Tàu ngư lôi lớp “Bolsevich” – Đề án 183 – Lớp P-6
Tổng số tàu đã đóng: 420
Các biến thể
+ 183 (lớp P-6) – tàu nhỏ ngư lôi đóng loạt (1949)
+ 183-A – tàu ngư lôi với lớp vỏ bọc ngoài từ arktilit
+ 183-T (lớp P-8) – tàu ngư lôi thí nghiệm với động cơ tuabin khí (1951)
+ 183-TK (lớp P-10) – loạt tàu ngư lôi với động cơ tuabin khí bổ sung (1955)
+ 183-U – tàu ngư lôi thí nghiệm với 4 thiết bị ngư lôi và thiết bị năng lượng chính mới (1958)
+ 183-TU – đề án tàu nhỏ với 4 thiết bị ngư lôi và thiết bị tuabin khí
+ 183-T2 – đề án tàu ngư lôi đề án 183-TU hiện đại hóa với thiết bị năng lượng mới và 3 thiết bị pháo phòng không
+ 183-Ts - tàu mục tiêu điều khiển vô tuyến (1953)
+ 183-Sh – phiên bản tàu tham mưu
+ 183-E – tàu nhỏ tên lửa thí nghiệm với 2 tên lửa chống tàu P-15 (1957)
+ 183-P (lớp Komar) – dòng tàu nhỏ tên lửa nội địa đầu tiên (1959)
+ 199 – tàu săn ngầm nhỏ đóng loạt (1955)
+ 183-Ya2, 183-Ya3 – các đề án tàu nhỏ với các động cơ diesel kiểu M503.
Các tàu ngư lôi loại lớn đề án 183 trong nhiều năm là kiểu tàu ngư lôi cơ sở của Liên Xô, được chế tạo vào cuối những năm 40 của thế kỷ trước. Việc thiết kế tàu ngư lôi này được giao cho tập thể Phòng thiết kế đặc biệt (OKB-5) thuộc NKVD (Dân ủy Nội vụ Liên Xô) – trong những năm đầu sau chiến tranh được bố trí ở khu vực xưởng đóng tàu số 5, đồng thời cho các chuyên gia phòng thiết kế thuộc cơ quan (xí nghiệp này). Tổng công trình sư của đề án được giao cho P.G.Goinkis. Đề án tàu mới được lựa chọn trong sự kết hợp đồng thời kinh nghiệm chế tạo và sử dụng chiến đấu trong giai đoạn Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại các tàu ngư lôi Mỹ lớp “Wosper”, “Elko” và “Higgins” được viện trợ khi đó theo Hiệp ước Lend-Lizơ. Các tàu này đã thể hiện tốt trong các điều kiện chiến đấu, ngoài ra, chúng có không ít các giải pháp kỹ thuật tốt.
Trong sự tương ứng với đề án kỹ thuật, các tàu này là “lớn, không có đáy lướt (безреданная, nửa tàu trượt (полуглиссирующая), với đường bao gò nhọn”. Vật liệu thân tàu là gỗ. Tàu được trang bị mui và đài chỉ huy bọc thép dàu 7mm. Lượng dãn nước 66,5 tấn. Thiết bị năng lượng diesel 4 trục (các động cơ nội địa M-50F), tổng công suất 4800 sức ngựa, đảm bảo đạt tốc độ tối đa 43…44 hải lý. Tốc độ tuần tra – 33 hải lý với tầm bơi xa 600 dặm (trữ lượng nhiên liệu – 10,3 tấn), còn ở tốc độ 14 hải lý, tầm bơi xa – 1000 dặm.
Vũ khí của tàu gồm có 2 thiết bị ngư lôi 1 ống phóng trên boong, bố trí theo thành tàu dưới góc 3 độ theo mặt phẳng boong; 2 pháo phòng không tự động 25mm 2M-3 (cơ số đạn 2000 viên). Ngoài ra, tàu có thể mang theo các bom chìm BB-1 (8 ) hoặc các mìn chống tàu KB-3 (6), mìn đáy (AMD-500 – 8 ) hoặc 18 mìn đáy AMD-500 thay cho ngư lôi. Trong thành phần trang bị vô tuyến điện gồm có đài ra đa định vị “Zarnitsa”, đài nhận dạng “Fakel-M” và 2 đài vô tuyến điện. Ngoài ra, có thiết bị (phun) khói DA-7 và 4 (khối) đạn khói MDSh. Trong trang bị hoa tiêu gồm có các khí tài “Girya”, la bàn GKMK-4 (hoặc DKGMK-3), “Reis-44” và máy lái tự động “Zubatka”.
Đề đơn giản hóa việc di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước, cột buồm của tàu được chế tạo theo dạng nghiêng, giảm đáng kể kích thước chiều cao.
Mặc dù có hang loạt ý kiến nhận xét tiêu cực xuất hiện trong quá trình thí nghiệm cấp nhà nước, tàu ngư lôi đề án 183 với một số sự bổ sung và đóng với số lượng lớn từ năm 1952 đến 1960. Còn theo ý kiến các thủy thủ, tàu được đánh giá là thành công và vì thế trở thành “cơ sở” không chỉ khi chế tạo hang loạt các biến thể, mà còn khi thiết kế đề án tàu tên nhỏ lửa đầu tiên trên thế giới (đề án 183-R).