Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:10:06 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3  (Đọc 201590 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #260 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2012, 12:03:46 am »

+ MPK-84; từ 10 tháng 7 năm 1980 là SM-261; số hiệu xưởng 103; 13 tháng 2 năm 1960 ghi tên vào danh sách Hải quân; 20 tháng 8 năm 1960 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; hạ thủy 23 tháng 8 năm 1961 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy nội bộ tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 22 tháng 9 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 28 tháng 5 năm 1980 loại khỏi biên chế chiến đấu, tháo vũ khí và cải tạo thành tàu mục tiêu để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ chiến đấu; 10 tháng 9 năm 1986 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo dỡ, sau đó tháo kim loại ở Murmansk.

+ MPK-150; số hiệu xưởng 104; 22 tháng 7 năm 1960 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk thuộc nước Cộng hòa Xô viết Tartastan; 7 tháng 4 năm 1961 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 6 tháng 9 năm 1961, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy nội bộ tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 20 tháng 6 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 1 tháng 7 năm 1986 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1986 giải thể.

+ MPK-166; số hiệu xưởng 105; 21 tháng 3 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 340 tại Zelenodolsk; 7 tháng 4 năm 1961 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 4 tháng 12 năm 1961; mùa xuân năm 1962 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 20 tháng 6 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 1 tháng 8 năm 1980 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ, sau đó tháo kim loại ở Riga.

+ MPK-156; số hiệu 106; 12 tháng 6 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 16 tháng 2 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 25 tháng 4 năm 1962; mùa hè năm 1962 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 31 tháng 5 năm 1984 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1984 giải thể và nhanh chóng tháo kim loại ở Murmansk.

+ MPK-13; số hiệu xưởng 107; 30 tháng 8 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 16 tháng 2 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 4 tháng 7 năm 1962 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodivinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 23 tháng 7 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 25 tháng 5 đến 23 tháng 7 năm 1976 và từ 23 tháng 4 năm 1981 ở xưởng số 82 ở cảng Roslyakovo trải qua trung tu và đại tu; 25 tháng 6 năm 1985 do không có tài chính để tiếp tục sửa chữa, bị loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1985 giải thể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #261 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2012, 12:04:04 am »

+ MPK-45; số hiệu xưởng 108; 18 tháng 11 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 16 tháng 2 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 6 tháng 8 năm 1962, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 1 tháng 10 năm 1972 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk; 1 tháng 8 năm 1980 tháo niêm cất và trở lại biên chế; từ 1 tháng 3 năm 1989 ở xưởng số 33 tại Baltic trải qua đại tu; 19 tháng 4 năm 1990 do không có kinh phí, bị loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và nhanh chóng tháo kim loại ở Baltic.

+ MPK-50; số hiệu xưởng 109; 9 tháng 11 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 16 tháng 2 năm 1962 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 9 tháng 11 năm 1962; mùa hè năm 1963 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1963; 18 tháng 6 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 30 tháng 10 năm 1966 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk; 1 tháng 8 năm 1980 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 10 tháng 10 năm 1990 giải thể và neo đậu ở Ust-Dvinsk, nơi sau đó bị đắm do các thiết bị đáy và thân xuống cấp nặng; sau đó được phía Nga trục vớt và bán cho công ty Latvia để tháo kim loại.

+ MPK-55; số hiệu xưởng 110; 18 tháng 2 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 6 tháng 4 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 28 tháng 10 năm 1962; mùa hè năm 1963 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1964; 18 tháng 7 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 1 tháng 11 năm 1977 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk; 1 tháng 6 năm 1986 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1991 giải thể và nhanh chóng tháo kim loại ở Riga.

+ MPK-70; số hiệu xưởng 111; tháng 3 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 1 tháng 7 năm 1963 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy cuối năm 1963, mùa xuân năm 1964 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế mùa thu năm 1964; 26 tháng 10 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 1 tháng 10 năm 1972 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể, bị đắm do các thiết bị đáy – thân xuống cấp nặng khi đang đậu ở Ust-Dvinsk; sau đó được phía Nga trục vớt và bán cho công ty Latvia để tháo kim loại.

+ MPK-63; số hiệu xưởng 112; 11 tháng 4 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 6 tháng 4 năm 1963 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 15 tháng 8 năm 1963, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 8 năm 1964; 15 tháng 9 năm 1964 tạm thời gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; mùa thu năm 1964 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk; 11 tháng 11 năm 1964 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 24 tháng 10 năm 1972 đến 24 tháng 4 năm 1974 ở xưởng số 82 ở cảng Poslyakovo trải qua trung tu; 1 tháng 10 năm 1981 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và neo đậu ở vịnh Dolgo-Zapad; 1 tháng 6 năm 1984 tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 26 tháng 6 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân, khi neo đậu ở vịnh “hồ Chervian” đã bị đắm do các thiết bị đáy thân xuống cấp nặng.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #262 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2012, 05:42:54 pm »

+ MPK-21; số hiệu xưởng 113; 8 tháng 6 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodosk; 3 tháng 3 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 12 tháng 6 năm 1963, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 15 tháng 12 năm 1964; 22 tháng 1 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen. Mùa hè năm 1965, di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Sevastopo tới biển Trắng; 24 tháng 6 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 18 tháng 10 năm 1973 đến 27 tháng 5 năm 1974 ở xưởng số 82 trên cảng Roslyakovo trải qua trung tu; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk.

+ MPK-23; số hiệu xưởng 114; 15 tháng 10 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 3 tháng 3 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 23 tháng 7 năm 1963 và nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 23 tháng 12 năm 1964; 22 tháng 1 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 1 tháng 10 năm 1975 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk; 4 tháng 8 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể và sau đó bị đắm ở Ust-Dvinsk khi đang neo đậu do đáy và thành tàu xuống cấp nặng; sau đó phía Nga trục vớt và bán cho công ty Latvia tháo kim loại.

+ MPK-27; số hiệu xưởng 115; 22 tháng 2 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 3 tháng 3 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 5 tháng 11 năm 1963; mùa hè năm 1964 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1965; 15 tháng 7 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể và tháo kim loại ở Riga.

+ MPK-25; số hiệu xưởng 116; 23 tháng 2 năm 1965 khởi công trên xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 7 tháng 7 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 30 tháng 4 năm 1964, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 28 tháng 9 năm 1965; 2 tháng 10 năm 195 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 1 tháng 10 năm 1986 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và nhanh chóng tháo kim loại ở Riga.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #263 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2012, 12:13:50 am »

+ MPK-29; số hiệu xưởng 117; 16 tháng 5 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 7 tháng 7 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 3 tháng 6 năm 1964, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1965; 21 tháng 10 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; mùa hè năm 1966 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Sevastopol tới Leningrad; 20 tháng 8 năm 1966 ghi tên vào biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể.

+ MPK-18; số hiệu xưởng 118; 27 tháng 7 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 27 tháng 1 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 2 tháng 9 năm 1964, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 16 tháng 12 năm 1965; 11 tháng 1 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; mùa hè năm 1966 di chuyển từ Leningrad tới biển Trắng; 20 tháng 8 năm 1966 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 3 tháng 11 năm 1983 tới 15 tháng 11 năm 1984 ở xưởng số 82, tại cảng Roslyakovo trải qua trung tu; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể, năm 1998 bị đắm ở vịnh hồ Chervyan do các thiết bị đáy, thân bị xuống cấp nặng.

+ MPK-54; số hiệu xưởng 119; 6 tháng 11 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 340 ở Zelenodolsk; 27 tháng 1 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 17 tháng 11 năm 1964; tháng 5 năm 1965 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 24 tháng 12 năm 1965; 11 tháng 1 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; mùa hè năm 1966 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Sevastopol tới biển Trắng; 20 tháng 8 năm 1966 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 7 tháng 10 năm 1975 đến 10 tháng 6 năm 1977 và từ 26 tháng 3 đến 12 tháng 7 năm 1985 ở xưởng số 82 tại cảng Roslyakovo trải qua đại tu và trung tu; 26 tháng 6 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 11 năm 1988 giải thể và nhanh chóng bị đắm ở vịnh hồ Chervyan do các thiết bị thân, đáy xuống cấp nặng.

+ MPK-74; số hiệu xưởng 120; 13 tháng 1 năm 1964; khởi công trên ụ xưởng số 340 tại Zelenodolsk; 21 tháng 5 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 2 tháng 6 năm 1965, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1966; 18 tháng 7 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 1 tháng 11 năm 1977 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk; 1 tháng 6 năm 1986 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1991 giải thể và nhanh chóng tháo kim loại ở Riga.

+ MPK-80; số hiệu xưởng 121; 23 tháng 3 năm 1964 khởi công trên ụ xưởng số 340 tại Zelenodolsk; 21 tháng 5 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 5 tháng 7 năm 1965, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 10 tháng 8 năm 1966; 6 tháng 9 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 4 tháng 3 năm 1970 chuyển sang biên chế Hạm đội Phương Bắc; mùa xuân năm 1970 di chuyển từ Baltic tới biển Trắng; 28 tháng 2 năm 1986 trở lại biên chế Hạm đội Baltic; 4 tháng 5 năm 1989 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1989 giải thể và tháo kim loại ở Riga.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #264 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2012, 12:14:31 am »

+ MPK-86; số hiệu xưởng 122; 15 tháng 6 năm 1964 khởi công trên ụ xưởng số 340 tại Zelenodolsk; hạ thủy 19 tháng 7 năm 1965; 6 tháng 1 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân; mùa hè năm 1966 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 27 tháng 9 năm 1967; 8 tháng 10 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 13 tháng 2 năm 1968 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc và mùa xuân năm 1968 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Azov tới biển Trắng; trong giai đoạn từ 10 tháng 6 năm 1977 tới 27 tháng 11 năm 1985 ở xưởng số 82 tại Roslyakovo trải qua đại tu; 20 tháng 6 năm 1987 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể và tháo kim loại ở Murmansk.

+ MPK-90; số hiệu xưởng 123; 21 tháng 9 năm 1964 khởi công trên ụ xưởng số 340 tại Zelenodolsk; hạ thủy 18 tháng 11 năm 1965; 6 tháng 1 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân; mùa hè năm 1966 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 26 tháng 11 năm 1966; 12 tháng 12 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 10 tháng 7 năm 1986 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1986 giải thể, sau đó bị đắm khi đang neo đậu ở vịnh hồ Chervyan do các thiết bị đáy, thân xuống cấp nặng.

+ MPK-92; số hiệu xưởng 124; 8 tháng 7 năm 1965 khởi công trên ụ xưởng số 340 tại Zelenodolsk; 6 tháng 1 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân, hạ thủy 24 tháng 5 năm 1966, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 24 tháng 12 năm 1966; 7 tháng 1 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 1 tháng 10 năm 1975 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ, sau đó bị đắm khi đang đậu ở Ust-Dvinsk do các thiết bị đáy, thân xuống cấp nặng; sau đó được phía Nga trục vớt và bán cho công ty Latvia tháo kim loại.

+ MPK-95; số hiệu xưởng 125; mùa thu năm 1965 khởi công trên ụ xưởng số 340 tại Zelenodolsk; hạ thủy đầu năm 1966; 20 tháng 4 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân; mùa hè năm 1966 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên ché 29 tháng 6 năm 1967; 20 tháng 7 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 26 tháng 6 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 9 năm 1988 giải thể, sau đó bị đắm ở vịnh hồ Chervyan do các thiết bị đáy, thân bị xuống cấp nặng.

+ MPK-97; số hiệu xưởng 126; 1 tháng 3 năm 1966 khởi công trên ụ xưởng số 340 tại Zelenodolsk; 20 tháng 4 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 17 tháng 9 năm 1966; mùa xuân năm 1967 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 31 tháng 8 năm 1967; 14 tháng 9 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và nhanh chóng tháo dỡ kim loại ở Riga.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #265 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2012, 12:14:49 am »

+ MPK-83; số hiệu xưởng 127; 5 tháng 5 năm 1966 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; hạ thủy 2 tháng 11 năm 1986; 12 tháng 1 năm 1967 ghi tên vào danh sách Hải quân; mùa xuân năm 1967 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 9 nắm 1967; 13 tháng 10 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; mùa thu năm 1967 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ biển Azov tới Baltic; 14 tháng 12 năm 1967 ghi tên vào biên chế Hạm đội Baltic; 10 tháng 7 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 8 năm 1991 giải thể và nhanh chóng tháo kim loại ở Riga.

+ MPK-94; số hiệu xưởng 128; 12 tháng 7 năm 1966 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; 12 tháng 1 năm 1967 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 29 tháng 1 năm 1967 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1967; 26 tháng 12 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 1 tháng 8 năm 1980 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; sau đó bị đắm ở Ust-Dvinsk do các thiết bị đáy thân bị xuống cấp nặng; sau đó được phía Nga trục vớt và bán cho công ty Latvia tháo kim loại.

+ MPK-98; số hiệu 129; 21 tháng 9 năm 1966 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; 12 tháng 1 năm 1967 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 6 tháng 5 năm 1967; mùa hè năm 1967 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1967; 11 tháng 1 năm 1968 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 15 tháng 7 năm 1968 chuyển biên chế sang Hạm đội Baltic, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Azov tới Baltic; 20 tháng 6 năm 1988 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1988 giải thể.

+ MPK-102; số hiệu xưởng 130; 11 tháng 11 năm 1966 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; 12 tháng 1 năm 1967 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 30 tháng 6 năm 1967, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy nội bộ tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1968; 25 tháng 7 năm 1968 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1991 giải thể.

+ MPK-119; số hiệu xưởng 131; 20 tháng 3 năm 1967 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; hạ thủy 5 tháng 11 năm 1967; 12 tháng 1 năm 1968 ghi tên vào danh sách Hải quân, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 25 tháng 9 năm 1968; 21 tháng 10 năm 1968 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; mùa xuân năm 1968 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Azov tới Baltic; 23 tháng 12 năm 1968 ghi tên vào danh sách Hạm đội Baltic; 1 tháng 10 năm 1986 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Ust-Dvinsk; 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1991 giải thể, sau đó bị đắm khi đang neo đậu ở Ust-Dvinsk do các thiết bị đáy, thân xuống cấp nặng; sau đó được Nga trục vớt và bán cho công ty Latvia để tháo kim loại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #266 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2012, 12:15:07 am »

Các thông số kỹ chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 439

+ hoàn toàn: 555

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 58,3 (56)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 8,17 (7,85)

+ lượng mớn nước lớn nhất: 3,09

Thiết bị năng lượng chính: thiết bị tuabin khí – diesel, tổ hợp tuabin khí D2

+ 2 máy nén tuabin khí D-2K, tổng công suất, sức ngựa (kW): 30 000 (22 050)

+ 2 động cơ diesel M-504, tổng công suất, sức ngựa (kW): 6 600 (4850)

2 trục; 2 bánh lái chân vịt trong các ống trong với sự tăng áp

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 35

+ tiết kiệm năng lượng: 14

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 2500 (14)

Thời gian hoạt động, ngày: 7

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 54 (5).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #267 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2012, 12:23:02 am »

Vũ khí

Pháo

+ thiết bị pháo 57mm AK-725 hoặc ZiF-31B (trên 2 tàu đầu tiên): 1x2

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 400mm OTA-40-204: 4x1

+ đạn ngư lôi SET-40: 4

Chống ngầm

+ RBU-6000 “Smerch-2” (trên 2 tàu đầu tiên – RBU-2500): 2x12

+ đạn RGB-60: -

Mìn

+ có thể mang theo mìn trên boong trên: 18 (thay cho bom chìm).

Trang bị vô tuyến điện

Đài ra đa định phát hiện mục tiêu tổng hợp: 1xMR-302 “Rubka” (Strut Curve)

Đài ra đa định vị đạo hàng: 1x”Vaigach” (Don-2 hoặc Spin Trough)

Đài thủy âm: “Hercules-2M”

Các khí tài tác chiến điện tử: “Bizan-4B” (2 Watch Dog)

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực: 1xMR-103 “Bars” (Muff Cob) cho pháo 57mm

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại: (High Pole B).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #268 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2012, 12:01:36 am »

Các tàu chống ngầm kiểu MPK-17 – Đề án 1124 “Albatros” – Lớp Grisha


Tổng số tàu đã đóng: 43

Các biến thể

+ 1124 (lớp Grisha-I) – đề án tàu chống ngầm loại nhỏ cơ sở (1970)

+ 1124 (lớp Grisha-III) – lắp bổ sung tổ hợp pháo phòng không AK-630 (1970)

+ 1124-P (lớp Grisha-II) – tàu tuần duyên biên phòng với pháo 57mm thay cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M” (1973)

+ 1124-K (lớp Grisha-IV) – tàu chống ngầm loại nhỏ thí nghiệm để thí nghiệm tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”

+ 1124-M (lớp Grisha-V) – tàu chống ngầm loại nhỏ nâng cấp với trang bị pháo và đài ra đa định vị mới (1982)

Năm 1963, ở Phòng thiết kế trung ương số 340 tại Zelenodolsk đã có các thí nghiệm chế tạo tàu tuần duyên chống ngầm (PLO) thế hệ thứ nhất và thứ hai, nhiệm vụ kỹ chiến thuật thiết kế tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1124 (mã số “Albatros”) đã được đưa ra, được sử dụng để bảo vệ các căn cứ Hải quân, vị trí (địa điểm) đóng quân, bến đỗ tàu, đồng thời để bảo đảm chống ngầm bảo vệ các tàu và tàu vận tải khi hoạt động trên biển. Tháng 6 năm 1964, Hải quân và Bộ Công nghiệp đóng tàu Liên Xô đã nghiên cứu đề án sơ bộ tàu chống ngầm loại nhỏ “Albatros”.

Khi thiết kế đề án mới, tập thể dưới sự chỉ đạo của tổng công trình sư Yu.A.Nikolski, bằng kinh nghiệm thiết kế đã trang bị cho tàu chống ngầm loại nhỏ và lượng choán nước trung bình rất khác thường. Trong trường hợp này, khi “sự đơn giải đối với trí tưởng tượng” của những người thiết kế đã bị hạn chế rất nhiều bởi nhiệm vị kỹ chiến thuật cụ thể, được xác định không chỉ ở thành phần vũ khí (đài thủy âm nhìn vòng “Argun” với ăng ten trong mũ chụp dưới sống tàu, đài thủy âm hạ “Shelon”, 2 thiết bị ngư lôi 2 ống phóng 533mm, 2 thiết bị phóng bom phản lực, thiết bị pháo 57mm để tự vệ), đồng thời ước định trước kiểu thiết bị năng lượng chính và hạn chế lượng choán nước của tàu trong khối lượng 800 tấn. Sự giám sát thiết kế từ Hải quân là cộng tác viên Viện nghiên cứu khoa học trung ương đóng tàu quân sự - thuyền trưởng cấp 2 I.V.Kozlovski, đồng thời tham gia trong việc nghiên cứu nhiệm vụ kỹ chiến thuật.

Sự cần thiết hỗ trợ dài trong tốc độ tìm kiếm không cao và các khả năng trong trường hợp cần thiết đạt tốc độ tối đa gần 35 hải lý được xác định cho tàu chống ngầm loại nhỏ là thiết bị động cơ diesel-tuabin khí 3 trục tối ưu của thiết bị năng lượng chính. Vấn đề được đặt ra cho mẫu tiếp nhận chiến đấu của tàu: nghe trong khi di chuyển, “trinh sát thủy âm” “khi dừng” khi có sự hỗ trợ của đài thủy âm thả (hạ), phát hiện mục tiêu ngầm và bước “nhảy” nhanh một cách tối đa tới khu vực xác định có mục tiêu phỏng đoán để thực hiện cuộc tấn công sau.

Các trục bên sẽ quay bằng 2 động cơ diesel M-507A công suất mỗi động cơ 10 000 sức ngựa, còn trục giữa – GTU-8 công suất 18 000 sức ngựa. Cũng như dưới (bằng) động cơ tuabin khí, cũng như bằng 2 động cơ diesel, tàu đạt tốc độ 20 hải lý. Trong chế độ hoạt động bằng động cơ diesel, tầm bơi xa ở tốc độ 18 hải lý không thấp hơn 2500 dặm, còn ở tốc độ tối đa khi cả 3 động cơ cùng hoạt động – 35. Hệ thống năng lượng điện của tàu có tổng công suất 1000 kW được tạo ra từ 3 máy phát điện – diesel công suất 200, 300 và 500 kW.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #269 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2012, 12:01:53 am »

Sự chú ý chính của các nhà thiết kế tập trung vào tối ưu hóa tốc độ và khả năng đi biển của tàu, được cung cấp bởi mũ chụp dưới sống tàu chính lớn của đài thủy âm. Mũ chụp này do các kích thước của nó đã chỉ ra sự định tâm và chất lượng di chuyển “của thân chính” có chiều dài theo vạch mớn nước thiết kế 66 mét và rộng 9,3 mét. Cac chuyên gia Phòng thiết kế trung ương số 340 đã thiết kế hình dáng khác thường đối với phần dưới thân tàu, có lợi cho ưu thế phối hợp của thân tàu sắc và tròn, còn cho thành nổi, để giảm ngập và văng đã thiết kế hình dáng phức tạp với “vành” dọc được làm bằng – các gờ. Trong bể thí nghiệm của Viện nghiên cứu khoa học trung ương mang tên Viện sĩ Krưlov đã thực hiện một số loạt thí nghiệm lai dắt, khẳng định chất lượng tốc độ của các đường bao thiết kế. Tình trạng của tàu trên song liên tục và không liên tục, đồng thời sự ngập và văng đã được nghiên cứu trên mô hình động. Thượng tầng liền, kéo dài trong sự kết hợp với thiết kế phi truyền thống được tiếp nhận để tăng cường thành tàu nổi, nhưng không ảnh hưởng đến chiều cao thành tàu, nhờ đó không chỉ tăng khả năng cơ động trên biển, mà còn cho phép nhận được thể tích bổ sung bên trong thân tàu. Đây là việc rất có lợi, khi sau nghiên cứu đề án sơ bộ, bằng quyết định chung của Hải quân và Bộ công nghiệp đóng tàu, Phòng thiết kế trung ương số 340 đã nhận được bố trí trên tàu tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ (tầm gần) “Osa-M” với cơ số 20 đạn tên lửa 9M33. Ban đầu, thiết bị phóng ZiF-122 được tháo, dự định lắp ở mạn tàu, di chuyển tới mũi pháo tự động nòng đội 57mm AK-725 (giải pháp này được cho là cần thiết một cách cứng rắn bởi nhà thiết kế “Osa-M” gần với thiết bị phóng bên cạnh với “đài bắn” của tổ hợp 4K33).

Kết quả trong đề án kỹ thuật được thực hiện năm 1965 đã thành công trong việc thực hiện toàn bộ các yêu cầu kỹ chiến thuật của Hải quân, đã chế tạo theo thời gian đó vũ khí không tồi, tàu chuyên dụng tốc độ cao và khả năng cơ động tốt (như đã chỉ ra) để tìm kiếm và tiêu diệt tàu ngầm gần bờ và “nằm” trong lượng choán nước hoàn toàn 900 tấn. Tìm kiếm, phát hiện và phân loại các mục tiêu ngầm, cung cấp sự chỉ thị mục tiêu cho hệ thống chỉ huy – điều khiển “Drakon-1124” được thực hiện bởi đài thủy âm “Argun” và đài thủy âm thả “Shelon” (đài thủy âm “Argun” được giới thiệu là “phiên bản thấp” của đài thủy âm “Titan” được chế tạo cho các tàu chống ngầm lớn lớp “Berkut” đề án 1134-A và tàu tuần duyên cấp 2 “Burevestnik” đề án 1135). Tấn công tàu ngầm bị phát hiện có thể được thực hiện bằng các ngư lôi tự dẫn bắn “Enot-2” (hoặc SET-65) từ các thiết bị ngư lôi 2 ống phóng không cố định DTA-53-1124 cũng như bằng các bom phản lực RGB-60, bắn từ 2 thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000, 2 thiết bị phóng 12 nòng được bố trí theo thành tàu ở phần mũi của thượng tầng, còn bố trí dưới trúng là 96 bom phản lực RGB-60. Để bảo vệ tàu khỏi tàu loại nhỏ và xuồng máy của địch, đồng thời tiêu diệt các mục tiêu trên không, sử dụng tổ hợp pháo AK-725 trong thành phần thiết bị pháo tự động 57mm, bố trí ở mạn tàu, và hệ thống ra đa định vị điều khiển bắn “Bars” MR-103. Nhiệm vụ tiêu diệt mục tiêu đơn lẻ đồng thời được giải quyết bằng tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M”, mà trong thành phần của nó gồm có hệ thống điều khiển 4R33, thiết bị phóng 2 thùng ZiF-122 (bố trí trong tư thế không hoạt động dưới boong là thùng trong “cốc” thiết bị phóng) với hệ thống cung cấp và nạp đạn 20 tên lửa điều khiển 9M33. Việc phát hiện các mục tiêu trên không và nổi, đồng thời chỉ thịch mục tiêu cho tổ hợp tên lửa phòng không được thực hiện bằng đài ra đa định vị MR-302 “Rubka”.

Việc đống loạt tàu chống ngầm loại nhỏ lớp “Albatros” phê duyệt bởi mệnh lệnh từ Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô và Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô số 680-280 mùng 10 tháng 8 năm 1964, tuy nhiên đề án kỹ thuật thỏa hiệp 1124, được hiệu chỉnh theo các kết quả các thí nghiệm đầu năm 1970 của tàu đầu tiên, chỉ được hình thành trong năm 1972. Lượng choán nước hoàn toàn của tàu chống ngầm loại nhỏ là 940 tấn. Từ thành nổi “vành” phác họa, dư thừa trong thiết kế thân phức tạp và công nghệ chế tạo chúng đã được chỉ ra khi nghiên cứu tài liệu làm việc, một vào sự đơn giản hóa được áp dụng trên bộ phận thân tàu. Sự sản xuất loạt tàu chống ngầm loại nhỏ đã đáp ứng hoàn toàn các câu hỏi nhiệm vụ đặt ra cho nó. Tốc độ tối đa của tàu khi hoạt động trên động cơ diesel và tuabin khí là 35 hải lý. Bằng cách này, khi ở công suất gần như giống công suất thiết bị năng lượng chính với đề án 204, tàu chống ngầm loại nhỏ có cùng tốc độ này với lượng choán nước lớn hơn đáng kể.

Các tàu mới được sử dụng tốt trong các Hạm đội, nơi chúng trở thành lực lương bảo vệ khu vực mặt nước chính. Các chuyên gia NATO gọi chúng dưới tên “lớp Grisha”. Mặc dù có nhiệm vụ hạn chế ban đầu, các tàu chống ngầm loại nhỏ “Albatros” thuộc Hạm đội Biển Đen được sử dụng hoạt động phục vụ chiến đấu trên biển Địa Trung Hải. Sự kiện này nói về việc chất lượng chiến đấu của chúng không hề tồi. Tuy nhiên, việc khai thác sử dụng các tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1124 đã xuất hiện các nhược điểm của chúng mà rõ ràng, không có trên bất kỳ đề án nào khác. Nhược điểm chính là khả năng đi biển không đạt yêu cầu, đặc biệt là ở biển Bắc, trước hết là ở đáy, là kết quả của nguồn gốc “tàu loại nhỏ” các đường bao thân tàu và sự xuất hiện ăng ten thủy âm dưới sống tàu quá lớn.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM