Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:11:35 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3  (Đọc 201592 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #130 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2012, 12:03:47 am »

+ SKR-1 (số hiệu xưởng 601); đến 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-1; từ 30 tháng 5 năm 1978 là OS-332; 26 tháng 1 năm 1957 ghi tên vào danh sách Hải quân; 31 tháng 8 năm 1957 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 31 tháng 8 năm 1959; mùa xuân năm 1960 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1961; 19 tháng 1 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; là tàu đầu tiên trong đề án; 9 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; từ 25 tháng 2 năm 1974 đến 29 tháng 7 năm 1974 ở “Sevmorezavod” mang tên S.Ordzhonikidze tại Sevastopol trải qua trung tu; từ 12 tháng 10 năm 1977 đến năm 1979 nâng cấp ở đó và đóng lại theo mẫu thí nghiệm; 30 tháng 3 năm 1978 loại khỏi biên chế chiến đấu và phân loại lại thành tàu thí nghiệm; 1 tháng 10 năm 1986 giải thể, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 2 năm 1987 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol.

+ SKR-17 (số hiệu xưởng 154); đến 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-17; từ 19 tháng 8 năm 1982 là OS-34; 24 tháng 4 năm 959 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; 21 tháng 5 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 5 tháng 8 năm 1960; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1961; 16 tháng 1 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 15 tháng 3 năm 1965 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc và mùa xuân năm 1965 đã hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 27 tháng 5 năm 1980 sau cuộc hành quân mùa xuân năm 1980 theo hệ thống đường thủy trong nước từ biển Bắc tới biển Azov, từ đó tới biển Đen và ghi tên vào biên chế Hạm đội Biển Đen; 8-13 tháng 5 năm 1970 tới thăm cảng Algieri; từ 7 tháng 10 năm 1975 đến 28 tháng 11 năm 1977 tới xưởng “Yantar” ở Pribaltic (Kaliningrad) để đại tu và nâng cấp theo đề án 159-M; 19 tháng 8 năm 1982 loại khỏi biên chế chiến đấu và cải tạo thành tàu thí nghiệm; 28 tháng 9 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol.

+ SKR-9 (số hiệu xưởng 157); đến 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-9; 18 tháng 7 năm 1959 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; 12 tháng 9 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 14 tháng 10 năm 1960; gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1962; 24 tháng 7 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; cuối năm 1963 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 13 tháng 12 năm 1963 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; trong giai đoạn 7 tháng 10 năm 1975 đến 10 tháng 6 năm 1977 ở xưởng số 35 tại Murmansk và từ 3 tháng 12 năm 1982 đến 18 tháng 7 năm 1984 ở xưởng số 82 ở càng Roslyankovo trải quan đại tu; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk.

+ SKR-22 (số hiệu xưởng 158); 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-22; 12 tháng 9 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hải quân; 26 tháng 9 năm 1959 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 25 tháng 1 năm 1961; gia nhập biên chế 14 tháng 11 năm 1962; 19 tháng 2 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; cuối năm 1963 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bawcsl 17 tháng 12 năm 1963 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 28 tháng 11 năm 1977 đến 26 tháng 4 năm 1979 ở xưởng “Yantar” tại Pribaltic (Kaliningrad) và từ 10 tháng 8 năm 1985 đến 25 tháng 8 năm 1987 ở xưởng số 82 cảng Roslyankovo trải qua đại tu và nâng cấp theo đề án 159-M; 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ phế liệu; 1 tháng 10 năm 1991 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #131 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2012, 12:57:30 am »

+ SKR-33 (số hiệu xưởng 159); đến 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-25; 12 tháng 9 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hải quân; 26 tháng 12 năm 1959 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 7 tháng 4 năm 1961; gia nhập biên chế 14 tháng 11 năm 1962; 19 tháng 12 năm 1962 gia nhập biên chế  Hạm đội Baltic; cuối năm 1963 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc; 17 tháng 12 năm 1963 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 1 tháng 10 năm 1973 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và đưa đi neo đậu; 30 tháng 7 năm 19789 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 24 tháng 11 năm 1978 đến 27 tháng 5 năm 1980 ở xưởng “Yantar” tại Pribaltic (Kaliningrad) nâng cấp theo đề án 159-M; từ 9 tháng 10 năm 1986 đến 1 tháng 11 năm 1988 ở xưởng số 82 tại cảng Roslyakovo trải qua đại tu; 4 tháng 8 năm 1995 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 1 tháng 9 năm 1995 giải thể.

+ SKR-18 (số hiệu xưởng 18); đến 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-15; 28 tháng 8 năm 1959 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên S.M.Kirov ở Khabarovsk; 29 tháng 9 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 27 tháng 6 năm 1961; gia nhập biên chế 12 tháng 12 năm 1962; 30 tháng 12 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; đến 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; từ 5 tháng 7 năm 1973 đến 25 tháng 1 năm 1974 ở “Dalzavod” mang tên 50 năm Liên bang Xô viết tại Vladivostoc trải qua đại tu và nâng cấp theo đề án 159-M; 18-23 tháng 11 năm 1976 tới thăm Barsa (Iraq); từ 2 tháng 3 năm 1979 gia nhập biên chế phân Hạm đội Camchatca va từ 23 tháng 4 năm 1981 gia nhập biên chế phân hạm đội Sakhalin Hạm đội Thái Bình Dương; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1989.

+ SKR-27 (số hiệu xưởng 162); 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-27; 12 tháng 9 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hải quân; 8 tháng 4 năm 1960 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 29 tháng 5 năm 1961; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1962; 6 tháng 2 năm 1963 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; mùa hè năm 1963 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ biển Baltic tới biển Azov, từ đó tới biển Đen; 1-31 tháng 6 năm 1967 và 1 tháng 1 – 31 tháng 12 năm 1968 ở khu vực chiến sự, hoạt động trên Địa Trung Hải, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; 9-12 tháng 8 năm 1969 tới thăm Varna (Bulgaria); từ 19 tháng 2 năm 1987 đến năm 1989 ở xưởng “quân khí Hải quân” tại Varna trải qua đại tu; 3 tháng 7 năm 1992 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1992 giải thể và nhanh chóng tháo kim loại ở Sevastopol.

+ SKR-30 (số hiệu xưởng 163); từ 19 tháng 5 năm 1966 là PLK; từ 30 tháng 5 năm 1978 là OS-333; 12 tháng 5 năm 1959 ghi tên vào danh sách Hải quân;; 15 tháng 6 năm 1960 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kalingrad; hạ thủy 24 tháng 6 năm 1961; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1962; 6 tháng 2 năm 1963 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; mùa thu anwm 1968 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới Azov; từ đó tới biển Đen; 23 tháng 12 năm 1968 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; từ 25 tháng 1 đến 14 tháng 8 năm 1968 tới Kronshtadt; từ 27 tháng 6 năm 1974 đến 30 tháng 10 năm 1974 và từ 31 tháng 10 năm 1985 đến 10 tháng 9 năm 1987 tới “Sevmorezavod” mang tên S.Ordzhonikidze ở Sevastopol trải qua trung tu và đại tu; 30 tháng 3 năm 1978 loại khỏi biên chế Hải quân và cải tạo thành tàu thí nghiệm; 28 tháng 9 năm 1990 loại khỏi biên Hải quân, tháo vũ khí và cải tạo cho các mục đích công tác – hỗ trợ; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #132 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2012, 01:27:59 am »

+ SKR-41 (số hiệu xưởng 29); 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-41; 27 tháng 2 năm 1960 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên S.M.Kirov tại Khabarovsk; 21 tháng 9 năm 1961 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 1 tháng 7 năm 1962; gia nhập biên chế 21 tháng 3 năm 1963; 23 tháng 11 năm 1963 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; từ 3 tháng 3 năm 1976 đến 21 tháng 12 năm 1978 ở xưởng “Zvezda” ở cảng Đá Lớn vùng Primorsk trải qua đại tu; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo làm phế liệu; 1 tháng 8 năm 1987.

+ SKR-34 (số hiệu xưởng 165); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-34; 28 tháng 4 năm 1960 ghi tên vào danh sách Hải quân; 27 tháng 7 năm 1960 khởi công trên ụ xướng ố 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 30 tháng 8 năm 1961; gia nhập biên chế 4 tháng 10 năm 1963; 23 tháng 11 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; mùa thu năm 1966 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Scandinavia từ Baltic tới biển Bắc và 5 tháng 10 năm 1966 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 7 tháng 10 năm 1975 đến 16 tháng 12 năm 1976 ở xưởng “Yantar” tại Pribaltic và từ 1 tháng 10 năm 1981 đến 6 tháng 10 năm 1983 ở xưởng số 82 tại cảng Roslyakovo trải qua trung tu; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk.

+ SKR-11 (số hiệu xưởng 30); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-11; 20 tháng 12 năm 1960 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên S.M.Kirov tại Khabarovsk; 16 tháng 2 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 25 tháng 4 năm 1963; gia nhập biên chế 14 tháng 12 năm 1963; 23 tháng 11 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; trong giai đoạn từ 3 tháng 3 năm 1976 đến 1 tháng 1 năm 1978 ở “Dalzavod” mang tên 50 năm Liên Xô tại Vladivostoc trải qua đại tu và nâng cấp theo đề án 159-M; 31 tháng 12 năm 1989 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Novik; 1 tháng 10 năm 1989 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 15 tháng 2 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 1 tháng 6 năm 1991 giải thể.

+ SKR-43 (số hiệu xưởng 31); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-43; 16 tháng 6 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên S.M.Kirov tại Khabarovsk; 31 tháng 5 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 28 tháng 8 năm 1963; gia nhập biên chế 29 tháng 4 năm 1964; 23 tháng 11 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phần lớp tàu chống ngầm; trong giai đoạn từ 27 tháng 5 năm 1974 đến 2 tháng 4 năm 1975 ở “Dalzavod” mang tên 50 năm Liên Xô tại Vladivostoc trải qua trung tu; từ 10 tháng 2 năm 1981 đến 10 tháng 11 năm 1981 cũng nâng cấp ở đó theo đề án 159-M; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #133 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2012, 01:49:00 am »

+ SKR-40 (số hiệu xưởng 166); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-37; 28 tháng 4 năm 1960 ghi tên vào danh sách Hải quân; 28 tháng 10 năm 1960 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 18 tháng 11 năm 1961; gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1964; 23 tháng 11 năm 1964 sau khi di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới Azov, từ đó tới Biển Đen, gia nhập Hạm đội Biển Đen; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; từ 13 tháng 8 năm 1976 đến 2 tháng 3 năm 1978; từ 18 tháng 7 năm 1984 đến 10 tháng 6 năm 1985 ở “Sevmorezavod” mang tên S.Ordzhonikidze tại Sevastopol và 3 tháng 2 – 12 tháng 11 năm 1986 ở xưởng “quân khí Hải quân” tại Varna (Bulgaria) trải qua đại tu và trung tu; 25 tháng 1 năm 1994 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo làm phế liệu; 1 tháng 9 năm 1994 giải thể.

+ SKR-3 (số hiệu xưởng 32); 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-3; 10 tháng 1 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên S.M.Kirov tại Khabarovsk; 9 tháng 2 năm 1963 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 29 tháng 5 năm 1964; gia nhập biên chế 26 tháng 12 năm 1964; 22 tháng 1 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; từ 14 tháng 12 năm 1967 đến 27 tháng 2 năm 1969 và từ 1 tháng 2 năm 1980 đến 19 tháng 1 năm 1983 trải qua đại tu ở “Dalzavod” mang tên 50 năm Liên Xô tại Vladivostoc; sau đó loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Novic; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể.

+ SKR-46 (số hiệu xưởng 33); 19 tháng 5 năm 1966 là PKL046; 19 tháng 7 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 638 mang tên S.M.Kirov tại Khabarovsk; 29 tháng 1 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 24 tháng 4 năm 1965; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1965; 21 tháng 10 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; từ 17 tháng 7 năm 1971 đến 29 tháng 7 năm 1974 ở “Dalzavod” mang tên 50 năm Liên Xô tại Vladivostoc nâng cấp theo đề án 159-M; từ 11 tháng 12 năm 1980 đến 10 tháng 11 năm 1981 ở xưởng Khabarovsk mang tên S.M.Kirov trải qua đại tu; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể; từ 26 tháng 11 năm 1971 đến 17 tháng 11 năm 1973, V.I.Kuroedov (từ 7 tháng 11 năm 1997 – Tư lệnh Hải quân Liên bang Nga) đã chỉ huy tàu.

+ SKR-23 (số hiệu xưởng 34); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-23; 23 tháng 12 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 368 mang tên S.M.Kirov tại Khabarovsk; 27 tháng 1 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 20 tháng 8 năm 1965; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1965; 11 tháng 1 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 19 tháng 6 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 4 tháng 2 – 9 tháng 9 năm 1970 và 3 tháng 9 năm 1974 – 17 tháng 5 năm 1977 ở “Dalzavod” mang tên 50 năm Liên Xô tại Vladivostoc trải qua trung tu và đại tu; từ 9 tháng 9 năm 1970 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatca; 6 tháng 12 năm 1977 – 7 tháng 7 năm 1978 ở khu vực chiến sự, hoạt động trên biển Arav và biển Đỏ, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Etiopia; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ phế liệu; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể và đưa tới bãi bồi gần bờ ở vịnh Rakovưi (thành phố Petropavlovsk-Camchatca).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #134 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2012, 01:53:41 am »

Các thông số kỹ chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 938

+ hoàn toàn: 1077

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 81,8 (78)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 9,2 (8,9)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 5,8 (2,85)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin khí – diesel M-2

+ 2 tuabin khí tăng lực M-2B, tổng công suất, sức ngựa (kW): 30 000 (22 050)

+ 1 động cơ diesel 61B, công suất, sức ngựa (kW): 6000 (4410)

3 trục; 2 chân vịt bước cố định; 1 chân vịt bước điều chỉnh; 2 khí tài lái

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 33

+ tiết kiệm năng lượng: 14

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 2000 (14)

Thời gian hoạt động: 10 ngày

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 108 (9).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #135 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2012, 01:59:28 am »

Vũ khí

Pháo

+ thiết bị pháo 76,2mm AK-726: 2x2

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 400mm PTA-40-159: 1x5

Chống ngầm

+ RBU-2500 “Smerch”: 4x16

+ các bom chìm RGB-25: 256

+ các máy rải bom: 2

+ các bom chìm BPS/GB/BB: -

Mìn

+ mìn trên boong trên: 20… 30.

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Planshet-59”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: 1x”Fut-N” (Slim Net)

Đài ra đa định vị đạo hàng: 1x”Neptun” hoặc “Don-2” (Don II)

Đài thủy âm

+ “Titan” (Buil Horn)

+ “Vưchegda”

Các khí tài tác chiến điện tử

+ “Bizan-4B” (Watch Dog)

+ các máy bảo vệ thủy âm

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 1x”Fut-B” (Hawk Screech) hoặc

+ 1xMR-105 “Turel” (Owl Screech) cho pháo chính

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại: “Nikhrom” (High Pole B), 2xSquare Head.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #136 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2012, 12:22:08 am »

Tàu tuần tra kiểu SKR-7 – Đề án 35 – Lớp Mirka


Tổng số tàu đã đóng: 18

Các biến thể

+ 35 – đề án cơ sở sản xuất hàng loạt (1964)

+ 35-M – các tàu nâng cấp năm 1973-78 với sự tăng cường vũ khí chống ngầm.

Năm 1957 ở Phòng thiết kế Zelenodolsk đã hoàn thành công việc dừng thiết kế đề án kỹ thuật phương án mới tàu tuần tra đề án 159 nhận số hiệu mới – đề án 35. Tổng công trình sư N.Kh.Zelyazkov phụ trách chương trình nâng cấp đề án 159 đã lựa chọn sơ đồ thiết bị năng lượng mới đã được áp dụng trên tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 204 với động cơ tuabin nước khác thường. Vấn đề ở chỗ rằng kinh nghiệm khai thác sử dụng tàu tuần tra đề án 159 đầu tiên đã chỉ ra những sự cố được xác định trong sử dụng thiết bị năng lượng 3 trục, đặc biệt trong chế độ tốc độ tiết kiệm năng lượng hoặc khi dò, kiếm tàu ngầm, khi các chân vịt lớn của các trục bên đã tạo ra trở lực đáng kể và ảnh hưởng lớn tới việc tiết kiệm năng lượng của toàn bộ thiết bị. Việc này đã rõ ràng ngay trong giai đoạn thiết kế tàu tuần tra đề án 159 và vì thế, Phòng thiết kế đã từ thời điểm đó thực hiện việc tìm kiếm phương án sơ đồ thiết bị năng lượng chính, khắc phục các nhược điểm đã được chỉ ra. Việc chế tạo thiết bị 2 trục với động cơ tuabin hành trình và động cơ tuabin tăng lực trên mỗi trục với việc sử dụng bộ truyền động là giải pháp đơn giản nhất. Tuy nhiên, việc này đã chỉ ra là không thể, bởi vì ở Liên Xô, nơi mà trong mỗi công việc là công việc riêng (độc quyền), tìm người chịu trách nhiệm do việc thiết kế bộ truyền động này là không thực tế cho đến khi Liên Xô tan rã năm 1991: các nhà chế tạo động cơ diesel đã làm bộ truyền động của mình, còn các nhà chế tạo tuabin – làm riêng.

Thiết bị năng lượng chính đề án 35 được lựa chọn cho tàu tuần tra đề án 35 gồm 2 động cơ diesel, quay các bánh lái trên các vòi phun dạng (lắp trong) đường hầm, sự giống nhau ngoài ở động cơ phụt nước và 2 máy nén khí tuabin khí để cung cấp không khí và vòi phun đường hầm trên các chân vịt khi ở tốc độ tối đa. Các thí nghiệm và tính toán đã chỉ ra rằng có thể đạt được sự tăng cường tốc độ lên 2 lần. Trên vòng quay hoàn toàn của các động cơ diesel, tàu đạt tốc độ tối đa 20 hải lý, còn khi mở các tuabin – 34 hải lý. Tuy nhiên đồng thời cũng như trên tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 204, thiết bị năng lượng chính này trong tính toán cuối cùng không đáp ứng được sự tin cậy – được đặt lên động cơ: công suất tiêu thụ đủ cho việc di chuyển với tốc độ lớn trong sơ đồ thường của hệ thống năng lượng chính, ngoài ra, thiết bị đã được chỉ ra có tiếng ồn rất lớn, phức tạp trong khai thác sử dụng và không hiệu quả.

Mặc dù kích thước khiêm tốn như dòng tàu tiền nhiệm, các tàu tuần tra đề án 35 có khả năng cơ động tốt (sử dụng vũ khí có thể khi sóng biển cấp 4). Để giảm biên độ lắc trên tàu đã lắp các máy giảm rung. Thành quả chính trên tàu đề án 159 được giữ lại – tầm bơi xa lớn trên tốc độ tiết kiệm năng lượng – 2000 dặm. Các thí nghiệm thực hiện trong năm 1964, mặc dù các tính toán của các công trình sư đã xác nhận nhận được tốc độ cao (hơn 34 hải lý), tuy nhiên trong sự tăng công suất chung của thiết bị năng lượng theo so sánh với đề án 159 gần 12 000 sức ngựa có thể trông đợi là lớn. Các tính toán đã chỉ ra rằng, trong thiết bị năng lượng chính thường với các chân vịt, tốc độ tối đa có thể lên tới 40 hải lý.

Khi giữ lại các kích thước chính đề án 159, tàu tuần tra đề án 35 theo kiến trúc và bố cục được giới thiệu như trên tàu chống ngầm nhỏ đề án 204 với vũ khí gần các tàu đề án 159-A: 2 thiết bị pháo nòng đôi 76mm AK-726 với đài ra đa định vị điều khiển “Turel”, 4 RBU-2500 thay cho thiết bị ngư lôi 5 ống 400mm và 2 thiết bị RBU-6000 mới hơn. Thay cho đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Fut-N” đã lắp đài ra đa định vị “Rubka”, đài thủy âm được giữ lại như các tàu trước: “Titan” và “Vưchegda”. Ở phương Tây, các tàu này nhận tên gọi lớp Mirka.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #137 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2012, 12:22:55 am »

Các biến thể


Năm 1970, Phòng thí nghiệm Zelenodolsk đã được giao cho phương án nhiệm vụ kỹ chiến thuật thiết kế đề án nâng cấp tàu tuần tra đề án 35 với mục tiêu tăng cường vũ khí chống ngầm. Theo đề án này đã dự kiến: tháo thiết bị ngư lôi 400mm ở mạn tàu, bố trí bổ sung 2 RBU-6000 (mạn), còn đài thủy âm “Titan” với “Vưchegda” được thay mới: “Platina-MS” dưới mạn tàu và “Ros-K” lai. Trong giai đoạn từ 1973 đến năm 1978 đã nâng cấp 8 tàu. Các tàu trải qua nâng cấp nhận số hiệu đề án 35-M (phương tây – lớp Mirka-II).

Giá thành của các công việc này là rất cao theo tính toán lớn, không tương ứng với hiệu quả đã nhận được. Việc tiếp nhận đài thủy âm lai chỉ mang lại hiệu quả trên khu vực nước sâu lớn mà thực tế là ở các khu vực nước gần bờ biển Liên Xô là không thể. Trên các khu vực biển lớn và xa, nơi đảm bảo độ sâu hoạt động, các kích thước nhỏ của tàu không mang tới khả năng hiệu quả sử dụng đài thủy âm định vị lai do sóng trên các khu vực này.

Chương trình đóng tàu

Tàu đầu tiên đề án 35 nhận số hiệu sKR-7 được khởi công 26 tháng 1 năm 1964 ở xưởng đóng tàu “Yantar” tại Kaliningrad. Tàu hạ thủy 23 tháng 3 năm 1962, gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1964. Toàn bộ loạt 18 tàu được đóng ở xưởng này, tàu cuối cùng được bàn giao cho Hải quân năm 1967.

Tình hình năm 2005

Trong Hải quân Liên Xô, các tàu đề án 35 lúc đầu được phân loại như tàu săn ngầm lớn, sau đó là tàu chống ngầm nhỏ, tiếp sau – tàu tuần tra. 13 tàu gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 5 tàu còn lại hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội – tới Hạm đội Biển Đen. Các tàu SKR-48/6/13/17 trong thời gian chiến sự đã hoạt động trên biển Địa Trung Hải, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập.

Các tàu cuối cùng trong dòng bị loại khỏi biên chế trong những năm 1990 – 1991. Các tàu phục vụ lâu nhất là SKR-12/19/84 – chúng bị loại khỏi biên chế Hải quân năm 1992.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #138 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2012, 12:23:44 am »


Bố cục vũ khí trên tàu tuần tra đề án 35

1. Thiết bị pháo đa năng 76,2mm AK-726

2. Các thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000

3. Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Rurel”

4. Đài ra đa định vị đạo hàng “Vaigach”

5. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Fut-N”

6. Mũ chụp đài thủy âm dưới sống tàu “Titan”

7. Các thiết bị ngư lôi 5 ống phóng 400mm PTA-40-159 để bắn các ngư lôi chống ngầm

8. Các vị trí dự phòng cho các thiết bị RBU-6000 bổ sung

9. Đài bảo vệ thủy âm lai
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #139 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2012, 12:24:09 am »

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ SKR-39 (số hiệu xưởng 170); 19 tháng 5 anwm 1966 là PLK-39; 26 tháng 5 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kalinigrad; 31 tháng 5 năm 1962 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; hạ thủy 23 tháng 6 năm 1962; gia nhập biên chế 16 tháng 12 năm 1964; 22 tháng 1 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 1 tháng 10 năm 1974 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và lúc đầu neo đậu ở Baltic; 30 tháng 1 năm 1984 - ở Liepai; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể; năm 1991 bị đắm khi đang tháo máy móc và hệ thống ở gần cảng quân sự Liepai do các bộ phận thân đáy bị xuống cấp nặng;; sau đó được Hải quân Nga trục vớt và bán cho công ty Latvia để tháo kim loại.

+ SKR-20 (số hiệu xưởng 168); 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-20; 26 tháng 1 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 23 tháng 3 năm 1962; 31 tháng 5 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1964; 22 tháng 1 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 10-15 tháng 8 năm 1976 tới thăm Copenhagen (Đan Mạch); 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể.

+ SKR-7 (số hiệu xưởng 164); 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-7; tháng 1 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kaliningrad; 1 tháng 7 năm 1961 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 25 tháng 12 năm 1961; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1964; 22 tháng 1 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 1-6 tháng 9 năm 1978 thăm Copenhagen (Đan Mạch); 1 tháng 8 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể và năm 1988-1989 ở căn cứ “Glavvtorchermeta” ở Baltic tháo kim loại.

+ SKR-32 (số hiệu xưởng 169) đến 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-32; 21 tháng 3 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kaliningrad; 1 tháng 7 năm 1961 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1964; 22 tháng 1 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm ; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ phế liệu; 1 tháng 12 năm 1989 giải thể và năm 1990 bán cho công ty Thụy Điển tháo kim loại.

+ SKR-86 (số hiệu xưởng 171); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-44; 10 tháng 8 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kaliningrad; 28 tháng 8 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 31 tháng 8 năm 1962; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1964; 22 tháng 1 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 24-19 tháng 6 năm 1974 tới thăm Turla (Phần Lan); 20-24 tháng 7 năm 1978 – tới Gdania (Ba Lan); 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; năm 1991 bị đắm khi tháo máy và hệ thống ở gần cảng biển Baltic do các bộ phận đáy – thân bị xuống cấp nặng.

+ SKR-49 (số hiệu xưởng 172); 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-49; từ 2 tháng 8 năm 1968 là “Ivan Sladkov”; 17 tháng 10 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 15 tháng 6 năm 1962; 9 tháng 2 năm 1963 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 25 tháng 6 năm 1956; 15 tháng 7 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 5-10 tháng 6 năm 1974 tới thăm Goeteborg (Thụy Điển); 1 tháng 10 năm 1974 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và lúc đầu neo đậu ở Baltic, sau đó, từ 30 tháng 1 năm 1985 ở Liepai; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể; năm 1991 bị đắm khi tháo máy móc và hệ thống gần cảng Baltic do các bộ phận đáy – thân bị xuống cấp nặng.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM