Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:52:24 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3  (Đọc 201690 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #270 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2012, 12:03:06 am »

Các biến thể


Trong quá trình đóng tàu đề án 1124 đã trang bị bổ sung tổ hợp pháo 30mm AK-630/MR-123, trong đó có đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Vưmpel” và các pháo 57mm và 30mm. Ở phương Tây, tàu chống ngầm loại nhỏ với những thay đổi mang tên “lớp Grisha-III”. Nói chung, ban đầu các tàu này được cho là thành công và với các biến thế khác nhau, việc đóng chúng được tiếp tục cho tới khi Liên Xô tan rã và thậm chí sau đó.

Trên MPK-5, từ năm 1982, đã thí nghiệm tổ hợp chống ngầm thí nghiệm mới RPK-5 “Liven” (RBU-10000) lắp trên mũi thay ch RBU-6000. Tuy nhiên sau các thí nghiệm này, tổ hợp không được tiếp nhận vào trang bị do hiệu quả chống ngầm thấp trên tầm xa lớn.

Đầu những năm 1970, theo mệnh lệnh của KGB (Ủy ban an ninh quốc gia) Liên Xô cho các đơn vị biên phòng trên biển, trên cơ sở tàu chống ngầm loại nhỏ đã chế tạo tàu tuần duyên biên phòng đề án 1124-P với sự đơn giản hóa thành phần vũ khí: thay cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M” – thiết bị pháo AK-725 thứ hai. Theo đề án này, các xưởng đã đóng 17 tàu tuần duyên biên phòng, số lượng lớn trong số đó, trong sự khác biệt với tàu chống ngầm loại nhỏ của Hải quân, không nhận số hiệu, mà là tên của một cá nhân đặc biệt (ngoài ra, lực lượng tuần duyên biên phòng được bàn giao một số tàu cơ sở thuộc đề án 1124). Các chuyên gia phương Tây gọi chúng bằng tên “lớp Grisha-III”.

Năm 1976, Phòng thiết kế trung ương Zelenodolsk đã nghiên cứu đề án kỹ thuật rút gọn 1124-M, có những sự khác biệt so với đề án cơ sở: đài thủy âm dưới sống tàu mới “Platina”, thiết bị pháo 57mm thay bằng pháo 76mm AK-176, tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M” bằng “Osa-MA”. Ngoài ra, dưới sống đuôi của tàu đã quyết định lắp tổ hợp bánh lái – di chuyển hỗ trợ. Kết quả là lượng dãn nước tăng lên 30 tấn, tốc độ giảm xuống 3 hải lý. Tổng cộng đã đóng 20 tàu đề án 1124-M (lớp “Grisha-V”), trong đó, tàu cuối cùng được lắp đài ra đa định vị “Fregat-MA”. Vì thế, việc sản xuất đài ra đa định vị “Rubka” đã dừng lại, chưa kịp thiết kế mới.

Sự phát triển tiếp theo của đề án 1124 theo hướng thay vũ khí hiện đại hơn đã bị cản trở do thiếu (không có) nguồn nâng cấp. Việc này rõ ràng đã xuất hiện trong quá trình thiết kế, đóng và khai thác sử dụng tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1124-K, được chế tạo đặc biệt cho các thí nghiệm trên biển của tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ đa kênh “Kinzhal” mới. Việc lắp thiết bị phóng thẳng của tổ hợp tên lửa mới, gồm có 3 mặt trống 8 thùng phóng được bố trí ở mũi tàu MPK-104, còn trạm ăng ten hệ thống điều khiển - ở mạn, thay cho thiết bị pháo 76mm. Ở phương Tây, các tàu này được gọi là “lớp Grisha-IV”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #271 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2012, 12:05:00 am »

Chương trình đóng tàu


Tàu đầu tiên trong đề án 1124 – MPK-17 được khởi công trên ụ xưởng mang tên Gorki ở thành phố Zelenodolsk năm 1967, hạ thủy 13 tháng 10 năm 1968 và và bàn giao cho Hải quân tháng 10 năm 1970. Tổng cộng đến năm 1986 theo đề án này đã đóng 38 tàu, trong số đó – 19 ở xưởng tại Zelenodolsk, 14- xưởng Khabarovsk và 5 – xưởng “Lò rèn Lenin” (Kiev). Ngoài ra, ở xưởng Vladivostoc từ năm 1981 đến năm 1983 đã đóng 5 tàu đề án 1124, gia nhập biên chế lực lượng biên phòng trên biển thuộc KGB (hiện nay là Cục biên phòng Nga – FPS RF). Từ năm 1980, ở Zelenodolsk, Khabarovsk và Kiev đã đóng song song các tàu theo đề án nâng cấp 1124-M.

Tình hình đến năm 2007


Sau khi đóng loạt tàu chống ngầm loại nhỏ “Albatros”, các tàu này được biên chế vào cả 4 Hạm đội Hải quân Liên Xô. Hiện nay, trong biên chế Hải quân Nga còn 5 tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1124. Các tàu còn lại bị loại khỏi biên chế trong những năm 1990 hoặc bán cho các nước láng giềng: 2 – năm 1993 cho Litva; thêm 2 tàu năm 1997 gia nhập biên chế Hải quân Ucraina. Thêm ba tàu nữa trong lớp này thuộc về biên chế Cục biên phòng Nga và phục vụ bảo vệ biên giới biển trên Thái Bình Dương.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #272 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2012, 12:06:31 am »

Bản vẽ tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1124







Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #273 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2012, 12:09:24 am »


Thiết bị pháo 57mm trên mạn tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1124



Mạn tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1124 đóng những năm 1980. Trên tàu lắp bổ sung tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-630 và đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực mới MR-123



Hình vẽ tàu chống ngầm loại nhỏ đề án 1124
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #274 vào lúc: 16 Tháng Mười Một, 2012, 12:46:32 am »

Tóm tắt lịch sử phục vụ
(* - đang phục vụ trong biên chế)

+ MPK-147; số hiệu xưởng 701; 26 tháng 12 năm 1966 khởi công trên ụ xưởng “Công nhân cơ khí Đỏ” mang tên Gorki tại Zelenodolsk thuộc nước Cộng hòa Xô viết Tartastan; 12 tháng 1 năm 1967 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 11 tháng 12 năm 1967; mùa xuân năm 1968 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 31 tháng 8 năm 1970; 25 tháng 9 năm 1970 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; năm 1985, 1985 và 1991 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 19 tháng 9 năm 1994 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1994 giải thể và nhanh chóng tháo kim loại ở Sevastopol.

+ MPK-5; số hiệu xưởng 702; 30 tháng 12 năm 1967 khởi công trên ụ tại xưởng ở Zelenodolsk; 15 tháng 6 năm 1968 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 16 tháng 10 năm 1968, mùa hè năm 1969 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 31 tháng 10 năm 1970; 24 tháng 11 năm 1970 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; trong giai đoạn 19 tháng 6 đến 7 tháng 8 năm 1979 ở xưởng tại Feodosia, từ 25 tháng 5 năm 1983 đến 17 tháng 12 năm 1985 và từ 19 tháng 10 năm 1988 đến 12 tháng 3 năm 1990 ở “Sevmorezavldo” mang Ordzhonikidze ở Sevastopol trải qua sửa chữa định kỳ và trung tu; 24 tháng 8 năm 1993 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1993 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol.

+ MPK-131; số hiệu xưởng 703; 25 tháng 5 năm 1968 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; 29 tháng 1 năm 1969 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 4 tháng 7 năm 1969, nhanh chóng  di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1970; 9 tháng 2 năm 1971 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 1 tháng 5 năm 1978 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Dolgo-Zapad; 1 tháng 7 năm 1989 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 31 tháng 1 năm 1991 loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 9 năm 1991 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk.

+ MPK-133; số hiệu xưởng 704; 4 tháng 10 năm 1968 khởi công trên ụ xưởng ở Zelenodolsk; 29 tháng 1 năm 1969 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 17 tháng 12 năm 1969; mùa hè năm 1970 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 15 tháng 9 năm 1971; 27 tháng 10 năm 1971 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 26 tháng 3 đến 27 tháng 11 năm 1985 ở xưởng số 82 ở cảng Roslyakovo trải qua trung tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay ở Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 11 tháng 2 năm 1994 loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 9 năm 1994 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk.

+ MPK-33; số hiệu xưởng 704; 23 tháng 5 năm 1968 khởi công trên ụ xưởng ở Zelenodolsk; 25 tháng 4 năm 1969 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 30 tháng 4 năm 1970, mùa hè năm 1970 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 24 tháng 12 năm 1971; 27 tháng 1 năm 1971 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 6 tháng 11 năm 1975 đến 28 tháng 3 năm 1980 và từ 7 tháng 7 năm 1989 đến 23 tháng 1 năm 1990 ở xưởng số 82 tại cảng Roslyakovo trải qua đại tu và trung tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 7 tháng 2 năm 1995 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 6 năm 1995 giải thể, sau đó đưa lên bãi cạn gần bờ ở vịnh Nezametnaia.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #275 vào lúc: 16 Tháng Mười Một, 2012, 12:46:59 am »

+ MPK-47; số hiệu xưởng 706; 5 tháng 9 năm 1969 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; hạ thủy 17 tháng 7 năm 1970; 5 tháng 2 năm 1971 ghi tên vào danh sách Hải quân, mùa hè năm 1971 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1971; 27 tháng 1 năm 1972 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 11 tháng 11 năm 1987 đến 9 tháng 6 năm 1988 ở xưởng số 82 tại  cảng Roslyakovo trải qua trung tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 20 tháng 10 năm 1992 loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 31 tháng 12 năm 1992 giải thể và năm 1997 khi đang đậu ở cảng Vladimir trong tình trạng nửa đắm do các thiết bị đáy thân xuống cấp nặng.

+ MPK-52; số hiệu xưởng 100; 30 tháng 10 năm 1968 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk;9 tháng 4 năm 1969 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 30 tháng 5 năm 1971, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1971; 8 tháng 2 năm 1972 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 14 tháng 7 năm 1997 giải thể; 1 tháng 8 năm 1997 bán cho Hải quân Ucraina, đổi tên thành U210 “Herson” và phân loại thành tàu tuần duyên; 8 tháng 9 năm 1997 loại khỏi biên chế Hải quân Nga.

+ MPK-36; số hiệu xưởng 10; 9 tháng 2 năm 1970 ghi tên vào danh sách Hải quân; năm 1970-1972 đóng ở xưởng Khabarvosk mang tên Kirov; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1972; 8 tháng 2 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 30 tháng 6 năm 1993 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 31 tháng 12 năm 1993 giải thể.

+ MPK-65; số hiệu xưởng 707; 10 tháng 7 năm 1970 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; 5 tháng 2 năm 1971 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 8 tháng 2 năm 1971, mùa hè năm 1971 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1972; 31 tháng 10 năm 1972 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 1 tháng 10 năm 1978 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở vịnh Dolgo-Zapad; 1 tháng 6 năm 1989 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 31 tháng 12 năm 1990 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk.

+ MPK-3; số hiệu xưởng 708; 12 tháng 10 năm 1970 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; hạ thủy 9 tháng 7 năm 1971; 11 tháng 2 năm 1972 ghi tên vào danh sách Hải quân, mùa hè năm 1972 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1972 để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1972; 31 tháng 1 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 20 tháng 4 năm 1992 loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 6 năm 1992 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #276 vào lúc: 16 Tháng Mười Một, 2012, 12:47:20 am »

+ MPK-41; số hiệu xưởng 11; 12 tháng 4 năm 1971 khởi công trên ụ xưởng mang tên Kirov ở Khabarovsk; 4 tháng 4 năm 1972 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 22 tháng 8 năm 1972, gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1972; 8 tháng 2 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 8 tháng 9 năm 1988 khi đang hoạt động trên biển Nhật Bản trong cuộc hành quân huấn luyện của Hạm đội Thái Bình Dương đã va chạm với tàu tuần duyên của lực lượng Biên phòng KGB và bị thương, sau đó được sửa chữa; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên xô bằng cờ thánh Andrei; 30 tháng 6 năm 1993 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 31 tháng 12 năm 1993 giải thể.

+ MPK-8; số hiệu xưởng 709; 3 tháng 3 năm 1971 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; hạ thủy 30 tháng 1 năm 1972; 4 tháng 4 năm 1972 ghi tên vào danh sách Hải quân, mùa hè năm 1972 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 28 tháng 9 năm 1973; 26 tháng 10 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 29 tháng 10 năm 1985 sau khi rời khỏi ụ khô Phương Bắc tới Sevastopol khi đang kéo, do các trục ổ đỡ hoạt động bị tràn nước biển và với độ nghiêng lớn về thành bên trái, mạn tàu bị chìm xuống nước, nhưng vẫn giữ được độ nổi và phải trở lại ụ để khắc phục sự cố; 1 tháng 12 năm 1987 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Donuzlav; 1 tháng 6 năm 1990 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 3 tháng 7 năm 1992 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 12 năm 1992 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol.

+ MPK-31; số hiệu xưởng 101; 30 tháng 9 năm 1969 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; 5 tháng 2 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 8 tháng 4 năm 1973, mùa hè năm 1973 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1973; 26 tháng 10 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 5 tháng 7 năm 1974 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; mùa hè năm 1974 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Azov tới biển Trắng; trong giai đoạn từ 3 tháng 11 năm 1983 tới 8 tháng 1 năm 1985 ở xưởng số 82 tại cảng Roslyakovo, từ 21 tháng 6 năm 1990 đến 30 tháng 8 năm 1991 ở xưởng số 35 “Sevmorput” ở Murmansk trải qua trung tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 7 tháng 2 năm 1995 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 6 năm 1995 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Murmansk.

+ MPK-117; số hiệu xưởng 12; 19 tháng 4 năm 1972 khởi công trên ụ xưởng mang tên Kirov ở Khabarovsk; 5 tháng 2 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 8 tháng 9 năm 1973; gia nhập biên chế 31 tháng 12 anwm 1973; 13 tháng 3 năm 1974 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 28 tháng 2 năm 1992 loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 6 năm 1992 giải thể, năm 1998 khi đang đỗ ở vịnh Uliss lớn gần Vladivostoc bị đắm do các thiết bị đáy thân xuống cấp nặng.

+ MPK-43; từ 5 thangs4 năm 1983 đến 15 tháng 2 năm 1992 là “Đoàn viên thanh niên cộng sản Odesa”; số hiệu xưởng 172; 1 tháng 8 năm 1972 khởi công trên ụ xưởng ở Zelenodolsk; 28 tháng 5 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 2 tháng 6 năm 1973, mùa hè năm 1973 theo hệ thống đường thủy trong nước tới Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1974; 23 tháng 1 năm 1975 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; năm 1989 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 14 tháng 7 năm 1997 giải thể; 1 tháng 8 năm 1997 bán cho Hải quân Ukraina, đổi tên thành U-209 “Sumi” và phân loại thành tàu tuần duyên; 8 tháng 9 năm 1997 loại khỏi biên chế Hải quân Nga.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #277 vào lúc: 16 Tháng Mười Một, 2012, 12:47:36 am »

+ MPK-81; số hiệu xưởng 13; 26 tháng 3 năm 1973 khởi công trên ụ xưởng mang tên Kirov ở Khabarovsk; 12 tháng 3 năm 1974 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 10 tháng 8 năm 1974; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1974; 7 tháng 3 năm 1975 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 11 tháng 2 năm 1994 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 6 năm 1994 giải thể.

+ MPK-40; số hiệu xưởng 715; 28 tháng 4 năm 1972 khởi công trên ụ xưởng ở Zelenodolsk; hạ thủy 23 tháng 5 năm 1974; 27 tháng 5 năm 1974 ghi tên vào danh sách Hải quân; mùa hè năm 1974 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để thực hiện các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1975; 25 tháng 10 năm 1975 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 28 tháng 3 – 4 tháng 4 năm 1984.

+ MPK-122; số hiệu xưởng 14; 27 tháng 5 năm 1974 khởi công trên ụ xưởng mang tên Kirov ở Khabarovsk; 14 tháng 3 năm 1975 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 23 tháng 8 năm 1975; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1975; 12 tháng 3 năm 1976 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatca; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 5 tháng 7 năm 1994 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 9 năm 1994 giải thể.

+* MPK-127; từ 26 tháng 8 năm 1990 đến 15 tháng 2 năm 1992 là “Đoàn viên thanh niên Gruzia”; số hiệu xưởng 102; 16 tháng 9 năm 1974 khởi công trên ụ xưởng “Lò rèn Lenin” ở Kiev; 25 tháng 9 năm 1975 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 10 tháng 7 năm 1976; gia nhập biên chế 27 tháng 12 năm 1976; 5 tháng 2 năm 1977 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; năm 1989 và 1991 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 27 tháng 7 năm 1997 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei.

+ MPK-143; số hiệu xưởng 15; 25 tháng 2 năm 1975 khởi công trên ụ xưởng mang tên Kirov ở Khabarovsk; 22 tháng 3 năm 1976 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 3 tháng 7 năm 1976; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1976; 11 tháng 4 năm 1977 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatca; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; năm 1986 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 17 tháng 7 năm 1997 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1997 giải thể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #278 vào lúc: 16 Tháng Mười Một, 2012, 12:48:01 am »

+ MPK-138; số hiệu xưởng 716; 26 tháng 3 năm 1975 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; 25 tháng 9 năm 1975 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 11 tháng 5 năm 1976; mùa hè năm 1976 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Severodvinsk để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1976; 5 tháng 2 năm 1977 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 3 tháng 11 năm 1983 đến 15 tháng 11 năm 1984 ở xưởng số 82 tại cảng Roslyakovo trải qua trung tu; 3 tháng 7 năm 1992 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 31 tháng 12 năm 1992 giải thể; năm 1998 khi đang đỗ tại cảng Linkhamari đã bị đắm một nửa do các thiết bị đáy thân xuống cấp nặng.

+ MPK-141; số hiệu xưởng 717; 15 tháng 3 năm 1976 ghi tên vào danh sách Hải quân; 3 tháng 7 năm 1975 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; hạ thủy 16 tháng 4 năm 1977, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới biển Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1977; 29 tháng 11 năm 1977 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; mùa hè năm 1978 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Azov tới biển Trắng; 21 tháng 1 năm 1978 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 27 tháng 10 năm 1988 đến 25 tháng 5 năm 1989 ở xưởng số 82 ở cảng Roslyakovo trải qua trung tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 5 tháng 7 năm 1994 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 6 năm 1995 giải thể; năm 1998 khi đang neo đậu ở vịnh Nezametnaia bị bão mạnh đánh lên bãi cạn gần bờ.

+ MPK-145; số hiệu xưởng 16; 29 tháng 10 năm 1975 khởi công trên ụ xưởng tại Khabarovsk mang tên Kirov; 22 tháng 3 năm 1976 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 11 tháng 6 năm 1977; gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1977; 17 tháng 2 năm 1978 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatca; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; năm 1992 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 4 tháng 8 năm 1995 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 9 năm 1995 giải thể; năm 1998 ở xưởng số 49 bị tháo dỡ   thành kim loại.

+ MPK-152; số hiệu xưởng 718; 1 tháng 7 năm 1976 ghi tên vào danh sách Hải quân; 18 tháng 11 năm 1976 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; hạ thủy 18 tháng 6 năm 1977, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao, gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1977; 17 tháng 2 năm 1978 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen, mùa hè năm 1978 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Azov tới biển Trắng; 21 tháng 9 năm 1978 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ 9 tháng 10 năm 1986 đến 27 tháng 1 năm 1989 ở xưởng số 82 tại Roslyakovo và từ 3 tháng 11 năm 1993 đến 7 tháng 7 năm 1994 ở xưởng số 10 tại vịnh Pala đã trải qua trung tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 5 tháng 7 năm 1994 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 6 năm 1995 giải thể; năm 1998 khi đang neo đậu ở cảng Nezametnaia bị đánh lên bãi cạn gần bờ do bão mạnh.

+ MPK-170; số hiệu xưởng 17; 31 tháng 5 năm 1976 khởi công trên ụ xưởng mang tên Kirov ở Khabarovsk; 7 tháng 2 năm 1977 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 30 tháng 9 năm 1977; gia nhập biên chế 14 tháng 10 năm 1978; 23 tháng 11 năm 1978 gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatca; năm 1978 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng bờ thánh Andrei; 31 tháng 7 năm 1996 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 9 năm 1996 giải thể, nhưng nhanh chóng ở trong tình trạng nửa đắm khi đỗ ở vịnh Rakovaia do các thiết bị đáy thân bị xuống cấp nặng.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #279 vào lúc: 16 Tháng Mười Một, 2012, 12:48:15 am »

+ MPK-6; số hiệu xưởng 103; 15 tháng 7 năm 1976 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; 13 tháng 2 năm 1978 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 3 tháng 6 năm 1978; mùa hè năm 1978 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Azov, từ đó tới biển Đen để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 12 tháng 12 năm 1978; 24 tháng 1 năm 1979 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; năm 1979 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và neo đậu ở Donuzaliv; 1 tháng 8 năm 1982 tháo niêm cất và trở lại biên chế; năm 1985 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; 27 tháng 7 năm 1997 (26 tháng 7 năm 1992 -?) thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 16 tháng 3 năm 1998 loại khỏi biên chế, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 5 năm 1998 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol.

+ MPK-161; số hiệu xưởng 719; 31 tháng 8 năm 1977 ghi tên vào danh sách Hải quân; 1 tháng 10 năm 1977 khởi công trên ụ xưởng tại Zelenodolsk; hạ thủy 6 tháng 5 năm 1978, nhanh chóng di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước tới Leningrad để tiếp tục các thí nghiệm bàn gia, gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1978; 24 tháng 1 năm 1979 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; năm 1984 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; trong giai đoạn từ 13 tháng 6 năm 1988 đến 28 tháng 4 năm 1993 ở xưởng tại Riga trải qua đại tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 31 tháng 7 năm 1996 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 9 năm 1996 giải thể.

+ MPK-4; số hiệu xưởng 18; 27 tháng 11 năm 1976 khởi công trên ụ xưởng mang tên Kirov ở Khabarovsk; 10 tháng 2 năm 1978 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 15 tháng 5 năm 1978; gia nhập biên chế 27 tháng 7 năm 1979; 13 tháng 9 năm 1979 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Anderi; 17 tháng 7 năm 1997 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1997 giải thể và năm 1998 ở xưởng “Zvezda” ở cảng Đá Lớn bị tháo kim loại.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM