Ở phiên bản M - 113 đời đầu thì có cửa ở phía trước bạn ạ, còn từ đời M - 113A1 trở đi cửa khoang đổ bộ được đặt ở phía sau.
==========================================================
Bác su22m4 xem lại hộ em. Theo nguồn em có thì họ viết thế này:
http://armor.kiev.ua/Tanks/Modern/M113/m113.phpВ 1956 году к работе над будущим БТР приступила фирма Food Machinery Corp. (FMC), опираясь на собственный опыт по разработке бронетранспортеров M59 и M75 [3]. Вскоре были готовы два прототипа. Первый, получивший обозначение T113, имел бронирование из алюминиевых плит (алюминий авиационного качества, не уступающий по крепости стали [3]), а второй, Т117, - из стальных. После проведения испытаний было решено продолжать работу над моделью Т113.
В 1960 году новые бронетранспортеры, получившие обозначение M113, были приняты на вооружение в армии США [2], и фирма FMC приступила к их серийному производству. Это относительно легкие машины с боевой массой 10,25 тонны и экипажем из двух человек - командира и механика водителя [3]. М113 построен по классической схеме, которая типична для большинства серийно производимых боевых машин пехоты и бронетранспортеров [7].
Слева в передней части корпуса находится отделение управления. Механик-водитель занимает свое место через круглый индивидуальный люк, крышка которого открывается назад. Рабочее место механика-водителя оборудовано четырьмя перископами, обеспечивающими хороший обзор во время движения. Для вождения бронетранспортера в ночное время суток используется активный прибор ночного видения М19, установленный в люке механика-водителя [7].
Правая передняя часть корпуса отведена под моторно-трансмиссионное отделение (МТО). Доступ к узлам и агрегатам трансмиссии обеспечивает большая наклонная панель, которая крепится к верхней лобовой плите корпуса. Волноотражательный щиток прикрывает эту панель и тем самым выполняет функцию дополнительной защиты. В крыше МТО имеются бронированные жалюзи, которые обеспечивают приток воздуха к двигателю и удаление выхлопных газов [7].
За двигателем и рабочим местом механика-водителя находится десантное отделение, занимающее почти половину всей длины корпуса. В передней части этого отделения, в средней части корпуса, размещается командир машины........
Dịch:
Năm 1956, hai mẫu thí nghiệm đã được chuẩn bị mang tên gọi M59 và M75. Chúng được chế tạo thành các nguyên mẫu. Nguyên mẫu đầu tiên: T113, có giáp bằng các tấm nhôm (nhôm dùng trong hàng không, độ cứng không kém thép), nguyên mẫu thứ hai: T-117 – từ thép. Sau khi trải qua các thí nghiệm, nguyên mẫu T-113 đã được chấp nhận.
Năm 1960, xe bọc thép vận tải mang tên M113 đã được đưa vào sử dụng trong quân đội Mỹ, tập đoàn FMC có nhiệm vụ thực hiện sản xuất hàng loạt. Xe được phân loại hạng nhẹ với khối lượng 10,25 tấn và đội xe 2 người: chỉ huy và lái. M113 theo cấu tạo cổ điển, được thiết kế điển hình cho dòng xe chiến đấu bộ binh và xe bọc thép vận tải.
Bên trái phần trước thân xe buồng lái. Chỗ ngồi của lái xe đằng sau cửa ra vào cá nhân hình trò n mở ra đằng trước. Chỗ ngồi của lái xe trang bị 4 kính tiềm vọng. Để lái xe ban đêm, lái xe sử dụng thiết bị nhìn đêm chủ động M19, thiết bị này được lắp trên cửa ra vào của lái xe.
Bên phải phần trước xe là động cơ……
Sau động cơ và chỗ ngồi của lái xe là buồng đổ lính, chiếm gần nửa chiều dài xe.
Các chỗ tiếng Nga em tô đỏ tương đương với các dòng đầu chỗ em dịch. Tức là từ khi còn là nguyên mẫu cho đến khi ra đời dòng xe bọc thép M113 đầu tiên, chỗ đầu xe là buồng lái với động cơ, còn khoang cho lính ngồi là ở phía sau;
nghĩa là cửa ra vào cho lính đổ bộ phải ở đằng hông hoặc sau xe; trong khi M113 thân bằng nhôm hàn kín; tức là của đổ bộ phải ở đằng sau. Dòng M113 nào có cửa đổ bộ trước xe thì em đúng là không biết. Chưa kể, việc thiết kế cửa ra vào cho lính đổ bộ ở đầu xe như ở tàu há mồm thời thế chiến áp dụng vào chiến trường trên bộ là một thiết kế rất vô lý. Bởi vì với thiết kế đó, không khác nào phơi mặt lính ra cho hỏa lực của đối phương, trong khi nhiệm vụ của dòng xe bọc thép như M113, M2 hay BMP, BTR là vận chuyển lính đến trận địa, thả lính rồi yểm trợ hỏa lực và che chắn cho bộ binh khỏi đạn súng trường và mảnh đạn.