Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 07:57:05 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3  (Đọc 201578 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #230 vào lúc: 07 Tháng Mười Một, 2012, 12:16:12 am »

Tàu tên lửa đệm không khí “Samum” (trước đó là MRK-17) đề án 1239


1. Thiết bị pháo đa năng 76mm AK-176

2. Thiết bị pháo phòng không 6 nòng 30mm AK-630M

3. Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực pháo MR-123

4. Các cột quan sát hệ thống điều khiển hỏa lực pháo 30mm

5. Thiết bị phóng tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Strela-3”

6. Ăng ten đài ra đa định vị “Topaz-2B”

7. Ăng ten đài ra đa định vị đạo hàng

8. Các trạm điều khiển tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M”

9. Thiết bị phóng bom chống ngầm phản lực RBU-6000

10. Các thiết bị phóng tên lửa phòng không “Osa-M”

11. Các thiết bị phóng hệ thống nhiễu vô tuyến thụ động

12. Ăng ten hệ thống chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Moskit”

13. Thiết bị phóng của tổ hợp tên lửa chống tàu “Moskit”

14. Thiết bị ngư lôi chống ngầm 533mm

15. Trạm ăng ten hệ thống điều khiển của tổ hợp tên lửa chống tàu “Moskit”

16. Ăng ten đài ra đa định vị “Pozitiv”

17. Các ăng ten hệ thống tách chiến điện tử
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #231 vào lúc: 07 Tháng Mười Một, 2012, 12:16:30 am »

Các thông số kỹ chiến thuật chính

Lượng choán (dãn) nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 850

+ hoàn toàn: 1050

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 63,9 (-)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 17,2 (-)

+ lượng mớn nước hoạt động trên đệm không khí: >1

+ lượng mớn nước hoạt động trên chế độ dãn nước: 3,3

Thiết bị năng lượng chính: thiết bị tuabin khí – diesel

+ 2 tuabin khí M-10-1, tổng công suất, sức ngựa (kW): 36 000 (26 500)

+ 2 động cơ diesel M-511A cho chế độ choán nước, tổng công suất, sức ngựa (kW): 20 000 (14 700)

+ 2 động cơ diesel M-504 cho máy tăng áp (quạt gió), tổng công suất, sức ngựa (kW): 6600 (4850)

+ các máy phát điện tuabin khí, công suất, kW: -

4 bánh lái tiếp đôi trong hai cột; 2 bánh lái chân vịt trên các trục

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 53

+ tiết kiệm năng lượng: 12

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 2500 (12)/800 (45)

Thời gian hoạt động, ngày: 10

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 68 (9).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #232 vào lúc: 07 Tháng Mười Một, 2012, 12:16:58 am »

Vũ khí

Vũ khí tên lửa

+ thiết bị phóng KT-190 cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Moskit”: 2x4

+ tên lửa chống tàu 3M80 “Moskit” (SS-N-22 “Surnburn”): 8

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng ZiF-122 của tổ hợp tên lửa phòng không 4K33 “Osa-M”: 1x2

+ tên lửa phòng không điều khiển 9M33M (SA-N-4 “Gecko”): 20

Pháo

+ thiết bị pháo 76mm AK-176: 1x1

+ tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-630M: 2x6

Trang bị vô tuyến điện

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1x”Pozitiv” (Cross Dome)

+ 1x”Dubrava” (Band Stand) đồng thời chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa chống tàu

Đài ra đa định vị đạo hàng: 1x-

Các khí tài tác chiến điện tử: “Vưmpel-P2” (2 Foot Ball A)

Các tổ hợp bắn nhiễu

+ 2x16 thiết bị phóng PK-16

+ 4x10 thiết bị phóng PK-10 “Smelưi”

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 1x”Dubrava” (Band Stand) cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Moskit”

+ 2x(Light Bulb) thu sự chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa phòng không “Moskit”

+ 1x4R33 (Pop Group) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M”

+ 1xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho pháo chính và tổ hợp pháo phòng không

Các khí tài thông tin liên lạc: “Buran-7” – tổ hợp

Đài ra đa định vị hội thoại: “Nikhrom” (Square Head; Salt Pot).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #233 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2012, 12:05:45 am »

Tàu tên lửa kiểu R-36 – Đề án 205/205-U “Moskit” – Lớp Osa-I/Osa-II


Tổng số tàu đã đóng: 140/32

Các biến thể

+ 205 (lớp Osa-I) – tàu nhỏ trang bị tên lửa (tàu nhỏ tên lửa) với 4 tên lửa chống tàu P-15 (1960)

+ 205-U (lớp Osa-II) – tàu nhỏ tên lửa với các tên lửa mới P-15U (!965)

+ 205-M – tàu nhỏ nâng cấp với các tên lửa chống tàu P-15M “Termit” (1970)

+ 205-Ts – tàu nhỏ - mục tiêu để bảo đảm bắn tên lửa và pháo (1980)

+ 205-ER- tàu nhỏ thí nghiệm với tổ hợp tên lửa chống tàu “Uran” (1990).

Kinh nghiệm, được tích lũy bởi các nhà đóng tàu khi đóng tàu nhỏ trang bị tên lửa đề án 183-P, cho phép chuyển tới thiết kế tàu nhỏ tên lửa mới được đóng đặc biệt với thành phần vũ khí tên lửa mạnh, tăng cường khả năng cơ động trên biển và tăng cường chất lượng các phần tử kỹ chiến thuật. Nhiệm vụ kỹ chiến thuật thiết kế đề án 205 mới nhận mã số “Moskit”, được giao cho Phòng thiết kế “Almaz” năm 1956. Tổng công trình sư, cũng như trong đề án 183-R, là E.I.Yukhin, còn giám sát viên chính từ Hải quân được giao cho Thuyền trưởng cấp 1 V.V.Dmitriev. Đề án kỹ thuật hoàn thành năm 1957. Thân tàu và thiết bị năng lượng của tàu nhỏ tên lửa đề án 205 được chế tạo với sự tính toán khả năng tiếp nhận chúng cho tàu nhỏ tên lửa mới đề án 206 (tới thời điểm đó đã quyết nhận giải pháp thiết kế các tàu này trong một thân duy nhất với thiết bị năng lượng giống nhau), đồng thời các biến thể có thể. Thân tàu nhỏ được chế tạo bằng thép từ thép SKhL-45 và có những hình dáng đặc biệt: gò tròn ở phần mũi và gò sắc (nhọn) ở mạn tàu. Như thực tế đã chỉ ra rằng, điều này có khả năng tăng cường tính cơ động trên biển của chúng, đồng thời đảm bảo khả năng sử dụng tên lửa chống tàu khi sóng cấp 4 không hạn chế tốc độ và tới cấp 5 khi tốc độ 30 hải lý.

Cơ sở của thiết bị năng lượng ba trục là 3 động cơ diesel tốc độ cao mới nhất của xưởng “Zvezda” kiểu M-503 và M-504 với các bộ truyền động lắp chìm và mỗi động cơ hoạt động trên mỗi trục. Các động cơ diesel này theo các các thông số cơ bản không có động cơ tương tự ở trong nước cũng như nước ngoài so sánh được (ít nhất, đến cuối thế kỷ XX).

Các động cơ diesel 42 hoặc 56 xilanh hình sao 7 khối được chế tạo trên cơ sở M-50, đã được dự định trước không chỉ có các kích thước và khối lượng rất nhỏ mà còn tuổi thọ không cao. Để vượt qua (khắc phục) nhược điểm này, cần thiết tiến hành sửa chửa tổ hợp các động cơ diesel này chỉ trong xưởng sản xuất, khi thực hiện ở các căn cứ hoặc trên xí nghiệp sửa chữa tàu chỉ thay mới các động cơ diesel đã quá tuổi thọ hoạt động. Công nghệ cao, sử dụng khi còn chế tạo động cơ diesel M-50, trong nguyên tắc đã loại trừ (không tính toán) khả năng theo sửa chữa địnhkỳ các động cơ diesel này “ngoài xưởng sản xuất”. Còn trong hệ thống khai thác sử dụng và căn cứ các tàu nổi cùng tàu nhỏ thuộc Hải quân Liên Xô có ưu thế về “chỗ dựa các lực lượng riêng”. Trong các điều kiên này, các câu hỏi về tuổi thọ động cơ đã bị loại khỏi ưu tiên hàng đầu, còn các chuyên gia Hải quân đã có thành kiến với các động cơ này. Sự phát triển sau đó của các động cơ này đã không được Hải quân chú ý do tới giai đoạn này, toàn bộ sự chú ý tập trung vào phát triển các tuabin khí. Mặt khác, chính các nhà thiết kế các động cơ diesel này đã rất thụ động. Như vào đầu những năm 1960, sự phát triển các động cơ diesel tốc độ cao trong nước thực tế đã xác định số phận của nó. Chúng không được quan tâm theo từng thời điểm, mặc dù các khả năng đối với sự phát triển của chúng vẫn còn (chưa cạn kiệt đến mức cuối cùng), cũng như trong các cầu hỏi tăng cường công suất cũng như tuổi thọ của chúng. Ở Đức (nước đi đầu về động cơ này), việc chế tạo các động cơ diesel cao tốc đã bắt đầu trong những năm 1930, gần như dành ngay cho Hải quân. Vì thể, các động cơ diesel của nó có trong những năm 1960 có tuổi thọ tương đối lớn hơn, nhưng các chỉ số khối lượng – kích thước lớn. Khoảng cuối những năm 1960, đã tồn tại sự cân bằng khoa học kỹ thuật được xác định trong các câu hỏi phát triển các động cơ diesel cao tốc ở Liên Xô và Đông Đức, mà sau đó nhanh chóng bị đánh mất.

Vũ khí của tàu nhỏ tên lửa đề án 205 gồm có 4 thiết bị phóng tên lửa chống tàu P-15 dạng hang ga (theo mỗi thành tàu – 2), đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi và cung cấp chỉ thị mục tiêu cho vũ khí tên lửa “Rangout”, 2 thiết bị pháo phòng không tự động nòng đôi AK-230 (theo 1 ở mũi và 1 ở mạn tàu) với đài ra đa định vị điều khiển “Rưs”. Các tên lửa có tầm bắn 35… 40km, tốc độ hành trình 320m/s, khối lượng bộ phận chiến đấu 480kg, việc tự dẫn bắn được thực hiện với sự hỗ trợ của đầu đạn ra đa định vị loại chủ động. Sự chuẩn bị bắn được thực hiện bằng hệ thống khí tài điều khiển bắn “Klen”. Trong vai trò các khí tài dự bị điều khiển bắn pháo (chế độ bằng tay) sử dụng cột quan sát kiểu “VK”.

Các tàu nhỏ tên lửa đề án 205 là giai đoạn phát triển trong Hải quân Liên Xô không chỉ tàu và thiết bị năng lượng và còn cả vũ khí. Lần đầu tiên trong ngành đóng tàu trong nước, trên tàu đã lắp vũ khí pháo điều khiển từ xa. Khi chế tạo các pháo tự động 30mm AK-230 đã sử dụng đồng thời chế tạo cho Không quân (pháo 30mm được chế tạo cho máy bay, còn sự điều khiển từ xa các pháo tương tự được tiếp nhận từ cuối những năm 1940 trong vũ khí tự vệ của các máy bay ném bom).

Dòng tàu nhỏ tên lửa đề án 205 có lượng choán nước tiêu chuẩn 173 tấn và hoàn toàn – 216 tấn, tốc độ tối đa được đảm bảo ở 38 hải lý, tầm bơi xa khi tốc độ 30 hải lý – 800 dặm, còn trong trữ lượng nhiên liệu tối đa và tốc độ 14 hải lý – 2000 dặm, thời gian hoạt động với trữ lượng thực phẩn và nước ngọt là 5 ngày. Ở phương Tây, các tàu Liên Xô nhận tên gọi lớp Osa.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #234 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2012, 12:06:01 am »

Các biến thể

Năm 1965, trong trang bị Hải quân Liên Xô đã gia nhập tên lửa chống tàu nâng cấp P-15U. Nó được trang bị máy đo cao ra đa định vị (thay cho khí áp kế), cho phép giảm độ bay cao và quan sát chính xác góc vòng theo độ cao, còn mục đích chính – tên lửa chống tàu đã nhận được cánh gấp mà kết quả đó đã xuất hiện khả năng trang bị cho tàu các thùng phóng thuận lợi hơn thay cho dạng hang ga. Vì thể ngay từ đầu những năm 1960, ở Phòng thiết kế “Almaz” dưới sự chỉ đạo của cùng tổng công trình sư (giám sát viên chính từ Hải quân – Thuyền trưởng hạng 2 Yu.M.Osipov) đã chế tạo đề án tàu nhỏ mang tên lửa 205-U. Sự khác biết cơ sở của nó là thiết bị phóng dạng thùng xilanh KT-97M cho tên lửa chống tàu P-15U mà không chỉ mang lại thành công về kích thước (chiều dài 1 mét, chiều rộng 0,8 mét), nhưng bảo đảm vi khí hậu cần thiết do tính toán độ kín. Tàu nhỏ tên lửa đề án 205-U có lượng choán nước tiêu chuẩn 184 tấn và hoàn toàn – 226 tấn, tốc độ tối đa – 41 hải lý do kết quả lắp động cơ diesel M-504, các thông số còn lại vẫn giữ như trước. Tàu nhỏ tên lửa đầu tiên – R-173 – gia nhập biên chế năm 1965, ở phương Tây, các tàu nhỏ tên lửa này nhận tên gọi lớp Osa-II.

Trong những năm 1980, 16 tàu nhỏ tên lửa sau khi bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân đã được trang bị lại để đảm bảo huấn luyện bắn tên lửa. Bộ phận của chúng được sử dụng để điều khiển với sự hỗ trợ của đài ra đa định vị sau khi phóng tên lửa chống tàu, còn các tàu khác trở thành tàu – mục tiêu và trang bị các máy phát bức xạ hồng ngoại và máy (thiết bị) phản xạ góc (đề án 205-Ts).

Cuối những năm 1990, 1 tàu nhỏ - R-370 (trước đó là Thanh niên cộng sản Tatarin”) – là tàu thí nghiệm, trang bị 2 thiết bị phóng 4 thùng cho tổ hợp tên lửa chống tàu mới “Uran” để thí nghiệm. Đề án nhận số hiệu 205-ER. Bổ trung trên tàu – lắp đài ra đa định vị “Harpun”, các khí tài tác chiến điện tử và các tổ hợp bắn nhiễu.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #235 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2012, 12:06:23 am »

Chương trình đóng tàu

Tàu nhỏ tên lửa đầu tiên đề án 205 – R-36 – được khởi công ở xưởng đóng tàu Primorsk ở Leningrad năm 1957 và gia nhập biên chế Hải quân Liên Xô năm 1960, hạ thủy tổng cộng 1 năm sau khi tiếp nhận vào biên chế tàu nhỏ tên lửa đề án 183-R đầu tiên. Việc đóng tàu nhỏ tên lửa đề án 205, sau đó là đề án 205-U và kéo dài tới năm 1973, còn trong xuất khẩu – tới đầu năm 1980. Việc đóng chúng được triển khai trong 3 xưởng: Primorsk ở Leningrad, Dalzavod ở Vladivostoc và ở Rưbinsk. Riêng đối với Hải quân Liên Xô đã đóng tổng cộng 140 tàu đề án 205 và 32 theo đề án 205-U, thêm vài chục tàu đóng cho nước ngoài.

Các tàu đã bán (hoặc chuyển giao) thuộc đề án 205 cho các nước sau: Algieri-3; Bulgaria-3; Cuba-5; Ai Cập-12; Đông Đức-15; Ấn Độ-8; Iraq-4; Triều Tiên-8; Ba Lan-14; Rumani-6; Siry-6; Nam Tư-10. đồng thời đề án 205-U: Algieri-9; Angola-6; Bulgaria-3; Cuba-13; Etiopia-4; Phần Lan-4; Ấn Độ-8; Iraq-8; Libia-12’ Somali-2; Siry-10; Bắc Yemen-2 (sau đó quay trở lại); Nam Yemen-8; Việt Nam-8. Ngoài ra, các tàu nhỏ tên lửa này được đóng theo dây chuyền sản xuất ở Trung Quốc (lớp “Hoàng Phố” - ?, đóng 104 tàu) và Triều Tiên với những sự thay đổi không đáng kể.

Các tàu nhỏ tên lửa xuất khẩu trang bị tên lửa P-20 (xuất khẩu của phiên bản P-15). Ít nhất 1 tàu đề án 205-U của Phần Lan được cải tạo thành tàu quét mìn: từ tàu tháo các thùng phóng tên lửa P-20, lắp trang bị để rải mìn trang bị kho chứa mìn, đòng thời bổ sung sung máy và trang bị vô tuyến điện.

Tình hình đến năm 2008

Các tàu nhỏ tên lửa đề án 205 và 205-U gia nhập biên chế tổng cộng 4 Hạm đội Hải quân Liên Xô. Đến năm 1980, chúng đã bị lạc hậu rất mạnh và kết quả là giai đoạn từ 1988 đến 1992 đã loại 51 tàu khỏi biên chế. Sau sự tan vỡ của Liên Xô, các các tàu nhỏ này bị loại khỏi biên chế mạnh hơn (ví dụ năm 1994, trong biên chế Hải quân Nga, còn tổng cộng 14 tàu) và tới thời điểm này, những tàu nhỏ tên lửa này không còn trong biên chế.

Trong Hải quân Ấn Độ đã tiếp nhận các tàu nhỏ tên lửa theo đề án 205 và 205-U. Đến tháng 5 năm 2005, toàn bộ các tàu đã bị loại khỏi biên chế. Ngoài ra các tàu này vẫn còn trong biên chế Hải quân Ba Lan và Libia.

Ở Trung Quốc, tới thời điểm này còn hơn 50 tàu nhỏ tên lửa lớp “Hoàng Phố” đóng ở Thượng Hải.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #236 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2012, 12:07:32 am »

Bản vẽ tàu nhỏ tên lửa đề án 250





Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #237 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2012, 12:08:49 am »

Hình vẽ màu tàu tên lửa lớp Osa



Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #238 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2012, 12:10:20 am »


Bố trí vũ khí trên tàu tên nhỏ tên lửa đề án 205 (trên) và 205-U (dưới)

1. Thiết bị pháo nòng đôi 30mm AK-230

2. Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực pháo MR-104 “Rưs”

3. Các thiết bị phóng dạng hang ga KT-97 cho tên lửa chống tàu P-15

4. Thiết bị phóng dạng thùng KT-97M cho tên lửa chống tàu P-15U

5. Khí tài điều khiển bắn “Kolonka” (VK)

6. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu và chỉ thị mục tiêu cho tên lửa “Ranguot”

7. Các ăng ten siêu cao tần thông tin liên lạc
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #239 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2012, 07:49:13 pm »

Các thông số kỹ chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 173 (205)/184 (205-U)

+ hoàn toàn: 216 (205)/226 (205-U)

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 38,6 (37,5)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 7,6 (5,9)

+ lượng mớn nước lớn nhất: 1,73 (205)/2,01 (205-U)

Thiết bị năng lượng chính: diesel

+ 3 động cơ diesel kiểu M-503, tổng công suất, sức ngựa (kW): 12 800 (8820 - 205)

+ 3 động cơ diesel kiểu M-504, tổng công suất, sức ngựa (kW): 15 000 (11 030 – 205-U)

3 trục; 3 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 39 (205)/41 (205-U)

+ tiết kiệm năng lượng: 14

Tầm bơi xa, hải lý (tốc độ, dặm): 2000 (14)/800 (30)

Thời gian hoạt động: 5 ngày

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 26 (4 – 205)/29 (4-205-U).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM