@saovietauto:
1. Về ban liên lạc CCB trung đoàn pháo binh 204 và F851:E204 này cũng có một người hỏi rồi, bác có thể xem trang 60 phần 2 và một vài trang phần 3 để nắm thêm thông tin. Em cũng thấy bác nói là vào vùng đó nhiều rồi, không biết là đã liên hệ với các CCB trung đoàn 204 chưa nhỉ? Em đã nói bác
dongdoi78 rồi, sẽ có số điện thoại Ban liên lạc CCB 204 ở Hà Nội cho bác trong vài ngày tới,

. Ngoài ra em có biết là hiện nay, BTL pháo binh có văn bản hướng dẫn và yêu cầu các CCB cùng tham gia tìm kiếm đồng đội, LS; điều này được rất nhiều CCB hưởng ứng, bác thử liên hệ xem sao (xem phần quy định của box em để số điện thoại đấy).
Em có thấy đề F851: nghe hơi lạ tai,

, vì bác
q.trung đã giải thích là có F351 tức là Bộ Tư lệnh pháo binh. Chắc nhầm tý thôi nhỉ. Vì em có tìm được một số nguồn tài liệu thì E204 là trung đoàn pháo binh xe kéo, lực lượng pháo binh dự bị của BTL pháo binh trong KCCM mà.
2. Thông tin về quá trình hoạt động của trung đoàn pháo binh 204 (E204) :
Năm 1965: Bộ Tổng Tham mưu ra quyết định số 208/BM 6 giải thể các sư đoàn pháo binh và cao xạ 351, 349, 675, 367 để tổ chức thành các trung đoàn, lữ đoàn pháo binh, cao xạ dự bị gồm:
- 4 lữ đoàn (364, 368, 374, 378) trang bị pháo 122-K38.
- 1 trung đoàn (204) trang bị pháo 152-K37; 1 trung đoàn (208) trang bị pháo 122-K31.
- 2 trung đoàn (82, 84) trang bị pháo chống tăng 85mm.
- 4 trung đoàn pháo cao xạ (214, 218, 224, 228) trang bị pháo cao xạ 57mm, 88mm.
Ngày 11 tháng 3 năm 1967
Trung đoàn 204 trang bị 14 khẩu pháo 130mm, 12 khẩu pháo 152-K37, 12 khẩu cao xạ 37mm hành quân vào B5. Do trình độ, kinh nghiệm tổ chức hành quân cơ giơi còn yếu, trên đường hành quân bị địch đánh vào đội hình, tổn thất gần 50% vũ khí trang bị. Sau khi khắc phục hậu quả, ngày 3 tháng 7 tiểu đoàn 1 pháo 130mm tập kích hỏa lực vào căn cứ Đông Hà phá hủy 13 máy bay, 2 dàn ra đa, diệt 200 tên.
Ngày 13 tháng 4 năm 1967
Tiểu đoàn 1 trung đoàn 204 trang bị 4 khẩu 130mm bố trí trận địa tại bờ biển Thanh Hóa để đánh tàu chiến Mỹ.
Pháo đặt trên nền cát, bó thiết bị chèn càng pháo bằng trúc, không bảo đảm độ vững chắc cho pháo khí bắn, kết quả bắn kém chính xác.
Qua theo dõi tìm được nguyên nhân trên, tiểu đoàn đã thay bó trúc bằng một đoạn gỗ đặc hình hộp chữ nhật, kết quả đã bắn cháy tàu khu trục Tuốc-nơ-doi của Mỹ.
Từ ngày 20 tháng 1 đến 15 tháng 7 năm 1968
Pháo binh tham gia có trung đoàn 45, 675, 84, 204, các tiểu đoàn của trung đoàn 16, 164 và pháo binh các sư đoàn bộ binh 304, 320, khu vực Vĩnh Linh với tổng số pháo 210 khẩu các loại. Đạn hai cơ số/khẩu.
Ngày 28 tháng 10 năm 1968
Tiểu đoàn 21, trung đoàn 204 sử dụng 4 pháo 130mm triển khai đánh tàu chiến Mỹ ở bờ biển Vĩnh Kim Vĩnh Linh. Do môi trường cát bụi, hơi nước mặn nên công tác kiểm tra, lau chùi bảo quản, bảo dưỡng được thực hiện nghiêm túc. Tưới nước để chống bụi, dùng nước ngọt để lau rửa các bộ phận xe pháo, nắp hầm đạn, hầm xe nghiêng về phía biển. Kết quả, đã bắn cháy chiến liệt hạm Niu-giơ-di1 (Tàu Niu-giơ-di có trọng tải 58.000 tấn, trang bị 123 khấu pháo trong đó có cỡ pháo lớn nhất là 406mm) của Mỹ.
Từ ngày 30 tháng 1 đến 23 tháng 3 Năm 1971
Bảo đảm kỹ thuật chiến dịch Đường 9 Nam Lào
Lực lượng pháo binh tham gia chiến dịch gồm các trung đoàn 84, 38, 45, 368 và một số đại đội, tiểu đoàn của các trung đoàn 16, 204, 675, 97. Tổng số 381 khẩu pháo các loại (74 khẩu pháo xe kéo, 277 khẩu pháo mang vác). Lượng đạn bảo đảm 52.900 viên các loại (21.300 viên đạn pháo xe kéo, 31.600 viên đạn pháo mang vác).
Tháng 1/1972:
Trung đoàn 204 có 1 tiểu đoàn trang bị 12 pháo 130mm, 1 tiểu đoàn trang bị 12 pháo 122-Đ74 tham gia chiến dịch Cánh Đồng Chum.
Ngày 14 tháng 10 1972
Bộ Tư lệnh điều trang bị của trung đoàn 204 gồm 15 khẩu pháo 130mm, 17 xe xích ACT-59; của trung đoàn 16 gồm 10 khẩu pháo 122-Đ74, 10 xe xích ATC-59 giao cho đoàn 410 tổ chức 2 đoàn chi viện B2, B5. Tiểu đoàn pháo 122-Đi4 vào B2. Tiểu đoàn pháo 130mm vào B5.
Tháng 1 Năm 1973
-Quyết định số 25/QĐ-TM điểu các đơn vị pháo binh tăng cường cho chiến trường.
- Trung đoàn 204 trang bị gồm 12 khẩu pháo 130mm, 12 khẩu pháo cao xạ 37mm, 15 xe xích, 20 xe ô tô tăng cường cho B2. Ngày 20 tháng 1 trung đoàn xuất phát.
- Đoàn 1058 (tương đương cấp tiểu đoàn) trang bị 12 khẩu 85mm, 14 xe ô tô tăng cường cho B2. Ngày 17 tháng 1 xuất phát.
- Tiểu đoàn pháo 122-K38 (12 khẩu), 17 xe CA30 tăng cường cho trung đoàn 168 sư đoàn 312. Ngày 17 tháng 1 xuất phát.
Ngày 24 tháng 10 năm 1974
Bảo đảm trang bị cho các trung đoàn 45, 38,204, 36B thành lữ đoàn, bỏ các tiểu đoàn cao xạ tổ chức lại trung đoàn 97
Bộ Quốc phòng ra quyết định số 148/QĐ-QP chuyển các trung đoàn 45, 38, 204, 368 thành lữ đoàn. Bỏ các tiểu đoàn pháo cao xạ trong các trung, lữ đoàn pháo mặt đất.
Tổ chức mỗi lữ đoàn có 4 tiểu đoàn trang bị thống nhất gồm 2 tiểu đoàn pháo 130mm; 2 tiểu đoàn pháo 122-Đ74.
Tổ chức lại trung đoàn 97, có 3 tiểu đoàn, trong đó có 1 tiểu đoàn B72, 1 tiểu đoàn trinh sát kỹ thuật âm thanh, 1 tiểu đoàn huấn luyện hạ sĩ quan.
Ngày 28 tháng 11 năm 1974
Bổ sung trang bị và nhân viên kỹ thuật pháo binh cho chiến trường B1, B3
Bộ Tư lệnh giao nhiệm vụ cho 2 lữ đoàn:
1-Lữ đoàn 368 tổ chức đưa: 4 khẩu pháo 130mm, 4 khẩu 122mm, 5 xe hơi 3 cầu; 5 xe xích cùng 13 đồng chí nhân viên kỹ thuật vào bổ sung cho B1.
2-Lữ đoàn 204 tổ chức đưa: 4 khẩu 122mm-K38, 4 khẩu 122-Đ74, 5 xe hơi 3 cầu, 5 xe xích cùng 13 đồng chí nhân viên kỹ thuật vào bổ sung cho B3.
Trung đoàn 204, tháng 3 năm 1976 hành quân từ Triệu Sơn, Thanh Hóa ra Tòng Bạt, Trung Hà, Sơn Tây, được Bộ quyết định chuyển thành Lữ đoàn 204 làm nhiệm vụ huấn luyện (Đây là trung đoàn pháo binh dự bị thành lập năm 1965, đã tham gia chiến đẩu trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, năm 1975 về đóng quân ở Sim, Triệu Sơn, Thanh Hóa).
Cũng trong tháng 12 năm 1979 Bộ Tư lệnh quyết định chuyển Lữ đoàn 204 đóng quân ở Ba Vì thành Trường hạ sĩ quan Pháo binh, có nhiệm vụ đào tạo khẩu đội trưởng, tiểu đội trưởng trinh sát, thông tin, kế toán, đo đạc, báo vụ và quản trị trưởng cho Binh chủng; lực lượng hàng năm từ 1.000 đến 1.200 học viên, biên chế 4 ban trực thuộc ban giám hiệu và 4 tiểu đoàn đào tạo.
Kể từ năm 1982 sau khi sáp nhập 2 cơ sở của Trường sĩ quan Pháo binh làm một, thành lập Lữ đoàn 490 và di chuyển trung đoàn 204 từ Nam Giao về Định Trung, Vĩnh Yên, vị trí đóng quán của lực lượng pháo binh dự bị được ổn định.