Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:48:25 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những bức tường lửa  (Đọc 116667 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoanhe
Thành viên
*
Bài viết: 68


« Trả lời #20 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:03:19 pm »

cuộc điều tra nhưng đã không thể tìm ra sự thật. Nhưng ông ta biết một điều, đồng chí Hùng Phong, con gà nòi mà ông ta đã dày công nuôi vỗ hình như đã bị tấn công vì một lý do cá nhân nào đó. Công tác bảo vệ như vậy là có vấn đề. Người đầu tiên phải gánh hậu quả là cậu Tơn công vụ. Cậu lập tức bị điều xuống đơn vị chiến đấu và đã hi sinh ngay trong trận đầu sư đoàn giáp trận ở chiến trường Tây Nguyên. Vào thời điểm cậu Tơn hi sinh, Lương xuân Báo đã trở thành chính uỷ trung đoàn. Khi nghe được tin cậu công vụ tận tuỵ của mình đã hi sinh, Chính uỷ mới nói với trung đoàn phó Hùng Phong:

- Hôm đó cậu đánh nhau với ai chỉ có cậu Tơn biết, bây giờ thì cậu ấy sẽ mãi mãi giữ được bí mật về hành vi thiếu cẩn trọng của cậu rồi. Từ nay, không nên để tái diễn nữa.

Vụ xì căng đan ấy mãi sau này khi vào đến chiến trường Tây Nguyên, Côn mới kể cho Lân nghe. Nghe Côn kể xong câu chuyện, Lân gật đầu khen:

- Chỉ có cậu mới dám làm như thế. Nhưng có lẽ từ nay cậu sẽ khó sống với thằng Ban đấy!

Nhưng điều dự đoán ấy của Lân đã không thành sự thật. Ban không bao giờ nhắc lại chuyện này, và không bao giờ có ý định dùng cái thế cấp trên của mình để trả thù Côn, mặc dù số phận cứ bắt hai người cặp kè bên nhau với mối quan hệ nhập nhằng, vừa là bạn bè vừa là cấp trên cấp dưới. Khi Côn được đề bạt lên làm đại đội trưởng rồi chủ nhiệm trinh sát sư đoàn thì Hùng Phong cũng lần lượt được đề bạt làm tham mưu phó, tham mưu trưởng rồi sư đoàn phó sư đoàn trưởng. Nếu muốn trả thù vì trận đòn tình ngày ấy thì thiếu gì cơ hội, nhưng Hùng Phong đã cố gắng để “công tư phân minh” trong mối quan hệ với Côn. Và có lẽ cũng vì vậy mà họ vẫn còn giữ được tình bạn với nhau cho đến tận khi Côn hi sinh ở xứ người. 9

Trong đám con gái lớp 10B, còn phải nhắc tới hai nhân vật khá đặc biệt nữa. Người thứ nhất là Lý Hảo Hảo, một cô gái bố Hoa mẹ Việt ở phố Hàng Buồm. Bố Hảo từng là chiến sỹ của sư đoàn Quân tiên phong, từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, được thưởng huân chương chiến công hạng ba. Hoà bình ông ra quân với quân hàm chuẩn uý và được chuyển ngành về công tác tại công ty ăn uống Tràng Tiền, và trở thành một đầu bếp nổi tiếng ở Hà Nội. Ngoài cái tài nấu ăn được kế thừa từ người cha và năng khiếu đặc biệt về tiếng Trung, một trong hai môn ngoại ngữ được đưa vào dạy trong các trường phổ thông hồi đó, thì Lý Hảo Hảo chàng có gì nổi bật so với đám con gái trong lớp. Nhưng trong cuốn sách này, chúng ta vẫn cần phải nhắc tới cô vì không hiểu do duyên cớ gì mà số phận lại gắn bó cuộc đời cô với một trong những nhân vật hết sức quan trọng mà từ đầu tới giờ chúng ta vẫn thường xuyên phải nhắc tới với một thái độ kính trọng đặc biệt. Đó là chính trị viên Lương Xuân Báo sau này sẽ trở thành chính uỷ trung đoàn, người đỡ đầu một cách chân thành tận tuỵ của Hùng Phong. Câu chuyện tình của chính uỷ Lương Xuân Báo thật ra cũng bắt đầu từ “mối lương duyên” giữa anh và Hùng Phong. Nhưng chuyện này, mãi về sau mới được Hùng Phong tiết lộ.

Người thứ hai trong đám nữ sinh của lớp 10B cần được nhắc tới là Trần Hoà Bình, bạn bè trong lớp thường gọi là Bình lai vì cô cũng là một cô gái lai như Lý Hảo Hảo nhưng không được may mắn bằng vì cha cô là một người gốc Phi. Ông Lơgốt Trần Chiến Thắng là một hàng binh người An-giê-ri, ông ra hàng quân đội của Cụ Hồ Chí Minh từ năm 1947, rồi trở thành một chiến sỹ làm công tác địch vận của quân đội ta cho đến tận ngày hoà bình lập lại. Sau chiến tranh ông cũng được tặng thưởng huân chương, được phong quân hàm thiếu uý, ông được nhập quốc tịch Việt Nam và tình nguyện ở lại Việt Nam sinh sống vì đã lấy một người con gái Việt Nam làm vợ. Khi về tiếp quản thủ đô ông được điều về công tác tại văn phòng chính phủ, chuyên làm phiên dịch và đã có lần được dịch cho Cụ Hồ trong những buổi tiếp khách nước ngoài.

Nhưng rồi, không hiểu vì sao ông lại xin chuyển về nông trường Âu Phi ở Ba Vì - Sơn Tây, một nông trường được thành lập riêng cho những từ hàng binh trong quân đội Pháp, đa số là người gốc Phi, đã không chịu trở về Tổ Quốc theo hiệp định trao trả tù binh giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ Pháp. Họ tình nguyện ở lại lập nghiệp tại Việt Nam, nhiều người đã xin nhập Quốc tịch để trở thành công dân Việt Nam.

ông Lơgốt Trần Chiến Thắng lúc đó đã có hai đứa con sinh đôi, đứa con trai ông đặt tên là Trần Tự Do, đứa con gái là Trần Hoà Bình. Cùng với người vợ Việt Nam và hai đứa con sinh đôi, ông đã quyết định về lập nghiệp tại nông trường Âu Phi, hi vọng cùng với những người cùng cảnh ngộ với mình xây dựng nên một mô hình kinh tế - xã hội “Xã hội chủ nghĩa đa chủng tộc”, một thiên đường cho những người không có Tổ Quốc ngay trên Tổ Quốc mới của họ.

Cho tới trước khi đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, có vẻ như ông Lơgốt Trần Chiến Thắng và những người cùng chung lí tưởng với mình đã xây dựng được một thiên đường nhỏ, một cộng đồng dân cư đa chủng tộc ấm cúng và hạnh phúc. Nhiều người trong số họ đã có những gia đình riêng.

Trong những năm mới thành lập nông trường, cư dân trong vùng còn ngại tiếp cận với anh em người Phi, vì thế việc họ lấy được vợ người Việt Nam có vẻ như rất khó khăn. Nhưng từ khi gia đình ông Lơgốt Trần Chiến Thắng về đây thì dần dần hai cộng đồng đã tìm được cách để xích lại gần nhau. Vài ba năm sau, vượt qua mọi lời dị nghị, đã có những người phụ nữ đầu tiên trong vùng trở thành vợ những ông “Tây đen” khoẻ mạnh và rất đa tình. Cũng phải nói thực, mở đầu cho những cuộc hôn nhân đặc biệt ấy đa số là những bà, những cô đã quá lứa nhỡ thì hoặc những người phụ nữ goá chồng, không còn có khả năng xây đắp lại hạnh phúc với “người mình” nên đành liều mạng vào cuộc “phiêu lưu ái tình xuyên châu lục” xem nó ra làm sao?

Nhưng chỉ vài ba năm sau, đã xuất hiện những cô gái trẻ và không thể nói rằng không xinh đẹp đã về làm dâu “Nông trường Âu Phi”. Những câu chuyện tình mang màu sắc quốc tế ấy nhiều khi cũng rất lì kỳ và cảm động mà sau này cánh lính đại đội 9 thường há hốc mồm ra nghe Trần Tự Do kể thâu đêm suốt sáng trong những đêm nằm trên chốt Động Mã.
Logged
hoanhe
Thành viên
*
Bài viết: 68


« Trả lời #21 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:06:07 pm »

cuộc điều tra nhưng đã không thể tìm ra sự thật. Nhưng ông ta biết một điều, đồng chí Hùng Phong, con gà nòi mà ông ta đã dày công nuôi vỗ hình như đã bị tấn công vì một lý do cá nhân nào đó. Công tác bảo vệ như vậy là có vấn đề. Người đầu tiên phải gánh hậu quả là cậu Tơn công vụ. Cậu lập tức bị điều xuống đơn vị chiến đấu và đã hi sinh ngay trong trận đầu sư đoàn giáp trận ở chiến trường Tây Nguyên. Vào thời điểm cậu Tơn hi sinh, Lương xuân Báo đã trở thành chính uỷ trung đoàn. Khi nghe được tin cậu công vụ tận tuỵ của mình đã hi sinh, Chính uỷ mới nói với trung đoàn phó Hùng Phong:

- Hôm đó cậu đánh nhau với ai chỉ có cậu Tơn biết, bây giờ thì cậu ấy sẽ mãi mãi giữ được bí mật về hành vi thiếu cẩn trọng của cậu rồi. Từ nay, không nên để tái diễn nữa.

Vụ xì căng đan ấy mãi sau này khi vào đến chiến trường Tây Nguyên, Côn mới kể cho Lân nghe. Nghe Côn kể xong câu chuyện, Lân gật đầu khen:

- Chỉ có cậu mới dám làm như thế. Nhưng có lẽ từ nay cậu sẽ khó sống với thằng Ban đấy!

Nhưng điều dự đoán ấy của Lân đã không thành sự thật. Ban không bao giờ nhắc lại chuyện này, và không bao giờ có ý định dùng cái thế cấp trên của mình để trả thù Côn, mặc dù số phận cứ bắt hai người cặp kè bên nhau với mối quan hệ nhập nhằng, vừa là bạn bè vừa là cấp trên cấp dưới. Khi Côn được đề bạt lên làm đại đội trưởng rồi chủ nhiệm trinh sát sư đoàn thì Hùng Phong cũng lần lượt được đề bạt làm tham mưu phó, tham mưu trưởng rồi sư đoàn phó sư đoàn trưởng. Nếu muốn trả thù vì trận đòn tình ngày ấy thì thiếu gì cơ hội, nhưng Hùng Phong đã cố gắng để “công tư phân minh” trong mối quan hệ với Côn. Và có lẽ cũng vì vậy mà họ vẫn còn giữ được tình bạn với nhau cho đến tận khi Côn hi sinh ở xứ người. 9

Trong đám con gái lớp 10B, còn phải nhắc tới hai nhân vật khá đặc biệt nữa. Người thứ nhất là Lý Hảo Hảo, một cô gái bố Hoa mẹ Việt ở phố Hàng Buồm. Bố Hảo từng là chiến sỹ của sư đoàn Quân tiên phong, từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, được thưởng huân chương chiến công hạng ba. Hoà bình ông ra quân với quân hàm chuẩn uý và được chuyển ngành về công tác tại công ty ăn uống Tràng Tiền, và trở thành một đầu bếp nổi tiếng ở Hà Nội. Ngoài cái tài nấu ăn được kế thừa từ người cha và năng khiếu đặc biệt về tiếng Trung, một trong hai môn ngoại ngữ được đưa vào dạy trong các trường phổ thông hồi đó, thì Lý Hảo Hảo chàng có gì nổi bật so với đám con gái trong lớp. Nhưng trong cuốn sách này, chúng ta vẫn cần phải nhắc tới cô vì không hiểu do duyên cớ gì mà số phận lại gắn bó cuộc đời cô với một trong những nhân vật hết sức quan trọng mà từ đầu tới giờ chúng ta vẫn thường xuyên phải nhắc tới với một thái độ kính trọng đặc biệt. Đó là chính trị viên Lương Xuân Báo sau này sẽ trở thành chính uỷ trung đoàn, người đỡ đầu một cách chân thành tận tuỵ của Hùng Phong. Câu chuyện tình của chính uỷ Lương Xuân Báo thật ra cũng bắt đầu từ “mối lương duyên” giữa anh và Hùng Phong. Nhưng chuyện này, mãi về sau mới được Hùng Phong tiết lộ.

Người thứ hai trong đám nữ sinh của lớp 10B cần được nhắc tới là Trần Hoà Bình, bạn bè trong lớp thường gọi là Bình lai vì cô cũng là một cô gái lai như Lý Hảo Hảo nhưng không được may mắn bằng vì cha cô là một người gốc Phi. Ông Lơgốt Trần Chiến Thắng là một hàng binh người An-giê-ri, ông ra hàng quân đội của Cụ Hồ Chí Minh từ năm 1947, rồi trở thành một chiến sỹ làm công tác địch vận của quân đội ta cho đến tận ngày hoà bình lập lại. Sau chiến tranh ông cũng được tặng thưởng huân chương, được phong quân hàm thiếu uý, ông được nhập quốc tịch Việt Nam và tình nguyện ở lại Việt Nam sinh sống vì đã lấy một người con gái Việt Nam làm vợ. Khi về tiếp quản thủ đô ông được điều về công tác tại văn phòng chính phủ, chuyên làm phiên dịch và đã có lần được dịch cho Cụ Hồ trong những buổi tiếp khách nước ngoài.

Nhưng rồi, không hiểu vì sao ông lại xin chuyển về nông trường Âu Phi ở Ba Vì - Sơn Tây, một nông trường được thành lập riêng cho những từ hàng binh trong quân đội Pháp, đa số là người gốc Phi, đã không chịu trở về Tổ Quốc theo hiệp định trao trả tù binh giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ Pháp. Họ tình nguyện ở lại lập nghiệp tại Việt Nam, nhiều người đã xin nhập Quốc tịch để trở thành công dân Việt Nam.

ông Lơgốt Trần Chiến Thắng lúc đó đã có hai đứa con sinh đôi, đứa con trai ông đặt tên là Trần Tự Do, đứa con gái là Trần Hoà Bình. Cùng với người vợ Việt Nam và hai đứa con sinh đôi, ông đã quyết định về lập nghiệp tại nông trường Âu Phi, hi vọng cùng với những người cùng cảnh ngộ với mình xây dựng nên một mô hình kinh tế - xã hội “Xã hội chủ nghĩa đa chủng tộc”, một thiên đường cho những người không có Tổ Quốc ngay trên Tổ Quốc mới của họ.

Cho tới trước khi đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, có vẻ như ông Lơgốt Trần Chiến Thắng và những người cùng chung lí tưởng với mình đã xây dựng được một thiên đường nhỏ, một cộng đồng dân cư đa chủng tộc ấm cúng và hạnh phúc. Nhiều người trong số họ đã có những gia đình riêng.

Trong những năm mới thành lập nông trường, cư dân trong vùng còn ngại tiếp cận với anh em người Phi, vì thế việc họ lấy được vợ người Việt Nam có vẻ như rất khó khăn. Nhưng từ khi gia đình ông Lơgốt Trần Chiến Thắng về đây thì dần dần hai cộng đồng đã tìm được cách để xích lại gần nhau. Vài ba năm sau, vượt qua mọi lời dị nghị, đã có những người phụ nữ đầu tiên trong vùng trở thành vợ những ông “Tây đen” khoẻ mạnh và rất đa tình. Cũng phải nói thực, mở đầu cho những cuộc hôn nhân đặc biệt ấy đa số là những bà, những cô đã quá lứa nhỡ thì hoặc những người phụ nữ goá chồng, không còn có khả năng xây đắp lại hạnh phúc với “người mình” nên đành liều mạng vào cuộc “phiêu lưu ái tình xuyên châu lục” xem nó ra làm sao?

Nhưng chỉ vài ba năm sau, đã xuất hiện những cô gái trẻ và không thể nói rằng không xinh đẹp đã về làm dâu “Nông trường Âu Phi”. Những câu chuyện tình mang màu sắc quốc tế ấy nhiều khi cũng rất lì kỳ và cảm động mà sau này cánh lính đại đội 9 thường há hốc mồm ra nghe Trần Tự Do kể thâu đêm suốt sáng trong những đêm nằm trên chốt Động Mã.
Logged
hoanhe
Thành viên
*
Bài viết: 68


« Trả lời #22 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:10:41 pm »


Chuyện Trần Tự Do đi bộ đội Lân, Côn và các bạn trong lớp 10B được biết khá muộn. Cho mãi tới tận trước hôm lên đường, Bình “lai” mới rụt rè nói với các bạn cùng lớp:

- Ngày mai... em không thể đi tiễn các anh được...

mong các anh thông cảm, chúc các anh ra đi vui vẻ, khoẻ mạnh, chiến thắng trở về!

Lân ngạc nhiên nhìn cô gái lai vâm vạp hỏi:

- Sao thế Bình? Chẳng lẽ, bạn sợ nhìn thấy bọn này khóc hay sao mà không dám đi tiễn?

Bình lắc đầu cười:

- Không đâu... các bạn sẽ không khóc, có khóc thì chỉ là bọn con gái chúng tôi thôi... nhưng, ngày mai, mình còn phải đi tiễn anh Do... anh ấy cũng nhập ngũ đợt này với các bạn đấy!

Thì ra vậy. Cánh con trai trong lớp 10 B cũng đã biết Trần Hoà Bình có một người anh trai sinh đôi tên là Trần Tự Do. Họ cũng đã được gặp cậu ta một lần, ấy là vào một ngày trời mưa như trút, cả lớp đang xao xác tìm đồ để hứng nước mưa dột thì trước cửa lớp, xuất hiện một ông Tây đen rầm cao chừng một mét tám mươi, mặc áo tơi lá... Thanh Hà Nội là người đứng gần cửa nhất, chỉ kịp kêu ớ một tiếng rồi ngã ngồi bệt ngay xuống vũng nước mưa ở trước bàn thầy giáo. Ông Tây đen ấy vội bước tới định đữ Thanh dậy nhưng cô sợ quá kêu rú lên. Dường như đã hiểu ra nguyên nhân nỗi sợ hãi của cô bé, người thanh niên da đen vội lên tiếng:

- Xin lỗi các bạn... tôi xin gặp anh Lân lớp trưởng!

Lân vội bước tới trước mặt anh ta:

- Tôi đây... tôi là Lân, lớp trưởng... ông...

- Xin lỗi anh... em là anh trai của Trần Hoà Bình. Em Bình bảo em tới gặp anh để xin nghỉ học một hai bữa. Chả là em nó không may bị ngã trẹo chân... nhưng chỉ bong gân thôi chứ không ảnh hưởng gì đến xương cốt, các anh chị không phải lo lắng gì đâu ạ.

Lần đầu tiên được nghe một ông Tây nói tiếng Việt chuẩn đến như vậy mọi người đều ngạc nhiên, cả lớp lặng phắc đứng nhìn người anh trai sinh đôi với Bình.

Trước đây khi lần đầu tiên Bình đến lớp, mọi người đã ngạc nhiên lắm rồi, nhưng hình như cô có được nhiều nét giống mẹ hơn nên dù sao cũng còn có những nét nội hoá, dễ nhìn. Đằng này cậu ta, hình như chẳng có một nét Việt Nam nào ngoài giọng nói, mà lại là giọng Sơn Tây hẳn hoi mới chết chứ. Vì thế, giữa giọng nói, cách xưng hô lễ phép, với cái khổ người cao lớn đềnh đoàng, nước da đen bóng, mái tóc xoăn tít như tóc ông tượng bụt ốc trên chùa Tây Phương,... có một sự kênh nhau kinh khủng và rất buồn cười. Lần đầu tiên Lân gặp Do trong một hoàn cảnh kì cục như vậy đấy. Ai ngờ đến khi vào bộ đội, mặc dù Trần Tự Do đầu quân tại huyện khác, nhưng đến khi hợp quân thì hoá ra tất cả đều được điều về chung một tiểu đoàn, rồi run rủi thế nào lại được biên chế vào cùng một trung đội với Lân, Ban và Hướng “hạt tiêu”. Điều đáng ngạc nhiên là ngay lần gặp nhau đầu tiên ở nơi hội quân, Do đã nhận ra Lân. Cậu ta xô ngay lại, gần như ôm bổng anh lên mà reo “ôi, anh Lân! không ngờ em lại được ở cùng trung đội với anh. Em phải viết thư về báo ngay với Hoà Bình để nó mừng mới được!”.

Càng về sau, Lân càng hiểu rằng được ở chung một trung đội với Do thì có lợi như thế nào? Mọi việc nặng nhọc cậu ta cáng cho hết. Lần đầu tiên phải đi lấy củi, vai Lân bị trày trớ, đỏ bầm, sưng tấy lên. Nếu không có Do có lẽ anh đã phải bỏ dở vác củi mà về tay không chịu phạt. Những lần rèn luyện hành quân xa, mang vác nặng, bao giờ Do cũng tìm cách giúp đỡ Lân và Hướng “hạt tiêu” để hai người không bị rớt lại phía sau đội hình. Riêng với Ban thì không hiểu vì sao, cậu ta lại rất khó gần. Có lần Lân hỏi Do:

- Thằng Ban nó cũng được đấy chứ, hình như cậu không ưa nó lắm? Do chỉ lắc đầu cười, không trả lời.

Trước khi đi B, đơn vị xóc lại biên chế. Có lẽ vì có sức khoẻ hơn người nên Do được đưa về đại đội hoả lực của tiểu đoàn, trở thành xạ thủ đại liên, loại súng máy mà Do thích nhất. Ngay từ khi nhìn thấy khẩu súng máy, Do đã ôm lấy nó và bảo “Với khẩu súng máy này thì thằng Mỹ sẽ biết tay tôi”. Từ đó, sinh mạng của Do gắn liền với khẩu Côlinốp, anh em trong tiểu đoàn thường gọi cậu ta bằng tên mới - Do Côlinốp, nghe hơi Tây và có vẻ rất hợp với cậu ta.

Với khẩu Côlinốp, Trần Tự Do đã bước vào cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc của mình với tư cách của một người anh hùng rất yêu tự do và hoà bình như những cái tên mà người cha mang dòng máu châu Phi da đen đã đặt cho hai người con sinh đôi mà ông đã may mắn có được trên Tổ Quốc thứ hai của mình. 10

Trong nhóm con trai lớp 10B được biên chế về cùng một đại đội hồi mới nhập ngũ còn có Hướng hạt tiêu.

Hướng không chỉ nhỏ người, mà ăn nói cũng nhỏ nhẻ như con gái. Nhưng cũng có lúc cục ra phết. Tuy vậy, dẫu có cáu thì Hướng cũng chỉ văng ra những câu cụt lủn như “Mẹ...!”, “Bẩn!” hoặc cùng lắm là “Như cứt!”.

Dĩ nhiên Hướng được nhập ngũ là do gian lận cả chiều cao lẫn cân nặng. Hồi đó, chuyện ấy được coi là một hành vi yêu nước chứ không ai nỡ chê trách gì.

Hướng tuy nhỏ con nhưng lại rất dai sức, nên việc theo anh em trên thao trường không phải là vấn đề gì lớn.

Nhưng thảm nhất với cậu ta là khi nhận quân trang.
Logged
hoanhe
Thành viên
*
Bài viết: 68


« Trả lời #23 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:14:34 pm »

Mặc dù đã được ưu tiên chọn số nhỏ nhất rồi nhưng khi nhìn Hướng khoác bộ quân phục lên người Lân và Côn vẫn không nhịn được cười. Cứ như thằng hình nhân khoác áo tơi ngoài ruộng dưa vậy. Cái áo, dù có dài rộng thì cũng còn có thể tạm cho qua, nhưng còn cái quần vừa rộng vừa dài thì thật không biết phải xử lí ra sao? Hướng đã phải cuốn lên đến bốn gấu mà vẫn cứ dài. Cũng còn may là hồi đó, quân phục may bằng thứ vải sợi thô do nước bạn Triều Tiên viện trợ, có độ co ngót đến khủng khiếp. Những người cao lớn như Côn thì giặt quân phục một lần là không còn nhét được người vào nữa, nhưng những người bé nhỏ như Hướng thì lại có lợi. Sau một vài lần giặt, bộ đồ lính của cậu ta đã dễ coi hơn hẳn. Mũ mềm cũng là mũ của Triều Tiên viện trợ, may theo kiểu của quân đội bạn, trông rất nghịch mắt. Đặc biệt nhất có lẽ là cái mũ sắt. Nó trông giông giống loại mũ sắt của bọn lính SS Đức quốc xã mà hồi ấy thường xuyên được nhìn thấy trong những bộ phim của Liên Xô, hoàn toàn không có họ hàng gì với loại mũ sắt thông dụng quân đội ta trang bị cho lính pháo phòng không. Cũng không ai biết vì sao hồi đó các bạn Triều Tiên lại viện trợ cho ta loại mũ trông kì cục đến thế. Sau này mới biết, hồi đó chỉ có sư đoàn 320 thép là được cấp trên ưu tiên trang bị cho thứ mũ sắt ấy. Cả trung đoàn tập hợp để làm lễ ra quân, mũ sắt trùng trùng, lưỡi lê sáng loà, trông dữ đội lắm.

Đến khi sư đoàn đi B, cấp trên quyết định cho thay đổi trang bị, quân phục Ga-bac-đin, tăng võng, dép đúc Trung Quốc, ga men Liên Xô, nhưng cái mũ sắt thì không được thay đổi, vẫn mũ sắt miệng loe của Triều Tiên. Cái mũ ấy là đề tài của một rừng câu chuyện tiếu lâm. Nó nặng và bất tiện kinh khủng, nhưng khi hành quân đường dài, nó lại có tác dụng làm ghế ngồi mỗi khi giải lao. Anh nuôi thì sử dụng nó làm cối giã cua hoặc giã muối. Khi nào có điều kiện nghỉ ngơi thì lính dùng nó làm gầu đi tát vét ở sông suối kiếm cá cải thiện. Đến khi vào trận ở chiến trường đường 9 thì lính “Sư đoàn thép” đã lặng lẽ thanh lí bằng hết cái thứ mũ sắt kì cục và bất tiện ấy. Không phải vì nó xấu, mà vì nó không phù hợp một tẹo nào cho việc cơ động chiến đấu. Nhất là khi vận động tiếp cận địch trong những khu rừng lúp xúp thì cái tiếng leng keng nó phát ra khi va quệt vào cây lá chỉ tổ làm mục tiêu cho bọn xạ thủ phóng lựu của địch.

Khi mới vào chiến trường, lính đường 9 phát khiếp mỗi khi gặp anh “sư đoàn mão đồng” hành quân trên đường. Cứ gọi là rầm rầm như một đàn voi rừng, khí thế ngất trời. Vì thế, khi vào chiến dịch, thấy lính “sư đoàn mão đồng” lần lượt vứt bỏ mũ ở khắp các ngõ ngách của mặt trận thì cánh lính đường 9 thích thú lắm, liền đặt một bài vè như sau:

Sông Dinh (mật danh của sư đoàn Hồng Bàng hồi đó) khí thế ngút trời.
Năm ngàn mũ sắt sáng ngời đồng quê
Vô đây chẳng hiểu mô tê
Mão đồng lại bị tung hê khắp đồi
Bọ, mẹ đi nhặt về chơi
Cái để làm nồi, cái để đâm cua...

Lúc đầu, chỉ có lính dám bỏ mũ sắt vì thấy quá bất tiện khi đánh đấm, nhưng chỉ vài tháng sau, cả sư đoàn từ lính đến quan cấm còn thấy ai đội mũ sắt nữa.

Nói như kiểu nói ngày nay, vụ tổn thất hàng vạn chiếc mũ sắt đã được “lặng lẽ cho chìm xuồng”.

Cả sư đoàn bỏ mũ sắt dùng mũ mềm để đánh giặc thì được lờ đi nhưng riêng Hướng thì đã khốn khổ vì đã để lạc mất chiếc mũ sắt đó khi được thưởng phép, thậm chí suýt nữa còn bị bỏ lại không được đi B nữa kia. Hồi đó, mà bị bỏ lại hậu phương là có vấn đề, là coi như đời tàn, đời bỏ đi rồi!

Câu chuyện ấy đã dược Hướng kể lại như sau:

Nhập ngũ được ba tháng, sau khi kết thúc đợt diễn tập có bắn đạn thật ở Bưng, Hướng là một trong những xạ thủ B41 bắn giỏi nhất trung đoàn nên đã được thưởng năm ngày phép. Được thưởng phép ngay trong khi sư đoàn vào giai đoạn hai của cuộc diễn tập nên anh em đi phép phải mang theo toàn bộ quân tư trang và cả vũ khí mà về chứ không có chỗ mà gửi lại. Hướng cũng theo trên lưng cả ba lô, cuốc xẻng, bao đồ bao xe, mặt nạ phòng độc, một khẩu B41, một kẹp đạn bốn quả, hai quả đạn thật hai quả đạn học cụ, mười ngày gạo và thực phẩm sẵn sàng chiến đấu, và dĩ nhiên cả cái mũ sắt Triều Tiên úp trên ba lô. Chắc chắn rằng nếu được nhìn thấy Hướng “hạt tiêu” cõng từng ấy thứ trên lưng cộng cái mũ sắt nữa thì không nhịn được cười. Đã vậy, khi về tới bến xe huyện, không hiểu vì sao cậu ta lại nổi hứng lên mà nảy ra cái ý tưởng vô cùng độc đáo là ghé thăm các bạn trong trường trước rồi mới về nhà.

Phăm phăm bước gần tới cổng trường, cậu chàng mới chột dạ vì chợt nhớ ra một vấn đề không mấy hay ho, ấy là vấn đề cái đầu! Là vì hôm trước, cậu Mai thợ cắt tóc trứ danh của đại đội 9 vừa đưa được một đường tông đơ trên cái đầu của xạ thủ Hoa Hồng Nguyễn Đình Hướng, thì có một cô gái Mường đến tìm anh ta để nhờ chép bài hát. Gái đã gọi thì có dở việc cho ông giời Mai cũng bỏ lại. Anh ta đưa tông đơ cho cậu Ngoan, đệ tử mới bái sư học nghề được một tuần và bảo “Cậu làm nốt đi... Tớ phải đi công tác dân vận”.
Logged
hoanhe
Thành viên
*
Bài viết: 68


« Trả lời #24 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:18:08 pm »

Được dịp để thực hành, Ngoan hể hả vào cuộc một cách rất nhiệt tình. Kết quả là, cái đầu của Hướng hoàn toàn không giống bất kì một cái đầu nào trong đại đội. Nó nham nhở một cách kinh khủng, đã đành. Nhưng nó còn bị tàn phá dã man bởi bảy tám vết “lỡ tay”, máu me be bét. Và, quan trọng là tóc thì còn rất ít ở trên đỉnh đầu. Sau khi cố vùng vẫy để thoát khỏi bàn tay anh thợ học việc, Hướng vội vã chạy đi mượn được một cái gương, chỉ đến lúc đó anh mới thấy hết qui mô thiệt hại của mình. “Như cứt!”. Anh gầm lên chạy tới tìm cậu thợ vụng kia dịnh tho hắn một bài học, nhưng hắn đã kịp dọn đồ nghề và biến đi đâu đó rồi. Tai hại là hai hôm sau thì anh được tiểu đoàn gọi lên cho đi phép!

Chợt nhớ ra vấn đề cái đầu, Hướng nản chí, đã định quay gót. Nhưng rồi anh tặc lưỡi, đặt ba lô xuống, tháo cái mũ sắt Triều Tiên ra úp lên đầu “Thế này cũng ổn chán!” Anh nghĩ vậy rồi lại khoác ba lô, vác B41 lên hăm hở bước vào trường.

Hôm đó lại đúng vào ngày lớp đang họp bàn liên hoan cuối khoá, chuẩn bị thi tốt nghiệp, nên hầu như không một ai vắng mặt, dĩ nhiên phải trừ những thằng đã đi bộ đội.

Có lẽ phải là thiên tài mới có thể tái hiện được một cách chân thực nhất sự ngạc nhiên sửng sốt xen lẫn với nhiều thứ tình cảm khác nữa của đám học trò, phần còn của lớp 10B khi bỗng dưng, họ thấy một sinh vật không hẳn giống lừa, không hẳn giống lạc đà, lừng lững đi vào trước cửa phòng học của họ. Cái sinh vật lạ ấy chợt ngóc đầu lên, phơi ra một gương mặt đen nhẻm với một nụ cười sáng loá:

- Chào các bạn!

Đám con gái co rúm cả lại.

- Ôi giời! Ai thế nhỉ? - Thanh kêu lên thảng thốt.

- Mình đây... Hướng đây! Hướng “hạt tiêu” đây mà!

Lặng đi vài giây rồi mọi người mới ồ lên. Bí thư chi đoàn Bùi Hữu Nùng là người bạo gan nhất, thập thễnh bước lên trước vài bước.

- Ôi Nguyễn Đình Hướng! Chào... người lính. Sao mà trông... oách thế?

Mọi người cũng theo Nừng xán lại. Rồi những cái bắt tay, nhưng lời thăm hỏi rối rít. Đào là người táo tợn nhất trong đám con gái, liền đỡ lấy khẩu súng chống tăng mà Hướng vừa dựng cạnh chiếc bàn học trên cùng của lớp.

- Thứ gì thế này hả Hướng? Có phải... súng phóng bom nguyên tử không?

Thoa hốt hoảng ngăn lại:

- Đào, đừng có mó máy vào đó! Nó mà nổ thì chết tất cả bây giờ!

Mấy cậu bạn trai giúp Hướng gỡ ba lô ra khỏi vai.

Nhưng khi nhìn thấy mấy quả đạn hình hoa chuối màu xanh thì các cậu hốt hoảng không dám cử động nữa.

Thấy vậy Hướng liền đỡ lấy ba lô đặt nó xuống bàn thầy giáo rồi giảng giải:

- Đây là những quả đạn dùng để bắn xe tăng. Nó được cấu tạo theo nguyên lí phản lực đấy. Nhưng rất an toàn. Các cậu đừng lo!

Tuy đã đặt được ba lô xuống nhưng những thứ lỉnh kỉnh trên người Hướng vẫn còn rất nhiều, tất cả đều trông rất lạ lẫm kì bí trong con mắt của đám học trò. Vì thế mọi người đều đổ dồn ánh mắt tò mò quan sát từng chi tìết nhỏ trên người Hướng.

Lại vẫn là Thanh chợt kêu lên:

- Trời ơi... cái mũ lạ quá kìa!

Một cậu nào đó bình luận:

- Hình như đó là mũ trang bị cho bộ đội mang tên lửa chống tăng đấy!

Hướng bỗng cảm thấy lúng túng khi tất cả mọi con mắt đều đổ dồn về phía chiếc mũ.

- Có gì lạ đâu... Đó là loại mũ sắt của bộ đội Bắc Triều Tiên gửi sang chi vỉện cho chúng ta đánh Mỹ đấy mà!

Vừa nói Hướng vừa thản nhiên lột chiếc mũ sắt xuống đưa cho mọi người xem. Nhưng bỗng lại có tiếng một bạn gái kêu thất thanh:

- Ôi trời ơi... cái đầu!

Hướng bỗng giật mình, vội đưa tay lên xoa đầu và chết lặng đi vì chợt nhớ ra mình đã làm lộ hết “vấn đề cái đầu” rồi! Mọi con mắt đều đổ dồn lên cái đầu nham nhở của Hướng rồi không ai bảo ai cùng phá lên cười. Nhưng thế cũng xong, cười chán rồi mọi người mới nhớ ra rằng cần phải thăm hỏi tình hình từng người trong số các bạn lớp 10B đang làm lính. Đào là người hỏi nhiều nhất, dĩ nhiên chủ yếu là hỏi về Ban - Cậu Ban bây giờ oai lắm. Là đồng chí Hùng Phong rồí. Được đăng cả ảnh trên báo cho thanh niên cả nước học tập đấy.

Đào vừa cười vừa mếu máo:

- Đấy mình đã bảo mà... Ban nhất định sẽ là người số một!

Bí thư Bùi Hữu Nùng bỗng nêu ra sáng kiến:

- Các bạn này, nhân tiện đồng chí Nguyễn Đình Hướng về thăm lớp. Coi như đại diện cho tất cả các bạn lớp mình đi bộ đội không về được, tôi đề nghị, hôm nay ta liên hoan lớp luôn!

Mọi người vỗ tay hoan hô. Sáng kiến được tiếp tục cụ thể hoá bằng việc ai có bao nhiêu tiền trong túi thì hãy bỏ ra, lớp sẽ cân đối sau. Ồn ào như chợ vỡ một lúc rồi tất cả rùng rùng kéo nhau ra cửa hàng mậu dịch huyện, nghe nói ở đó dạo này có cả bún chả!
Logged
hoanhe
Thành viên
*
Bài viết: 68


« Trả lời #25 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:21:16 pm »

Hướng như bị cuốn đi bởi những con sóng tình cảm bạn bè. Hai người khênh giúp anh cái ba lô, mấy đứa con trai thi nhau vác khẩu súng. Riêng cái mũ sắt Triều Tiên thì không ai nhớ ra. Hôm sau, ông bảo vệ vào phòng học lớp 10B phát hiện thấy một chiếc mũ sắt lạ có vẻ như mũ sắt của biệt kích hay là mũ phi công thì phải. Với tinh thần cảnh giác ở mức cao nhất, ông không mang nộp nó cho ban giám hiệu nhà trường mà lại mang ra nộp cho công an huyện. Công an huyện cũng không biết nó là thứ mũ gì nên đã nộp ngay lên cho công an tỉnh. Trên tỉnh, dĩ nhiên người ta có thể biết xuất xứ của thứ quân trang lạ này, nhưng không ai rỗi hơi mà ngược trở lại cơ sở để đi tìm chủ nhân của nó làm gì?

Hướng chỉ phát hiện ra mất cái mũ vào ngày hôm sau. Anh có trở lại lớp nhưng hôm đó lớp đã nghỉ học rồi. Anh cũng ngờ có khi mình bỏ quên ở cửa hàng mậu dịch. Rồi, anh tặc lưỡi “Cái đồ khỉ gió ấy, mất thì mất, tiếc làm gì?”. 11

Sau năm ngày phép Nguyễn Đình Hướng cùng với đầy đủ trang bị (trừ chiếc mũ sắt) trở về đơn vị. Lúc này sư đoàn đã cơ động về đến vị trí cơ bản ở Lưong Sơn - Hoà Bình. Việc trả phép của Hướng có lẽ sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn nếu không phải kèm thêm một người - đó là Đào! Cô sống chết đòi Hưóng cho đi theo để thăm Phạm Xuân Ban, mặc dù Hướng đã giải thích đủ mọi điều từ việc bí mật quân sự cho đến những bất tiện của đơn vị ở nơi đóng quân dã ngoại... Anh cũng nói xa nói gần đến cả việc “đồng chí Hùng Phong đang có uy tín rất cao trong đơn vị, đang là đối tượng Đảng, Đào xuất hiện lúc này có thể không tiện cho sự phấn đấu của anh ấy”... Nhưng Đào bất chấp tất cả. Cô thề, sẽ phải gặp bằng được anh Ban rồi muốn ra sao thì ra.

Không còn cách nào khác, Hướng đành phải để Đào cùng đi với mình lên Lương Sơn!

Tuy ở vào tình thế bị động, nhưng Hướng cũng đã có những tính toán riêng để làm sao không làm ảnh hưởng đến đồng chí Hùng Phong. Trên đường, anh đã hình thành một phương án rất chu toàn. Đó là khi tới làng Múc, nơi cách vị trí đóng quân của đơn vị chừng hơn một cây số, anh sẽ đưa Đào vào gửi tạm nhà cụ Đơn, một cơ sở dân vận mà anh và Lân thường qua lại. Cụ Đơn có con trai đang chiến đấu ở chiến trường B nên rất yêu quí, tin tưởng bộ đội. Tuy vậy, kỉ niệm đầu tiên của anh em trong tiểu đội của Hướng với gia đình cụ Đơn lại là một câu chuyện khôi hài. Chẳng là hôm ấy sau khi tiểu đội trưởng Nguyễn Xuân Khoái la người đi nhận nhà cho tiểu đội ở trọ. Nhưng đến khi được lệnh đưa bộ đội vào nhà thì Khoái lại được trung đội gọi lên đi dẫn anh nuôi tới nguồn nước, việc đưa tiểu đội vào nhà dân giao lại cho Ban, nhưng Khoái nói không rõ tên chủ nhà nên anh em tìm khắp xóm vẫn không ra nhà cụ Đôn là nhà nào. Lúc ấy đã nhập nhoạng tối, sau một ngày hành quân, anh nào anh nấy đều mệt rã rời, Ban cũng thở không ra hơi nữa nên ra một cái lệnh - Toàn tiểu đội nghỉ tại chỗ. Cậu nào còn sức thì đi tìm nhà cho cả tiểu đội, tội gì mà cứ rồng rắn dắt nhau đi quanh xóm thế này cho khổ! Một sáng kiến hay, anh em lập tức hưởng ứng, người nào cũng lo tìm chỗ đặt ngay ba lô xuống nghỉ. Không thấy ai xung phong đi tìm nhà, Ban nổi cáu “Chả lẽ tôi lại phải gương mẫu à?” Lúc ấy, mới thấy có người lên tiếng “Để tôi đi cho!”. Mọi người ngoảnh lại nhìn, thì ra đó là cậu Do “Tây lai”. Giá như lúc khác thể nào anh em trong tiểu đội cũng trêu chọc vài câu, nhưng vào lúc này thì chả ai còn hơi sức đâu mà đùa nữa. Ban cũng vội tặc lưỡi “Thì cậu đi đi nhanh nhanh chân lên một chút!” Nửa giờ sau vẫn không thấy Do về, trời thì sắp tối rồi, mọi người bắt đầu sốt ruột. Vừa lúc đó thì tiểu đội trưởng Khoái chạy đến, mặt hầm hầm, quát um lên - Ban... cậu làm ăn kiểu gì thế hả? Tiểu đội thiếu gì người lanh lợi mà lại cử cái thằng Tây không ra Tây, ta chẳng ra ta ấy đi làm công tác dân vận hả?

Ban hốt hoảng hỏi:

- Có chuyện gì thế, anh Khoái?

Tiểu đội trưdng Khoái đang giận là thế mà cũng phì cười:

- Chuyện gì à? Cái thằng đười ươi ấy vừa nhô lên khỏi cầu thang là ông già đã chĩa khẩu súng săn vào mặt nó quát - Giơ tay lên, thằng biệt kích! Rồi hô cụ bà lấy thừng ra trói gô hắn vào chân cầu thang chứ còn gì nữa! May mà tớ đến kịp, nếu không thì hai cụ đã giảỉ hắn lên giao cho xã đội rồi.

Trong những ngày sau đó, ông bà già bỗng trở nên ưu ái đặc biệt với Do “tây”. Có lẽ là để đền bù danh dự cho cậu ta. Anh em trong tiểu đội vì thế, cũng được hưởng lây cái thơm thảo của hai cụ. Nhưng ai cũng thấy cụ Đơn đặc biệt thích anh Lân vì cụ cũng biết đôi ba chữ Hán, lại biết nhiều chuyện cổ kim, kể cả những chuyện về tổ tiên xa xôi của người Mường nữa. Vì thế, sau này khi tiểu đội cùng đơn vị vào rừng lập doanh trại để ở, vào những ngày được nghỉ tập, anh Lân vẫn thường ra nhà cụ chơi để cùng cụ đàm đạo về chữ nghĩa của các bậc thánh hiền. Đôi khi Lân cho cả đám Hướng, Côn, Ban... “ăn theo”. Gì chứ khoai sắn thì lúc nào ra cũng có, năm thuở mười thì còn được hai cụ đãi một bữa tươi nữa. Do thì không thích những cuộc “dân vận” kiểu ấy, anh ngại ra ngoài doanh trại, nhưng lần nào anh em trong tiểu đội ra chơi, hai cụ cũng hỏi thăm “cái anh Việt Nam mới” ấy ra làm sao rồi, và khi về thường không quên gửi quà cho Do.

Hướng đưa Đào tới nhà cụ Đơn với đôi chút e ngại. Để tăng thêm “sức nặng” anh giới thiệu bừa:

- Thưa hai cụ, đây là vợ của... đồng chí tiểu đội phó Hùng Phong đấy ạ!

Tuy tiểu đội chỉ đóng quân trong nhà cụ có một tuần, nhưng trong quãng thời gian ngắn ngủi đó, đồng chí Hùng Phong cũng đã thể hiện được vai trò, nên không chỉ có hai cụ mà cả nhân dân, nhất là đám thanh niên trong xóm Múc biết tiếng. Vì thế, nếu Đào là... vợ của đồng chí Hùng Phong thì sẽ ổn hơn. Hướng nghĩ một cách đơn giản như vậy khi giới thiệu Đào với gia chủ.

Cũng may hai cụ có vẻ mến Đào ngay từ đầu. Có lẽ bởi tính Đào đơn giản, xởi lởi nên cũng dễ gần. Cụ bà còn khẳng định Đào có nhiều nét giống cô con gái thứ hai của cụ vừa lấy chồng ở Mường Vang năm ngoái nữa kia. Kể ra, cái dáng thấp đậm, tròn lẳn và nước da trắng hồng của Đào cũng giống con gái Mường thật.

Sau khi đã gìới thiệu Đào với hai cụ và nói vài lời gửi gắm, Hướng dặn Đào trước khi vào đơn vị:

- Nếu có anh bộ đội nào láng cháng qua đây thì Đào đừng có tán nhăng tán cuội đấy nhé. Nếu biết mình dẫn “người nhà” của quân nhân lên đây thì thủ trưởng phê bình mình chết đấy, mà anh Ban cũng chẳng được yên thân đâu.

Đào hứa:

- Hướng cứ yên tâm đi, nếu có anh bộ đội nào ghé qua thì mình khai mình là con gái hai cụ đây là được chứ gì? Nhưng, Hướng phải bảo Ban thu xếp ra ngay đấy!
Logged
hoanhe
Thành viên
*
Bài viết: 68


« Trả lời #26 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:25:52 pm »

- Nhất định nó sẽ bồng ra ngay thôi mà!

Nhưng Hướng cũng lầm to khi nghĩ rằng Ban sẽ vui mừng lắm khi anh ghé vào tai báo tin Đào đã lặn lội lên tận đây thăm cậu ta. Ngược lại, Ban biến sắc mặt gắt:

- Thế có chết người ta không? Ai bảo cậu dắt díu nó lên đây hả?

- Thì nó nói nó nhớ cậu quá... Cứ nhất định đòi đi theo thì tớ biết làm sao? - Hướng lúng tứng thanh minh.

- Cậu lôi thôi bỏ mẹ! Ban nói vậy rồi vùng vằng bỏ đi. Bị đẩy vào tình huống trớ trêu. Hướng đành tìm Lân để kể hết sự tình.

Nghe xong, Lân bảo:

- Được rồi, để tớ khuyên nó một câu. Nhưng cái chính là phải nghĩ mẹo để chiều nay trung đội trưởng Thao cho thằng Ban nghỉ tập. Nhưng này, chớ có vội nói với thằng Côn chuyện này nhé!

Lân cũng chẳng phải khuyên bảo gì mà chỉ gặp Ban nói thẳng:

- Này, cáỉ Đào nó lên đấy. Nếu cậu mà không nhanh nhanh ra xóm Múc gặp nó là nó bồng vào tận đây tìm cậu đấy!

Quả nhiên, nghe Lân đe thế Ban quýnh lên - Ừ nhỉ... Con bé ấy nó dám làm thế thật đấy. Ông bảo tôi phải tính sao bây giờ?

Lân suy nghĩ một lát rồi nói:

- Được rồi, để tớ thu xếp với ông Thoan. Cũng may là tiểu đội trưởng Khoái đi lấy quân trang mai mới về nên sẽ dễ dàng hơn, chứ cái lão mặt sắt ấy mà ở nhà thì đừng có hòng nhúc nhích. Còn cậu thì cứ chuẩn bị đi. Trung đội trưởng cho phép là đi ngay, hiểu không?

Lân lên gặp trung đội trưởng Thoan và nói dối là ông cụ Đơn ngoài xóm Múc bị ốm vừa nhắn vào, anh xin phép cùng với Ban ra thăm ông cụ cho đẹp tình quân dân. Trung đội trưởng Thoan chẳng những đồng ý cho hai người đi mà còn móc trong túi cóc ba lô ra mấy lạng đường dúi cho Lân.

- Mình gửi biếu ông cụ... cậu cho mình gửi lời thăm nhé. Hồi mới lên đây, khi chưa làm được lán trại trong này, bọn tiền trạm chúng mình cũng từng ở nhờ nhà ông cụ đấy. - Rồi anh cẩn thận dặn thêm - nếu bệnh tình của ông cụ mà nặng thì vào ngay để mình báo cáo với tiểu đoàn cho quân y sỹ ra khám bệnh cho ông cụ nhé?

Thế là xong. Lân đưa Ban ra xóm Múc, ngồi trò chuyện tào lao với Đào một lát rồi bảo Ban:

- Cậu cứ ở đây chơi với Đào đến đêm về cũng được. Mình sẽ về trước liệu đường ăn nói với trung đội. Lão cai Khoái ngày mai mới về kia... Không có chuyện gì đâu! Đừng bỏ về sớm quá mà Đào tủi thân!

Lân phải dặn thêm như thế vì cứ nghĩ rằng Ban chỉ miễn cưỡng ngồi chơi một lát cho phải phép rồi cũng bỏ về đơn vị ngay thôi. Ai dè, anh cũng tính lầm nốt. Không những “đồng chí Hùng Phong” không bỏ về ngay mà còn ở thông đêm ngoài xóm Múc với người yêu. Chín giờ tối, đến giờ điểm danh mà vẫn không thấy Ban vể Lân đành phải lên gặp trung đội trưởng nói dối thêm một lần nữa, rằng bệnh tình của cụ Đơn tuy không nặng nhưng có lẽ Cụ bà hơi lo lắng nên có thể đã giữ Hùng Phong ở lại, phòng ban đêm có gì bất trắc nếu trung đội trưởng thấy cần thiết thì anh em trong tiểu đội sẽ cho người đi gọi về ngay. Trung đội trưởng Thoan suy nghĩ một lát rồi bảo:

- Thôi không phải đi tìm đâu. Nếu Hùng Phong thấy cần phải ở lại thì hẳn là tình thế đòi hỏi như vậy rồì. Dẫu sao thì đồng chí ấy cũng là tiểu đội phó, là cán bộ rồi, đồng chí ấy sẽ biết phải làm gì. Sớm mai, nếu Hùng Phong vẫn chưa vể thì tôi sẽ báo cáo với đại đội để đại đội cử người ra xem sao! Từ giờ tới sáng mai, đồng chí sẽ thay Hùng Phong quản lí tiểu đội!

Thế là thoát. Sáng sớm hôm sau, đơn vị vừa báo thức thì đã thấy Hùng Phong vận quần đùi áo may ô chạy ra trước lán hô hoán ầm ầm gọi anh em trong tiểu đội ra tập thể dục. Lân cũng vội chạy tới bên cậu ta hỏi khẽ:

- Về lúc nào thế, hả?

Ban cười, ngượng ngùng đáp:

- Ơ... đêm qua... mình về... hơi muộn một tý!

Cái thằng, nói dối như cuội. Ba giờ sáng dậy thay gác mình mò vào giường nó thấy vẫn trống trơn kia mà. Đêm qua, chắc chàng nàng được một đêm mê tơi chứ còn gì?
12

Thực ra thì vào lúc mười giờ đêm, sau mấy tiếng đưa Đào đi dạo ngoài đồi chè về đến nhà, Ban cững đã định chào ông bà chủ nhà để về đơn vị. Nhưng đúng lúc đó thì bà cụ Đào nói với Đào:

- Mế đã chuẩn bị chỗ ngủ cho hai đứa rồi đấy. Chúng bay cứ tự nhiên như ở nhà. Bố mế cũng có con trai, con gái lớn nên biết lắm mà. Thằng Ban sớm muộn rồi cũng đi chiến đấu ở trong Nam như anh Cuông nhà này. Nếu chúng bay mà có đứa con để lại cho bố mế chúng bay thì là cái phúc to lắm đấy!

Ban sững sờ ngạc nhiên trước những lời chân thành giản dị của bà mế Mường. Anh không ngờ ông bà già này lại suy nghĩ một cách đơn giản hồn nhiên về vấn đề quan hệ nam nữ như vậy. Có thể, cũng tại thằng Hướng đã giới thiệu với hai ông bà rằng Đào là vợ của Ban. Không biết Hướng có nói như thế không, nhưng hai cụ thì tin thế. Một người con gái lặn lội hàng trăm cây số lên tận xứ rừng này không thể là chỉ để thăm một người “bạn trai” vu vơ nào đó.

Đào run rẩy khi dẫn anh vào căn buồng thưng bằng vách nứa. Giọng cộ nghẹn lại:

- Anh Ban ơi... có cả... cái giường nữa...

Sở dĩ cô buột miệng nói ra những lời rất vớ vẩn đó là vì lúc nãy, khi ôm nhau trên bãi cỏ ngoài đồi, cô đã gần như lả đi trong vòng tay anh khi ngrhe tiếng anh thì thào bên tai mình:


Logged
hoanhe
Thành viên
*
Bài viết: 68


« Trả lời #27 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:30:09 pm »

- Đào ơi... cỏ mềm quá... cứ y như một cái giường ấy nhỉ...

Cô dã để anh đặt mình nằm trên chiếc giường thiên nhiên ấy mà mặc cho đôi bàn tay anh mơn trớn trên cơ thể mình. Đôi bầu vú của cô căng mọng, cương cứng và nóng hầm hập. Cơ thế cô như tan ra trước những khám phá dồn dập của đôi môi, của bàn tay anh kì diệu, tham lam. Cô như cảm thấy thân thế mình như sắp tan chảy để hoà làm một cùng cơ thể anh cũng đang tan chảy. Có lẽ chỉ một li nữa thôi thì họ đã đi tới cái đích tột cùng của sự dâng hiến. Đó là thời khắc cô cảm thấy dường như tất cả tinh lực từ cơ thể anh đã dồn tụ xuống phần cơ thể nhạy cảm nhất. Cái phần cơ thể ấy cương cứng, nóng rực đang hối hả lần tìm nơi yếu huyệt của cơ thể cô, cái nơi mà các cô đã được dạy rằng phải gọi chệch đi bằng một cái tên khác cho tế nhị hơn.

Cô cảm thấy cánh cửa vào cơ thể mình đã mở toang, đã sẵn sàng, mềm nhũn, khuất phục và nức nở nghẹn ngào chờ đợi. Dường như anh cũng đã cảm nhận được sự đón đợi đó nên đã vội vàng, hấp hởi tiến tới nơi huyền bí của người con gái. Chưa một lần tới đây, chưa được ai chỉ bày dạy dỗ, anh hành động theo sự mách bảo minh triết của cơ thể. Và, anh đã cảm thấy cái đích mình phải tới. Nhưng vào đúng cái thời khắc mà chỉ cần một vài động tác nữa thôi là anh sẽ biết tới sự tận cùng của con đường mình phải đi thì cơ thể anh bỗng như nổ tung, sinh lực trong anh bùng toá ra ở điểm tận cùng và trút lên mục tiêu một thứ chất nhầy mà anh đã từng thấy trong những lần mộng tinh. Đó là những lần anh mơ mình nhìn thấy và chạm tới phần dưới cơ thể của một trong những cô nữ sinh Hà Nội trong lớp 10B của mình.

Người con gái đang nức nở bên dưới cơ thể anh thì phải mất vài giây sau mới cảm nhận được sự đứt gánh giữa đường. Cô không biết vì sao lại như vậy nhưng bản năng của người con gái trong cô mách cho cô biết rằng hình như người khách mà thân thể tràn đầy sinh lực của cô chờ đợi đã dừng chân ngay bên ngưỡng cửa.

Mặc dù vẫn cực kì hưng phấn nhưng cơ thể cô dường như vẫn chưa thoả mãn, cô biết mình chưa trở thành đàn bà!

Nhưng với một người con gái sớm biết yêu, biết chấp nhận mọi điều vì người mình yêu, biết tìm mọi cách để được tận hưởng tình yêu nhưng lại luôn có mặc cảm mình chưa tới được với tình yêu thì như vậy đã là quá nhiều. Nếu như tất cả chỉ có vậy chỉ dừng lại đó thì cô cũng đã vô cùng hạnh phúc rồi.

Cô không bao giờ dám mơ tới điều mình sẽ có cả một đêm để trở thành đàn bà, có cả một căn buồng và một chiếc giường thiêng liêng dành cho chuyện vợ chồng.

Cô đã khóc nức lên khi cuối cùng thì Ban cũng đã lấy lại được sức lực và sự bình tĩnh, đã biết dùng chút kinh nghiệm ít ỏi đầu tiên để đưa được cái phần nhạy cảm nhất của anh vào cánh cửa mà cơ thể cô đã mở sẵn để biến cô thành một người đàn bà trọn vẹn. Trong hạnh phúc tột cùng, trong sự trào dâng bất tận của những cơn sướng khoái, từ trái tim cô buột lên những lời biết ơn giản dị và sâu sắc nhất.

- Anh ơi...! Ban ơi... Hùng Phong của em ơi... anh làm cho em... em... có thể... chết ngay bây giờ vì... sung sướng quá!...
13

Bí mật về những phút giây hạnh phúc tột cùng, về cái đêm Ban biến cô thành một người đàn bà, chín năm sau đã được Đào vừa khóc vừa nức nở kể lại cho Côn nghe vào đêm đầu tiên hai người trở thành vợ chồng.

Thực ra, Côn không hề muốn nghe lại câu chuyện ấy.

Đào không hề biết rằng cái được cho là sự chân thành, trung thực của cô đã gây nên một vết thương lớn trong trái tim anh. Vết thương ấy cứ toang hoác ra cùng thời gian không thể nào lành lại được. Mỗi lần ân ái với nhau, mặc dù Đào luôn biết chiều chuộng, luôn biết vuốt ve, tạo nên sự hưng phấn cao độ cho chồng nhưng thường thì vào những lúc hứng khoái nhất, thì từ đâu đó trong bóng đêm của ẩn ức một mũi tên sắc nhọn vụt lao ra, bắn trúng ngay vào điểm thiêng liêng, nhạy cảm nhất của một người đàn ông. Vì vậy, vào những giây khắc đó anh thường hộc lên những tiếng kêu đau đớn, nhiều khi là những tiếng rú man dại, bi thương mà Đào thì lại lầm tưởng đó là những âm thanh biểu hiện sự khoái lạc mà mình vừa mang đến cho chồng. Cô rất lấy làm mãn nguyện và dần dần đâm ra nghiện những âm thanh cuổng yêu đau đớn đó. Vì thế, trong những cuộc làm tình lặng lẽ hiếm hoi, thường là do Côn đang bị phân tâm vì một điều gì đó nên không nhận ra sự xuất hiện của những mũi tên đen ẩn ức, Đào lại không thấy mình được thoả mãn. Nhưng, vì thời gian họ được gần nhau thường không nhiều nên sự sai biệt trong những lần chăn gối, cũng không thành vấn đề gì lớn có thể ảnh hưởng đến hạnh phúc của họ.

Cưới nhau được chừng hơn một năm thì họ có đứa con trai đầu tiên và Côn cũng đã trở thành một sư đoàn trưởng. Sư đoàn của anh được lệnh sang chiến đấu tiêu diệt bọn Pôn Pốt ở Cămpuchia trong đội hình của một mặt trận do Hùng Phong làm phó tư lệnh.

Một lần Côn có dịp được ra Hà Nội công tác. Hoàn thành việc quân, anh vẫn còn mấy ngày rảnh nên được ghé thăm nhà ít bữa. Đêm đầu bên sau mấy năm dài xa nhau anh và Đào đã
Logged
hoanhe
Thành viên
*
Bài viết: 68


« Trả lời #28 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:34:54 pm »

thức bên nhau tới sáng. Trong lần ân ái cuối cùng trong đêm ấy, Đào bị một cơn hứng khoái tột cùng làm cho lú lẫn đến nỗi, cô đã để cho kí ức về cái đêm đầu tiên trở thành đàn bà trỗi dậy, lấn át tất cả. Vừa cong người lên đón nhận những đợt sóng tình, miệng cô vừa ú ớ rên lên:

- Ôi... ôi... anh Ban ơi... nữa đi... anh... anh làm cho em,... sướng quá... em... có thể chết đi ngay được!

Như một kị sỹ đang phi nước đại bỗng bị trúng một mũi tên, Côn liền ngã huỵch xuống giường. Toàn thân anh trở nên nguội lạnh.

Ngay hôm đó anh bỏ về Hà Nội và tìm đến giáo sư Lân, người bạn chiến đấu của mình để trút nỗi cay đắng trong lòng. Câu chuyện mà Côn kể cho Lân nghe vẫn được giữ bí mật tới ngày hôm nay. Ngay cả Đào cũng không hiểu vì sao hôm đó chồng chị lại đột ngột ra đi trong khi hôm trước anh còn nói anh được nghỉ ở nhà cả một tuần. Nhưng thôi, đó là chuyện nóng lạnh của nhà binh, chị tin rằng anh chỉ có thể rời mẹ con chị mà ra đi vội vã khi có một mệnh lệnh chiến đấu quan trọng nào đó. Người đàn bà hồn nhiên và đơn giản ấy thật may mắn vì không nhớ được những gì mình đã kêu rên khi nằm trong vòng tay ân áỉ của chồng.

Năm tháng sau Thượng tá Nguyễn Danh Côn đã hi sinh anh dũng trên chiến trường nước bạn.

Hùng Phong viết thư cho giáo sư Trương Đình Lân thông báo vể sự hi sinh của anh với những dòng thống thiết như sau:

Anh Lân ơi...! Thế là Nguyễn Danh Côn người bạn, người đồng chí thân thiêt nhất của chúng ta đã ra đi.

Tôi không bao giờ có thể ngờ đươc rằng một người lính trinh sát kì cựu, dày dạn, đươc m ệnh danh là “vua mìn bẫy”, cuối cùng lại gục ngã vì một trái mìn rất vớ vẩn, ở một nơi không ngờ nhất. Hôm ấy Côn vừa đích thân chỉ huy một trung đoàn tiến công tiêu diệt một cứ điểm cố thủ của bọn tàn quán Pôn Pốt trên một điểm cao thuộc dãy Tà Xanh. Có thể nói đây là cứ điểm quan trọng cuối cùng của địch trong khu vực thung lũng Tà Xanh khắc nghiệt này. Dưới sự chỉ huy một cách khôn ngoan và gan góc của Côn, trận đánh đã thành công ngoài sức tưởng tượng của bộ chỉ huy mặt trận. Bọn chúng tôi chưa kịp ăn mừng thì nghe tin dữ, trên đường rút quân về hậu cứ, chiếc xe Zép chở sư đoàn trưởng Nguyễn Danh Côn đã bị trúng mìn ở cua Đá Trắng. Không thể ngờ được rằng sau mấy tháng thông đường, hàng ngàn chuyến xe của ta đã qua lại con đường này mà lại còn sót một tráí mìn chưa nổ. Khả năng địch lén ra đặt mìn bị loại trừ vì nơi ấy khá xa mặt trận. Vậy tại sao chiếc bánh xe oan nghiệt của Côn lại lăn đúng vào chỗ trái mìn còn sót lại đang rình rập. Chỉ có thể giải thích rằng đó là sự tình cờ nghiệt ngã của số phận mà thôi. Hay là đó chính là “sự trả thù” của hàng vạn trái mìn đã từng bị người lính trinh sát tài ba Nguyễn Danh Côn vô hiệu hoá trên chặng đường dằng dặc gần hai mươi năm ra trận? Mình cũng không biết nữa. Nhưng sự ra đi đột ngột của Nguyễn Danh Côn khiến mình vô cùng đau đớn. Vì Côn là người bạn cuối cùng của nhóm 10B còn sát cánh chiến đấu bên cạnh mình cho đên tận ngày hôm nay. Bấy lâu nay, mình luôn bị ám ảnh bởi một ý nghĩ rằng mình đã từng có lỗi với Côn và Đào. Mình cũng định có một lúc nào dó mình sẽ nói chuyện một cách thành thật với Côn rằng thực ra mình cũng không bao giờ có ý định giành giật tình yêu của Đào. Ngày ấy khi chúng mình còn là học trò, mình không yêu Đào. Thích một chút thì có nhưng yêu thì không! Nhưng khổ một nỗi là cô ấy lại yêu mình. Côn mới là người yêu Đào thực sự, nhưng hình như cậu ấy đã đầu hàng quá sớm. Giá như trong tình trường mà cậu ấy kiên cường, dũng cảm và mưu trí được như trên chiến trường thì có lẽ... Mà thôi, dẫu sao thì cuối cùng hai bạn ấy cũng đã đến được với nha. Đã thành vợ chồng của nhau. Bây giờ gánh nặng này mình đành phải nhờ “lớp trưởng” thôi. Tới đây mình sẽ trực tiếp ra làm công tác báo tử cho gia đình Côn.

Nhưng mình không thể biết chuyện gì sẽ xảy ra khi mình đột ngột xuất hiện trước Đào để báo một tin khủng khiếp đên như vậy cho bạn ấy. Mình đành cậy nhờ anh về gặp Đào “làm công tác tư tưởng” trước vậy!

Mong anh hãy vì tình bạn giữa chúng ta, nhất là vì mối giao tình đặc biệt giữa anh và Côn - hai người lính trinh sát với nhau - mà gánh đỡ Ban một chút cái gánh nặng này...!
14

Lá thư của Hùng Phong đã khiến giáo sư Lân mất ngủ trọn đêm. Đến đêm thứ hai ông thử dùng đến sự trợ giúp của thuốc ngủ Xê-đu-xen nhưng cũng vô dụng. Ông không ngủ được không chỉ vì sự tiếc thương người bạn chiến đấu tốt nhất của mình vừa hi sinh và cáỉ gánh nặng mà Hùng Phong trút lên vai ông khi nhờ cậy ông làm con quạ báo tin dữ cho mẹ con Đào. Bên cạnh nỗi đau, sự cảm thương, lá thư của Hùng Phong còn khơi dậy trong ông một nỗi tức giận khôn nguôi bởi những dòng lí giải rất khó ngửi của hắn về tình yêu. Ngụy biện đến thế là cùng. Cho rằng với trường hợp của Đào hắn ta có lí đi, vì Đào thực sự yêu hắn và cứ tìm mọi cách lăn vào vòng tay hắn một cách mê muội nên mới bị hắn lợi dụng đi. Nhưng còn trường hợp tội lỗi mà hắn gây ra với Thanh thì sao? Đào là một cô gái nhà quê đơn giản, chất phác nhưng còn Thanh, cô ấy thông minh thế, lịch lãm thế, đoan trang thế, làm sao có thể bị hắn lợi dụng được? Bao năm nay, ông vẫn không sao giải được sự bí ẩn này? Ngay trong lần gặp nhau cuối cùng trước khi Côn vào lại chiến trường, sau khi nghe Côn than thở về chuyện vợ mình vẫn không quên được Ban ngay cả khi ân ái với nhau, ông cũng đã lại đưa “trường hợp của Thanh” ra để hỏi Côn xem liệu anh ta có tìm được cách lí giải nào khả dĩ hợp lí để giải thích về sự mù quáng của cô ấy hay không? Nghe xong, Côn cũng lắc đầu một cách cay đắng mà thốt lên “Không thể nào hiểu nổi đàn bà đâu anh?”.

Một lát sau, dường như thương hại sự thất vọng của Lân, Côn cười xoà, vỗ vai Lân, giải thích thêm:

- Thôi đi anh... Nghĩ mãi về chuyện đó làm gì? Có lẽ.. ngày ấy... phụ nữ họ cũng mê muội như tất cả chúng ta thôi... Chúng ta sống với Hùng Phong, hiểu rất rõ con người thật của anh ta. Chúng ta biết rất kĩ cả những điểm tốt và cũng biết tường tận những điều xấu xa của anh ta, chúng ta biết anh ta có những hành động anh hùng nhưng chúng ta cũng biết anh cũng là một kẻ cơ hội, biết chiều đời, lựa gió mà tiến thân. Vậy mà chính chúng ta cũng bị những hào quang mà thời cuộc dồn tụ chiếu dọi vào anh ta làm cho loá mắt. Chúng ta cũng có lúc tự hào vì được là bạn, là đồng chí của Hùng Phong đấy chứ. Vậy thì trách làm gì đám đàn bà con gái? Thời ấy, cả dân tộc yêu màu áo lính và tôn thờ những người anh hùng. Vì vậy, nếu Thanh có bị cái thứ hào quang thời cuộc ấy cuốn hút rồi lao vào đó mà tự thiêu đốt cuộc đời mình thì cũng chẳng phải là điều gì quá khó hiểu.
Logged
hoanhe
Thành viên
*
Bài viết: 68


« Trả lời #29 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:38:16 pm »

Nghe xong giáo sư Trựơng Đình Lân gật gù khen:

- Phải... có lẽ... đó là lời giải thích hợp lí nhất. Hào quang thời cuộc! Một khái niệm rất hay. Cậu, hoá ra không những chỉ là một người lính trinh sát giỏi mà còn có phẩm chất của một triết gia đấy!

Côn cười vang:

- Chẳng phải anh đã được gọi là “triết gia” là “giáo sư” ngay từ những ngày vừa bước vào học nghề trinh sát đó sao?

Gỉáo sư Lân cũng bật cười.

- Phải... chính vì thế nên tớ sớm bị loại khỏi làng lính trinh sát!

Giáo sư Trương Đình Lân còn nhớ như in cái ngày mà anh và Côn được chính trị viên Lương Xuân Báo gọi lên giao nhiệm vụ một cách trang trọng:

- Qua ba tháng huấn luyện, đại đội nhận thấy hai đồng chí vừa có trình độ văn hoá lại vừa có những phẩm chất đặc biệt. Vì thế, ban chỉ huy đại đội đã phát hiện và báo cáo lên cấp trên. Nay cấp trên đã có quyết định triệu tâp hai đồng chí đi học một lớp quân sự đặc biệt do sư đoàn tổ chức.

Lân ngạc nhiên nhìn Côn rồi mạnh dạn hỏi lại:

- Báo cáo chính trị viên... chúng tôi thì... cũng bình thường thôi. Người xuất sắc nhất trong đại đội phải là đồng chí Phạm Xuân Ban, sao đại đội không cử đồng chí ấy đi hoc lớp quân sự đặc biệt này ạ?

Chính trị viên Lương Xuân Báo nghiêm mặt:

- Đó là việc của tổ chức, các đồng chí không nên hỏi tới. Nhưng thôi được, để các đồng chí khỏi cảm thấy đại đội thiếu công bằng thì tôi cũng xin tiết lộ, đồng chí Hùng Phong đang là điển hình thi đua, là đối tượng Đảng, là nguồn phát triển cán bộ của đại đội, vì thế cấp uỷ và ban chỉ huy đại đội quyết định để lại làm hạt nhân nòng cốt cho phong trào thi đua của đơn vị và để có một môi trường tốt cho đồng chí ấy phấn đấu. Các đồng chí đã rõ chưa?

Lân báo cáo đã rõ nhưng Côn lại ngứa miệng hỏi thêm:

- Thưa chính trị viên... học xong, chúng tôi có được trở lại đại đội 9 nữa không ạ?

- Đó là việc của tổ chức. Đồng chí không cần hỏi. Là người lính các đồng chí chỉ cần tưân theo sự sắp xếp của tổ chức là được rồi. Tới đây, đơn vị ta cững sẽ có nhiều biến động, sẽ có sự sắp xếp lại, biên chế lại... sẽ xáo trộn đội hình chứ không thể cứ cùng làng, cùng lớp, cùng xã, cùng huyện thì bìu díu với nhau mãi được.

Tối hôm đó nhóm “lớp 10B” trong đại đội tụ tập nhau để chia tay Côn và Lân. Chiều hôm đó Do “Tây lai” cũng nhận được lệnh điều động về đại đội hoả lực của tiểu đoàn nên được nhập bọn luôn. Hướng ra xóm Múc nhờ cụ Đơn mua giùm hai con vịt mang về nhờ cậu Cung anh nuôi làm thịt. Việc ca cóng, cải thiện riêng từ trước tới nay đều bị cấm trong đại đội nhưng nhờ có cậu Cung thu xếp hộ nên cũng trót lọt. Tuy vậy, bữa tiệc cũng không được phép tổ chức vào đúng bữa ăn theo điều lệnh mà phải đợi đến đêm, sau giờ đọc báo, nhóm 10B mới nháy nhau xuống bếp. Bốn bát tiết canh, một đĩa quân dụng thịt đầy tú ụ, một nồi cháo “cổ cánh chân cẳng”, một chai rượu Mường đã sẵn sàng trong căn lán của anh nuôi Cung. Đồng chí Tạo, anh nuôi trưởng, sau khi quyết định mắt nhắm mắt mở bật đèn xanh cho cuộc liên hoan đã ý tứ “đi thăm đồng hương” ở đại đội 7.

Như một hội kín, cánh 10B lục tục kéo đến. Khi đã hòm hòm, cậu Cung ra lệnh:

- Thôi ngồi vào mâm rồi “làm” nhanh lên. Trực ban nó mò xuống lại rách việc bây giờ.

Mọi người lao xao chen vai thích cánh ngồi lên chiếc sạp nứa. Chợt Hướng nhìn quanh, đưa tay lên đếm cẩn thận rồi kêu lên - Thằng Ban còn chưa tới!

Như con ma xó, vừa lúc đó Ban từ trong bóng tối nhảy ào vào lán.

- Tớ đây rồi... nhưng tớ xin phép... làm một miếng rồi phải về ngay. Tiểu đội đi vãn cả thế này... nhỡ đại đội xuống kiểm tra thì chết!

Nói rồi, vẫn đứng dưới đất, hắn nhoi người vớ lấy chai rượu, rót một loạt ra những chiếc bát sắt - đã bày sẵn rồi tự cầm lấy một bát.

- Nào, xin nâng bát chúc mừng Lân và Côn ngày mai đi học... à mà cả Do ngày mai cũng lên làm lính hoả lực tiểu đoàn rồi. Nào, mời mọi người...

Côn nóng mắt gắt:

- Mày làm cái trò gì thế hở Ban. Cứ như là bố người ta không bằng. Chẳng gì thì ở đây cũng có cậu Cung là người nhiều tuổi nhất, phải để cậu ấy lên tiếng trước mới phải chứ!

Cậu Cung vội xua tay dàn hoà:

- Thôi đi Côn, đứa nào mở đầu mà chả được. Hình như thằng Ban không muốn tụ vạ ca cóng thế này đâu, nó đang phấn đấu, phải giữ gìn cũng đúng thôi. Vậy mà nó vẫn xuống đây với anh em chúng mình là tốt lắm rồi!? Tha cho nó đi!

Côn vẫn không chịu:

- Ông cậu cứ nói ngược, cậu là đảng viên hẳn hoi mà cậu còn sẵn sàng hoà mình với quần chúng, nó mới chỉ là cảm tình đối tượng gì đó của đảng, đã đâu vào đâu mà vội quan cách thế?

Lân đành phải lên tiếng:

- Nó mới là cảm tình, đang được đảng để ý nên càng phải giữ gìn? Chứ, đã là đảng viên như cậu Cung đây rồi thì có thể xả hơi, chơi bỗ bã với anh em mình được. Thôi nào, nâng bát lên, uống đi kẻo nguội cả rượu bây giờ!

Mọi người ồn ào hưởng ứng, thế là qua chuyện.

Nhưng Ban cũng không dám nán lại lâu. Uống xong bát rượu, gặm qua quít vài miếng thịt vịt là cậu ta chuồn. Nồi cháo ngon thế cũng chẳng kịp húp. Hướng nhìn theo cái dáng vội vã rời ra khỏi lán của Ban và buông một câu bình luận:

- Kể ra làm một người đầu tàu gương mẫu cũng mệt thật đấy nhỉ!

Do Tây lai vừa gặm cái cẳng vịt vừa đế vào một câu rất hóm:

- Không sao, nay mai thành đảng viên, thành cán bộ rồi thì cậu ấy sẽ ăn bù thôi mà!
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM