Tàu tuần tra kiểu SKR-1 – Đề án 159 – Lớp Petya
Tổng số tàu đã đóng: 19
Các biến thể
+ 159 (lớp Petya-I) – đề án tàu chống ngầm cơ sở sản xuất hàng loạt với thiết bị tuabin khí – diesel (1961)
+ 159-A (lớp Petya-II) – các tàu loạt thứ hai với các thiết bị ngư lôi bổ sung và các thiết bị phóng bom phản lực mới (1966)
+ 159-M (biến thể lớp Petya-I) – tàu tuần tra nâng cấp với đài thủy âm lai “Vega” (1973)
+ 159-AE (lớp Petya-III) – biến thể tàu tuần tra xuất khẩu với thiết bị ngư lôi 533mm (những năm 1970).
Trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ hai, ở các vùng nước gần bờ, để dẫn các đoàn tàu hộ tống trong nước đã sử dụng rộng rãi các tàu săn ngầm các đề án khác nhau. Việc đóng tàu ăn ngầm lớn theo đề án 122-bis được bắt đầu từ trong thời gian Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, được tiếp tục và trong chương trình đóng tàu chiến 10 năm đầu tiên sau chiến tranh 1945-1955. Đề án thành công hạn chế này có hàng loạt các nhược điểm: tốc độ tối đa thấp, khả năng phòng không thấp trong những năm 1950. Vì thế, tới cùng giai đoạn này đã thực hiện một cách thường xuyên việc nghiên cứu theo thiết kế tàu săn ngầm mới hơn, nhận số hiệu đề án 159.. Tuy nhiên, sự phát triển liên tục các yêu cầu khả năng chiến đấu dẫn tới sự tăng đáng kể lượng choán nước và tìm thiết bị năng lượng chính nhẹ, mạnh để nhận được tốc độ cao, cần thiết để đối phó các tàu ngầm nguyên tử. Cuối cùng, thiết bị năng lượng chính đã được nghiên cứu trong dạng thiết bị tuabin khí – diesel.
Nhiệm vũ kỹ chiến thuật trong thiết kế tàu đề án 159 đã kết thúc bằng thiết kế trong 1955. Việc thiết kế được giao cho Phòng thiết kế Zelzenodlsk, tổng công trình sư của tàu là A.V.Kunakhovich, còn giám sát viên chính – thuyền trưởng cấp 2 N.D.Kondratenko. Nhiệm vụ chính của tàu – chống các tàu ngầm. Các công việc kết thúc đã kết thúc năm 1956.
Tới thời điểm kết thúc thiết kế, lượng choán nước của tàu tăng lên 900 tấn, mang tới cơ sở phân loại nó không phải tàu săn ngầm lớn, mà như tàu tuần tra. Trong quá trình thiết kế, lần đầu tiên trên thế giới và trong Hải quân Liên xô đã thiết kế ở xưởng tuabin phương Nam động cơ tuabin khí tăng lực M-2 công suất 15 000 sức ngựa. Thiết bị năng lượng chính của tàu tuần tra được tiếp nhận hoàn toàn ở dạng 3 trục. Trục giữa với động cơ diesel và chân vịt bước điều chỉnh, và các trục bên với các động cơ tuabin khí và chân vịt bước cố định. Ở tốc độ tối đa, toàn bộ các trục hoạt động, còn ở tốc độ tiết kiệm năng lượng chỉ có trục giữa hoạt động khi các trục bên quay tự do. Do thiết bị hành trình là 1 trục, để tăng cường khả năng cơ động trong hạm vi hẹp và khi cập bến đã tiếp nhận giải pháp về lắp thiết bị lái. Trên các tàu đầu tiên đã lắp các khí tài lái của công ty Đức “Pleiger”. Sau đó chỉ lắp các thiết bị do nội địa sản xuất. Đáng chú ý rằng việc chế tạo chân vịt bước điều chỉnh cho các tàu này lớp VR-159 có công suất 6000 sức ngựa dưới sự chỉ đạo của A.L.Luchanski cũng đã là thành công lớn trong ngành chế tạo máy nội địa.
Trong vai trò vũ khí chống ngầm chính trên tàu tuần tra đề án 159 đã quyết định sử dụng 2 pháo tự động 2 nòng 76,2mm AK-726 với đài ra đa định vị điều khiển “Fut-B”. Cơ sở vũ khí chống ngầm trên tàu mới, lần đầu tiên trong Hải quân Liên Xô đã lắp các ngư lôi chống ngầm loại nhỏ (1 thiết bị ngư lôi 5 ống 400mm, lắp trên bề mặt phẳng) và RBU-2500 ( theo 2 thiết bị ở mũi và mạn tàu). Trang bị kỹ thuật vô tuyến chính trên tàu là đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu chung “Fut-N” và 2 đài thủy âm – “Titan” và “Vưchegda”. Ăng ten của đài thủy âm được bố trí trong mũ chụp cố định “dạng ngư lôi” bố trí dưới sống tàu. Nắp chụp được chế tạo từ titan. Đây là kinh nghiệm đầu tiên tiếp nhận titan trong ngành đóng tàu.
Bố cục chung của tàu có đặc điểm rất hợp lý và được cân nhắc rất kỹ. Như ví dụ, buồng cho người ở có đặc điểm tiện nghi theo so sánh với các buồng tương tự trên các tàu khác. Các chuyên gia phương Tây đã xếp các tàu đề án 159 (ban đầu gọi là tàu chống ngầm trong Hải quân Liên Xô) vào lớp tàu chiến và gọi tên chúng là lớp Petya.
Mặc dù kích thước khiêm tốn, các tàu tuần tra đề án 159 có khả năng cơ động tốt (có thể sử dụng vũ khí khi sóng biển cấp 4). Để giảm các biên độ lắc trên tàu đã bố trí bộ giảm lắc. Tuy nhiên, thành công chính – tầm bơi xa lớn ở tốc độ tiết kiệm năng lượng (hơn 2200 dặm). Tàu dễ dàng đạt tốc độ tối đa trong các thí nghiệm khi sử dụng động cơ tuabin tăng lực hơn 33 hải lý. Thí nghiệm khai thác sử dụng đầu tiên của tàu tuần tra đã chỉ ra sự không thuận lợi được xác định trong việc sử dụng thiết bị năng lượng chính ba trục, đặc biệt trong chế độ tiết kiệm năng lượng hoặc khi dò tìm tàu ngầm, khi chân vịt lớn của trục bên tạo ra sức cản đáng kể và giảm mạnh tính tiết kiệm của toàn bộ thiết bị.
Với mũ chụp đài thủy âm của các tàu đề án 159 đã gây ra những sự khó chịu khác. Một số tàu đã bị hỏng (bị thương) các mũ chụp khi đỗ trên các bãi cạn. Trong thời gian xung đột Liên Xô – Trung Quốc những năm 1960, để bảo vệ khu vực sông Amur, Tư lệnh Hải quân đã ra lệnh nhanh chóng đưa đến sống một số tàu tuầ tra đề án 159. Tuy nhiên, đây là mệnh lệnh không được thực hiện, bởi vì lượng mớn nước tối đa của tàu với mũ chụp là lớn hơn so với tàu khu trục đề án 56. Như việc bơi của tàu này trên các bãi nông và cửa sông là không thể. Cùng với đó, các tàu đề án 159 (như ddeefans 35 tương tự nó) không có tàu tương tự của nước ngoài so sánh bằng, bởi vì tới thời điểm đó, chúng vượt trội bất kỳ tàu tuần tra lượng choán nước từ 1000 đến 2000 tấn trong Hải quân nước ngoài.