Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:18:39 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu Chiến Hiện Đại - nhà xuất bản Arsenal - 2005  (Đọc 363540 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #540 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2011, 02:46:23 pm »

Trang bị điện tử:

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Lesorub-434”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu chung:

+ tổ hợp ra đa định vị “Forum-2M”:
                                                                   
* 1 x “Podberezovik” (Flat Screen)
 
* 2 x MR-750 “Fregat-MA” (Top Plate)

Đài ra đa phát hiện mục tiêu bay tầm thấp:

+ 2x MR-360 “Podkat” (Strut Pải)

Đài đa đa định vụ phát hiện mục tiêu thấp/đài ra đa định vị tầm thấp:

+ 3 x “Vaigach” (Palm Frond)

Đài thủy âm:

+ tổ hợp thủy âm “Polinom-T” (Horse Jaw và Horse Tail), trong đó có các anten hình cầu, dưới sống mũi và lai

+ MG-717 “Amulet” chống biệt kích thuộc đài thủy âm

+ đài thủy âm “Altưn”

+ MG-35

+ GEL-3, HEL-M1/2 máy đo sâu tín hiệu dội

Các khí tài chống tác chiến điện tử:

+ TK-146 “Sozvezdie-BR”

Tổ hợp bắn nhiễu: 2x2 thiết bị phóng PK-2 và 12x10 thiết bị phóng PK-10 “Smelưi”

Khí tài quang điện: 4x”Rotan” vô tuyến nhìn gần

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực:

+ 2 x “Korall-BN” (Punch Bowl) nhận sự chỉ thị mục tiêu từ vệ tinh cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Granit”

+ 4 x 3R95 (Cross Sword) điều khiển tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”

+ 4 x 3R86 mô đun điều khiển tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kortik”

Tổ hợp hàng hải: “Beisur”

Các khí tài dẫn đường vô tuyến:

+ “Rezisrtop K-4” (Sake Stand) kiểm soát hàng không

+ 2 x “Gazon” (Fly Trap B) kiểm soát hàng không

+ “Tur-434” điều khiển tác chiến không quân

Các khí tài thông tin liên lạc:

+ tổ hợp “Buran-2” (51 khí tài thông tin với các bước sóng khác nhau, trong đó có R-361, R-632ML. R-633, R-625, R-391V2, R-313M2, R-622, R-687P, R-729, R-739RN, R-399A, R-603, R-680, R-682, R-683, R-753K, R-719-1/2)

+ “Kristall-BK” (2 Low Ball) thông tin liên lạc vệ tinh

+ “Pritsel-A” đài thông tin liên lạc vệ tinh

+ “Troinhiki” trao đổi thông tin

Đài ra đa định vị thông tin liên lạc nói: 4 Watch Guard.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #541 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2011, 02:44:55 pm »

Các tàu chống ngầm loại lớn lớp “Udaloy” – Thiết kế 1155 - Số hiệu "Fregat"


Tàu chống ngầm "Thống chế Vinogradov"

Vào đầu những năm 1970, trong Hải quân Liên Xô tiếp nhận quyết định về việc chế tạo hệ thống từ hai tàu: của các tàu trang bị vũ khí tên lửa điều khiển và phòng không – Thiết kế 956 và tàu chống ngầm chuyên dụng chế tạo trên cơ sở tàu chống ngầm cỡ lớn Thiết kế 1135, nhận tên gọi 1155. Về bản chất, đây là sự phối hợp hoạt động tác chiến trong biên chế cấp lữ đoàn hoặc cụm các tàu khu trục Thiết kế 956 và các tàu chống ngầm loại lớn Thiết kế 1155. Quyết định này là bắt buộc, bởi vì Thiết kế 956 mặc dù được trang bị vũ khí tấn công mạnh, nhưng trang bị chống ngầm yếu, chỉ đủ bảo đảm khả năng tự phòng thủ khỏi các cuộc tấn công bằng ngư lôi từ tàu ngầm.

Nhiệm vụ kỹ - chiến thuật về thiết kế tàu chống ngầm cỡ lớn Thiết kế 1155 mới (mã số “Fregat” được giao cho Phòng Thiết kế Phương Bắc năm 1972. Tổng công trình sư thiết kế lúc đầu là N.P.Sobolev, sau đó là V.P.Mishin (từ năm 1977), giám sát viên chính từ phía Hải quân là Thuyền trưởng hạng 1 I.M.Stetsyur, sau đó là Thuyền trưởng hạng 2 V.G.Basov. Thiết kế 1155 ban đầu được thiết kế như sự nâng cấp của tàu chống ngầm cỡ lớn Thiết kế 1135 với mục đích loại bỏ các nhược điểm của nó: không có trực thăng và tầm hoạt động ngắn của các khí tài thủy âm, không bảo đảm sự chỉ thị mục tiêu cho các tên lửa chống ngầm trên tầm xa hoạt động tối đa.

Năm 1975, thiết kế kỹ thuật của tàu đã được hoàn thành, còn tháng 12, bản thiết kế đã được phê duyệt. Năm 1976, đã tiến hành hiệu chỉnh thiết kế kỹ thuật, kết quả là trên tàu đã có chỗ (cơ sở) cho trực thăng thứ hai, đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không và mục tiêu nổi được tăng cường gấp đôi với nhiều tính năng khai thác sử dụng được nâng cấp. Trang bị tên lửa phòng không của tàu được tăng cường bằng việc thay tổ hợp phòng không đa kênh “Kinzhal” cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M”. Đồng thời, tổ hợp thủy âm thế hệ mới “Polinom” cũng được lắp. Do đó, lượng choán nước của tàu cũng tăng lên 25%. Nhưng do tổ hợp mới tăng cường thực tế hơn khả năng chống ngầm của tàu nên đã dẫn tới quyết định rằng thiết kế sau này không hạn chế về lượng choán nước.

Việc thiết kế Thiết kế 1155 được trang bị tổ hợp thủy âm tầm xa mới, yêu cầu tiến hành khối lượng lớn các công việc nghiên cứu khoa học và thí nghiệm ở Viện Nghiên cứu khoa học Krưlov và ngay tại Phòng Thiết kế Phương Bắc. Việc này trước hết là toàn bộ công việc trong việc giảm độ ồn dưới nước và nhiễu trong hoạt động của tổ hợp thủy âm, thiết kế đường viền bao thân tàu để giảm sức cản của nước trên các tốc độ tuần tra và tốc độ tối đa, sự bảo đảm khả năng cơ động và điều khiển. Theo yêu cầu của hàng loạt các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu khoa học Krưlov, thay thế phương án phát triển hình cầu theo kiểu Thiết kế 1134-A, Thiết kế 1134-B và Thiết kế 1135 đã tiếp nhận hình dáng “dạng ngư lôi” mới. Đáng tiếc là cấu trúc này (các kích thước của bộ phận mũ chụp hình cầu rất lớn – 30x5,1 mét) làm ảnh hưởng tiêu cực tới khả năng cơ động, gọi là sự đập vào đáy (sleming) từ sóng và sự phun nước mạnh, gây khó khăn cho việc sử dụng vũ khí. Vì thế, các công trình sư đã quyết định đẩy về phía trước sống mũi và phần cuối mũi tàu một cách tối đa để bố trí thiết bị mỏ neo, để khi kéo lên, mỏ neo không bị chạm vào mũ chụp hình cầu (nhưng trên thực tế trong biên chế, vẫn có trường hợp mỏ neo đâm thủng mũ chụp của hệ thống thủy âm).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #542 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2011, 03:30:52 pm »


Để thuận lợi hơn cho tàu, lượng choán nước không ngừng được tăng lên, đã có quyết định chế tạo thượng tầng từ hợp kim nhôm, hơn nữa, trong các xưởng – nhà máy công nghệ hàn và lắp ráp các cấu trúc này được giao nhiệm vụ sản xuất sản phẩm trên cơ sở tiếp nhận vật liệu cơ bản AMG-6 với sự tăng cường độ vững chắc và chống ăn mòn cao, với sự bao gồm các phần tử thép trong các khu vực chịu tác động của lửa phản lực từ đuôi tên lửa. Các hệ thống chống rung, lắc được lấy từ nguyên mẫu – Thiết kế 1135, để giảm biên độ lắc của thành tàu hơn ba lần.

Năm 1978, để kiểm tra hiệu quả phòng chống cháy của Thiết kế 11555, khoang ngoài trời của tàu đã được chuẩn bị trên trường bắn gần Leningrad, nơi diễn ra việc xử lý các tình huống giải quyết chống cháy cho cấu trúc. Sự thật là trong thời gian các tàu phục vụ trong biên chế, đã xuất hiện rằng các khí tài chữa cháy không đủ độ tin cậy – thậm chí trở nên lỗi thời ngay cả trong giai đoạn thiết kế.

Hai trực thăng Ka-27 được bố trí trong hai hang ga nửa chìm ở mạn tàu, tương đồng với cấu trúc trên Thiết kế 1134-A và 1134-B. Cơ sở của hai trực thăng yêu cầu những thay đổi trên bản vẽ lý thuyết của tân tàu: để làm việc này, cần thay đổi thân tàu dạng “chêm đôi” (mũi sắc, cao – bộ phận mạn tàu rộng và phẳng), cấu trúc còn được xử lý trên các tàu tuần dương chống ngầm lớp “Moskva” Thiết kế 1123. Để đảm bảo khả năng sử dụng trực thăng trong mọi điều kiện thời tiết, trên tàu lắp hệ thống truyền động dẫn đường vô tuyến và hạ cạnh “Privod-B”.

Trang bị pháo của Thiết kế 1155 gồm có 2 pháo đa năng 1 nòng AK-100 (được lắp ở mũi theo sơ đồ tuyến nâng cao) với đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Lev” và 4 pháo tự động AK-630M cùng 2 đài ra đa định vị “Vuwmpel” (theo một ụ trên thành). Trang bị chống ngầm được giơi thiệu là tổ hợp tên lửa chống ngầm điều khiển “Metel” với 2 thiết bị phóng cố định 4 ống phóng, 2 thiết bị ngư lôi 533mm 4 ống phóng và 2 thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000. Trong ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không và mục tiêu nổi, trên hai tàu đầu tiên lắp 2 ra đa định vị cùng loại: “Topaz” và “Topaz-B”, trên các tàu còn lại: “Fregats-MA” và “Potkat”.

Hai tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ “Kinzhal” bố trí trên mạn và mũi tàu. Trong thành phần mỗi tổ hợp bao gồm trạm ăng ten với đài phát hiện mục tiêu trên không và dẫn bắn tên lửa (với ra đa mạng pha) thep 4 thiết bị phóng đứng dạng mặt trống cho 8 tên lửa phòng không điều khiển bố trí dưới boong và trạm điều khiển. Tuy nhiên, do tốc độ bắn không đạt yêu cầu đã dẫn tới tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal” không được lắp trên các tàu đầu tiên khi bàn giao cho Hải quân (trong Hạm đội, chúng được gọi một cách mỉa mai là “những con chim bồ câu hòa bình”). Các tàu chống ngầm loại lớn tiếp theo chỉ được trang bị một tổ hợp và chỉ trên các tàu chống ngầm Thiết kế 1155 sau cùng, cả hai tổ hợp tên lửa phòng không mới được lắp đầy đủ.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #543 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2011, 04:20:25 pm »


Toàn bộ vũ khí của tàu theo chế tạo được điều khiển bằng một hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Lesorub”, sử dụng thông tin từ các nguồn bên ngoài hoặc tự động. Trong hệ thống có tăng cường sự hiển thị thông tin rõ nét và đầy đủ về tình hình tác chiến, rút ngắn thời gian phản ứng 2-3 lần.

Các động cơ tuabin (công suất thiết kế 72 000 sức ngựa) được sử dụng cho các tàu Thiết kế 1155 không được giao cho ngành công nghiệp, vì vậy thiết bị động cơ chính 2 trục của tàu chống ngầm loại lớn thực tế giống hoàn toàn với Thiết kế 1135 và bao gồm các động cơ chính và hỗ trợ trên mỗi trục. Sự khác biệt gồm có sự tăng cường công suất các động cơ chính và động cơ hỗ trợ. Ngoài ra, thiết bị năng lượng tuabin có độ ồn thấp hơn nhờ tổ hợp chống nhiễu phức tạp. Thiết bị năng lượng điện được tăng cường đáng kể và gồm 4 máy phát điện tuabin khí với 1250kW/mỗi máy phát.

Trên các tàu Thiết kế 1155, có thể, là lần đầu tiên, sự chú ý lớn hướng vào khu vực sinh hoạt của thủy thủ đoàn trong các điều kiện thời tiết và khu vực khí hậu khác nhau. Các sĩ quan được bố tró trong các buồng 1 hoặc 2 chỗ, hạ sỹ quan – các buồng 2 – 4 chỗ, thủy thủ - các phòng 12 – 14 chỗ. Ngoài ra, còn có các phòng nghỉ, tập thể thao, sinh hoạt. Có hệ thống điều hòa không khí, các thiết bị cất nước mặn để tăng cường nước uống. Và toàn bộ bố cục của tàu trong quá trình khai thác sử dụng đã xuất hiện yêu cầu: ví dụ như việc tắm rửa của thủy thủ đoàn được bố trí bằng vòi hoa sen dưới các trạm chiến đấu trong thời gian hoạt động trên tàu.

Việc chế tạo hệ thống gồm 2 loại tàu: Thiết kế 956 và 1155, mặc dù đã được thực hiện một cách từng phần, nhưng không gây được sự hào hứng của các chuyên gia, nhưng về kết quả, phụ thuộc vào Bộ Tư lệnh Hải quân. Vì vậy, việc tìm kiếm thường xuyên khả năng chế tạo tàu đa năng trong lượng choán nước hạn chế với sự kết hợp của hai thiết kế này thường xuyên được tiến hành. Mặc dù vậy, không thu được kết quả nào do việc phức tạp hóa vũ khí và trang bị vũ khí không có sự lựa chọn hợp lý đã dẫn tới việc tăng lượng choán nước lên quá mạnh. Các nghiên cứu đang được tiến hành đã chỉ ra rằng, việc chế tạo các tàu đa năng chỉ có thể theo hướng đồng nhất vũ khí và trang bị. Thậm chí trong cuối những năm 70, các chuyên gia đã đề xuất các phiên bản khác nhau về thiết bị phóng đồng nhất và các hệ thống điều khiển đa chức năng được chế tạo trên cơ sở các mẫu vũ khí và trang bị sẵn có. Không có vấn đề khoa học hay kỹ thuật nào vướng mắc ở đây. Chỉ cần giải pháp tổ chức định hướng việc thay đổi lần lượt thiết kế các hệ thống vũ khí. Tuy nhiên, phía chỉ huy Hải quân, trong đó có S.G.Gorshkov không tán thành vấn đề này. Rõ ràng, Bộ Tư lệnh Hải quân không ngả sự cải tổ này, thường xuyên kết nối với các vấn đề trước mắt để không ảnh hưởng tới Quân đội nói chung dưới tác động của nền công nghiệp toàn năng của Liên Xô.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #544 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2011, 04:38:58 pm »

Biến thể


"Nguyên soái Shaposhnikov"

Để nâng cao khả năng kỹ chiến thuật, trong quá trình đóng tàu Thiết kế 1155, trên chúng có thay thế các đài ra đa định vị phát hiện các loại mục tiêu “Topaz” và “Topaz-B” bằng cách lắp các đài hiện đại hơn “Fregat-MA” và “Podkat” (bắt đầu từ tàu thứ ba). Ngoài ra, các tên lửa chống ngầm “Metel” lần lượt được thay thế bằng tên lửa điều khiển “Rastrub-B” với các tên lửa đa năng, có khả năng tiêu diệt tàu ngầm và tàu nổi. Các tàu sau đồng thời khác biệt ở chiều rộng bãi cất – hạ cánh kéo dài tới thành tàu.

Trong các nguồn tin, Thiết kế 1155 cũng có các nhược điểm nghiêm trọng: trang bị pháo và phòng không yếu, Bộ Tư lệnh Hải quân đã chỉ đạo khắc phục thiết kế này. Phiên bản tàu mới được thiết kế vào giữa những năm 80 nhân số hiệu 11551. Trên tàu, trang bị được tăng cường đáng kể: vị trí 2 pháo 100mm được thay bằng 1 pháo 130mm AK-130; thay cho tổ hợp tên lửa chống tàu ngầm “Metel” là tổ hợp tên lửa chống hạm điều khiển “Moskit”, thay cho các thiết bị ngư lôi 533mm là tổ hợp tên lửa – ngư lôi chống ngầm “Vodopad-NK”. Các khí tài phòng không được tăng cường theo hướng thay pháo tự động 30mm bằng 2 tổ hợp tên lửa phòng không tự động “Kortik”. Các khí tài chống ngư lôi được thay bằng tổ hợp RBU-12 000 “Udav”. Cuối cùng, thay cho tổ hợp thủy âm “Polinom” là tổ hợp thủy âm mới “Zvezda-2”.

Theo kế hoạch, việc đóng tàu Thiết kế 11551 sẽ tiến hành ở xưởng “Yanta” tại Kaliningrad. Nhưng đến khi Liên Xô sụp đổ, mới chỉ có 2 tàu được khởi công, còn đưa vào biên chế chỉ có tàu đầu tiên “Admiral Chabanenko”.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Năm, 2011, 05:40:19 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #545 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2011, 08:19:43 pm »


Chương trình đóng tàu

Dự kiến việc đóng tàu được bắt đầu với 50 tàu thuộc các Thiết kế 1155 và 956, nhưng sau đó, chương trình bị rút ngắn đáng kể. Tàu đầu tiên thuộc Thiết kế 1155 nhận tên gọi “Udaloy”, được khởi công ở xưởng đóng tàu “Yanta” tại Kalingrad năm 1978, hạ thủy tháng 2 năm 1980 và gia nhập biên chế tháng 11 cùng năm. Tổng cổng ở xưởng cho đến năm 1991 đã đóng được 8 tàu, đồng thời trong những năm 1981 – 1988, trên xưởng mang tên Zhdanov đã đóng thêm 4 tàu nữa.

Tình trạng đến năm 2007

Trong biên chế Hải quân Liên Bang Nga sau năm 2000 có các tàu chống ngầm Thiết kế 1155 sau: “Severomorsk”, “Admiral Levchenko”, “Admiral Kharlamov” trong biên chế Hạm đội biển Bắc, “Admiral Tributs”, “Nguyên soái Shaposhnikov”, “Admiral Vinogradov”, “Admiral Panteleev” – Hạm đội Thái Bình Dương. Ngoài ra, còn tàu săn ngầm “Phó Đô đốc Kulakov” hơn 15 năm trên xưởng sửa chữa, còn “Nguyên soái Vasilievskyi” (Hạm đội Bắc) được đưa về lực lượng dự bị từ năm 1991 và sẽ nhanh chóng được đưa ra khỏi biên chế.

Các tàu Thiết kế 1155 có vai trò tàu chỉ huy trong vịnh Péc xích, khi tình hình ở đó căng thẳng. Như “Admiral Zakharov” trong những năm 1988 – 1980 đã thực hiện 23 cuộc hộ tống các đoàn tàu vận tải tới vịnh (tổng cộng 53 tàu), đi qua 5500 dặm. “Nguyên soái Shaposhnikov” trong thời gian đó đã thực hiện 19 cuộc hộ tống (41 tàu). “Admiral Vinogradov” làm nhiệm vụ trực chiến ở vịnh trong thời gian 1989 – 1990 và 1992 – 1993; “Admiral Tributs” trong những năm 1992 – 1993 nằm trong đội tàu thuộc lực lượng gìn giữ hòa bình trên vịnh Péc xích.

Ngày 17 tháng 2 năm 1992, lúc 11 giờ 42 phút theo giờ Kharcov, trên đường di chuyển tới Vladivostok tới vịnh Ussuryi để sửa chữa, ở mũi đất Swssoev, ở buồng máy mạn tàu “Admiral Zakharov” đã xuất hiện tiếng nổ và đám cháy lớn. Nguyên nhân cơ bản là việc cháy thiết bị động cơ tuabin. Mặc dù đám cháy lớn kéo theo đạn nổ mạnh (tàu cháy trong 22 tiếng đồng hồ), thủy thủ đoàn và đội cứu hỏa từ các tàu khác kéo đến vẫn chiến đấu quên mình với ngọn lửa. Kết quả là 1 người hy sinh và 5 người khác phải vào viện quân y. Việc sửa chữa tàu lúc đó được xem là không thích hợp và đã có quyết định đưa tàu về ụ để chuẩn bị cho việc tháo dỡ lấy kim loại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #546 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2011, 08:33:22 pm »

Bố trí trang bị vũ khí trên tàu chống ngầm cỡ lớn Thiết kế 1155


1. Mũ chụp hình cầu của ăng ten tổ hợp thủy âm “Polinom”

2. Các thiết bị phóng của tổ hợp bắn nhiễu PK-2

3. Các vị trí dự bị dưới thiết bị phóng đứng của tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”

4. Thiết bị phóng đứng dưới boong của tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”

5. Thiết bị pháo đa năng 100mm AK-100

6. Các thiết bị bốn ống phóng của tổ hợp tên lửa chống ngầm “Metel”/”Rastrub”

7. Trạm ăng ten “Musson” của hệ thống điều kiển tên lửa chống ngầm

8. Các vị trí dự bị dưới trạm ăng ten của tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”

9. Các trạm ăng ten thuộc đài ra đa định vị 9R35 điều khiển bắn của tổ hợp “Kinzhal”

10. Đài ra đa định vị MR-142 “Lev” điều khiển bắn thiết bị pháo 100mm

11. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không và mục tiêu nổi “Topaz”

12. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Topaz-V”

13. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu bay tầm thấp “Podkat”

14. Đài ra đa định vị ba tọa độ phát hiện mục tiêu chung “Fregat-MA”

15. Các ăng ten dẫn đường vô tuyến của hệ thống “Privod-V”

16. Tổ hợp pháo tự động 6 nòng AK-630

17. Đài ra đa định vị MR-123 “Vuwmpel” điều khiển bắn cho tổ hợp pháo tự động

18. Các thiết bị ngư lôi 4 ống phóng 533mm

19. Các thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000

20. Bãi cất – hạ cánh cho trực thăng

21. Trực thăng chống ngầm Ka-27

22. Hang ga dành cho 2 trực thăng

23. Nắp buồng ăng ten lai của tổ hợp thủy âm “Polinom”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #547 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2011, 09:16:03 pm »

Lịch sử phục vụ trong Hải quân


“Udaloy” (số hiệu 111): ghi danh vào biên chế ngày 14 tháng 4 năm 1976; khởi công ngày 23 tháng 7 năm 1977 ở xưởng đóng tàu Pribaltic tại Kalinrgad (số 820); hạ thủy mùng 5 tháng 2 năm 1980; gia nhập biên chế Hải quân: 31 tháng 12 năm 1980; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc ngày 24 tháng 1 năm 1981; Từ 26 đến 30 tháng 3 năm 1984, thăm Havana (Cuba); trong thời gian từ 24 tháng 1 năm 1988 đến 19 tháng 1 năm 1990 được đưa vào sửa chữa căn bản ở Kronshtadt, nhưng có không đủ tài chính nên đã bị loại khỏi biên chế hạm đội và giải thể.


“Phó Đô đốc Kulakov” (số hiệu 731 – đang trong biên chế): Ghi danh ngày 13 tháng 7 năm 1977; khởi công: mùng 4 tháng 11 năm 1977 ở xưởng đóng tàu Phương Bắc mang tên Zhdanov tại Leningrad (số 190); hạ thủy 16 tháng 5 năm 1980; đưa vào biên chế 29 tháng 12 năm 1981; nằm trong biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc mùng 9 tháng 2 năm 1982; từ mùng 3 đến 7 tháng 11 năm 1988, thăm Havana (Cuba); 19 tháng 3 năm 1991 được đưa vào sửa chữa căn bản ở xưởng đóng tàu ở Kronshtadt; do không có tài chính trong những năm 1990, việc sửa chữa tiến hành một cách tạm thời; từ năm 2000, được đưa tới xưởng “Phương Bắc) và tiếp tục được sửa chữa.


“Nguyên soái Vasilievskyi” (số hiệu 732 – đang phục vụ): Ghi danh ngày 20 tháng 2 năm 1978; khởi công 24 tháng 4 năm 1979 ở xưởng đóng tàu “Bắc” mang tên Zhdanov – Leningrad (190); hạ thủy 29 tháng 12 năm 1981; vào biên chế: 8 tháng 12 năm 1983; gia nhập Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc 18 tháng 1 năm 1984; những năm 1990 được đưa vào danh sách dự bị.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Năm, 2011, 09:30:16 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #548 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2011, 09:50:49 pm »


“Admiral Zakharov” (số hiệu 112): Ghi danh ngày 11 tháng 6 năm 1979; khởi công 16 tháng 10 năm 1982 ở xưởng “Yanta” thuộc Pribaltic ở Kaliningrad (820); hạ thủy mùng 4 tháng 11 năm 1982; vào biên chế 30 tháng 12 năm 1982; gia nhập Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương 18 tháng 1 năm 1984; ngày 29 tháng 11 đến 3 tháng 12 năm 1987 thăm Bombay (Ấn Độ); 12 đến 16 tháng 5 năm 1988 – Wonsan (CHDCND Triều Tiên); từ mùng 7 tháng 9 năm 1988 đến 3 tháng 4 năm 1989 trực chiến ở vịnh Péc xích, đi qua 5500 dặm, hộ tống 23 đoàn tàu vận tải cùng 53 tàu; 17 tháng 2 năm 1991 bị cháy; mùng 5 tháng 7 năm 1994 loại khỏi biên chế và sau đó bị giải thể; 29 tháng 9 năm 1994 đươc tháo dỡ và bán cho công ty tư nhân Hàn Quốc.


“Admiral Tributs” (số hiệu 733 – đang trong biên chế): Ghi danh 11 tháng 6 năm 1979; khởi cộng 19 tháng 4 năm 1980 ở xưởng mang tên Zhadano (Bắc) ở Leningrad (190); hạ thủy 26 tháng 3 năm 1983; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1985; vào biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương 15 tháng 2 năm 1986; từ 18 đến 23 tháng 11 năm 1987 thăm Aden (Nam Yemen) và 16 – 21 tháng 5 năm 1990 – Penang (Malaysia); từ mùng 5 tháng 12 năm 1992 đến 23 tháng 5 năm 1993 nằm trong đội tàu gìn giữ hòa bình ở vịnh Péc xích; năm 1994 đi sửa ở “Dalzavod:, từ 22 tháng 3 năm 1994, trong thành phần dự bị.


“Admiral Spiridonov” (số hiệu 113): Ghi danh 28 tháng 7 năm 1981; khởi công năm 1981 ở xưởng số 820 thuộc Kalingrad (“Yanta”); hạ thủy tháng 2 năm 1983; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1984; vào biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương mùng 4 tháng 3 năm 1985; từ 4 đến 8 tháng 7 năm 1986 thăm Wonsan (CHDCND Triều Tiên) và 8 đến 12 tháng 8 năm 1991 – Bombay (Ấn Độ); cuối năm 1991 loại khỏi biên chế và giải thể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #549 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2011, 10:12:57 pm »


“Nguyên soái Shaposhnikov” (số hiệu 114 – đang trong biên chế): Ghi danh 18 tháng 3 năm 1982; khởi công năm 1983 ở xưởng “Yanta” thuộc Pribaltic ở Kaliningrad (820); hạ thủy tháng 1 năm 1985; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1985; vào Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương 15 tháng 2 năm 1986; từ mùng 1 tháng 10 đến 26 tháng 12 năm 1987 đã đi thăm Maputu (Mozambic), Bombay (Ấn Độ), Luanda (Angola) và Victorio (quần đảo Sayland); từ 14 tháng 7 năm 1988 đến 13 tháng 2 năm 1989 trực chiến ở vịnh Péc xích, hộ tống 19 đoàn với 41 tàu; 14 đến 18 tháng 8 năm 1990 thăm Wonsan (CHDCND Triều Tiên); năm 1990 tham gia di tản công dân Liên Xô ở Etiopia và đỗ lại ở Abu-Dabi và Aden; 25 tháng 11 năm 1993 đưa vào sửa chữa căn bản ở “Dalzavod” thuộc Valdivostok; tháng 4 năm 1994 kết thúc sửa chữa và đưa vào nhóm các tàu đang hoạt động; tháng 10 năm 2004 thăm Hawai (Mỹ); tháng 3 năm 2006 – Apra-Harbour (Guam).


“Simferopon” (số hiệu 115 – đang trong biên chế): từ 21 tháng 1 năm 1996 đổi tên là “Severmorsk”. Ghi danh 26 tháng 10 năm 1983; khởi công 12 tháng 6 năm 1984 ở “Yanta” trên Pribaltic thuộc Kaliningrad (820); hạ thủy 24 tháng 12 năm 1985; vào biên chế Hải quân tháng 1 năm 1988, vào biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc cùng năm; từ 16 đến 20 tháng 7 năm 1991 thăm Meiport (Mỹ); cuối những năm 1990, đưa vào sửa ở Saint-Peterburg.


“Khabarovsk" (số hiệu 734 – đang trong biên chế): từ 24 tháng 5 năm 1982 là “Admiral Levchenko”. Ghi danh ngày 1 tháng 8 năm 1981; khởi công 27 tháng 1 năm 1982 ở xưởng mang tên Zhdanov (xưởng Bắc) ở Leningrad (190); khởi công 21 tháng 2 năm 1985; vào biên chế 30 tháng 9 năm 1988; gia nhập Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc mùng 1 tháng 5 năm 1989; từ 11 đến 15 tháng 10 năm 1993 đi thăm Tulon (Pháp).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM