Không quân Pakistan mua thêm 42 chiếc JF-17 Thunder, toàn bộ hợp đồng trị giá 1ti USD
Joint Fighter-17 (JF-17) Thunder, cũng còn được gọi với tên Fighter China-1 (FC-1) Fierce Dragon [1] ở Trung Quốc, là một máy bay tiêm kích đa vai trò một chỗ ngồi, được phát triển bởi Trung Quốc và Pakistan. Hai chiếc đầu tiên đã được chuyển giao cho Không quân Pakistan vào 12 tháng 3 năm 2007.[2] JF-17/FC-1 được thiết kế như một máy bay có chi phí thấp mà vẫn có thể đáp ứng được nhu cầu chiến thuật và chiến lược của Không quân Pakistan.Hiện nay không quân Pakistan đang sử dụng 8 chiếc loại này.
JF-17 được chế tạo bởi Tập đoàn Công nghiệp Máy bay Thành Đô (CAC) của Trung Quốc và Pakistan Aeronautical Complex (PAC) của Pakistan. FC-1/JF-17 là một mẫu máy bay một động cơ của Trung Quốc bắt nguồn từ các mẫu thử nghiệm MiG-29 của Liên Xô (các mẫu thử nghiệm bị hủy bỏ bởi không quân Liên Xô/Nga vào năm 1979). FC-1/JF-17 xuất phát từ dự án "Super 7", và không phải từ Project 33 (không nhầm lẫn với MiG-33) hay dự án bị hủy bỏ là Chengdu J-9. Nhưng khi đưa vào hoạt động trong PLAAF nó có thể sẽ được gọi tên là J-9.JF-17 sẽ thay thế những chiếc Chengdu F-7 (phiên bản Trung Quốc của MiG-21), Nanchang A-5 (Q-5) và Mirage III/V đang hoạt động hiện này trong Không quân Pakistan. Các quốc gia khcas cũng đã biểu thị sự quan tâm đến việc mua JF-17 là Azerbaijan, Ai Cập, Malaysia[4], Bangladesh, Nigeria, Myanma, Zimbabwe, Lebanon và Morocco .
Hệ thống điện tử hàng không Buồng lái JF-17 Thunder.Hệ thống EFIS hiện đại của máy bay thế hệ 4.5th với màn hình hiển thị buồng lái tương thích với hệ thống của Phương Tây như những thiết bị được chế tạo bởi Rockwell Collins và Honeywell.
Kênh dữ liệu hiện thời MIL-STD-1553B có thể sẵn sàng được thay thế bởi kênh dữ liệu sợi quang học MIL-STD-1773 tùy vào nhu cầu khách hàng.
Những màn hình hiển thị cũng có thể được điều chỉnh lại để tương thích với kính nhìn ban đêm.
Mỗi màn hình có thể được tái định dạng riêng lẻ.
Radar Một vài mẫu radar đã được thử nghiệm trên những nguyên mẫu của JF-17, những loại radar đó bao gồm:
Radar Elta EL/M-2032 của Israel: 2 chiếc đã được chuyển giao cho Trung Quốc trước khi những hợp đồng phải hủy bỏ trước lệnh cấm vận của Hoa Kỳ. Ít nhất một chiếc đã được lắp đặt trên nguyên mẫu đầu tiên để thử nghiệm và đánh giá. Có những báo cáo không được xác nhận rằng ít nhất đã có một chiếc radar bị hỏng khi một nguyên mẫu gặp tai nạn.
Radar Phazotron Super Komar của Nga: Đây là một sự phát triển của radar Komar (Gnat) được phía Nga đề xuất nâng cấp từ radar của Nanchang Q-5 và Chengdu J-7. Bản thân Komar (Gnat) là một phát triển từ radar Phazotron Kopyo (Spear) được đề xuất trang bị trên MiG-21-93/98, với hệ thống điện tử học hiện đại để giảm bớt hơn 1/3 trọng lượng radar, từ bản chính là 125 kg của Kopyo (Spear) xuống còn có 80 kg. Super Komar có dải quét tăng lên đến +/- 60° so với +/- 40° của Kopyo (Spear), tất cả phần còn lại của các tham số hiệu suất của Komar (Gnat) được giữ lại giống như của Kopyo (Spear). Radar Super Komar đã cải tiến năng lực lớn hơn so với Komar (Gnat), Super Komar có khả năng đồng thời theo dõi 10 mục tiêu và tấn công 4 mục tiêu, so với radar Komar (Gnat) và Kopyo (Spear) chỉ theo dõi đồng thời 8 mục tiêu và tấn công 2 mục tiêu. Tuy nhiên, sau các cuộc thử nghiệm không thành công, loại radar này đã bị loại bỏ bởi cả Trung Quốc và Pakistan, vì tầm theo dõi/giao chiến là 60/40 km của Super Komar quá ngắn, và đây cũng là lý do vì sao không có nhiều đơn đặt hàng mua loại radar này được thực hiện.
JF-17 được xác nhận có một loại radar của Trung Quốc chưa biết tên gọi đã được đề xuất cho phiên bản sản xuất của JF-17, và đề xuất của Trung Quốc có một số lợi thế so với loại radar của Italy, như tính tương thích cao với hệ thống vũ khí của Trung Quốc. Radar này có khả năng ECCM mạnh mẽ và các kiểu phức tạp, như A2A (cả BVR & đóng), không đối đất, không đối biển, quét địa hình,... Kiểu quét địa hình không phải là một tiêu chuẩn, nhưng có thể bổ sung với chọn lựa của khách hàng bằng việc hợp nhất một thiết bị bên ngoài như thiết bị dẫn đường và chỉ thị mục tiêu Blue Sky, hoặc một sự lựa chọn khác là một sự mở rộng nâng cấp loại radar này. Nó có thể đồng thời nhận diện 40+ mục tiêu, theo dõi đồng thời 10 mục tiêu và tấn công 2 mục tiêu riêng biệt bằng tên lửa BVR radar bán chủ động. Hoặc hai tên lửa có thể được nhắm vào một mục tiêu để nâng cao xác suất tiêu diệt. Khi các tên lửa không đối không radar chủ động được sử dụng, số mục tiêu có thể tiêu diệt đồng thời nâng lên 4 mục tiêu. Phạm vi dò tìm cho mục tiêu trên không tiêu biểu có diện tích phản xạ radar 3 m² là 125+ km; với mục tiêu ở phía dưới máy bay là 45+ km; mục tiêu trên biển là 250+ km. Khi tấn công các mục tiêu trên mặt đất, radar của Trung Quốc có thể khóa các mục tiêu phương tiện xe cộ giống như các loại radar của Mỹ, thay vì chỉ có khả năng khóa một nhóm lớn các phương tiện vận tải giống như radar Phazotron Kopyo (Spear) của Nga trên MiG-21-93. Nó có thể dễ dàng truy nhập các đơn vị đường dẫn dữ liệu thay thế với với hệ thống điện tử bán dẫn số hóa hoàn toàn và các chức năng thử nghiệm trang bị sẵn. Nhiều chỗ cho sự cải tiến hợp nhất trong thiết kế hiện nay như rãnh mạng plannar, có thể được thay thế bởi một dạng bị động mạng pha. Bộ xử lý số lập trình lại được với thiết kế kiến trúc mở. Tùy chọn để hợp nhất với IFF. Hệ thống quang-điện tử bên trong không phải là một tiêu chuẩn cho JF-17, nhưng radar có thể tích hợp với chúng nhanh chóng nếu khách hàng yêu cầu.
Tầm nhìn hiển thị trên mũ phi công (HMS) Dù việc lắp đặt thiết bị hiển thị trên mũ cho JF-17 còn đang được xác định, nhưng HMS có lẽ sẽ trở thành một tiêu chuẩn trên JF-17. JF-17 thích hợp với một tầm hoạt động lớn của HMS, và HMS trên JF-17 chắc chắn sẽ bằng hoặc tốt hơn HMS trang bị cho J-7E/F-7PG, lần đầu tiên xuất hiện trong một triển lãm hàng không năm 2002 và những cuộc triển lãm phòng thủ/điện tử học như CIDEX đã từng được diễn ra tại Trung Quốc. Theo một nhân viên cao cấp từ hãng phát triển và các quảng cáo của hãng phát triển trong cuộc triển lãm năm 2002, HMS được lắp đặt cho J-7E/F-7PG tốt hơn so với HMS mới nhất của Nga trên thị trường xuất khẩu; với HMS của Trung Quốc, nó đã được thiết kế đặc biệt để cải tiến việc sử dụng các hệ thống của Nga, và nó còn tốt hơn các HMS của Nga bao gồm ASP-AVD-21, Shchel series, Sura series trong một số lĩnh vực như:
Khi so sánh với tiêu chuẩn gốc ASP-PVD-21 HMS của Nga trên MiG-29 và gia đình Flanker, phạm vi tầm nhìn của HMS Trung Quốc cho J-7E/F-7PG là +/- 90°, lớn hơn +/- 8° so với ASP-PVD-21 HMS của Nga.
So sánh với HMS gần đây nhất của Nga với tầm nhìn là +/- 60°, HMS của Trung Quốc cho J-7E/F-7PG có tầm nhìn lớn hơn nhiều ở +/- 90°.
Việc nâng cao thiết kế HMS gần đây của Nga để thay thế cho ASP-PVD-21 HMS trên MiG-29 và gia đình Flanker chỉ là +/- 40°, trong khi với HMS cho J-7E/F-7PG đã là +/- 45°.
HMS của Trung Quốc cho J-7E/F-7PG dễ sử dụng và giá rẻ hơn đối với các nhà sản xuất so với HMS của Nga.
Chiến tranh điện tửJF-17 có mọi hệ thống chiến tranh điện tử tiêu chuẩn, như radar cảnh báo, hệ thống cảnh báo tên lửa,...
Máy tính có thể lưu trữ hơn 500 tín hiệu radar hiện hữu cho việc nhận dạng, trong một phạm vi gấp 5 lần F-7MP/P, và thực tế đã có kho lưu trữ hơn 250 tín hiệu radar mô hình.
Hệ thống cánh báo tên lửa tiếp cận với tầm quét 360°, dò tìm cả dải tia hồng ngoại và tia tử ngoại.
Rất nhạy cảm với những tên lửa đốt nhiên liệu lần hai.
Phạm vi dò tìm là 60+ km.
Một cảm biến dò tìm lắp ở đuôi và hai cái ở trước.
Hơn nữa, nó có thể cung cấp một khả năng theo dõi nhất định và định vị tên lửa tiếp cận.
BM/KG300G Thiết bị bảo vệ.
KZ900 Thiết bị trinh sát điện tử.
Blue Sky navigation pod: Thiết bị dẫn đường và tấn công ở độ cao thấp
FILAT Thiết bị hồng ngoại laser phía trước tấn công mục tiêu
Các thiết bị chỉ điểm mục tiêu khác.
Truyền thông tin JF-17 có hai radio truyền tin, một chiếc có khả năng liên kết dữ liệu để trao đổi dữ liệu từ một trung tâm điều khiển mặt đất hoặc một AWACS/[[AEW].
Động cơĐộng cơ hiện này của JF-17 là động cơ RD-93 của Nga. Hiện tượng phát nhiệt đã được giảm bớt một cách đáng kể, nhưng vẫn đề xả khói vẫn chưa khắc phục được. Tuy nhiên, làm sao mà động cơ RD-93 lại có thể gây được ấn tượng, và thậm chí xem xét mọi lo ngại, gia tốc và sự nhanh nhẹn là câu trả lời nó có thể đạt được đối với những sự mong đợi. Theo các phi công thử nghiệm, động cơ hoạt động ngay tức thời với các mệnh lệnh của phi công. Đây là một sự so sánh giữa RD-93 và WS-13 của Trung Quốc:
Bảo dưỡng động cơ Thay vì phải phụ thuộc gửi động cơ trở lại nhà máy để xem xét toàn bộ nếu cần thay thế động cơ, động cơ máy bay có thể sẵn sàng được thay thế tại sân bay trong khoảng 2 giờ (khoảng 1 giờ 45 phút là thay thế xong), và cung cấp thiết bị bảo trì cần thiết tại mọi địa điểm.
Khi so sánh với các thiết bị bảo trì mặt đất của Nga cho gia đình Flanker như Sukhoi Su-30, Trung Quốc tuyên bố rằng các thiết bị bảo trì mặt đất cho JF-17 được phát triển tại nội địa và nó có lợi thế lớn so với thiết bị của Nga hiện nay trên thị trường, và PLAAF đã bắt đầu thay thế thiết bị bảo trì mặt đất cho các máy bay thuộc dòng Flanker như Sukhoi Su-30 với những lý do sau:
Cũng như những bản sao của phương Tây, thiết bị bảo trì mặt đất của Trung Quốc không hạn chế phục vụ một kiểu máy bay nào, thay vào đó, nó được thiết kế để phục vụ các loại máy bay, bao gồm cả máy bay dân dụng và máy bay quân sự. Khi đưa ra so sánh, đa số thiết bị bảo trì mặt đất của Nga cho máy bay thuộc dòng Flanker như Sukhoi Su-30, được chế tạo với chủ định và chỉ có thể phục vụ cho máy bay trong gia đình Flanker.
Vì dựa vào những sản phẩm đã thương mại hóa, nên thiết bị bảo trì mặt đất của Trung Quốc dễ mua và có giá rẻ, và quan trọng hơn, dễ vận hành, thay thế nếu hỏng hóc và chi phí vận hành rẻ hơn nhiều so với thiết bị của nga, từ ít nhất là nửa triệu cho đến một triệu USD.
Thiết bị của Trung Quốc chấp nhận nguyên tắc trạm công tác đa nhiệm vụ tương tự như hệ thống của Hoa Kỳ, và nó cần ít thiết bị hơn so với hệ thống của Hoa Kỳ. Khi so sánh, thiết bị bảo trì mặt đất của Nga dùng cho xuất khẩu cho gia đình Flanker như Sukhoi Su-30 chỉ dùng với nhiệm vụ đơn, như vậy bắt buộc những khách hàng phải trả tiền nhiều hơn để mua sắm thiết bị bảo trì mặt đất cho mỗi kiểu máy bay, để đáp ứng được nhu cầu bảo dưỡng duy trì sự ổn định cho máy bay.
Vì thiết kế tương tự với những hệ thống của phương Tây, thiết bị của Trung Quốc nhỏ gọn và có thể được triển khai bằng đường không tương tự như thiết bị của phương Tây. So với thiết bị của nga cho gia đình Flanker như Sukhoi Su-30 thì thiết bị của Nga quá cồng kềnh và chỉ có thể vận chuyển bằng đường bộ và không thể vận chuyển bằng máy bay vận tải.
Thiết bị của Trung Quốc có nhiều tác dụng giống như hệ thống của phương Tây, như nó có thể được lắp trên xe tải để tăng tính cơ động, hoặc gắn vào rơmooc để giảm bớt chi phí. Với thiết bị của Nga hiện nay trên thị trường dành cho máy bay thuộc dòng Flanker như Sukhoi Su-30 mới được đặt lên xe tải từ năm 2006.
Thay vì được chế tạo với một dây chuyền sản xuất đơn lẻ phức tạp phải liên kết với hãng sản xuất máy bay như thiết bị của Nga, dây chuyền sản xuất đầy đủ thiết bị bảo trì mặt đất của Trung Quốc được phát triển bởi các hãng sản xuất khác các thiết bị tương tự được sử dụng cho những máy bay thương mại, vì vậy khách hàng có những sự lựa chọn nhiều hơn từ các nhà cung cấp, và không phải bỏ ra quá nhiều tiền do chỉ được thỏa thuận với hãng sản xuất máy bay như trước đây. Những khách hàng của thiết bị bảo trì Trung Quốc bởi vậy mở rộng danh sách các hãng cung cấp thiết bị đến từ phương Tây nếu như họ cần phải lựa chọn những thiết bị tốt hơn.
Quan trọng hơn, một khi hầu hết thiết bị bảo trì của Trung Quốc có thể được dùng cho máy bay dân sự, nó sẽ không phải chịu những lệnh trừng phạt quân sự, giống như những thiết bị của Nga thường không thể cung cấp cho một số quốc gia phải chịu lệnh trừng phạt quân sự, do thiết bị đó chỉ đơn thuần được dùng cho quân sự.
Với việc sử dụng được cho cả máy bay dân sự đối với các thiết bị của Trung Quốc, cũng có nghĩa rằng thiết bị này có thể được tốt hơn và giảm bớt chi phí hoạt động tương tự như các thiết bị của phương Tây. So với các thiết bị của Nga bị hạn chế chỉ dùng cho máy bay quân sự, nó cũng chỉ hạn chế dùng cho một dòng máy bay quân sự nhất định.
Thiết bị bảo trì mặt đất của Trung Quốc cũng được thiết kế mô-đun như các hệ thống của phương Tây, do đó nó dễ dàng tùy chọn nhiều thiết bị phụ nếu sẵn có, và nó dễ dàng hợp nhất vào hệ thống bằng việc thay thế những thứ cũ kỹ thay vào đó là các bộ phận mới hơn.
Hệ thống vũ khíVũ khí không đối không
JF-17 là một máy bay tiêm kích được định hướng xuất khẩu chính của Trung Quốc và Pakistan, như vậy nó có thể được chế tạo theo yêu cầu đặc biệt của khách hàng và sử dụng các hệ thống vũ khí đa dạng của cả Trung Quốc và phương Tây.
Đây bao gồm những tên lửa không đối không ngoài tầm nhìn (BVRs).
Vũ khí không phải của Trung Quốc:
R-Darter BVR-AAM (đưa ra tại IDEAS 2006, Karachi, Pakistan)
A-Darter WVR-AAM (đưa ra tại IDEAS 2006, Karachi, Pakistan)
IRIS-T WVR-AAM (đưa ra tại IDEAS 2006, Karachi, Pakistan)
AIM-9L/M SidewinderWVR-AAM
AIM-7F Sparrow BVR-AAM
AIM-120C BVR-AAM
Vũ khí Trung Quốc:
PL-9 cho chiến đấu trong tầm nhìn
SD-10 BVRAAM cho chiến đấu ngoài tầm nhìn
[sửa] Vũ khí không đối đất
Ngoài những loại rocket và bom không dẫn đường, JF-17 còn có thể lắp đặt những vũ khí dẫn đường chính xác khác, như:
Vũ khí không phải của Trung Quốc:
DPGM (bom dẫn đường chính xác) - Denel (Nam Phi)
Raptor-I bom lượn tầm xa được dẫn đường chính xác (60 km) - Denel (Nam Phi)
Raptor-II bom lượn tầm xa được dẫn đường chính xác (120 km) - Denel (Nam Phi)
Tên lửa chống tàu như Exocet và Boeing Harpoon.
Loạt bom dẫn đường bằng tia laser KAB của Nga (những loại bom này của Nga không thể đặt trực tiếp lên các giá treo vũ khí như vũ khí của phương Tây hay Trung Quốc, thay vào đó, JF-17 sẽ được bổ sung những rãnh đặc biệt để treo các loại vũ khí này)
Vũ khí của Pakistan:
H-2 bom lượn (60 KM)
H-4 bom lượn (120 KM)
Ra'ad tên lửa hàng trình (350 KM)
HAFR-2 bom tấn công đường băng sân bay
Vũ khí Trung Quốc:
Loạt bom dẫn đường FT (Fei Teng) sử dụng GPS
LT (Lei Ting) bom dẫn đường laser
Loạt bom lượn LS (Lei Shi) sử dụng GPS
C-101 tên lửa chống tàu siêu âm
FL-7 tên lửa chống tàu siêu âm
C-701 tên lửa không đối đất
TL-10 tên lửa chống tàu với lượng choán nước là 500 tấn
TL-6 tên lửa chống tàu với lượng choán nước là 1.000 tấn
C-704 tên lửa chống tàu với lượng choán nước là 3.000-4.000 tấn
C-801/802 tên lửa chống tàu với lượng choán nước trên 4.000 tấn
Mọi vũ khí dẫn đường chính xác trong danh sách trên hoặc được dẫn đường bằng GPS hoặc bằng radar, và khi vũ khí dẫn đường bằng vô tuyến hoặc laser được triển khai, thêm vào đó là thiết bị chỉ thị mục tiêu quang điện tử như Blue Sky của Trung Quốc, sẽ phải mang bên ngoài để cung cấp hướng dẫn đường đi và thông tin mục tiêu.
nguồn:http://news.qq.com/a/20090311/000622.htm