(Tiếp theo của bài Dòng xe Bradley)
Hỏa lực
Vũ khí chính của Bradley là pháo tự động kiểu chaingun(tức là loại súng dùng nguồn năng lượng từ bên ngoài để vận hành) M242 Bushmaster. M242 có hệ thống nạp đạn đôi cho thay đổi loại đạn cần dùng một cách nhanh chóng. Pháo có hai tốc độ bắn: tốc độ cao 200rpm(phát/phút) và tốc độ thấp 100rpm. Mỗi loạt bắn thường là 4-6 phát vì nếu giữ lâu hơn sẽ ảnh hưởng đến độ chính xác.
Vũ khí chống tăng của xe là hai tên lửa TOW. Từ đời A1 trở đi các xe Bradley mang tên lửa TOW II. Các tên lửa TOW có tầm bắn 3750m và có khả năng xuyên phá gần như mọi loại tăng, thiết giáp cùng thời với tên lửa. Thời gian nạp lại tên lửa cho 2 ống phóng kéo dài khoảng 5 phút.
Vũ khí phụ của xe là một súng máy M240C(Coaxial) đồng trục với pháo tự động.
Ngoài ra, các xe M2A0, M2A1 còn có 6 lỗ châu mai, M2A2 chỉ có hai lỗ châu mai nằm ở cửa sập, M2A3 và M3 không có. Để dùng các lỗ châu mai, binh sĩ phải dùng một phiên bản đặc biệt của súng trường M16A1 là M231. Phiên bản súng này có ốp lát được thiết kế khít với lỗ châu mai ngăn không cho các tác nhân NBC tràn vào trong xe, báng súng đơn giản có thể đẩy vào, súng chỉ có thể bắn chế độ tự động. Sử dụng loại lỗ châu mai này có nhiều điểm yếu ngay cả những loại trên BMP hay Marder. Thứ nhất đó là binh sĩ phải nhắm bắn thông qua một kính quan sát khác, vì thể việc bắn chính xác là không thể. Người bắn phải dùng các loại đạn vạch đường, bắn canh theo đường đạn của loạt trước. Vì thế nên binh sĩ chỉ có thể bắn áp chế. Thứ hai, các lỗ châu mai này tao ra các điểm yếu trên giáp xe và mỗi điểm yếu này lại tương ứng với một binh sĩ. Nếu một quả bom nổ bên cạnh xe, binh sĩ trong xe có thể mất một phần mắt mũi miệng dù xe vẫn nguyên vẹn. Ngoài ra, do xe không có hệ thống chống NBC bằng tăng áp nên binh sĩ trên Bradley phải dùng loại súng riêng cho các lỗ châu mai và điều này thật sự rối rắm vì binh sĩ thường phải mang thêm một khẩu súng trường tiêu chuẩn khác để dùng ngoài xe. Vì thế các lỗ châu mai này dần được loại bỏ khỏi Bradley.


Thể hiện trong chiến đấu
Bradley đã đóng một vai trò quan trọng của quân đội Mĩ trong chiến dịch Bão Táp Sa Mạt. Có khoảng 2200 chiếc được bố trí ở Ảrập Sauđi trước tháng 2/1991 khi cuộc chiến trên bộ bắt đầu. Tỉ lệ bao gồm 19% đời A0, 33% A1 và 48% A2.
Lực lượng Bradley gặp phải một số thiếu hụt lớn loại đạn xuyên giáp APFSDS-DU M919 hiện đại. Đạn M919 chỉ mới được sản xuất với qui mô thấp ban đầu vào năm 1990 nhưng đã được đẩy nhanh tiến độ khi chiến tranh diễn ra. Ở một số đơn vị, xạ thủ được huấn luyện để tiết kiệm đạn bằng cách bắn 1 viên đo tầm, theo sau là không quá 3 viên để tiêu diệt địch. Nhưng sau đó, việc thiếu hụt đạn được cho thấy không phải là một vấn đề lớn vì các xạ thủ Bradley chỉ cần trung bình 6 phát để hạ một xe thiết giáp địch.
Những tính năng của Bradley được đánh giá cao trong cuộc chiến. Khả năng di động cao cho phép Bradley theo kịp xe tăng M1A1 Abram trong chiến dịch tấn công thần tốc 100 giờ đồng hồ quét sạch quân Iraq khỏi Kuwait của liên quân. Thiết bị quan sát hồng ngoại của Bradley có thể hoạt động được trong những điều kiện thời tiết xấu như bão cát. Nhiều thành viên tổ lái còn cho rằng thiết bị quan sát của Bradley tốt hơn cả loại của M1A1 Abram và nói rằng họ có thể phát hiện mục tiêu ở tầm xa hơn các xe tăng. Mức độ sẳn sàng của Bradley luôn đạt từ 90% trở lên.
Hoả lực của xe được báo cáo là “sát thương hơn mọi mong đợi”. Mặc dù hầu hết các xạ thủ Bradley đã được dạy dùng tên lửa TOW để chống tăng, họ nhanh chóng phát hiện ra các loại xe tăng cũ như Type 59 của Trung Quốc có thể bị hạ bởi pháo 25mm, nhất là khi dùng đạn DU bắn từ bên hông.
Vào khoảng 11:00h ngày G +3, Task Force 4-7th của Sư đoàn thiết giáp số 1 đã bắt gặp một dãy phòng thủ của Iraq ở “Medina Ridge” được giữ bởi các đơn vị hỗn hợp của vệ binh cộng hoà Iraq. Chiếc M2A2 của master gunner đại đội, thượng sĩ Charled Peters, phát hiện nhiều phương tiện Iraq trên một dảy đất nghiêng bên dưới vị trí của mình. Peters tiêu diệt 1 chiếc BMP với 3 viên đạn 25mm AP sau đó chuyển sang đạn HE để diệt các lính bộ binh Iraq đang chạy vào các con hào gần đó. Peters sau đó chuyển lại đạn AP và tiêu diệt một chiếc BMP khác và nó phát nổ trong một quả cầu lửa. Peters sau đó bắn tiếp vào một phương tiện khác nhưng nó không nổ. Khi đám khói bụi tan dần, lí do xuất hiện: đó là một chiếc T-72M và nó bắt đầu nã đạn vào đại đội. Peters nhanh chóng kích hoạt tên lửa TOW, nhưng nó có vẻ như vô tận cho đến khi cơ cấu phóng đã vào vị trí khai hoả. Nhưng may thay, khả năng bắn pháo của Iraq quá kém và Peters phóng một quả tên lửa TOW-2 và tiêu diệt chiếc T-72 trong một quả cầu lửa. Sau đó, Peters chuyển lại sang pháo 25mm và phá huỷ chiếc BMP thứ 3. Cuộc giao chiến chỉ diễn ra trong hơn một phút.
Pháo 25mm là loại vũ khí chính được dùng bởi Bradley, đặc biệt là khi bắn các xe thiết giáp nhẹ và bộ binh. Ví dụ như trong Sư đoàn thiết giáp số 3, 10.214 viên đạn 25mm đã được bắn trong cuộc chiến, so với chỉ có 101 tên lửa TOW. Vũ khí duy nhất không được dùng phổ biến là súng máy 7,62mm đồng trục, vốn kẹt đạn liên tiếp. Tên lửa TOW được đánh giá khá tốt, tuy nhiên vẫn có nhiều phàn nàn vì độ tin cây của cơ cấu phóng, tốc độ nâng cơ cấu chậm, cũng như xe không có thiết bị tìm tầm nên xạ thủ đôi khi không biết được mục tiêu có nằm trong tầm bắn hay không.
Trước khi chiến tranh nổ ra, quân đội Mĩ đã phát hiện quân đội Iraq đang phát triển một hệ thống làm nhiễu tên lửa ATGM và trang bị trên các xe tăng tốt nhất của họ như T-72M. Tuy nhiên, trong suốt cuộc chiến chỉ có hai trường hợp có thể đã làm cho tên lửa TOW bị dụ bởi hệ thống này, và trong một trường hợp, sự gây nhiễu khiến cho một tên lửa TOW bị đổi hướng sang một xe tăng khác và tiêu diệt nó thay vì mục tiêu đã định. Thiết bị gây nhiễu này có vẻ như được một quốc gia ngoại quốc cung cấp, có khả năng là Trung Quốc.
Trong cuộc chiến, chỉ có 20 chiếc Bradley bị tiêu diệt, 17 trong số đó là do bị hoả lực bạn bắn nhầm. hầu hết các vụ bắn nhầm là do pháo 120mm của xe tăng Abram. Điển hình như trong “Cuộc chiến Norfolk” ngày 27 tháng 2/1991, thực hiện bởi Sư đoàn thiết giáp số 2, các đơn vị Mĩ đã bị lẫn vào các đơn vị Iraq do điều kiện quan sát kém và sự hỗn loạn của cuộc chiến. 3 chiếc Bradley của Đại đội Bravo, Tiểu đoàn số 1, Trung(hoặc Lữ) đoàn số 41 bộ binh đã bị trúng đạn 120mm, phá huỷ cả 3 chiếc bradley, giết chết 4 binh sĩ và làm bị thương 18 người khác.
3 chiếc Bradley:
Chiếc Bumper B-21: bị trúng 2 viên đạn 120mm DU, giết chết 3 binh sĩ và làm bị thương ít nhất 3 người khác trong số 10 người có mặt trên xe.
Chiếc Bumper B-26: bị trúng một phát đạn 120mm DU vào sườn trái và viên đạn thoát ra ở sườn sau bên phải, giết chết 1 trong số 9 binh sĩ trên xe.
Chiếc Bumper B-33: một phát đạn 120mm DU bắn vào sườn trái và đi ra qua sườn phải xe, làm bị thương 3 trong số 9 người trên xe.
Từ đại đội Delta cũng của tiểu đoàn 1:
Chiếc Bumper D-21: bị trúng 3 viên đạn 120mm DU vào sườn, giết chết lái xe và làm 3 người trên xe bị thương.
Chiếc Bumper D-26: bị trúng 2 viên đạn DU sau khi chúng xuyên qua D-21, làm bị thương lái xe.
…
Thể hiện của Bradley được đánh giá cao hơn nhiều so với lũ “Bmp”, tức các loại BMP của Liên Xô được dùng bởi lực lượng vệ binh cộng hoà. Giống như các xe tăng T-72, BMP cũng có nguy cơ phát nổ cao do đạn trong xe cháy. Đây là kết quả của việc tập trung đạn vào tháp pháo, thiếu các khoang phân cách và các yếu tố bảo vệ khác.
Một chiếc Bradley đang chở các tù binh chiến tranh Iraq.
Các đời, phiên bản
A0(1982): - Hệ thống TOW cơ bản
- Động cơ 500hp
- Thiết bị quan sát tích hợp(ISU)
- Thiết bị quan sát hồng ngoại ngày/đêm
- Khả năng bơi với màng bơi
- Chuyên chở bằng C-141
- Giáp chống đạn 14,5mm
A1(1986) - Hệ thống tên lửa TOW II
- Hệ thống lọc khí chống NBC
- Hệ thống dập lửa
A2(1988) - Động cơ 600hp
- Giáp chống đạn 30mm APDS
- Khả năng mang ERA
- Thiết kế lại nơi chứa đạn
- Lớp lót chống miểng
- Chuyên chở bằng C-17
- Bỏ 4 trong số 6 lỗ châu mai
Năm 1992, toàn bộ số xe A1 đều được chuyển sang A2, các xe A0 không được chuyển đổi vì chi phí cao.
A2 ODS, ODSE Là nâng cấp dữa trên những kinh nghiệm thu thập được từ chiến dịch Bão Táp Sa Mạt(Operation Dessert Strom/ODS).
- Hệ thống tìm tầm bằng laser an toàn cho mắt
- Hệ thống định vị chiến thuật(TACNAV) bao gồm thiết bị nhận GPS nhẹ chính xác(PLGR) và la bàn điện tử(DCS)
- Thiết bị phản ứng chống tên lửa(MCD)
- Các nâng cấp trong xe:
+ Băng ghế ngồi thay cho từng ghế riêng biệt
+ Chỗ cho 7 hành khách
+ Bếp nấu thực phẩm ăn liền
+ Cửa khoang động cơ vận hành bằng điện
+ Chỗ chứa đồ cá nhân bên ngoài xe
+ 3 thùng đạn “nóng” 50 viên 25mm
- Thiết bị quan sát hồng ngoại cho lái xe
- Hệ thống chỉ huy chiến trường điện tử FBCB2
A3(2000) - Thiết bị quan sát độc lập cho xa trưởng(CIV) và hệ thống con phát hiện mục tiêu cho Bradley(IBAS) dùng công nghệ quan sát trực diện hồng ngoại(FLIR) thế hệ 2
- Nâng cấp hệ thống điều khiển tháp pháo, ổn định vũ khí
- nâng cấp màn hình chiến thuật cho xa trưởng(CTD) và màn hình cho trưởng nhóm lính(SLD) để tăng cường đề phòng tình huống.
- Hệ thống kiểm soát năng lượng điện.
- Nâng cấp FCS
- Nâng cấp thông tin liên lạc, chỉ huy, điều khiển(IC3)
- Nâng cấp hệ thống định vị
- Khả năng tự kiểm tra tình trạng xe(BIT)
- Nâng cấp bảo vệ:
+ Nâng cấp giáp titan cho nóc xe
+ Khả năng mang ERA
+ Hệ thống chữa cháy bằng khí halon
- Không có lỗ châu mai
- Không có khả năng bơi
Các phiên bản:
COMVAT(Combat Vehicle Arnament Technology) Được phát triển vào đầu những năm 1980 như một phản ứng cho sự phát triển BMP-2 và các loại BMP khác. COMVAT trang bị một tháp pháo mới và vũ khí được tập đoàn FMC và công ty Ares phát triển dựa trên pháo 35mm, McDonnell Douglas cũng đề nghị dùng phiên bản 30mm của pháo M242 Bushmaster, có tên gọi bushmaster 2. Chương trình này có mục đích tăng cường tầm bắn và sức xuyên phá của hệ thống vũ khí của Bradley, vốn được thiết kế để có thể dễ dàng nâng cỡ nòng lên 30-45mm. Tuy nhiên, chương trình này gần như đã bị huỷ bỏ vì cho rằng ngay cả BMP-3 cũng không có đủ giáp để chống lại loại đạn 25mm hiện có của Mĩ.
ADATS Phiên bản phòng không với tên lửa MIM-146 ADATS của Martin Marietta/Oerlikon. Tuy nhiên, cùng với sự sụp đổ của Liên Xô, chương trình đã bị huỷ bỏ vào năm 1992.
Bradley Stinger Fighting Vehicle(BSFV) Năm 1992, sau khi các hệ thống phòng không 20mm M163 Vulcan đã được cho về vườn, cũng như sự huỷ bỏ của ADATS, quân đội Mĩ quyết định dùng các loại xe M2A2 Bradley để làm hệ thồng phòng không tầm ngắn cho các đơn vị cơ giới. Xe được thiết kế lại bên trong để mang một tổ phòng không vác vai 5 người cùng 6 tên lửa Stinger. BSFV chỉ đơn thuần là một loại xe được thiết kế để vận chuyển đội phòng không vác vai và đội này phải ra ngoài xe để sử dụng tên lửa.
M6 Linabacker Là phiên bản nâng cấp của BSFV, chiếc BFSV-E này thay thế cơ cấu phóng TOW đôi bằng cơ cấu phóng Stinger 4 ống.
M7 Bradley Fire Support Team(FIST) Trong chiến dịch Bão Táp Sa Mạt năm 1991, các đơn vị pháo binh Mĩ nhận ra rằng các xe quan sát tiền tuyến dùng cho mục đích chỉ dẫn pháo binh của mình, loại M981 FIST dựa trên thân xe M113 quá chậm để theo kịp các đơn vị thiết giáp mới. Sư đoàn kị binh số 1 đã có sáng kiến lấy các thiết bị từ các xe FIST và gắn lên Bradley, loại mà họ gọi Bradley FS(Fire Support). Dựa theo kinh nghiệm này, chương trình trang bị các thiết bị hổ trợ hoả lực đặc chủng bao gồm thiết bị chủi điểm laser dành cho phương tiện trên bộ cho Bradley được thực hiện. Thiết bị chỉ điểm laser sẽ được đặt vào một khoang bọc giáp thế chỗ cho cơ cấu phóng TOW.
Stingray Tháng 9/1982, quân đội Mĩ trao cho martin Marietta hợp đồng phát triển hệ thống phản ứng quang điện AN/VLQ-7 Stingray. Chương trình nhắm đến mục tiêu phát triển một hệ thống vũ khí laser mang trên xe, năng lượng trung bình có khả năng làm rối loạn các kính quan sát trên các loại xe đối phương, phá huỷ các cảm biến quang điện và làm mờ đục các vòm kính của buồng lái máy bay trực thăng hay phản lực. Hệ thống được đặt lên tháp pháo 1 chiếc bradley để thử nghiệm. Stingray hoạt động bằng cách phát ra một luồng laser năng lượng thấp quét xung quanh chiến trường. Một khi chiếu vào bề mặt kính quan sát như thiết bị nhắm của xe tăng, luồng laser phản chiếu lại cho phép các cảm biến Stingray đánh giá vị trí của đối phương. Stingray sau đó chuyển sang chế độ làm nhiễu và dùng một tia laser năng lượng trung bình để tấn công cảm biến vừa được phát hiện. Stingray vẫn là một khái niệm gây tranh cãi khi mà công luận khiếp sợ ý tưởng về loại vũ khí có thể gây mù cho binh sĩ địch. 2 chiếc bradley Stingray được bố trí trong chiến dịch Bão táp Sa Mạt nhưng không được sử dụng. Ngoài ra còn có một phiên bản nhẹ hơn, được gọi là Outrider, đặt trên các xe HMMWV cho các hoạt động của lính thuỷ đánh bộ Mĩ.

LOSAT LOSAT(Line Of Sight Anti Tank) là một hệ thống tên lửa chống tăng dẫn đường bằng laser có tốc độ siêu cao đặt trên một thân xe Bradley hoán cải. Nó được phát triển để thay thế các xe M901 Improved TOW. Với sự kết thúc của chiến tranh lạnh, quân đội Mĩ đã yêu cầu huỷ LOSAT để cắt giảm chi phí vào tháng 10/1993. Tuy nhiên, chương trình vẫn được cấp vốn ở mức độ thấp và tiếp tục phát triển.
ETAS(Elevated Target Acquisition System) ETAS là một dự án phát triển một một pod cảm biến, đặt trên một cái cột có thể kéo dài ra hay thu ngắn lại. Nếu gắn hệ thống này vào một chiếc M3, nó có thể nấp sau vật cản, địa hình, được bảo vệ hoàn toàn khỏi hoả lực trực tiếp của địch, trong khi nâng pod cảm biến lên cao để có thể quan sát xung quanh. Tuy nhiên, chương trình có vẻ như đã bị lãng quên.
M987 FVS(Fighting Vehicle System) Là thân xe Bradley cơ bản được kéo dài để trở thành một phương tiện vận chuỵển cỡ lớn bọc giáp.
M270 MLRS Là loại pháo phản lực có thân xe dựa trên M987.
AMEV(Armored Medical Evacuation Vehicle) Phiên bản xe cứu thương bọc giáp.