Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:28:20 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3  (Đọc 201580 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #330 vào lúc: 28 Tháng Mười Một, 2012, 12:40:07 am »

Các biến thể

Tàu đệm khí động dân sự “Orlenok”

“Orlenok” – không chỉ là vũ khí uy lực mạnh mà còn là phương tiện vận tải siêu kinh tế. Tổng cộng, nó có thể chở được 150 hành khác, tương đương với máy bay 4 động cơ Tu-144, khi bay chỉ sử dụng 1 (?) động cơ so với Tu-144. Nó có thể hoạt động trên các tuyến giao thông liên tục, vận chuyển hành khác hoặc được sử dụng như tàu vận tải – chở khách tốc độ cao, vận chuyển hàng hóa và các ê kíp để cho các thiết bị khoan nổi, tàu đánh cá và các trạm vùng cực (hạ cánh trên các tảng băng trôi).

Tàu đệm khí động thăm dò địa chất biển Bắc Cực

Biến thể của “Orlenok” – Tàu đệm khí động nghiên cứu khoa học thăm dò địa chất Bắc Cực được thiết kế một cách tích cực. Ngoài những thay đổi trong thiết kế thông thường để chuyển từ quân sự sang phiên bản dân sự (tháo vũ khí và trang bị dành cho đổ bộ), ở mạn tàu lắp động cơ tốc độ thấp – chân vịt trên bộ đệm – với bộ dẫn động từ động cơ diesel. Ở phần cuối mạn tàu có các cửa mở và bố trí các trang bị chuyên dụng; thủy phi cơ có thể lấy các mẫu ở đáy biển, thực hiện thăm dò âm thanh địa chấn, thăm dò từ trường và phân tích trọng lượng.

Tàu đệm khí động chống ngầm

Hiện nay còn lại đề án tàu đệm khí động chống ngầm không được thừa nhận, trang bị hệ thống thủy âm mạnh (hiện nay, mẫu vũ khí duy nhất này chỉ có thể nhìn thấy ở bảo tang của Phòng thiết kế trung ương theo tàu cánh ngầm).

Hệ thống tìm kiếm cứu nạn trên không – trên biển

Liên hiệp khoa học sản xuất (NPO) “Phòng thiết kế trung ương về tàu cánh ngầm mang tên R.E.Alekseev” cùng với tổ hợp khoa học kỹ thuật hàng không (ANTK) mang tên Antonov đã thiết kế đề án hệ thống tìm kiếm cứu nạn trên không – trên biển (AMPSS) duy nhất. Trên “lưng” máy bay – người khổng lồ An-225 lắp phiên bản cứu nạn “Orlenok”, có bán kính hoạt động được tăng cường và trang bị toàn bộ những thiết bị cần thiết để hỗ trợ người trên biển (phòng cấp cứu, giường bệnh…). Máy bay – thiết bị mang chở tàu đệm khí động tới chỗ tai nạn với tốc độ 700km/h. Sau đó, “Orlenok” khởi động các động cơ của nó, khởi động từ An-225, hạ thấp và hạ xuống nước gần tàu cấp cứu ở khu vực tai nạn. Nhờ thiết kế có độ vững chắc lớn, tàu đệm khí động có thể trụ được trên sóng mạnh, có hại đối với các loại thủy phi cơ, còn trữ lượng nhiên liệu cho phép nó hoạt động thực tế ở địa điểm bất kỳ trên đại dương thế giới (toàn bộ nhiên liệu chỉ bị tiêu thụ khi trở về cảng gần nhất). Hệ thống này cho phép hoạt động trên các vùng cực – tàu đệm khí động có khả năng hạ cánh trên băng. Hệ thống này có thể chở hàng khẩn cấp cho người thám hiểm ở vùng cực. Nhưng vào cuối những năm 80, nguồn tài chính để thực hiện đề án này ở Liên Xô không tìm được. Nếu hệ thống này xuất hiện, thì phần lớn thủy thủ đoàn tàu “Komsomolets” đã được cứu, bởi vì phần lớn trong số họ đã hy sinh do quá lạnh ở vùng nước lạnh của biển Bắc.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #331 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2013, 12:49:10 am »

Tàu tuần dương tên lửa lớp “Kirov”




Đề án 1144 “Orlan”

Tổng số tàu đã đóng: 1,  + 3 tàu theo đề án 11442

Các biến thể

+ 1144 – đề án cơ sở tàu tuần dương tên lửa năng lượng nguyên tử

+ 11442 – các tàu thứ 2, 3 và 4 trong lớp với thành phần vũ khí mới (1984/88/95).

Sự phát triển các tàu tuần dương tên lửa chiếm giai đoạn không lớn. Như đã chỉ ra, quan điểm có phần kỳ lạ trong Hải quân Liên Xô cũng như Mỹ, các tàu này mặc dù có tiểu sử khá phong phú trong các lớp tàu tuần dương, “trưởng thành” từ các tàu khu trục hộ vệ và đã có hướng phát triển riêng hiện nay trong ngành đóng tàu quân sự thế giới. Điểm đặc trực của các tàu tuần dương này – thực tế hoàn toàn không thiết kế phòng thủ để làm cho chúng trở thành các tàu “một trận đánh” hoặc “tấn công một lần”. Nguyên nhân của việc này là chúng được chế tạo trước hết để cho chiến tranh tên lửa – hạt nhân và vì thế được tính toàn rằng hệ thống phòng thủ truyền thống không cần thiết. Các quan điểm tương tự đã xuất hiện và chiếm ưu thế ở Liên Xô và Mỹ cho tới gần cuối những năm 1970. Vị trí đặc biệt trong phát triển các tàu tuần dương là phân lớp tàu tuần dương nguyên tử.

Năm 1959, Liên Xô đã hoàn thành việc đóng tàu nổi đầu tiên trên thế giới với động cơ năng lượng hạt nhân – tàu phá băng “Lenin”. Còn năm 1961, trong biên chế Hải quân Mỹ đã gia nhập tàu nổi năng lượng nguyên tử đầu tiên – tàu tuần dương trang bị vũ khí tên lửa điều khiển “Long Beach”.

Hiện nay, rất khó để nói rằng có rõ ràng hay không rằng đây là động lực chế tạo tàu chiến hạt nhân của Liên Xô hay là sự phát triển bắt buộc theo tự nhiên của kỹ thuật hải quân. Các chi tiết khác nhanh chóng khẳng định ý nghĩa của mình. Tuy nhiên sự kiện còn lại chỉ ra rằng những nghiên cứu để xác định hình dáng tàu chiến nguyên tử đầu tiên chỉ bắt đầu năm 1964 và trước hết, đã đặt Liên Xô vào tư thế người đi sau. Nguyên nhân không nhỏ nằm ở quan điểm cá nhân của N.Khrutsev trong việc phát triển Hải quân mà cụ thể là các tàu nổi (đặc biệt là các tàu lớn).

Yếu tố chính trong cơ sở các nghiên cứu là nguyện vọng có tàu hoạt động trên đại dương với thời gian không hạn chế, có khả năng hoạt động độc lập ở các đại dương xa xôi, là các tàu tập kích (корабль-рейдер), khác với các tàu tiền nhiệm trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ hai ở khả năng truy lùng và tiêu diệt không chỉ các tàu hàng (tàu vận tải) và còn các tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa. Các nghiên cứu đã được hoàn thành bằng việc đề ra nhiệm vụ kỹ - chiến thuật và thiết kế đề án tàu chống ngầm lớn với thiết bị năng lượng hạt nhân có lượng dãn nước 8000 tấn ở Phòng thiết kế trung ương. Việc nghiên cứu đề án được giao cho tập thể Phòng thiết kế đề án Phương Bắc ở Leningrad với Tổng công trình sư và lãnh đạo các đề án là B.I.Kupensky - ở thời điểm đó là Tổng công trình sư các tàu khu trục (chống ngầm lớn) đề án 61 động cơ tuabin khí đầu tiên ở Liên Xô. Giám sát viên chính của Hải quân trong thiết kế và đóng tàu từ đầu cho đến khi tàu được bàn giao cho Hải quân là Thuyền trưởng cấp 1 A.A.Savin. Cần phải nhấn mạnh rằng. Kupensky và Savin đã tỏ ra là đối tác tin cậy. Một cách không công bằng khi không nhắc đến một lãnh đạo nữa của đề án – Tư lệnh Hải quân S.G.Gorshkov – người luôn chấp nhận chịu trách nhiệm các vấn đề xây dựng Hải quân mà cụ thể là thiết kế tàu. “Orlan” – tên gọi này của đề án tàu nguyên tử mới – xuất phát từ tên người con đẻ của Tư lệnh Hải quân mà trong việc chế tạo tàu – không nói quá – ông đã tham gia trực tiếp. “Orlan” nhận số hiệu đề án 1144.

Việc thiết kế “Orlan” là quá trình phức tạp và chậm chạp. Từ những giai đoạn đầu tiên – lượng giãn nước – bắt buộc phải tìm toàn bộ các phương án mới cho động cơ chính, trước hết là thiết bị sinh hơi nước cho động cơ. Thiết bị này trên tàu phá băng và tàu thương không được chấp nhận: không đủ công suất yêu cầu, đã xuất hiện những vấn đề nghiêm trọng trong bố cục, không đạt yêu cầu. Cuối cùng, đã quyết định tiếp nhận giải pháp chế tạo thiết bị sinh hơi nước đặc biệt. Từ các phương án 1 hoặc 2 lò phản ứng đã giữ lại phương án thứ hai. Bản thân Tư lệnh Hải quân đã yêu cầu bố trí động cơ dự bị với năng lượng thường. Sự lo lắng của ông có thể hiểu được: kính nghiệm ở Liên Xô trong khai thác sử dụng tàu nguyên tử không nhiều, tàu chiến – không phải tàu phá băng. Giữa những năm 1950, sau khi bắn tên lửa vào các khoang bọc thép không được đóng xong của tàu tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 “Stalingrad” đã có nhận định rằng không loại giáp nào có thể “chống lại” tên lửa. Giáp các tàu nổi được cho là vô ích, việc bọc thép, công nghệ dần trở thành lịch sử. Đặc biệt, trong những năm này, việc bọc thép không có gì đặc biệt, các tàu nổi mới về cầu tạo, không phụ thuộc vào phân loại, kích thước và lượng dãn nước, vẫn giữ nguyên trên tàu phóng ngư lôi. Ngoài ra, phần lượng dãn nước, trước hết tập trung vào bộ phận bọc thép (như trên tàu chủ lực – 40%, trên các tàu tuần dương – 25%) một cách mạnh mẽ đã hạn chế việc mở rộng danh pháp vũ khí và pháo cũng như việc tăng cường diện tích, thể tích bố trí chúng cũng như yêu cầu nguồn năng lượng và nhu cầu tăng cường tiện nghi khu vực sinh hoạt của thủy thủ đoàn, đặc biệt là trên tàu có thời gian hoạt động độc lập lâu.

Vấn đề tranh cãi chính về giáp với đạn cũng như sử dụng đạn đã không được giải quyết (đáng chú ý là cho đến bây giờ) trong khi bên ủng hộ (bảo vệ) cho rằng để tăng cường khả năng sống còn cho tàu. Tuy nhiên, trong lĩnh vực này cần bắt đầu thực tế từ “số 0”. Công việc về hệ thống phòng thủ tàu nổi cho phép thành lập tổ hợp các giải pháp kỹ thuật được tổng hợp trong thời điểm đó dựa trên các thành tựu về công nghệ, áp dụng vật liệu và thiết kế với những đề xuất thực tế về tính nặng công phá của các loại đạn có thể bắn vào tàu. Cuối cùng, sau thời gian gián đoạn, trên tàu đề án 1144 đã xuất hiện hệ thống phòng thủ. Đương nhiên, nó không lặp lại hệ thống cũ chỉ sử dụng để bảo vệ các công trình quan trọng nhất khỏi ảnh hưởng của vũ khí tên lửa. Hệ thống phòng thủ này gọi là “cục (nội) bộ”, khác với hệ thống phòng thủ “thành lũy” sử dụng trên các tàu chủ lực, tàu sân bay và tàu pháo trước đó. Vì mục tiêu này, phần lớn vũ khí của tàu tuần dương được “giấu” dưới boong.

Ngay từ đầu, đã chỉ ra rằng, nhiệm vụ chính của tàu chỉ là tham gia các trận đánh lớn. Chắc chắn rằng, đối thủ chính của nó sẽ là không quân mạnh của đối phương. Vì thế, trong quá trình thiết kế đã từng bước nghiên cứu việc bố trí thành tuyến theo nguyên tắc, kích cỡ (đạn) và danh pháp các khí tài phòng không. Các tên lửa chống tàu xuất hiện trên “Orlan” là hết quả của việc muốn tăng cường các nhiệm vụ của tàu – tấn công vào cụm tàu sân bay địch và sau cùng – tìm và diệt các tàu ngầm tên lửa của địch, không cho phép chúng di chuyển một cách tự do trên đại dương.

Bằng cách này, dần dần, không phải ngay lập tức, thỉnh thoảng có những lúc gián đoạn và kết quả đã tìm được bộ mặt cụ thể hơn của tàu tuần dương nguyên tử Liên Xô đầu tiên là tàu đa năng và có thể, lượng dãn nước cũng như kích thước của nó không giống với quan điểm “tàu chống ngầm”, thậm chí là “tàu chống ngầm rất lớn”. Vì thế, ở một trong những giai đoạn thiết kế, “Orlan” đã nhận được phân loại sau cùng là tàu tuần dương nguyên tử mang tên lửa và sau đó, cùng một số đặc điểm nữa, nó đạt được mốc – “hạng nặng”. Đáng chú ý rằng, một lần nữa, đay là tàu tuần dương hạng nặng đầu tiên của Liên Xô đã được đóng nếu như không tính đây là phân lớp các tàu tuần dương bọc thép và tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #332 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2013, 12:52:00 am »

Năm 1972, đề án kỹ thuật của tàu đã hoàn thành. Năm 1974, tàu được khởi đóng ở xưởng đóng tàu Baltic tại Leningrad. Tàu tuần dương đầu tiên mang tên gọi “Kirov” – vinh danh nhà lãnh đạo Đảng cũng như tên tàu tuần dương hạng nhẹ đầu tiên của Liên Xô, người đặt nền móng đầu tiên trong lịch sử Hải quân Liên Xô. Tàu tàu tuần dương hạng nhẹ tiền nhiệm, “Kirov” mới được thừa kế lá Cờ đỏ ở mạn tàu và các danh hiệu kèm theo. Việc tàu tàu lớn như vậy chưa từng có ở phương Tây, nơi nó nhận tên gọi “Balcom-I (Baltica – Combatan), còn sau khi gia nhập biên chế - “Lớp Kirov”.

Các tàu tuần dương tên lửa đề án 1144 không có loại tương tự ở nước ngoài: các tàu tuần dương nguyên tử mang tên lửa lớp “Virginia” có lượng dãn nước thấp hơn 2,5 lần, các tàu tuần dương “Long Beach” cũng thấp hơn 1,5 lần. Lượng dãn nước hoàn toàn của tùa Liên Xô – gần 26 000 tấn.

Trên tàu đề án 114 lắp động cơ hai trục trong thành phần có thiết bị sinh hơi nước hai lò phản ứng tổng công suất 600mW, 2 tuabin hơi nước công suất mỗi tuabin 70 000 sức ngựa. Thiết bị sinh hơi nước gồm có hai khoang độc lập và trong mỗi khoang có lò phản ứng nước với toàn bộ các hệ thống và thiết bị phục vụ được bố trí trong khoang lò phản ứng. Động cơ tuabin khí chia thành hai bộ phận độc lập (như trên tàu phá băng “Lenin”), bố trí ở mũi và đằng sau thiết bị sinh hơi nước. Mỗi đồng cơ tuabin khí hoạt động trên trục riêng. Trong phương án dự phòng, các tuabin nhận được hơi nước từ hai lò hơi nước tự động hóa trong nhiên liệu thường có công suất sinh hơn 115 tấn/giờ. Mạng phân chia các đường ống cho phép cung cấp hơi nước và nước ngưng tới bất kỳ bộ phận nào của động cơ. Để trong trường hợp xuất hiện lỗi các máy phát điện hơi nước không kín, loại trừ được sự rò rỉ phóng xạ vào hơi nước đã sử dụng các hệ thống tổng hợp cần thiết trên tàu (buồng tắm, vòi tắm, quạt thông gió…) để tạo ra sự trao đổi nhiệt (các máy phát điện hơi nước thấp áp) bằng hơi nước cho mạch thứ cấp.

Với động cơ năng lượng hạt nhân, tàu tuần dương có thể đạt tốc độ tối đa 30 hải lý. Các nồi hơi dự bị bảo đảm tốc độ 17 hải lý và tầm bơi xa 1000 dặm khi các lò phản ứng không hoạt động. Hệ thống năng lượng điện của tàu gồm có 4 máy phát điện tuabin công suất 3000kW và 4 máy phát điện tuabin khí công suất mỗi máy 1500 sức ngựa  bố trí trong 3 khoang.


Vũ khí chính của tàu – tổ hợp tên lửa chống ngầm “Granit”. 20 tên lửa chống tàu P-700 bố trí trong các thiết bị phóng dưới boong với góc nâng 47 độ hướng về mũi tàu. Các nguyên tắc bố trí và nguồn chỉ thị mục tiêu trong tổ hợp “Granit” tương tự như tổ hợp “Bazalt” – từ vệ tinh trinh sát vô tuyến (2 đài “Korall-BN”), các máy bay và trực thăng trinh sát – chỉ thị mục tiêu, các khí tài chủ động và thụ động chiếu sáng (làm rõ) bối cảnh. Tuy nhiên, tên lửa chống tàu “Granit” hoàn toàn tự động khi bay, có sự lập trình tấn công mục tiêu phức tạp (một tên lửa trong loạt sẽ bay cao hơn các tên lửa còn lại và thực hiện việc điều khiển và phân phối mục tiêu. Trước khi tiếp cận mục tiêu sẽ thực hiện cơ động phức hợp tránh hệ thống phòng không của địch), tăng cường khả năng chống nhiễu và tầm bắn 600 kilomet.

Vũ khí tên lửa phòng không trên tàu tuần dương “Kirov” cũng như trên tàu tuần dương “Slava” đề án 1164, ngoại trừ, trên đề án 1144 lắp 2 tổ hợp tên lửa phòng không “Fort” với tổng số 96 đạn tên lửa phòng không. Các thiết bị phóng đứng bố trí ở mũi thiết bị phóng tổ hợp “Granit”, còn đài dẫn bắn tên lửa - ở nóc các thượng tầng mũi và mạn tàu. Các tổ hợp tự vệ “Osa-M” với các thiết bị phóng cơ động hai bệ bố trí theo thành từ thượng tầng mũi.

Pháo của tàu được giới thiệu là 2 thiết bị pháo tự động 1 nòng 100mm AK-100 với hệ thống điều khiển bằng ra đa vô tuyến “Lev” bố trí ở mạn tàu theo sơ đồ tuyến – bậc thang (mặc dù theo dự án lúc đầu đã tính toán lắp 1 pháo 2 nòng 130mm AK-130. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, nó chưa sẵn sàng).

Trên hai tàu đề án 1144 đầu tiên cũng như trên đề án 1164, trong vai trò vũ khí tự vệ tầm gần có 2 hệ thống pháo tự động 6 nòng 30mm AK-630 với hệ thống điều khiển “Vưmpel” – tổng cộng có 4 ụ. Trên mỗi ụ lắp 2 hệ thống pháo tự động và một hệ thống điều khiển.

Vũ khí chống ngầm của tàu tuần dương thứ nhất là tổ hợp thủy âm tự động hóa mạnh “Polinom” với thiết bị ăng ten chính trong mũ chụp hình cầu ở mũi và thiết bị ăng ten lai tăng cường ở mạn tàu để đảm bảo việc sử dụng tên lửa chống ngầm điều khiển, vũ khí ngư lôi và thiết bị phóng bom phản lực. Trên “Kirov” lắp tổ hợp tên lửa chống ngầm “Metel” – trong thành phần có thiết bị phóng hai thùng trong 2 mặt phẳng, cơ số đạn 10 ngư lôi – tên lửa trong hai mặt trống nằm ngang dưới boong. Hai thiết bị ngư lôi 5 ống phóng 533mm bố trí trong thân tàu, cũng như trên “Salva”. Việc bắn đạn chống ngầm được thực hiện theo các hốc bên thành tàu – trong tư thế hành quân được đóng kín bằng các cánh cửa thép. Tổ hợp các khí tài chống ngầm được bổ sung 2 thiết bị phóng bom phản lực RBU-1000 (72 bom chìm) và 1 RBU-6000 (108 bom) có nhiệm vụ chính là tiêu diệt các tàu ngầm ngư lôi. Ngoài ra, trong cơ số đạn RBU-6000 còn có 12 bom định hướng “Magnetit”.

Trên tàu có đội trực thăng gồm 3 chiếc: trinh sát và chỉ thị mục tiêu, chống ngầm và tìm kiểm cứu nạn. Ban đầu, các trực thăng này và Ka-25, trên các tàu sau – Ka-27. Để đóng căn cứ, trên tàu xây dựng hang ga dưới boong, kho đạn, thang nâng, bãi cất – hạ cánh. Đối với các đội bay trực thăng và thợ máy, có các buồng riêng. Để dẫn đường tầm gần cho các trực thăng, sử dụng hệ thống ra đa vô tuyến “Privod-V” với hai trạm ăng ten trên cột buồm.

Tàu tuần dương được trang bị khí tài ra đa mới nhất với các đài ra đa vô tuyến có nhiệm vụ khác nhau. Trong đó có tổ hợp ra đa vô tuyến “Flag” (các đài ra đa “Voskhod” và “Fregat-M”, các đài ra đa dẫn đường. Nhiều khí tài tác chiến điện tử như các hệ thống “Koltso”, “Gurzuf” và “Ograda”, cũng như các tổ hợp bắn nhiễu PK-2 (400 đạn). Tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến “Typhoon-2” kết hợp trong nó các khí tài thông tin liên lạc bước sóng khác nhau, trong đó có hệ thống thông tin liên lạc vệ tinh “Tsunami-BM”. Việc điều khiển toàn bộ các khí tài sục sạo và hệ thống vũ khí được thực hiện với hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Aleeya-2M”. Ngoài ra, tàu trang bị các hệ thống để đóng vai trò chức năng tàu chỉ huy trong cụm tàu.

Kích thước lớn của tàu cho phép đảm bảo tiện nghi cho thủy thủ đoàn cao. Thủy thủ đoàn có rạp chiếu phim, bể bơi, nhà tắm xông hơi, phòng thể thao và các tiện nghi khác. Các thủy thủ và hạ sỹ quan hải quân được bảo đảm bằng các buồng nhỏ - còn sỹ quan và chuẩn úy hải quân – các phòng riêng.

Tàu tuần dương nguyên tử đa năng đề án 1144 trên thực tế được trang bị toàn bộ các loại vũ khí và khí tài kỹ thuật được chế tạo cho tàu nổi của Liên Xô. Việc đóng tàu, do nhiều lý do, trong đó có sự phức tạp lớn, nhân công và hàng loạt các yếu tố chủ quan, đã tiến hành chậm chạp: việc gia nhập biên chế Hải quân bị kéo dài hơn 10 năm so với dự kiến. Mặc dù vậy, có thể thấy rằng trong quá trình đóng hàng loạt mẫu vũ khí đã được thay thế hiện đại hơn (nhưng cũng có mặt tiêu cực – đẩy mạnh sự không đồng bộ). Cần hay không cần tàu nguyên tử mới – đây là vấn đề đặc biệt mà không có câu trả lời thống nhất. Ví dụ cho vấn đề này – việc dừng đóng ở Mỹ các tàu tuần dương mang vũ khí tên lửa điều khiển (URO) đã diễn ra 10 năm trước và không có chương trình đóng tàu chiến loại này trong tương lai gần. Nhưng mặt khác, không có nghĩa là các tàu nổi năng lượng hạt nhân gần như không có tương lai. Ví dụ, sử dụng năng lượng nguyên tử trên các tàu sân bay, trong các trường hợp cụ thể hoàn toàn hợp lý và có triển vọng.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #333 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2013, 12:52:37 am »

Các biến thể

Bắt đầu từ tàu thứ hai, thành phần vũ khí các tàu tuần dương – có số hiệu đề án 11442 – đã được thay thế. Về cơ bản, tập trung vào vũ khí chưa sẵn sàng khi đóng tàu đầu tiên (tổ hợp tên lửa chống ngầm điều khiển “Vodopad”, pháo 130mm AK-130, tổ hợp ngư lôi chống ngầm “Udav-1”, tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kortik”). Sự thay đổi còn nhằm vào trang bị ra đa vô tuyến. Như bắt đầu từ tàu thứ hai, trên các tàu đã lắp hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Lesorub”, tổ hợp tác chiến điện tử “Gurfuz” thay cho “Kantata-M”, tổ hợp thông tin liên lạc vũ trụ “Tsunami-BM” – “Kristall-BK”… Việc này kéo theo những thay đổi trong thiết kế thượng tầng và cột buồm, còn lượng dãn nước tiêu chuẩn của tàu có tăng lên. Theo đó, toàn bộ bốn tàu trong lớp có sự khác biệt đáng kể với nhau.

Chương trình đóng tàu

Năm 1974, tàu tuần dương đầu tiên – “Kirov” – đã được khởi đóng trên ụ xưởng đóng tàu Baltic tại Leningrad (xưởng số 189). Việc đóng đề án 1144 diễn ra một cách rất không đều và hay bị gián đoạn hoặc không kịp. Cũng phải nhắc lại rằng phong cách đóng tàu chiến ở các xưởng đã được giải phóng khỏi thời kỳ “tan băng” của Khrusev. Mặc dù đã không được đóng trong khoảng 20 năm, các tàu tuần dương đề án 68-bis gần như sắp đóng xong đã bị cắt kim loại. Và như chúng ta hay nói, để giữ lại làm kỷ niệm cho con cháu. Tàu tuần dương “Kirov” được hạ thủy vào cuối năm 1977 và cuối cùng, vào năm 1980, nó bắt đầu các thí nghiệm và gia nhập Hải quân. Khi Liên Xô tan rã, ở xưởng này mới chỉ kịp đóng thêm 2 tàu theo đề án 11442 mang tên ”Funze” và “Kalinin”. Tàu cuối cùng, lúc đầu mang tên “Andropov” được đóng tiếp ở Nga dưới tên gọi “Pie Đại Đế”. Vào mùa thu năm 1995, nó đã gia nhập biên chế một cách trang trọng và đóng ở Kronshtadt để chuẩn bị đưa vào các thí nghiệm cấp nhà nước. Tàu thứ năm theo kế hoạch đã không được khởi đóng.

Tình hình ở năm 2007

Tàu tuần dương tên lửa năng lượng hạt nhân “Kirov” và “Kalinin” đã gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc, còn “Frunze” – Hạm đội Thái Bình Dương. Sau khi Liên Xô tan vỡ, năm 1992, toàn bộ các tàu tuần dương này đều đổi tên: “Kirov” thành “Đô đốc Ushakov”, “Frunze” – thành “Đô đốc Lazarev”, “Kalinin” – “Đô đốc Nakhimov” và “Andropov” – “Pie Đại Đế” (tất nhiên các tên mới ấn tượng (“oai”) hơn và có liên quan tới biển, nhưng tên gọi tàu tuần dương đầu tiên của Liên Xô trong Chiến tranh Vệ quốc – “Kirov” – cũng có những truyền thống vẻ vang).

Liên quan với sự thiếu hụt tài chính của Hải quân, không một tàu nào trong số các tàu đề án 1144 và 11442 được đại tu. Vì thế, năm 1994, trên thực tế, chỉ còn tàu tuần dương “Đô đốc Nakhimov” hoạt động trong Hạm đội Phương Bác, còn việc đóng nốt tàu thứ 4 diễn ra chậm chạp. Chỉ vào mùa thu năm 1995, “Pie Đại Đế” mới được bàn giao một cách trọng thể vào biên chế và sau đó chuyển tới Kronshtadt để chuẩn bị tham gia thí nghiệm cấp nhà nước và thực sự gia nhập Hải quân vào tháng 4 năm 1998.

“Đô đốc Ushakov” mặc dù vẫn nằm trong biên chế Hạm đội Phương Bắc trên danh nghĩa và thậm chí đã tổ chức đơn vị cùng trang thiết bị cho việc sửa chữa nhưng đã không được thực hiện. “Đô đốc Lazarev” trong Hạm đội Thái Bình Dương vào cuối những năm 1990 cần khởi động lại khu vực phóng xạ của lò phản ứng, nhưng liên qua với việc rằng ở Viễn Đông, phương pháp này không thực hiện được (xưởng “Zvezda” không đủ công suất cần thiết), tàu tuần dương bị đưa vào lực lượng dự bị và có thể nhanh chóng bị loại biên. Năm 1999, “Đô đốc Nakhimov” được sửa ở “Sevmash” nơi nó đang nằm trên ụ cho đến bây giờ. Vào lúc này, chỉ có “Pie Đại Đế” đang hoạt động tích cức trong nhiệm vụ trực chiến của Hạm đội Phương Bắc và thường xuyên tham gia trong các cuộc diễn tập.

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Kirov” (số xưởng 800); từ 27 tháng 5 năm 1992 là “Đô đốc Ushakov”; ghi tên vào danh sách Hải quân 6 tháng 10 năm 1973; khởi đóng ở xưởng đóng tàu Baltic số 189 tại Leningrad; hạ thủy 27 tháng 12 năm 1977 (25 tháng 7 năm 1977 được tặng Cờ đỏ Hải quân, kế thừa từ tàu tuần dượng đề án 26 Hạm đội Cờ đỏ Baltic); gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1980; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc 6 tháng 3 năm 1981; 4 tháng 12 năm 1984 được tặng Giải thưởng Bộ quốc phòng Liên Xô; từ năm 1990 nằm trong lực lượng dự bị sau tai nạn; sau đó bị loại biên và giải thể.
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Năm, 2013, 11:58:32 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #334 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2013, 12:00:55 am »


Bố trí vũ khí trên tàu tuần dương nguyên tử đề án 1144

1.Thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000

2.Các thiết bị phóng tổ hợp bắn nhiễu PK-2

3.Thiết bị phóng hai ống cho tổ hợp tên lửa chống ngầm điều khiển “Metel”

4.Hầm/kho đạn chứa tên lửa chống ngầm điều khiển 85-R

5.Các thiết bị phóng đứng 8 thùng phóng của tổ hợp tên lửa phòng không S-300F “Fort”

6.Thiết bị phóng đứng cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Granit”

7.Tổ hợp pháo phòng không tự động 30mm AK-630M

8.Đài ra đa vô tuyến MR-123 “Vưmpel” điều khiển bắn tổ hợp AK-630M

9.Các trạm ăng ten hệ thống “Musson” điều khiển tên lửa chống ngầm điều khiển

10.Các thiết bị phóng không cố định của tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ “Osa-M”

11.Các trạm ăng ten đài ra đa 4R33 điều khiển bắn tổ hợp “Osa-M”

12.Các trạm ăng ten tổ hợp thông tin liên lạc vũ trụ

13.Ra đa đạo hàng “Vaigach”

14.Các trạm ăng ten đài ra đa vô tuyến “Volga” điều khiển bắn tổ hợp phòng không “Fort”

15. Các ăng ten thu chỉ thị mục tiêu “Korall-BN” cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Granit”

16.Ăng ten thuộc đài ra đa đạo hàng tầm gần “Privod-B” cho trực thăng

17.Đài ra đa ba tọa độ phát hiện mục tiêu trên không “Voskhod” và “Kliver” thuộc tổ hợp ra đa vô tuyến “Flag”

18.Đài ra đa vô tuyến ba tọa độ phát hiện mục tiêu tổng hợp “Fregat-M”

19.Các ăng ten đài tác chiến điện tử “Gurfuz”

20.Pháo đa năng 100mm AK-100

21.Trạm ăng ten đài ra đa vô tuyến “Lev” điều khiển bắn cho pháo

22.Các thiết bị phóng bom phản lực RBU-1000

23.Cửa bắn ngư lôi của thiết bị ngư lôi 533mm 5 ống phóng

24.Thang nâng trực thăng

25.Bãi cất-hạ cánh

26.Nắp ăng ten lai trong tổ hợp thủy âm “Polinom”
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #335 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2013, 12:03:15 am »

Hình vẽ thiết kế và hình vẽ màu đề án 1144 "Orlan"







« Sửa lần cuối: 31 Tháng Năm, 2013, 12:14:43 am gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #336 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2013, 12:22:55 am »


Tổ hợp pháo phòng không tự động 6 nòng 30mm AK-630M (thành bên phải)




Đài dẫn bắn cho tên lửa phòng không thuộc tổ hợp "Fort" ở mạn tàu trên tàu tuần dương "Đô đốc Ushakov". Trên nó là ăng ten đài điều khiển hỏa lực pháo "Lev" cho pháo AK-100




Các nắp thiết bị phóng tên lửa có cánh "Granit" (bên phải) và tổ hợp phòng không "Fort" (bên trái) ở mũi tàu tuần dương "Kirov". Đằng trước - thiết bị vận tải, đằng xa - pháo tự động AK-630M
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #337 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2013, 12:24:37 am »

Các thông số kỹ thuật chính

Lượng dãn nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 24 100

+ hoàn toàn: 26 190

Các kích thước chính, mét (theo vạch mớn nước thiết kế)

+ chiều dài nhất: 251 (228)

+ chiều rộng nhất: 28,5 (24)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 10,33 (-)

Động cơ chính: nguyên tử

+ 2 lò phản ứng nước – nước, tổng công suất, mW: 600

+ 2 thiết bị sinh hơi nước KN-3, 2 thiết bị tuabin khí

+ 2 tuabin hơi nước, tổng công suất, sức ngựa (kW): 140 000 (102 900)

+ 4 máy phát điện tuabin, công suất, kW: 4x3000

+ 4 máy phát điện tuabin khí, công suất, sức nựa: 4x1500

+ 2 nồi hơi dự trữ, tổng công suất, kW: -

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa với lò phản ứng: 31

+ tối đa với nồi hơi: 17

Tầm bơi xa bằng nồi hơi, dặm (tốc độ, hải lý): 1000 (17)

Thời gian hoạt động, ngày: 60

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 710 (82)
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #338 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2013, 12:25:04 am »

Vũ khí

Tên lửa tấn công

+ thiết bị phóng đứng SM-233 cho tổ hợp tên lửa chống tàu P-700 “Granit”: 20x1

+ tên lửa chống tàu P-700 (SS-N-19 “Shipwrechk”): 20

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng đứng B-203A cho tổ hợp tên lửa phòng không S-300F “Fort”: 12x8

+ tên lửa phòng không 5V55RM (SA-N-6 “Grumble”: 96

+ thiết bị phóng ZiF-122 cho tổ hợp tên lửa phòng không 4K33 “Osa-M”: 2x2

+ tên lửa phòng không 9M33M (SA-N-4 “Gecko”): 40

Tên lửa chống ngầm

+ thiết bị phóng cho tên lửa chống ngầm điều khiển URPK-3 “Metel”: 1x2

+ tên lửa chống ngầm điều khiển 85R (SS-N-14 “Silex”: 10

Pháo

+ thiết bị pháo 100mm AK-100: 2x1

+ tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-630M: 8x6

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-1144

Chống ngầm/chống ngư lôi

+ RBU-6000 “Smerch-2”: 1x12

+ RGB-60: 108

+ RBU-1000 “Smerch-3”: 2x6

+ RGB-10: 72

Vũ khí đường không

+ trực thăng Ka-25RTs và Ka-27PL (“Hormone B, “Helix A”): 3
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #339 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2013, 12:25:26 am »

Khí tài vô tuyến

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Alleya-2M”

Đài ra đa vô tuyến phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ tổ hợp ra đa “Flag” (Top Pair)

+ 1xMR-600 “Voskhod” (Top Sail)

+ 1xMR-500 “Kliver” (Big Net)

+ 1xMR-700 “Fregat-M” (Top Steer)

Đài ra đa vô tuyến phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ 3x”Vaigach” (Don Kay)

Hệ thống thủy âm

+ tổ hợp thủy âm “Polinom” với các ăng ten hình cầu (Horse Jaw) và lai (Horse Tail)

Các khí tài tác chiến điện tử

+ “Gufuz-A/B” (8 Side Globe)

+ MP-152 “Ograda” (4 Rum Tub)

+ MRP-3 “Koltso” (8 Bell Bash, Bell Nip)

+ Bom chìm định hướng “Magnetit” (12)

Các tổ hợp bắn nhiễu

+ 2x12 thiết bị phóng PK-2 (ZiF-121)

Các khí tài quang điện

+ 4x-

Đài ra đa điều khiển hỏa lực

+ 2x”Korall-BN” (Punch Bowl) thu sự chỉ thị mục tiêu từ vệ tinh cho tổ hợp “Granit”

+ 2x”Musson” (Eye Bowl) cho tổ hợp tên lửa chống ngầm “Metel”

+ 2x”Volna” (Top Dome) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Fort”

+ 2x4R33 (Pop Group) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M”

+ MR-145 “Lev-214” (Kite Screech) cho pháo 100mm

+ MR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho tổ hợp pháo phòng không 30mm

Khí tài thông tin liên lạc

+ “Typhoon-2”

+ “Tsunami-BM” (4 Low Ball) thông tin liên lạc vệ tinh

Đài ra đa hội thoại

+ Satl Pot A/B
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM