm 1998, tàu “Albion” đã được khởi công, còn sự khởi công tàu “Bulwark” được thực hiện sau đó 1 năm. Tuy nhiên, sẽ không có bất kỳ tàu nào được hoàn thành sớm hơn năm 2003. Tại thời điểm đó, tàu “Fearless” đã có đến 40 năm hoạt động.

Các tàu lớp “Albion” sẽ lớn hơn các tàu mà chúng thay thế. Tuy nhiên, số lượng lính và phương tiện vận chuyển sẽ thấp hơn, nhằm tăng cường điều kiện sinh hoạt và đảm bảo. Còn sự xuất hiện của những đường dốc cho phép tăng cường đáng kể việc đưa lên tàu và đổ bộ những đơn vị quân, kỹ thuật, đạn được thậm chí cả khi không có những công trình (thiết kế) cầu cảng chuyên dụng. Ngoài ra, thủy thủ đoàn cũng tinh giảm hơn 200 người, cho phép giảm chi phí của tàu khi vận hành. Buồng lái thuyền rộng rãi trang bị các hệ thống thông tin liên lạc và kiểm tra hiện đại và phức tạp, cho phép sử dụng các tàu này trong nhiệm vụ chỉ huy khi thực hiện cách chiến dịch đổ bộ. Trên “Albion” trang bị 3 trực thăng “Merlin”, còn hang ga bố trí gần cuối tàu gần thượng tầng, thuận lợi hơn rất nhiều so với các tàu lớp “Faerless” – nói chung không có hang ga. Bãi cất cánh được tính toàn có thể tiếp nhận sự hạ cánh đồng thời 2 trực thăng, còn khi cần thiết có thể tiếp nhận trực thăng “Chinook”. Trong khoang vận tải có bố trí 4 tàu đổ bộ Mk.10 hoặc 4 tàu đổ bộ đệm không khí, còn 4 xuồng đổ bộ Mk.5 được bố trí trên các trụ treo.

Các thông số cơ bản:

Phân loại: tàu chở trực thăng

Lớp: “Albion”

Lượng choán nước: 16 980 tấn (đầy đủ)

Chiều dài: 176m

Chiều rộng: 28,9m

Độ mớn nước: 6,6m

Thiết bị năng lượng: diezen – điện, 2 trục với thiết bị lái ở mũi, 2 máy phát điện diezen Byarsilia Baza 16V32E, 17 000 sức ngựa; 2 máy phát điện diezen Byarsilia Baza 4R 32E, 4216 sức ngựa, 2 động cơ

Tốc độ: 18 hải lý

Thủy thủ đoàn: 325 người + lính đổ bộ

Trang bị: 2 thiết bị pháo 30mm “Goalkeeper”; 2 thiết bị pháo 20mm

Trang thiết bị điện tử: Simens Palssi 996 – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không và mục tiêu nổi; Racal Mẫu 1008 – ra đa hàng hải và điều khiển bay

Thiết bị bay: 3 trực thăng.

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #465 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2010, 12:56:16 pm »

Các tàu đổ bộ của Hải quân Anh:

"Albion":



"Bulwark":

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #466 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2010, 12:57:04 pm »

Một số hình ảnh về tàu đổ bộ "Albion":



Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #467 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2010, 12:58:10 pm »

Tàu đổ bộ "Bulwark":



Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #468 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2010, 12:59:14 pm »

Các tàu đổ bộ cũ hơn:

"Fearless":



"Intrepid":

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #469 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2010, 09:12:52 pm »

6. “Whidbey Island/Harpers Ferri”

Đây là chương trình đóng tàu bắt đầu vào năm 1981, khi tàu đầu tiên “Whidbey Island” được khởi công. Công việc đóng tàu kéo dài đến năm 1985, còn sau đó, thêm 7 tàu nữa đã được đóng. Tàu cuối cùng “Ashland” đã gia nhập biên chế năm 1992.

Các tàu ngày được thiết kế dựa trên cơ sở tàu lớp “Ancorzid”, được hạ thủy từ những năm 60. Sự khác nhau giữa chúng ở  boong vận tải (134x15m) và tổ hợp các thiết bị đổ bộ khác nhau, bao gồm 4 tàu đệm không khí, 21 tàu đổ bộ hoặc 65 ca nô. Trên bãi đáp trực thăng có thể tiếp nhận sự hạ cánh của 2 trực thăng CH-53D “Sea Stallion”, mặc dù hang ga dành cho chúng không được tính toán đến. Phần giữa tàu lắp hai cần cẩu tải trọng 60 tấn và 20 tấn. Ngoài ra, tàu có thể vận chuyển 500 lính thủy đánh bộ với toàn bộ trang bị kỹ thuật và đạn dược. Các tàu này có thể phục vụ và vận chuyển các thiết bị đổ bộ dành cho mọi tàu đổ bộ khác, trong trường hợp các thiết bị này không thể bố trí trên các tàu đó. Sau 8 tàu lớp “Whidbey Island” là, thêm 4 tàu đổ bộ cùng theo thiết kế những chú trọng hơn về tải trọng. Dưới tên gọi “Harpers Ferri”, chúng gia nhập biên chế giữa tháng 1 năm 1995 và tháng 5 năm 1998. Chúng khác với các lớp tàu trước ở kích thước khoang đổ bộ nhỏ hơn, cho phép tăng cường khả tải trọng cần cẩu. Ngoài ra, trên các tàu mới được lắp bổ sung các thiết bị thông gió bằng không khí, kèm theo một vài thay đổi theo cách bố trí vũ khí và tháo đi một cần cẩu. Toàn bộ 12 tàu được trang bị hệ thống phản ứng nhanh và tự vệ mới (QRCC/SSDC) với sự hỗ trợ của tổ hợp tên lửa phòng không RAM và các thiết bị pháo tự động “Falancs” cho phép phản ứng một cách nhanh chóng trước các mối đe dọa từ trên không. Các tàu vận tải đổ bộ lớp “Harpers Ferri” đồng thời được trang bị hệ thống điều khiển tác chiến hoàn thiện (ACDS), cho phép chúng hoạt động chung với các tàu lớp “Wasp”, “Tarawa” và “San Antonio” trong bộ phận thống nhất của các tàu đổ bộ.

Các thông số cơ bản:

Phân loại: tàu đổ bộ

Lớp tàu: “Whidbey Island/Harpers Ferri”

Lượng choán nước: 15 725 tấn (đầy đủ - “Whidbey Island”); 16 750 tấn (“Harpers Ferri”)

Chiều dài: 185,8m

Chiều rộng: 25,6m

Độ mớn nước: 6,3m

Thiết bị năng lượng: diezen, 2 trục với bước chân vịt thay đổi, 4 máy diezen SEMT – Pilstic 16 PC2.5 V400, 40 000 sức ngựa

Tốc độ và tầm hoạt động: 22 hải lý; 9200 dặm (18 hải lý)

Thủy thủ đoàn: 340 người + lính đổ bộ

Trang bị: 1 hoặc 2 thiết bị phóng Mk.49 cho tổ hợp tên lửa phòng không RAM; 2 thiết bị pháo 20mm “Vulcan/Falancs”; 2 thiết bị pháo 25mm; 8 súng máy 12,7mm; bẫy ngư lôi SLQ-25 “Nicsi”

Trang thiết bị điện tử: Decca 1226 – ra đa hàng hải

Thiết bị bay: bãi cất – hạ cánh cho trực thăng.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM