11. ASU-76M
Dòng pháo tự hành đầu tiên của Liên Xô là sự kết hợp của pháo cấp tiểu đoàn 76,2mm ZIS-3 trên gầm xe tăng T-70 kéo dài trên tháp pháo bọc thép. Bộ phần truyền động được kéo dài thêm một trục. Thiết bị này, nổi tiếng dưới tên gọi pháo tự hành hạng nhẹ SU-76M – trở thành một trong những phương tiện bọc thép có số lượng lớn nhất của quân đội Liên Xô trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, hầu như tương đương với dòng T-34.
Việc sản xuất hàng loạt bắt đầu thực hiện vào đầu năm 1943, tuy nhiên đến năm 1944, một số lượng không đáng kể pháo tự hành đã bị loại khỏi vòng chiến. Trong lượt sản xuất đầu tiên đã gặp vấn đề về cơ khí với đầu mối của bộ phận truyền động, vốn đã là nhược điểm trên xe tăng hạng nhẹ T-70.
Mặc dù SU-76M được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang trong vai trò một vũ khí yểm trợ và pháo chống tăng tự hành trong các quân đoàn với một cơ số đạn chống tăng không lớn, nhưng về cơ bản, Su-76M được sử dụng như một vũ khí tấn công. Pháo chính có thể bắn mọi loại đạn pháo chiến trường 76,2mm của Liên Xô, còn để bắn cháy các phương tiện bọc thép của đối phương, Su-76M được trang bị loại đạn xuyên giáp đặc.
Tuy số lượng nhiều nhưng SU-76M không được kíp xe thừa nhận rộng rãi. Tháp pháo có cửa ra phía trên và phía sau, như vậy, trong thời gian tác chiến, tổ lái rất dễ bị thương và không có sự bảo vệ đối với đạn phá mảnh. Mặc dù vậy, SU-76M vẫn có sức sống lâu dài sau chiến tranh, chúng được sử dụng trong hàng loạt quốc gia đến cuối những năm 1980.
Thông số kỹ thuật chính
Kíp xe: 4 người
Sức mạnh động cơ: 2x85 sức ngựa
Khối lượng tác chiến: 10,2 tấn
Tốc độ tối đa: 45km/h
Tầm hoạt động: 320km
Chiều dài: 5,0m
Chiều rộng: 2,7m
Chiều cao: 2,1m
Trang bị chính: pháo 76,2mm
Độ dày giáp: từ 10mm đến 35mm.
