Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:26:21 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử  (Đọc 29257 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #30 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2024, 09:05:18 pm »

2.Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào và cục diện của cuộc "Hòa đàm thế kỷ".

Lên làm Tổng thống Mỹ (đầu năm 1969) trong điều kiện quân viễn chinh Mỹ và quân một số nước đồng minh của Mỹ phải rút dần ra khỏi miền Nam Việt Nam, để tiếp tục theo đuổi và cứu vãn cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Níchxơn thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", lấy quân đội Sài Gòn làm nòng cốt dưới sự hỗ trợ của hỏa lực Mỹ, cố vấn Mỹ và hậu cần Mỹ. Đây đồng thời cũng được coi là "công thức chiến thắng mới" cho chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, trong các cuộc hành quân lớn, quân Mỹ vẫn tham gia trực tiếp, thậm chí đóng một vai trò quan trọng bên cạnh quân đội Sài Gòn. Trên lĩnh vực đối ngoại, chính quyền Mỹ thực hiện chính sách "tiến công hòa bình" với quy mô chưa từng có trong hoạt động ngoại giao của nước Mỹ sau Chiến tranh thế giỏi thứ hai. Mục đích của chính sách ngoại giao này là lôi kéo sự tham gia của các nước Tây Âu, Bắc Âu, châu Phi, châu Á, một số nước XHCN, các nước Không liên kết... làm trung gian trong vấn đề Việt Nam, bịt mắt dư luận thế giới và nhân dân Mỹ, gây chia rẽ giữa các nước với Việt Nam. Với chiến lược đó, Mỹ liên tục giằng dai trên bàn Hội nghị Pari, gây nên những bế tắc về ngoại giao trong suốt những năm 1968-1970.


Đến đầu năm 1971, do phản ứng dữ dội từ dư luận trong nước và từ chính Quốc hội Mỹ1 (Quốc hội Mỹ thông qua Đạo luật bổ sung Cupơ Sớtsơ, hạn chế hoạt động của quân viễn chinh Mỹ tại chiến trường Đông Dương, cấm đưa lục quân Mỹ hoạt động ngoài biên giới miền Nam Việt Nam), trước khi rút quân Mỹ ra khỏi các cuộc hành quân ngoài biên giới miền Nam Việt Nam, Mỹ và chính quyền Sài Gòn quyết định mở ba cuộc hành quân lớn2 (Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Đường số 9 - Nam Lào; cuộc hành quân "Toàn thắng 01/71 NB" với quy mô trên 30 tiểu đoàn từ Tây Ninh và Lộc Ninh đánh lên vùng Kôngpông Chàm và Kra Chiê (Đông Bắc Campuchia); cuộc hành quân hành quân "Quang Trung 4" quy mô khoảng 1 sư đoàn đánh ra vùng ngã ba biên giới thuộc A Tô Pơ, Nam Lào (vùng Tà Xẻng,Pa Kha, Sô Sụ)) ở bên kia biên giới Việt - Lào, Việt -  Campuchia. Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" có quy mô lớn nhất và được Tổng thống Níchxơn đặt vào đó khá nhiều tham vọng: Thứ nhất, kiểm chứng khả năng tác chiến độc lập của quân đội Sài Gòn, qua đó kiểm nghiệm kết quả của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" sau hơn hai nămthực hiện; thứ hai, hủy diệt tuyến đường vận tải huyết mạch - đường mòn Hồ Chí Minh với hy vọng nếu "không còn đường mòn Hồ Chí Minh, hoặc bị gián đoạn chỉ trong một mùa khô, khả năng mở các cuộc tiến công lớn của Hà Nội ở miền Nam (và Campuchia) sẽ giảm đi một cách đáng kể nếu không phải là bị loại trừ trong một tương lai vô hạn định"1 (Henry Kítxinhgơ, Những năm ở Nhà Trắng (1968-1973), Trung tâm Thông tin Khoa học quân sự - Bộ Quốc phòng, Sao lục, 1981, tr. 209); thứ ba, chuyển đến cử tri Mỹ thông điệp về tính khả quan của chiến tranh Việt Nam khi thời hạn bầu cử Tổng thống Mỹ (năm 1972) đang đến gần; thứ tư, làm suy yếu cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ba nước Đông Dương, tạo nên thế mạnh trên chiến trường và thương lượng trên thế mạnh, ép ta nhân nhượng trên bàn đàm phán Hội nghị Pari, "buộc ta phải chấp nhận một giải pháp chính trị có lợi cho Mỹ"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 32, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 350). Như vậy, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đầu năm 1971 là toan tính lớn và đầy kỳ vọng của cả Mỹ và chính quyền Sài Gòn, một nỗ lực cứu vớt sự thảm bại đã lộ rõ của "Việt Nam hóa chiến tranh". Thành, bại của cuộc hành quân "Lam Sơn 719" chắc chắn sẽ kéo theo rất nhiều hệ lụy.


Sớm nhận rõ âm mưu của địch, cuối năm 1970, Bộ Chính trị hạ quyết tâm: "Ta phải đánh cho quân Mỹ bị thua đau hơn nữa, đánh cho ngụy quân, ngụy quyến phải sụp đổ"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn lập, tập 32, Stld, tr. 118). Bộ Chính trị cũng xác định phương hướng tiến công của địch trong mùa khô 1970-1971 là hành lang chiến lược Trung, Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia, chỉ rõ trong trường hợp dịch đánh ra Đường 9, thì đó là thời cơ để thực hiện chiến dịch phản công, tiêu diệt địch, tạo ra sự thay đổi trong cán cân lựclượng trên chiến trường có lợi cho ta, tạo điều kiện cho cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Pari và bên ngoài hội nghị.


Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào bắt đầu và kết thúc trong vòng hơn 50 ngày đêm1 (Chiến dịchbắt đầu ngày 31 tháng 1 và kết thúc ngày 23 tháng 3 năm 1971). Lúc này, cuộc đấu tranh bên bàn đàm phán Hội nghị Pari đang ở giai đoạn thứ hai2 (Giai đoạn thứ nhất: ngày 15 tháng 3 năm 1968 đến ngày 31 tháng 10 năm 1968; giai đoạn thứ hai: từ đầu năm 1969 đến giữa năm 1972; giai đoạn thứ ba: từ giữa năm 1972 đôn tháng 1 năm 1973) trong thế đàm phán giằng co. Tin tức từ chiến trường liên tục dội đến bàn đàm phán. Đến đầu tháng 3 năm 1971, chúng ta dồn dập đón tin thắng lợi3 (Ta đã bẻ gãy hoàn toàn cánh quân phía Bắc Đường 9của địch, tiêu diệt Lữ đoàn 3 dù, Thiết đoàn 17, đánh thiệt hại nặng Liên đoàn 21 biệt động quân, phá vỡ kế hoạch thiết lập các căn cứ hoả lực vừa bảo vệ sườn Bắc vừa chi viện cho cánh quân chủ yếu tiến công lên Sê Pôn của chúng; 2. Tiêu diệt quân địch ở điểm cao 723 - lực lượng mạnh nhất của Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn, thắng lợi đã tạo điều kiện thuận lợi cho Sư đoàn 2 và các đơn vị ban trong chiến dịch bẻ gãy hoàn toàn cánh quân phía Nam Đường 9 của địch và ta khống chế được khu vực từ Sê Pôn đến Bản Đông; 3. Tiêu diệt tập đoàn chủ yếu của địch trong cuộc hành quân của chúng ở Bản Đông). Cuộc hành quân đầy tham vọng giờ đây biến thành "cuộc hỗn loạn Lam Sơn 719" và sự tổn thất to lớn của quân đội Sài Gòn4 (Quân đội Sài Gòn bị tổn thất 21.102 lính, trong đó có 19.960 bị giết và bị thương, 556 máy bay bị bắn rơi và phá hủy, hàng ngàn xe cơ giới các loại, hàng trăm khẩu pháo và súng cối hạng nặng cùng nhiều phương tiện chiến tranh khác bị phá hủy và thu giữ. (Dẫn theo: Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phản côngĐường 9 - Nam Lào năm 1971, Hà Nội, 1987, tr. 61-62)) đã đặt dấu chấm hết cho nỗ lực xây dựng "công thức chiến thắng" của chính quyền Mỹ. Kítxinhgơ đã phải cay đắng thốt lên: "Liệu Nam Việt Nam có thực sự hiểu cái mà chúng tađang cố gắng giành lấy không?"1 (Henry Kítxinhgơ, Những năm ở Nhà Trắng, Sđd, tr. 241-242). Thất bại của cuộc hành quân "Lam Sơn 719" trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng không chỉ của quân đội Sài Gòn, mà còn của cả chính quyền Mỹ - điểm tựa và người bảo hộ cho họ. Thất bại đó đã cho thấy "quân đội Việt Nam cộng hòa là một quân đội mong manh một cách tuyệt vọng"2 (Gabriel Kolko, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr. 446). Và thất bại nặng nề của quân đội Sài Gòn dưới sự yểm trợ hùng hậu của hỏa lực Mỹ, phương tiện chiến tranh Mỹ, cố vấn Mỹ "đã làm rung chuyển nước Mỹ, gây ra cho chúng những khó khăn rất lớn về nhiều mặt"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 32, Sdd, tr. 195); tạo ra "khả năng kéo Mỹ xuống nữa để thắng một bước căn bản tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn cho cuộc cách mạng miền Nam"4 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 32, Sđd, tr. 366). Muốn kéo Mỹ xuống, "phải triển khai cuộc đấu tranh trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao; dùng chính trị, ngoại giao kết hợp với quân sự để kéo Mỹ xuống; kéo Mỹ xuống để quân sự đánh to thắng lớn thúc đẩy phong trào chính trị trong nước Mỹ làm áp lực mạnh hơn buộc chính quyền Mỹ phải từ bỏ xâm lược, chấm dứt chiến tranh"5 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 32, Sđd, tr. 366-367).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #31 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2024, 09:06:33 pm »

Thực hiện chủ trương trên, để dồn địch vào thế khó khăn hơn, vừa có thể chủ động tạo và đón thời cơ kéo Mỹ đi vào quỹ đạo đàm phán một cách thực chất6 (Cho đến giữa năm 1971, đàm phán tại Hội nghị Pari đi vào vòng luẩn quấn, bế tắc, không mang lại kết quả nào đáng kể, vì phía Mỹ vẫn muốn đàm phán trên thế mạnh. Mỹ cố tình hạ thấp Hội nghị, hy vọng xoay chuyển cục diện chiến trường để đạt kết quả đàm phán có lợi nhất cho Mỹ), chúng ta mở đợt tấn công ngoại giao mới. Ngày 26 tháng 6 năm 1971, Cố vấn Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thủy gặp riêng Kítxinhgơ. Bộ trưởng Xuân Thủy đưa ra Sáng kiến hòa bình 9 điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa1 (Trong tiến trình đàm phán, âm mưu của chính quyền Níchxơn là tách vấn đề quân sự và chính trị; chỉ giải quyết vấn đề quân sự nhằm thực hiện rút quân ngừng bắn toàn bộ với cả Mỹ và ngụy để duy trì và củng cố ngụy. Quan điểm của Việt Nam là phải giải quyết toàn bộ và chỉ ngừng bắn sau khi giải quyết cả vấn đề quân sự và chính trị, do đó phải giải quyết hai vấn đề quan trọng là: Mỹ phải định thời hạn rút quân khỏi miền Nam và Mỹ phải chấm dứt việc ủng hộ nhóm cầm quyền hiếu chiến do Thiệu cầm đầu); tuy nhiên, phía Mỹ vẫn làm ngơ trước những đề nghị thiện chí và thấu tình, đạt lý của chúng ta. Trước tình hình đó, ngày 10 tháng 7 năm 1971, Bí thư thứ nhât Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn đã điện cho Bộ trưởng Xuân Thủy và cố vấn Lê Đức Thọ, nhấn mạnh "vấn đề quan trọng hiện nay là làm thế nào ba mặt đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp với nhau để có thể nắm vững thời cơ và giành được thắng lợi lớn nhất"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 32, Sđd, tr. 408). Cùng ngày, đồng chí Lê Duẩn điện riêng cho Bộ trưởng Ngoại giao CPCMLTCHMNVN và VNDCCH chỉ rõ hai yêu cầu trước mắt trong cuộc đấu tranh ngoại giao giữa ta va địch: 1. Gây một sức ép mạnh trong nước Mỹ, ngay cả trong Thượng và Hạ nghị viện Mỹ để buộc Níchxơn phải đi đến có chủ trương dứt khoát rút quân ra khỏi miền Nam và phải tuyên bố thời hạn rút quân; 2. Ta phải kéo chính quyền bù nhìn Sài Gòn xuống một bước, buộc Mỹ phải đưa ra một chính quyền có thể nói chuyện với ta3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 32, Sđd, tr. 109-410).


Phát huy thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào và những thắng lợi quân sự trong nửa cuối năm 1971, từ tháng 7 cho đến tháng 12 năm 1971, chúng ta liên tục mở các đợt tấn công ngoại giao quyết liệt hơn, nhằm đưa cuộc đàm phán đi vào thực chất, phản ánh đúng những diễn biến quân sự trên chiến trường có lợi cho chúng ta; đồng thời, kiên quyết làm thất bại âm mưu của Mỹ coi nhẹ, hạ thấp vai trò của đàm phán Pari. Chúng ta liên tục đưa ra những sáng kiến mới, tập trung vào các vấn đề như rút quân, thả tù binh, chấm dứt ủng hộ Thiệu - Kỳ - Khiêm, bồi thường chiến tranh, thực hiện ngừng bắn sau khi ký kết hiệp định, thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình... Có một điểm mới là những vấn đề nêu trên được thu hẹp trong phạm vi miền Nam, nhằm tạo ra những bước đột phá mới trong đàm phán và điều đáng nói là mỗi sáng kiến đưa ra đều kèm theo các giải pháp thực hiện1 (Đáng lưu ý là Sáng kiến 7 điểm, trong đó, sáng kiến thứ nhất gợi ý rõ một thời hạn rút quân là trong năm 1971, gắn việc rút an toàn quân đội Mỹ và thả tù binh hai bên bắt đầu cùng ngày và kết thúc cùng ngày. Sáng kiến thứ hai và ba tập trung yêu cầu lập chính phủ hòa hợp dân tộc rộng rãi ba thành phần. Sáng kiến thứ tư để nghị vấn đề các lực lượng vũ trang ở miền Nam sẽ do các bên Việt Nam cùng nhau giải quyết trên tinh thần hòa hợp dân tộc. Sáng kiến thứ năm về việc miền Nam Việt Nam và Mỹ sẽ thiết lập quan hệ chính trị, kinh tế - xã hội). Trả lời các sáng kiến của chúng ta, mặc dù các đại biểu phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn chưa hoàn toàn có thái độ thiện chí, song, thái độ đã lộ rõ ý muốn sớm giải quyết vấn đề, tỏ ra có một số điểm mềm dẻo: Không nhắc đến vấn đề quân miền Bắc rút khỏi miền Nam, đồng ý ngừng bắn sau khi có hiệp định, giải quyết vấn đề tù binh đồng thời với việc rút quân Mỹ và hé lộ sẽ có viện trợ không hoàn lại đáng kể sau chiến tranh. Nhìn chung, trong năm bản lề 1971, chúng ta "chủ yếu xoáy vào hai điểm chính: Vấn đề rút quân Mỹ và vấn đề thay thế chế độ Thiệu"1 (Lưu Văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ, Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger lại Pari, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2002, tr. 178). Như vậy, kết hợp chặt chẽ giữa đánh - đàm; nắm vững quan hệ giữa thắng lợi quân sự với thắng lợi trên ban đàm phán, mềm dẻo trong điều chỉnh các điều kiện, yêu cầu đàm phán, sau thắng lợi mang tính chiến lược của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971, các hoạt động ngoại giao của chính phủ Việt Nam đã thúc đẩy cuộc "Hòa đàm thế kỷ" hầu như không tiến triển, sau rất nhiều bế tắc có những diễn biến mới, bước vào giai đoạn đàm phán thực chất.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #32 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2024, 09:09:02 pm »

3.Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào và cuộc vận động ngoại giao tranh thủ dư luận thế giới.

Khi đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao phục vụ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong bối cảnh quốc tế phức tạp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho ngành đối ngoại: "Ngoại giao của ta là cốt tranh thủ nhiều người ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước"2 (Xuân Thủy, "Một số vấn đề về Hiệp định Pari", Tạp chí Lịch sử Đảng, số 1-2008, tr. 7). Và từ khi cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam đang có bước leo thang mới, Trung ương Đảng đã chủ trương: "Tranh thủ rộng rãi hơn nữa sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới đốivới cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta và qua đó góp phần phát triển hành động chung của nhân dân thế giới chống đế quốc Mỹ xâm lược và ủng hộ Việt Nam"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 30, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 202). Trên tinh thần đó, nhằm tranh thủ tối đa dư luận quốc tế, cô lập Mỹ và chính quyền Sài Gòn, bên cạnh cuộc đấu tranh trực tiếp với Mỹ trên bàn đàm phán, chúng ta còn tiến hành những hoạt động đối ngoại phong phú bên ngoài hội nghị, đặt trọng tâm vào việc tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ, âm mưu của Mỹ - Thiệu kéo dài chiến tranh, cũng như chỉ rõ những thất bại của Mỹ trên chiến trường Đông Dương mà đối phương luôn luôn muốn che giấu.


Khi Mỹ và chính quyền Sài Gòn thực hiện cuộc hành quân "Lam Sơn 719", với quyết tâm chiến lược "kiên quyết đập tan bước phiêu lưu quân sự mới của đế quốc Mỹ và tay sai, giành toàn thắng cho Chiến dịch X (Đường 9 - Nam Lào)"1 (Chỉ thị 009/QUTW, do Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp ký ngày 9 tháng 2 năm 1971, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, hồ sơ 594), với sự tin tưởng ở thắng lợi tất yếu, nhìn thấy trước sự thảm bại không tránh khỏi của quân đội Sài Gòn, chỉ vài ngày sau khi Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào bắt đầu, ngày 9 tháng 2 năm 1971, Bộ Chính trị chỉ thị: "Cần gây nên một phong trào mạnh mẽ chống hành động phiêu lưu quân sự của Mỹ và Thiệu - Kỳ đưa quân đi đánh ở Lào, ở Campuchia kết hợp các khẩu hiệu đòi hoà bình dân chủ và dân sinh, đòi Mỹ rút quân"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 32, Sđd, tr. 248). Quán triệt quan điểm đó, chúng ta sẵn sàng cho một cuộc vận động quy mô lớn vạch rõ âm mưu kéo dài chiến tranh của Mỹ, tranh thủ tối đa sự ủng hộ của dư luận quốc tế, đặc biệt là nhân dân Mỹ - những người đã chán ngấy cuộc chiến tranh bẩn thỉu đang được tiến hành một cách vô vọng ở miền Nam Việt Nam; những người đã quá mệt mỏi trước những mất mát, hy sinh không đáng có của con em họ tại vùng đất xa xôi, hứa hẹn một tương lai mịt mù này. Điều vô cùng thuận lợi là dù bộ máy tuyên truyền của Sài Gòn đưa tin rùm beng về thắng lợi của "Quân lực Việt Nam cộng hòa" trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719", nhưng các ký giả mặt trận Anh, Mỹ theo sát các cuộc hành quân của quân đội Sài Gòn đã truyền tải đầy đủ sự thật về thất bại của quân đội Việt Nam cộng hòa - một cuộc "tháo chạy trong hoảng loạn". Vô số những dòng tin như: "Quân lính Nam Việt Nam khiếp sợ, phải đánh lẫn nhau giành chỗ khi máy bay đáp xuống để nhặt bọn bị thương"1 (Tin Mỹ và thế giới, ngày 5 tháng 4 năm 1971); hay: "Số quân tinh nhuệ Sài Gòn quá tuyệt vọng không còn cách nào khác là liều mạng bám vào càng máy bay lên thẳng để rời khỏi trận địa. Nhiều nhân viên phi hành Mỹ phải lấy dây cột chặt người vào ghế để khỏi bị đẩy ra khỏi máy bay. Một số phi công khác phải mang theo dùi cui để hễ tên lính Sài Gòn nào trèo lên máy bay thì quật liền..."2 (Roi tơ, ngày 28 tháng 3 năm 1973); hoặc: "Thiệt hại thật khủng khiếp. Phía Mỹ và Nam Việt Nam ước tính thương vong gần 50% tổng số lực lượng tham gia cuộc hành quân"3 (Thời báo (Mỹ), ngày 5 tháng 4 năm 1971)... đã thực sự bóc trần những thất bại mà chính quyền Mỹ đang cố công che giấu, làm bùng lên một làn sóng phẫn nộ trong lòng nước Mỹ về những hứa hẹn thắng lợi của "Việt Nam hóa chiến tranh" mà Tổng thống Níchxơn vẫn luôn tô vẽ để trấn an người Mỹ. Tác giả Giô-dép A. Am-tơ trong cuốn Lời phán quyết về Việt Nam cũng cung cấp thêm thông tin: "Cuộc xâm chiếm là một thất bại và cuộc rút lui của quân đội Việt Nam cộng hòa là một cuộc tháo chạy... Điều nhục nhã này đã được hàng triệungười Mỹ xem trên màn ảnh truyền hình. Dù với sự yểm trợ ào ạt của không quân và sự chỉ huy của Lầu Năm Góc, đội quân đó đã thất bại thảm hại"1 (Giô-dép A. Am-tơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr. 323-324). Chính Tổng thống Níchxơn cũng phải thừa nhận rằng, tin tức báo chí, truyền hình về cuộc rút lui đã làm tinh thần ở miền Nam Việt Nam rệu rã, còn ở Mỹ dấy lên những nghi ngờ về khả năng leo thang và những tin tức đó "đã làm giảm lòng tin vào thắng lợi của Việt Nam hóa và triển vọng chấm dứt chiến tranh"2 (Giô-dép A. Am tơ, Lời phán quyết về Việt Nam, Sđd, tr. 325), khiến "lương tâm người Mỹ nổi giận".


Nhân cơ hội này, hai Đoàn Ngoại giao Việt Nam (CPCMLTCHMNVN và VNDCCH) đã họp báo, vạch rõ thực chất của cái gọi là "Việt Nam hóa chiến tranh" và bày tỏ lòng công phẫn trước số phận của binh lính Sài Gòn bị ném vào chỗ chết để Tổng thống Níchxơn thổ nghiệm chiến lược của ông ta. Nhằm vận động dư luận ủng hộ lập trường của chúng ta, các Đoàn Ngoại giao Việt Nam đã đi thăm các nước châu Âu: Anh, Thụy Điển, Hà Lan, Đan Mạch, Italia... gặp gỡ các tổ chức, các nghị sĩ và nhân sĩ chống chiến tranh, tiếp xúc với báo giới, trả lời phỏng vấn, nói chuyện với sinh viên, gặp gỡ kiều bào... tuyên truyền về thắng lợi quân sự trên chiến trường của chúng ta, về cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đã "chuyển thành một thất bại khổng lồ cho ý đồ của chính quyền Mỹ và cho các kế hoạch họ đã vạch ra cho Việt Nam cộng hòa"3 (Gabriel Kolko, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Sdd, tr. 430), cũng như về sự phá sản hoàn toàn không gì cứu vãn được của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Những hoạt động này đãlàm bùng nổ một làn sóng chống chiến tranh, ủng hộ Việt Nam rộng khắp, dấy lên phong trào lên án giới cầm quyền Mỹ, thúc đẩy nhân dân Mỹ chống chiến tranh, làm rung động Nhà Trắng.


Như thế, bên cạnh đàm phán Hội nghị Pari đang dần đi đến thực chất dưới sự tác động của diễn biến chiến trường, để tranh thủ dư luận thế giới, tập hợp bạn bè quốc tế, bên ngoài bàn đàm phán, hai Đoàn Ngoại giao Việt Nam phối hợp chặt chẽ hoạt động, tích cực tác động vào nội bộ nước Mỹ, phối hợp với phong trào của nhân dân Mỹ đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút nhanh, rút hết quân Mỹ khỏi Đông Dương. Và điều đó, ở một mức độ đáng kể, còn tác động vào nội tình miền Nam Việt Nam, góp phần phân hóa và cô lập thêm chính quyền Thiệu - Kỳ - Khiêm.


Thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đã "đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của ngụy quân trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", đánh dấu bước thất bại nghiêm trọng của chiến lược này"1 (Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 32). Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" chứa đầy những kỳ vọng của chính quyền Mỹ đã đi vào lịch sử những cuộc chiến tranh mà người Mỹ theo đuổi ở bên ngoài biên giới nước Mỹ như một dấu ấn đen tối, một "cuộc dạo chơi xuống địa ngục"2 (Gloria Emerson, To hell and back... The Straits Times, ngày 30 tháng 3 năm 1971). Thất bại này là hậu quả một chuỗi sai lầm mà chính quyền Mỹ mắc phải trong khi can dự và dấn sâu vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, bắt đầu từ chính việc họ quyết định thách thức ý chí độc lập, tự do của dân tộc ta. Trong thế thua của địch, thế thắng của ta, nhận thức rằng, "quân sự là việc chủ chốt trong kháng chiến"1 (Võ Nguyên Giáp, Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr. 204), chúng ta đã nắm vững mối quan hệ giữa quân sự và ngoại giao, nâng ngoại giao thành một mặt trận có ý nghĩa chiến lược phối hợp chặt chẽ với mặt trận quân sự, tạo cục diện đan xen giữa đánh và đàm với một hiệu quả mới, tạo thế và lực mới cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang đi dần đến hồi kết thúc. Hiện nay, trên con đường hội nhập, phát triển nhanh và bền vững của đất nước, khi xu thế quốc tế hoá đời sống của các quốc gia dân tộc trên hành tinh đang trở thành xu thế nổi trội; khi thời cơ và thách thức vẫn đan xen, tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải, biển đảo vẫn tồn tại và thậm chí rất gay gắt..., thì việc xây dựng chiến lược ngoại giao đúng đắn song song với việc củng cố nền quốc phòng toàn dân, nhằm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền đất nước vẫn đang là một đòi hỏi nóng bỏng. Thực hiện yêu cầu và trách nhiệm đó, các kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước về quan hệ thực lực và ngoại giao không những chưa bao giờ mòn cũ, chưa bao giờ mất đi ý nghĩa, mà còn ngày càng sáng lên giá trị đích thực của nó.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #33 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2024, 09:11:36 pm »

LỜI KÊU GỌI
CỦA TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN LÀO YÊU NƯỚC GỬI NHÂN DÂN CÁC BỘ TỘC LÀO VÀ NHÂN DÂN YÊU CHUỘNG HÒA BÌNH TRẼN THẾ GIỚI TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971

Trung tá SỈPIION KẸOSAMAY
Cục Khoa học - Lịch sử quân sự, Bộ Quốc phòng Lào


Đầu năm 1971, dưới sự điều khiển của Mỹ và được sự phối hợp từ phía lực lượng phái hữu Viêng Chăn, các lực lượng quân Mỹ, quân ngụy Sài Gòn và lực lượng lính đánh thuê Thái Lan với hàng chục nghìn tên được đưa vào trực tiếp tham gia cuộc hành quân "Lam Sơn 719" ở chiến trường Nam Lào.


Trước khi triển khai và chi viện trực tiếp cho cuộc hành quân quy mô lớn này, lực lượng không quân Mỹ, đã huy động hàng trăm máy bay chiến đấu các loại, trong đó có cả B-52, ném bom đánh phá mạnh vào khu vực các tỉnh Nam Lào. Chúng đã đánh phá toàn bộ các địa bàn quan trọng, giết hại dân thường vô tội rất tàn khốc dã man.


Hành động phiêu lưu của đế quốc Mỹ là nhằm thực hiện Học thuyết Níchxơn, mà thực chất là "dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương" và "dùng người châu Á đánh người châu Á", tìm mọi cách để tạo dựng cho được chính quyền thuộc địa kiểu mới tại các nước Đông Dương. Để thực hiện âm mưu đó, đế quốc Mỹ đã trực tiếp đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược ở Lào, miền Nam Việt Nam và sau đó mở rộng sang Campuchia. Quân Mỹ - ngụy Sài Gòn, kết hợp với quân đội tay sai khu vực Đông Nam Á được tăng cường đưa vào cùng tham chiến ở Lào, tiến hành các bước leo thang chiến tranh mới rất nguy hiểm, đe dọa trực tiếp tới độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh tho của Lào một cách trắng trợn, phá hoại Hiệp định Giơnevơ về Lào, đe dọa hòa bình và sự ổn định trong khu vực Đông Nam Á và thế giới. Hành động khiêu khích đó là sự thách thức nhân dân Lào nói riêng cũng như nhân dân Đông Dương, nhân dân tiến bộ Mỹ và thế giới nói chung.


Cuộc hành quân ra Đường 9 - Nam Lào của quân đội Sài Gòn kết hợp với quân phái hữu Viêng Chăn với sự yểm trợ của quân Mỹ đã phá hoại sự cố gắng không mệt mỏi của Mặt trận Lào yêu nước, và chúng cũng không cần biết đến nhân dân các bộ tộc Lào mong muốn sống trong hòa bình như thế nào? Mỹ, ngụy đưa quân vào tham chiến ở Nam Lào đã gây nên biết bao tội ác dã man, hậu quả lâu dài cho nhân dân Lào. Hành động khiêu khích đó tất sẽ không tránh khỏi thất bại thảm hại. Đất nước Lào không phải nơi mà chúng muốn gì là được, gây chiến tranh ở Hạ Lào càng làm cho nhân dân Lào tăng thêm lòng căm thù, lực lượng vũ trang ta sẵn sàng giáng trả chúng một cách kiên quyết.


Trải qua nhiều năm, nhân dân Lào đã kề vai sát cánh cùng với nhân dân Việt Nam anh dũng chiến đấu chốnglại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đã giành được những thắng lợi vẻ vang. Quân và dân Lào đã bẻ gãy các bước leo thang chiến tranh của Mỹ và tay sai. Mỗi một lần đối phó với Mỹ và tay sai càng cho chúng ta biết rõ hơn ý đồ đen tối của chúng. Cho đến nay (1971) tình hình ở Lào có diễn biến phức tạp, mặc dù chúng ta giành được thắng lợi trong thời gian qua, nhưng chúng ta cũng sẵn sàng đập tan âm mưu thủ đoạn gây chiến tranh xâm lược kiểu mới của chúng và sẵn đánh thắng địch bằng mọi sự thử thách, chúng ta đều nhận thức rằng, dù khó đến mấy, cuối cùng ta vẫn giành được thắng lợi.


Trên cơ sở đánh giá về tình hình Lào, Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào yêu nước đã ra Lời kêu gọi toàn thể đồng bào trong cả nước: "Hãy hun đúc tinh thần yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, đoàn kết chặt chẽ, đánh bại mọi âm mưu nham hiểm của đế quốc Mỹ và tay sai. Phát huy tinh thần tự lực tự cường, đưa cuộc chiến tranh nhân dân lên tầm cao mới, đánh địch ở mọi lúc, mọi nơi, với các loại vũ khí sẵn có, vượt mọi khó khăn, vươn lên đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi đất nước chúng ta".


Để động viên tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ Quân giải phóng nhân dân Lào, Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào yêu nước đã kêu gọi: "Hãy tăng cường, củng cố khối đoàn kết trong các lực lượng yêu nước và phối hợp cùng với lực lượng trung lập yêu nước, tăng cường tấn công vào lực lượng quân Mỹ và bò lũ tay sai, giành thắng lợi lớn hơn và nhiều hơn nữa".


Đối với nhân dân trong vùng giải phóng, đặc biệt là nhân dân các tỉnh Trung - Hạ Lào, Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào yôu nước kêu gọi: "Hãy ra sức đấu tranh anh dũng bền bỉ, để bảo vệ lấy thành quả và căn cứ cách mạng đồng thời làm hậu thuẫn ủng hộ giúp đỡ hết lòng và phối hợp cùng với các lực lượng yêu nước, tiêu diệt sạch quân thù".


Đối với đồng bào đang trong vùng địch tạm chiếm hoặc thuộc quyền kiểm soát của Mỹ, ngụy Viêng Chăn, các tầng lớp xã hội khác, các nhân sĩ, trí thức, học sinh, sinh viên, công nhân, nông dân, toàn thể những người yêu nước, lời kêu gọi nêu rõ: Nguy cơ rất lớn đang tiến dần vào đất nước chúng ta, hãy kiên quyết phản đối chống lại hành động phiêu lưu quân sự mới của Mỹ và tay sai, hãy cùng hợp tác với Mặt trận Lào yêu nước và toàn thể đồng bào ta, kiên quyết làm thất bại âm mưu đen tối của đế quốc Mỹ và tay sai.


Đối với những lực lượng yêu chuộng hòa bình ở khu vực Đông Nam Á và trên phạm vi toàn thế giới, Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào yêu nước cũng đã đưa ra một thông điệp: "Gửi tới những nước đã cùng ký Hiệp định Giơnevơ 1962 về Lào; gửi tới những chính phủ yêu chuộng hòa bình và nhân dân toàn thế giới và gửi tới các tổ chức quốc tế vì hòa bình, tự do, dân chủ, hãy ủng hộ, lên án, phản đối Mỹ, quân ngụy Sài Gòn tiến công xâm lược các tỉnh Lào, buộc Mỹ và tay sai chấm dứt mở rộng chiến tranh ở Lào, buộc chúng nhanh chóng rút toàn bộ lực lượng quân đội Mỹ ra khỏi nước Lào. Đó là nguyện vọng chính đáng trong cuộc đấu tranh của nhân dân Lào chống lại sự can thiệp, xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai".


Thông điệp còn nêu rõ: Gửi tới nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ và những người Mỹ đã có truyền thống đấu tranh vì tự do dân chủ và sự công bằng xã hội hãy phản đối chiến tranh, chống lại chính sách mới của chínhquyền Níchxơn, tìm mọi cách để tạo được dư luận ủng hộ rộng rãi của người Mỹ, chống việc đưa quân vào trực tiếp tham chiến trong các chiến dịch ở Nam Lào; đồng thời, cũng để họ bắt buộc chính phủ Mỹ phải ngừng ngay lập tức cuộc chiến tranh trên đất nước Lào.


"Lào là một đất nước độc lập, dân chủ, có chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của mình, không thể tách rời nhau. Sau khi tiến hành chiến tranh xâm lược Lào trong nhiều năm, đế quốc Mỹ đã gặp sự phản kháng chống lạiquyết liệt của nhân dân các bộ tộc Lào, làm cho chúng rơi vào thế bị động từ thất bại này đến thất bại khác và chúng cũng bị lên án tội ác do hành động dã man của chúng từ nhân dân yêu chuộng hòa bình và tiến bộ trên thế giới. Cho đến nay, Níchxơn... càng đưa quân vào tham chiến ở Hạ Lào, chắc chắn chúng sẽ bị thất bại thảm hại nhiều hơn nữa. Nhân dân ta luôn luôn yêu chuộng hòa bình và công lý, nhưng hòa bình phải kèm theo độc lập và tự do dân chủ, chúng ta sẽ không hối tiếc sự hy sinh thân phận vì sự bảo vệ nền độc lập tự do ấy.


Chúng ta tiến hành cuộc đấu tranh chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ - tên sen đầm quốc tế, không phải chỉ đấu tranh giành độc lập, tự do, hòa bình cho nhân dân ta, mà còn đấu tranh vì hòa bình cho nhân dân trên toàn thế giới. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là cuộc đấu tranh chính nghĩa, chúng ta có được sức mạnh chính là sự thống nhất cao về chính trị tinh thần của nhân dân các bộ tộc Lào và tình đoàn kết liên minh chiến đấu của hơn 50 triệu nhân dân Đông Dương. Vì vậy, chúng ta có đủ sức mạnh để đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Tình đoàn kết của nhân dân Đông Dương ngày càng bền chặt, vững mạnh kể từ khi chúng ta tổ chức Hội nghị cấp cao của nhân dân ba nước Đông Dương, chúng ta rất tự hào, được sự giúp đỡ tận tâm, tận lực của nhân dân các nước Đông Dương. Chúng ta rất hài lòng với sự ủng hộ giúp dõ tận tình của các nước Xã hội chủ nghĩa và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới, chúng ta có sức mạnh tổng hợp, thà hy sinh tất cả, kiên quyết, bền bỉ, đánh thắng địch, chúng ta nguyện sẽ kề vai sát cánh cùng với nhân dân Việt Nam và Campuchia, làm cho đế quốc Mỹ và tay sai bị thất bại hoàn toàn, nhân dân Lào có hòa bình, độc lập, có quyền tự do dân chủ, thống nhất và thịnh vượng. Góp phần vào xây dựng khu vực Đông Dương hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ".


Có thể nói, Lời kêu gọi của Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào yêu nước đã có sức động viên, cổ vũ to lớnđối với quân và dân Lào; đồng thời làm cho nhân dân tiến bộ, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới hiểu rõ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Lào, ủng hộ nhân dân Lào, góp phần tạo nên sức mạnh đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #34 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2024, 09:14:33 pm »

ĐỊA BÀN ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NHỮNG TÍNH TOÁN CỦA TA VÀ ĐỊCH TRONG NĂM 1971

Thượng tá, ThS HOÀNG THỊ THẢO
Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử quân sự Dân tộc -
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Sau những thất bại liên tiếp trên chiến trường ba nước Đông Dương, đầu năm 1971, đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam cộng hòa bắt đầu thực hiện kế hoạch chiến lược đánh ra vòng ngoài (chiến trường Lào và Campuchia) bằng các cuộc tiến công quy mô lớn. Mỹ sử dụng quân đội Sài Gòn làm nòng cốt, phối hợp chặt chẽ với chính quyền, quân đội phái hữu Lào, quân Lon Non Campuchia, với sự chi viện của không quân Mỹ nhằm triệt phá hành lang vận chuyển và hậu phương chiến lược trực tiếp của ta. Chúng huy động 88/214 tiểu đoàn, 15 thiết đoàn mở 3 cuộc hành quân: "Lam Sơn 719", đánh ra Đường 9 - Nam Lào; "Toàn thắng 1-71", đánh sang hai tỉnh Côngpông Chàm, Kra Chiê (Đông Bắc Campuchia) và "Quang Trung 4", đánh ra vùng ngã ba biên giới. Trong đó, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" được xác định là hướng tiến công chủ yếu, có quy mô lớn nhất. Câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao Mỹ và chính quyền Sài Gòn lại chọn địa bàn Đường 9 - Nam Lào là hướng tiến công chủ yếu trong năm 1971?. Chúng mưu tính những gì khi thực hiện cuộc tiến công này? Chủ trương và kế hoạch của ta trước âm mưu mới của kẻ thù?


Đường 9 - Nam Lào là địa bàn rừng núi thưa dân, thuộc hai tỉnh Quảng Trị (Việt Nam) và tỉnh Xa Van Na Khẹt (Lào). Địa hình vùng đất này rất đa dạng: có đồng bằng ven biển, có đồi núi trung du xen kẽ làng mạc, có núi cao rừng rậm từ Cửa Việt tới Lao Bảo (dài 80km), riêng khu vực Bản Đông, Sê Pôn khá trống trải, núi không cao; có Đường 9 - con đường nối liền hai nước Việt - Lào, được mở từ những năm đầu thế kỷ XX, do công sức của hàng vạn người dân hai nước, chạy từ Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (Việt Nam) đến Bản Đông - Sê Pôn, tỉnh Xa Van Na Khẹt (Lào). Đây là tuyến đường chiến lược nối biển Đông (Việt Nam) với Xa Van Na Khẹt (Lào) và chia Đông Dương thành hai miền Nam - Bắc. Ở hai phía bắc - nam trục Đường 9 kéo dài từ Bản Đông đến Sê Pôn, hầu hết là những dãy núi kế tiếp nhau, cao từ 500 đến 800m, có những chỗ thoải dần xuống trục Đường 9, tạo thành những ngả giao thông chạy song song với dòng sông Sê Pôn sâu rộng, đồng thời các điểm cao này cũng tạo ra những bức bình phong án ngữ bảo vệ trục giao thông chiến lược số 9. Ngoài ra, trên địa bàn này còn có đường 16 chạy qua làng Ho xuống Bản Đông, nối với đường 22 đi Mường Noòng; đường 18 qua Thà Khống xuống Mường Noòng là những đường hành lang vận tải chiến lược ở khu vực này.


Địa bàn Đường 9 - Nam Lào có vị trí trọng yếu đối với cả ta và địch.

Đối với ta, đây là khu vực kề cận với hậu phương miền Bắc, là "cuống họng" của tuyến vận tải quân sự Trường Sơn -Đường Hồ Chí Minh chi viện sức người, sức của từ hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa cho chiến trường miền Nam và Đông Dương. Đây cũng là nơi đặt cơ sở hậu cần chiến lược, tập trung hệ thống kho, trạm cất giữ vật chất đảm bảo cho các chiến trường.


Đối với Mỹ và chính quyền Sài Gòn, việc đánh chiếm toàn tuyến Đường 9 - Nam Lào, triệt phá tận gốc hành lang vận chuyển và phá hủy toàn bộ hệ thống kho, trạm hậu cần chiến lược đảm bảo kháng chiến của ta là một trong những mục tiêu chính yếu của chúng trong mưu đồ mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương. Các giới chức quân sự Mỹ khẳng định rằng: muốn thực hiện mục tiêu "bóp nghẹt" cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam phải bịt từ đầu con đường hành lang chiến lược Trường Sơn cắt đứt huyết mạch chính của việc đảm bảo hậu cần của ta.


Trước năm 1971, Mỹ và quân đội Sài Gòn từng sử dụng nhiều biện pháp để hủy diệt con đường vận chuyển chiến lược của ta; đó là, thường xuyên tung biệt kích, tập trung máy bay đánh phá với quy mô, cường độ hủy diệt... nhưng chẳng những không ngăn chặn được nguồn chi viện nhân tài vật lực ngày mỗi tăng của ta, mà theo thời gian, cứ mỗi ngày lại có thêm những cung trạm mới được mở ra - một "trận đồ bát quái xuyên rừng rậm" được hình thành. Nay trong tính toán mới, chúng muốn tập trung lực lượng quân đội mạnh để trực tiếp "bịt" chặt con đường này, mà khu vực Đường 9 - Nam Lào là điểm then chốt.


Kế hoach mở một cuộc hành quân để cắt đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Lào đã được một số quan chức cao cấp của Mỹ dày công nghiên cứu từ đầu năm 1970. Trong hồiký của mình, Kítxinhgơ viết: "Tôi cho phép nghiên cứu một cuộc hành quân ưu tiên để cắt đường mòn Hồ Chí Minh, để đánh kẻ thù trên đất Lào"1 (Hồi ký của Kítxinhgơ: Tài liệu đánh máy của Thư viện Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, ký hiệu VL5241/79, tr. 6). Đây cũng là ý đồ của Bâncơ, Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn và của Abram, Tư lệnh quân Mỹ ở Nam Việt Nam.


Tháng 11 năm 1970, đề nghị đánh sang Đường 9 - Nam Lào của Bâncơ và Abram được Tổng thống Mỹ Níchxơn phê chuẩn. Ngày 2 tháng 2 năm 1971, Tổng thống Níchxơn họp cùng Cố vấn Kitxinhgơ, Ngoại trưởng Râugiơ, Bộ trưởng Quốc phòng Ledơ và Tham mưu trưởng Liên quân Morơ thông qua kế hoạch mở ba cuộc hành quân, đánh vào tuyến hành lang vận chuyển chiến lược của ta trên các hướng: Đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và ngã ba biên giới. Cuộc tiến công đánh vào khu vực Đường 9 - Nam Lào mang mật danh "Lam Sơn 719", là cuộc hành quân có mục đích, quy mô và ý đồ lớn nhất. Theo Kítxinhgơ: "Mục tiêu của cuộc hành quân không phải là giành lấy bất động sản hay đồ tiếp tế, mà là phá hủy và cắt đứt đến mức tối đa con đường mòn và phá hủy tất cả những kho tàng phát hiện được"2 (Hồi ký của Kítxinhgơ, tài liệu đã dẫn, tr. 227).


Chọn khu vực Đường 9 - Nam Lào mở cuộc tiến công lớn nhất trong mùa khô 1970-1971, phía Mỹ và tay sai tính toán rất kỹ trên mọi phương diện.

Trước hết, Đường 9 - Nam Lào là nơi tập trung nhiều kho tàng dự trữ chiến lược, được ví như "yết hầu và dạ dày" của đối phương; là "cuống họng" của đường Hồ Chí Minh, huyết mạch đặc biệt quan trọng để nuôi sống cuộcchiến tranh cách mạng miền Nam Việt Nam và cách mạng Lào, Campuchia. Trong tính toán của Mỹ, nếu cắt đứt hoặc phá hủy hoàn toàn được tuyến vận tải này, cùng cơ sở hậu cần chiến lược ở khu vực Đường 9 - Nam Lào, sẽ chặn đứng và triệt bỏ được nguồn tiếp tế từ gốc khiến lực lượng vũ trang, trước hết là bộ đội chủ lực ở miền Nam không thểtổ chức được các cuộc đánh lớn trong mùa khô 1971-1972. Tư lẹnh quân Mỹ ở Nam Việt Nam, tướng Abram hy vọng: Nếu cộng sản không còn đường mòn Hồ Chí Minh, hoặc con đường này chỉ cần bị gián đoạn trong một mùa khô thôi, khả năng mở các cuộc tiến công lớn của Hà Nội ở miền Nam (và Campuchia) sẽ giảm đi một cách đáng kể nếu không phải là bị loại trừ trong một tương lai vô hạn định. Khi tuyến vận tải và cở sở hậu cần chiến lược bị phá hủy thì sức chiến đấu của lực lượng cách mạng Đông Dương sẽ suy yếu, dần "tàn lụi" và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" có thêm điều kiện thực hiện thành công.


Thứ hai, đây là nơi quân đội Sài Gòn được thực nghiệm trong một kế hoạch quân sự cao nhất của âm mưu "Việt Nam hóa chiến tranh", rèn luyện quân đội Sài Gòn trở thành lực lượng nòng cốt của chính sách "dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương", thành lực lượng mạnh có khả năng đương đầu với quân chủ lực miền Bắc và thay thế lực lượng quân Mỹ rút dần về nước.


Thứ ba, địa bàn khu vực chiến trường Đường 9 - Nam Lào có nhiều thuận lợi để phát huy sức mạnh vũ khí, kỹ thuật hiện đại và hiệp đồngtác chiến giữa quân đội Sài Gòn với quân Mỹ. Hơn nữa, từ Cửa Việt đến Lao Bảo đã có sẵn một bộ phận lớn quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, có hệ thống căn cứ hỏa lực, căn cứ hậu cần, có sân bay và đườnggiao thông thủy bộ, hình thành một thế phòng ngự vững chắc. Chúng sẽ dựa vào hệ thống phòng ngự này đẽ làm hậu phương chiến dịch, xây dựng bàn đạp xuất phát tiến công sang Lào, ra Nam Quân khu 4 và Tây Trị - Thiên, hoặc đối phó với sự phát triển tiến công của ta khi chúng buộc phải rút lui.


Địch cũng trù tính thực thi kế hoạch này còn là nhằm để thử thách quyết tâm và khả năng quân sự của miền Bắc, hỗ trợ cho chiến tranh đặc biệt ở Lào và cuộc chiến tranh xâm lược Campuchia. Chúng cũng dự tính "toàn bộ cuộc tiến công sẽ mất từ 4 đến 5 ngày. Phần còn lại của mùa khô sẽ dùng để cắt con đường mòn và phá hủy khu hậu cần cho là nằm dọc theo con đường mòn và nhất là xung quanh Sê Pôn. Một chiến dịch thắng lợi sẽ tạo cho chúng ta ít nhất là hai năm để xây dựng lại cơ sở hậu cần, có thể còn lâu hơn"1 (Hồi ký của Kítxinhgơ, tài liệu đã dẫn, tr. 242).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #35 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2024, 09:15:40 pm »

Hiện thực hóa những toan tính trên, ngày 30 tháng 1 năm 1971, Mỹ và quân đội Sài Gòn bắt đầu mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Chúng huy động 42.000 quân, trong đó có 33.000 quân chủ lực Sài Gòn (gồm quân dù, thủy quân lục chiến, biệt động quân...), 9.000 quân Mỹ, cùng một khối lượng lớn binh khí kỹ thuật: 464 xe tăng, xe thiết giáp; 250 khẩu pháo; hàng ngàn máy bay các loại trong đó có hơn 500 trực thăng và trực thăng vũ trang. Thủ đoạn của địch trong cuộc hành quân là thực hiện đánh nhanh tiến nhanh theo chính diện bằng nhiều cánh quân từ hướng Đông theo trục Đường 9 là chủ yếu, phối hợp với quân đội chính phủ phái hữu Lào, tiến công từ phía sau(hướng Tây) vào khu vực mục tiêu. Cơ động lực lượng tiến công bằng máy bay trực thăng chở quân kết hợp với hành quân bộ, trong đó cơ động bằng máy bay là chính. Với sức mạnh quân sự áp đảo như vậy, chúng tin rằng, nhất định kế hoạch của chúng sẽ thành công trước khi quân chủ lực miền Bắc cơ động vào tham chiến (chúng cho rằng đối tượng tác chiến chủ yếu ở đây chỉ là lực lượng bảo vệ hành lang, kho tàng của Đoàn 559, chỉ có khả năng hoạt động phân tán, còn bộ đội chủ lực của ta không thể cơ động đến kịp trước khi chúng đạt được mục đích cuộc hành quân).


Nhưng Mỹ và chính quyền Sài Gòn đâu biết rằng, ngay từ khi cuộc tiến công xâm lược Campuchia giữa năm 1970 của chúng bị đánh bại, ta đã sớm xác định, sớm muộn gì chúng cũng sẽ tiếp tục những hành động phiêu lưu quân sự mới, trong đó hướng tiến công ra hành lang vận chuyển chiến lược của ta ở Trung, Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia vào mùa khô 1970-1971 đã được ta dự kiến.


Từ mùa Hè năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu đã xúc tiến chuẩn bị kế hoạch tác chiến, chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị lực lượng, sẵn sàng chủ động ứng phó với âm mưu mới của địch. Tháng 10 năm 1970, Binh đoàn 70, một đơn vị tương đương quân đoàn được thành lập. Mặt trận B5, Quân khu Trị - Thiên, Đoàn 559 được lệnh điều chỉnh đội hình bố trí lực lượng, bày thế trận sẵn sàng phá tan âm mưu của địchđể bảo vệ tuyến vận tải huyết mạch và các cơ sở hậu cần chiến lược Trường Sơn.


Khi địch bắt đầu mở cuộc hành quân đánh ra Đường 9 - Nam Lào, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định tập trung lực lượng mở chiến dịch phản công tiêu diệt quân địch ở khu vực Đường 9 - Nam Lào, nhằm đập tan bước phiên lưu quân sự mới của địch.


Ngày 6 tháng 2 năm 1971, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào với mật danh Bộ Tư lệnh 702, do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu phó làm Tư lệnh; Thiếu tướng Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy, kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận; Đại tá Cao Văn Khánh làm Tư lệnh phó; Đại tá Phạm Hồng Sơn làm Tư lệnh phó, Tham mưu trưởng; Đại tá Hoàng Phương làm Phó Chính ủy.


Bộ Chính trị chỉ thị cho Quân ủy Trung ương nhất thiết phải đánh thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của như thế nào, vì đây là trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Thắng trận này, ta sẽ tiêu diệt được một bộ phận lớn sinh lực tinh nhuệ của quân ngụy Sài Gòn và phá hủy một mảng phương tiện chiến tranh của chúng, làm thất bại cố gắng cao nhất của địch trong quá trình thực hiện "Việt Nam hóa chiến tranh", tạo nên những chuyển biến căn bản có tính chất chiến lược cho phong trào cách mạng ba nước Đông Dương.


Ngày 9 tháng 2 năm 1971, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị, trong đó nêu rõ nhiệm vụ cho Đảng ủy và Bộ Chỉ huy chiến dịch là: Tập trung lực lượng tiêu diệt và làm tan rã thật nhiều lực lượng chủ lực cơ động của "Quân lực Việt Nam cộng hòa", phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng, tiêu diệt và tiêu hao một bộ phận quân Mỹ. Bảo vệ bằng được con đường vận tải chiến lược. Phối hợp với các chiến trường, đập tan hành động phiêu lưu quân sự của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Chỉ thị nhấn mạnh: đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định vềchiến lược nên nhất định phải đánh thắng: "Thắng lợi của chiến dịch không những đảm bảo cho sự chi viện của hậu phương đối với tiền tuyến mà còn tiêu diệt một lực lượng dự bị chiến lược quan trọng của quân ngụy trên chiến trường miền Nam và một bộ phận quan trọng của quân Mỹ, đánh một đòn rất mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ - ngụy"1 (Chỉ thị 009/QUTW do Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp ký ngày 9 tháng 2 năm 1971, hồ sơ 594 - Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng).


Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đặt ra, Quân ủy Trung ương kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên tham gia chiến dịch: "Tập trung cao nhất tinh thần và sức lực dũng mãnh tiến công, liên tục tiến công tiêu diệt thật nhiều lực lượng tinh nhuệ của địch, quyết bảo vệ con đường Hồ Chí Minh. Xốc tới giành thắng lợi cao nhất trong chiến dịch quan trọng này"2 (Chỉ thị 009/QUTW do Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp ký ngày 9 tháng 2 năm 1971, hồ sơ 594 - Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng).


Sau hơn 50 ngày quyết liệt tiến công (31.1 - 23.3.1971), Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào của quân dân ta kết thúc thắng lợi. Cùng với chiến công đánh bại hai cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" và "Quang Trung 4" của địch ở mặt trận Đông Bắc Campuchia và ngã ba biên giới, quân dân ta trên chiến trường miền Nam, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, trực tiếp là của Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch trên từng địa bàn đã giáng cho quân đội Sài Gòn - xương sống của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" những đòn chí mạng, một bộ phận quan trọng của lực lượng này đã bị tiêu diệt. Âm mưu tiến công - phản kích đánh ra vòng ngoài bằng các cuộc hành quân lớn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn buộc phải chấm dứt. Mọi toan tính của chúng trong kế hoạch đánh vào hai đầu của tuyến vận tải chiến lược của chúng ta trong năm 1971 hoàn toàn bị đập tan.


Những thắng lợi trên đã mở ra một triển vọng tốt đẹp để đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn vào tháng 4 năm 1975.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #36 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2025, 09:24:59 pm »

LỰC LƯỢNG VŨ TRANG MẶT TRẬN ĐƯỜNG 9 - BẮC QUẢNG TRỊ TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯƠNG 9 - NAM LÀO 1971


Đại tá NGUYỄN HUY THỤC
Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Mỹ -
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm Mậu Thân 1968, tuy phải chịu những thiệt hại không nhỏ về người và của, nhưng quân và dân miền Nam đã giáng đòn quyết định làm phá sản chiến lược "Chiến tranh cục bộ", đẩy chính quyền thực dân mới của Mỹ ở Nam Việt Nam vào tình thế khủng hoảng nghiêm trọng; buộc Giônxơn phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam vô điều kiện và "nhường" chức Tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ tiếp theo cho Níchxơn.


Nhậm chức Tổng thống ngày 20 tháng 1 năm 1969, Níchxơn quyết định triển khai chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" thay cho chiến lược "Chiến tranh cục bộ". Thực chất đây là sự tiếp tục thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam dưới một thủ đoạn mới: "thay màu da trên xác chết". Với vũ khí, phương tiện chiến tranh của Mỹ và do Mỹ chỉ huy, quân đội Việt Nam cộng hòa trở thànhlực lượng xụng kích, còn quân chiến đấu Mỹ1 (Nói quân chiến đấu Mỹ là bao gồm cả quân viễn chinh Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam) rút về tuyến sau giữ các căn cứ quân sự và làm lực lượng dự bị, rồi từng bước rút dần về nước để giảm bớt gánh nặng chi phí chiến tranh và xoa dịu tình hình phản đối của dân chúng đang diễn ra rất gắt gao trên khắp nước Mỹ. Vì mục tiêu của "Việt Nam hóa chiến tranh" là "hủy diệt, giành dân và bóp nghẹt", nên các biện pháp chiến lược chính được xác định như sau:

- Phát triển quân đội Sài Gòn cả về số lượng và chất lượng để từng bước thay quân Mỹ rút ra, làm cho quân đội Sài Gòn không chỉ đủ sức đương đầu với lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam (cả quân đội miền Bắc), mà còn làm lực lượng nòng cốt cho cuộc xâm lược thực dân mới của Mỹ ở Đông Nam Á2 (Lợi dụng những thiệt hại lớn của ta sau Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh chương trình bình định, đồng thời tăng cường đôn quân bắt lính, gia tăng số lượng quân đội Sài Gòn từ 717.000 (1968) lên 1.046.000 quân (1970)).


- Tăng cường bình định, giành dân, tiêu hao và đẩy lùi lực lượng cách mạng, phá chỗ đứng chân của các đơn vị chủ lực Quân giải phóng. Đây là vấn đề có tính sống còn của chế độ Việt Nam cộng hòa.


- Củng cố và xây dựng chính quyền các cấp của chế độ Việt Nam cộng hòa từ trung ương đến cơ sở ấp, xã.


- Tiến hành cuộc chiến tranh "bóp nghẹt", tổ chức những cuộc hành quân lớn đánh phá và cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược, phá hủy cơ sở hậu cần chiến lược nhằm triệt tiêu sức chiến đấu của lực lượng vũ trang giải phóng. Đây là biện pháp có tính quyết định đối với sự thành bại của "Việt Nam hóa chiến tranh".


Theo đó, mùa khô 1970-1971, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã huy động 88 tiểu đoàn bộ binh (trong tổng sô 214 tiểu đoàn), 15 thiết đoànđể mở 3 cuộc hành quân quy mô lớn, tiến hành trên 3 hướng đánh vào tuyến hành lang vận chuyển chiến lược của ta, gồm: hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra vùng Đường 9 - Nam Lào, hành quân "Toàn thắng 1-71" từ Tây Ninh, Lộc Ninh đánh lên vùng Kôngpông Chàm, Kra Chiê (Đông Bắc Campuchia) và hành quân "Quang Trung 4" từ Bắc Kon Tum đánh ra hướng ngã ba biên giới (thuộc A Tô Pơ, Nam Lào). Trong đó, "Lam Sơn 719" là cuộc hành quân có quy mô lớn nhất.


Mục đích cuộc hành quân "Lam Sơn 719" được xác định: nhằm cắt đứt đường vận chuyển chiến lược của ta từ gốc triệt phá cơ sở kho tàng, hậu cần chiến lược làm cho quản chủ lực ta không thể đánh lớn trong năm 1971, 1972, mà chỉ có thể hoạt động nhỏ lẻ, chiến tranh du kích; thử thách quyết tâm và khả năng quân sự của miền Bắc; thực hiện vai trò rèn luyện khả năng quân đội Việt Nam cộng hòa để làm nòng cốt cho đội quân bản xứ của Mỹ ở các nước Đông Dương khi Mỹ rút quân dần theo kế hoạch1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân Hà Nội, 2001.tr. 264).


Chủ động đối phóvới mưu đồ của địch, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo các đơn vị tập trung nghiên cứu các thủ đoạn tiến công, cách đánh, những điểm mạnh yêu của địch để xây dựng phương án tác chiến phù hợp. Quyết tâm tác chiến của ta được xác định là: ''Nắm chắc thời cơ, tập trung lực lượng, kiên quyết tiêu diệt thật nhiều địch, bảo vệ bằng được đường Hồ Chí Minh; chuẩn bị sẵn sàng đê đánh địch trên các phương hướng: Đường số9, vùng ba biên giới đồng thời có kế hoạch tác chiến bảo vệ Nam Quân khu 4 bằng các lực lượng tại chỗ, kết hợp với lực lượng cơ động của Bộ, sẵn sàng đánh thắng địch khi chúng liều lĩnh tiến công ra Nam Quân khu 4"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (1966-1973), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 201).


Đúng vào thời điểm công tác chuẩn bị chiến trường của ta đang diễn ra khẩn trương nhất, ngày 18 tháng 1 năm 1971, kế hoạch hành quân "Lam Sơn 719", do quân đội Việt Nam cộng hòa tiến hành với sự yểm trợ tối đa của các lực lượng Mỹ, đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào được phê chuẩn. Từ ngày 20 tháng 1, trên hướng Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, địch gia tăng hoạt động biệt kích, thám báo ở khu vực ven Đường 9 kết hợp với nông quân càn quét ra 4 xã bờ Nam sông Bến Hải (thuộc khu phi quân sự). Ngày 30 tháng 1 năm 1971, một bộ phận lực lượng thuộc Sư đoàn 9 Mỹ mở trận càn Dewey Cayon dọc theo Đường 9, tái chiếm Khe Sanh tạo bàn đạp và nghi binh cho quân đội Sài Gòn mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào.


Lực lượng huy động cho cuộc hành quân này là những đơn vị sừng sỏ nhất của quân đội Sài Gòn: sư đoàn dù, sư đoàn lính thủy đánh bộ, Sư đoàn 1 bộ binh và lực lượng binh khí kỹ thuật gồm: 578 xe tăng, xe bọc thép, 318 khẩu pháo, 700 máy bay, với tổng quân số khoảng 55.000 tên; ngoài ra còn có các binh đoàn GM30, GM33 quân đội phái hữu Lào phối hợp. Từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1971, bằng đường không và đường bộ, quân Sài Gòn đã vận chuyển 22 tiểu đoàn bộ binh và pháo binh ra khu vực Đông Hà, Ái Tử, Khe Sanh; cho Lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ tập vượt sông phía Đông cầu Đông Hà, Lữ đoàn 258 lính thủy đánh bộ từ La Vang tiến ra cửa Thuận An xuống tàu thủy đi lên hướng Bắc khu phi quân sự, một số tàu của Hạm đội 7 Mỹ từ biển Đông tiến vào uy hiếp vùng biển phía Nam Quảng Bình (thực hiện mưu đồ nghi binh).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #37 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2025, 09:26:55 pm »

Thực hiện quyết tâm của Quân ủy Trung ương: kiên quyết đập tan bước phiêu lưu quân sự mới của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, giành toàn thắng cho Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. "Chiến dịch này là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Thắng lợi của chiến dịch không những đảm bảo cho sự chi viện của hậu phương đối với tiền tuyến mà còn tiêu diệt được một lực lượng dự bị chiến lược quan trọng của quân ngụy trên chiến trường miền Nam và một bộ phận quan trọng của quân Mỹ đánh một đòn rất mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ - ngụy1 (Chỉ thị 009/QUTƯ, do Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp ký ngày 9 tháng 2 năm 1971, hồ sơ 594 - Trung tâm lưu trữ - Bộ Quốc phòng). Ngày 4 tháng 2 năm 1971, Bộ Quốc phòngra Quyết định số 51/QĐ-QP, thành lập Bộ Tư lệnh Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (Bộ Tư lệnh 702). Ngay sau đó, Bộ Tổng Tham mưu đã điều động lực lượng tham gia chiến dịch gồm: Binh đoàn B70, lực lượng vũ trang Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5), B4, Sư đoàn bộ binh 2 Quân khu 5, Sư đoàn 324 Quân khu Trị - Thiên, 4 tiểu đoàn thiết giáp, 4 trung đoàn pháo, 3 trung đoàn cao xạ, 3 trung đoàn công binh, 1 số tiểu đoàn đặc công và Đoàn 559, với tổng quân số 58.791 cán bộ, chiến sĩ.


Được phân công đảm nhiệm trên hướng Đông chiến dịch, được Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Tư lệnh Quân khu 4 tăng cường các tiểu đoàn đặc công 19, 31, 35, tiểu đoàn cao xạ 13, 14, Đại đội 1 ĐKB thuộc Trung đoàn pháo binh 45 và 8 đại đội pháo mang vác, Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị nhanh chóng thiết lập hệ thống chỉ huy đánh địch trên từng khu vực. Ngày 12 tháng 2, Ban chỉ huy khu vực B được thành lập, do Trung tá Trần Sĩ Kích làm Chỉ huy trưởng, Thiếu tá Chu Bá Trác làm Chính trị viên, có nhiệm vụ: chỉ huy Tiểu đoàn đặc công 33, Tiểu đoàn công binh 15, 8 đại đội pháo mang vác và súng cối, đại đội súng máy phòng không 12,7mm đánh địch ở Tân Lâm, Sa Mưu lên Bồng Kho, Rào Quán, Động Tri, La Rường, Tia Đông. Đây là đợt đầu bám đánh địch triển khai lực lượng hành quân đạt kết quả tốt.


Tiếp đà thắng lợi, các lực lượng của Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị liên tục tổ chức các trận đánh phá giao thông, kho tàng và các cụm quân dã ngoại của địch. Ngày 13 tháng 2 năm 1971, Tiểu đoàn 15 được lệnh chuyển phần lớn lực lượng từ hướng Đông sang hướng Tây, đánh cắt giao thông đoạn Úc Nghi đi Khe Sanh, Rào Quán. Ngày 15, tiểu đoàn thực hiện đánh 2 trận diệt 12 xe tăng, xe bọc thép và 1 đại đội địch ở Bồng Kho, điểm cao 620. Ngày 18 tháng 2, Tiểu đoàn đặc công 33 tập kích khu kho Ái Tử, Sa Mưu, đốt cháy hàng trăm tấn nhiên liệu và phá hủy hàng vạn quả đạn pháo của địch. Trung đoàn pháo binh 84 liên tục tập kích 6 trận vào Sa Mưu, 3 trận vào Đông Hà, 4 trận vào Tà Cơn, phá hủy 15 máy bay và hàng chục xe quân sự địch.


Trước chuyển biến mau lẹ của chiến dịch, ngày 25 tháng 2 năm 1971, Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị quyết định thành lập Ban chỉ huy khu vực C, do Thượng tá Bùi Thúc Dưỡng - Tư lệnh phó Mặt trận làm Chỉ huy trưởng, Trung tá Cao Bá Đồng - Phó Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận làm Chính ủy, trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 2 pháo phòng không thuộc Trung đoàn 368; đại đội ĐKB của Trung đoàn pháo binh 45, một số pháo mang vác triển khai đánh địch ở khu vực Tà Cơn, Khe Sanh, góp phần hình thành thế vây ép Tà Cơn. Mặt khác, phối hợp tác chiến với lực lượng vòng trong chiến dịch, từ ngày 25 đến 28 tháng 2, Trungđoàn 27 và các tiểu đoàn 7, 8 bộ đội địa phương Quảng Trị đánh địch nống ra khu vực Ba Lào, Tà Cơn loại khỏi chiến đấu 2 tiểu đoàn và 30 xe tăng, xe bọc thép của chúng.


Ngày 2 tháng 3 năm 1971, Quân ủy Trung ương điện chỉ thị cho Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, trong đó có chỉ rõ: "... Tăng cường hoạt động ở hướng Đường 9 - Bắc Quảng Trị cắt giao thôngđánh hậu cứ... Kết hợp hoạt động tấn công quân sự với đẩy mạnh công tác phá bình định, vận động nhân dân, phát triển lực lượng mọi mặt của ta trong địa phương..."1 (Điện số 012/QUTƯ-A, Quân ủy Trung ương gửi đồng chí Văn Tiến Dũng và Đảng ủy Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (Mặt trận 702), dẫn theo Lịch sử Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị 1965-1973, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 222) đồng thời, "kiên quyết tập trung sức lực đập gãy các cánh quân của địch tiến ra phía Tây và phía Nam; tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, bảo vệ đường vận chuyển và kho tàng"2 (Chỉ thị số 01/CT của Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Bác Quảng Trị cho các đơn vị, ngày 8 tháng 3 năm 1971, hồ sơ số 236 - Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng). Theo đó, trên hướng Đông chiến dịch, Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị giao cho Trung đoàn pháo binh 84: ngoài nhiệm vụ thường xuyên đánh các mục tiêu và chi viện cho bộ binh, cần nhanh chóng bổ sung thêm cơ số đạn để sẵn sàng đánh địch trên các đoạn Bồng Kho, Tân Lâm đi Đầu Mầu, các điểm cao 241, 513, 300; các đơn vị bộ binh, đặc công, công binh, phòng không và bộ đội địa phương vừa đẩy mạnh tiến công tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch trên các địa bàn phụ trách, vừa chủ động sẵn sàng đánh địch rút chạy.


Đêm 8 tháng 3 năm 1971, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 27 bí mật hành quân vào khu vực Cà Lu để đánh địch rút chạy trên Đường 9, đoạn từ Cà Lu đến úc Nghi; Trung đoàn 270 (thuộc Quân khu 4 được tăng cường cho Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị từ đầu tháng 3-1971), khẩn trương chiếm lĩnh trận địa chuẩn bị đánh địch ở khu vực tây điểm cao 554 đến Tây Bắc Tân Lâm. Các đơn vị khác sử dụng một bộ phận lực lượng bám đánh địch, đồng thời đưa một bộ phận lực lượng khác tham gia vận chuyển đạn, gạo bổ sung cho các đơn vị luồn sâu.


Đêm 14 tháng 3 năm 1971, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 27 dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tiểu đoàn trưởng Nguyên Huy Hiệu đã khẩn cấp hành quân suốt đêm đến các khu vực Động Na, Kế Sóc, Ba Lào để tổ chức chặn đánh tiêu diệt quân địch rút chạy, diệt 30 xe quân sự và 120 tên địch.


Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi1 (Kết quả toàn Chiến dịch phản côngĐường 9 - Nam Lào năm 1971, quân và dân ta đã loại khỏi chiến đấu 21.012 tên địch các loại; phá hủy, phá hỏng 1138 xe quân sự (có 528 xe tăng và xe bọc thép) và 112 khẩu pháo và súng cối cỡ lớn, bắn rơi và phá hủy 556 máy bay (có 505 máy bay lên thẳng vũ trang) đánh chìm, bắn cháy 43 tàu xuồng chiến đấu (dẫn theo: BQP-VLQSVN; Chiến dịch phản công Đường số 9 - Nam Lào năm 1971, Hà Nội. 1987. tr. 61, 62)). Với 446 trận đánh lớn nhỏ, loại khỏi chiến đấu gần 5.000 tên địch, bắn rơi 139 máy bay, phá hủy 153 xe quân sự, đánh đắm, đánh hỏng 43 tàu xuồng chiến đấu và nhiều phương tiện quân sự khác của địchtrên hướng Đông chiến dịch, lực lượng vũ trang Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị đã góp phần xứng đáng cùng với các đơn vị tham gia chiến dịch làm nên thắng lợi "có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng cả về quân sự và chính trị, giáng một đòn mạnh vào chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ, mở ra những triển vọng vô cùng tốt đẹp đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến toàn thắng"2 (Trích: Thư của Ban Chấp hành Trung ương gửi cán bộ, chiến sỹ, đảng viên đoàn viên thanh niên Mặt trận Đường 9, ngày 31 tháng 3 năm 1971, Tài liệu TTLTBQP (K4), hồ sơ số 594).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #38 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2025, 09:27:52 pm »

Sau đòn chí mạng ở Đường 9 - Nam Lào, tại khu vực tuyến phòng thủ Bắc Quảng Trị (đã có sẵn), ngoài Trung đoàn 2 quân đội Sài Gòn và Lữ đoàn 1 Sư đoàn 5 bộ binh cơ giới Mỹ đóng chốt từ trước, địch còn bổ sung thêm 2 lữ đoàn lính thủy đánh bộ quân đội Sài Gòn, nhằm chống đỡ các đợt tiến công tiếp theo của ta.


Phát huy chiến quả của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, Quân ủy Trung ương chỉ thị cho lực lượng vũ trang Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị phối hợp với một số đơn vị chủ lực của Bộ mở chiến dịch A2, đánh bồi thêm một đòn khi quân địch chưa kịp hồi phục, hỗ trợ cho phong trào nổi dậy của quần chúng đấu tranh chống phá bình định ở đồng bằng phát triển lên một bước mới, rèn luyện thêm khả năng và trình độ tác chiến tập trung của lực lượng vũ trang ta. Nhiệm vụ cụ thể của chiến dịch A2 được Quân ủy Trung ương chỉ rõ: "Tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của Mỹ - ngụy. Thu hút và giam chân nhiều lực lượng của chúng tại đây để phối hợp với các chiến trường khác. Thúc đẩy mạnh mẽ phong trào quần chúng phá kế hoạch bình định đặc biệt của địch tại khu vực này..."1 (Trích: Thư của Quân ủy Trung ương gửi cán bộ, chiến sĩ Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, ngày 19 tháng 4 năm 1971, tr.8, hồ sơ số 5-18 - Trung tâm lưu trữ - Bộ Quốc phòng).


Tuy thời tiết mưa lũ lớn, nhưng lực lượng vũ trang Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị vừa khẩn trương vận chuyển vật chất, chuẩn bị cho chiến dịch vừa tiến hành bám đánh tiêu hao lực lượng địch. Tháng 4 năm 1971, cáctiểu đoàn đặc công 15, 31, Đoàn 1A (Hải quân), bộ đội huyện Do Linh đã đánh 70 trận, loại khỏi chiến đấu 504 tên địch, bắn hạ 16 máy bay, phá hủy 30 xe quân sự, đánh chìm 7 tàu xuồng chiến đấu của địch. Tháng 5, ta liên tục tiến công địch ở Ái Tử, Đông Hà, chặn đánh địch trên đường 76, tập kích hỏa lực pháo binh vào miếu Bái Sơn, Cồn Tiên, ngăn chặn các mưu đồ hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của chúng. Cùng thời gian, các đơn vị phối thuộc trên cánh Bắc, gồm Trung đoàn 66, các tiểu đoàn đặc công 19 và 29, 3 tiểu đoàn pháo bố trí ở Nam Ba Hồ, Động Toàn, Động Ngô, Động Ché thực hiện nhiệm vụ vây lấn dứt điểm Động Toàn; cánh Bắc gồm các trung đoàn 9, 52, 2 tiểu đoàn độc lập của Bộ, 3 tiểu đoàn pháo bố trí ở Ba Hồ, Ba Tum, điểm cao 490, Động La Rường, Miệt Xá, sẵn sàng đánh địch giải tỏa và phát triển tiến công diệt căn cứ Đầu Mầu của địch.


Mặc dù phải điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với tình hình thời tiết mưa lũ kéo dài gây khó khăn cho công tác chuẩn bị chiến trường và đảm bảo hậu cần kỹ thuật, nhưng từ cuối tháng 5 trở đi, lực lượng chiến dịch A2 đã lần lượt đánh bại các cuộc hành quân của địch mang mật danh "Sóng thần 4/369" và "Sóng thần 2/147" đánh ra vùng Động Ché, "Lam Sơn 720/3" đánh ra vùng núi Ta Lao.


Ngày 30 tháng 6 năm 1971, chiến dịch A2 kết thúc. Lực lượng vũ trang Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu đặt ra: với 284 trận đánh, trong đó có 3 trận quy mô cấp trung đoàn, 7 trận cấp tiểu đoàn,loại khỏi chiến đấu 3.417 tên địch các loại, bắn rơi, bắn hỏng 110 máy bay, phá hủy, phá hỏng 107 xe quân sự, đánh chìm 13 tàu, xuồng quân sự của địch. Đồng thời, những kinh nghiệm về mở chiến dịch đánh bồi sau một chiến dịch lớn, kinh nghiệm đánh địch trong công sự vững chắc được đúc rút từ chiến dịch A2 thực sự có đóng góp rất hữu ích cho các chiến dịch tiếp sau ở chiến trường Đường 9 - Bắc Quảng Trị nói riêng và toàn miền Nam nói chung nghiên cứu, vận dụng trong quá trình tác chiến những năm tháng tiếp sau của cuộc kháng chiến chống Mỹ.


Tựu trung lại, với trọng trách của thành phần lực lượng "bản địa" tham gia Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị lực lượng vũ trang Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị không chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ đánh địch tạo thế, tham gia vận chuyển vũ khí, lương thực bảo đảm cho chiến dịch..., mà còn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phối hợp tác chiến trên hướng Đông, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch, hoàn thành mục tiêu chiến lược mà Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh giao phó: đánh bại chiến tranh bóp nghẹt - biện pháp chiến lược trọng yếu trong "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ, bảo vệ vững chắc tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, con đường của khát vọng độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc, trong đó khu vực Đường 9 - Nam Lào là một cung trạm "yết hầu".


Những chiến công chói ngời của lực lượng vũ trang Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị giành được trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 chính là bước tiếp nối thành quả và kinh nghiệm của những chiến công đầu tiên trong việc mở hướng tiến công mới nhằm tiêu hao, tiêu diệt, giam chân một bộ phận lớn quân chiến đấu Mỹ (2 sư đoàn lính thủy đánh bộ), làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của chúng, trực tiếp bảo vệ, mở rộng hành lang vận chuyển Bắc - Nam xuyên Trường Sơn, bước đầu đánh bại kế hoạch xây dựng hệ thống phòng thủ Mắc Namara, tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào chiến tranh du kích ở miền Trung Trung Bộ nói chung và Trị - Thiên nói riêng phát triển mạnh mẽ trong những năm 1966-1967; tiếp đó là thực hiện thắng lợi đòn nghi binh chiến lược, thu hút, giam chân và tiêu hao một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động của quân Mỹ, để quân và dân toàn miền Nam tiến hành thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Chiến công cứ nối tiếp chiến công, và Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 chính là cuộc tập dượt trực tiếp của lực lượng vũ trang Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị nói riêng, quân và dân Quảng Trị nói chung chuẩn bị cho cuộc Tiến công chiến lược 1972, giải phóng tỉnh Quảng Trị - phần lãnh thổ cấp tỉnh đầu tiên của chiến trường miền Nam sạch bóng quân xâm lược.


Đi cùng với những thắng lợi của lực lượng vũ trang Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, tình đoàn kết chiến đấu gắn bó giữa quân và dân các địa phương có chung biên giới của hai nước Việt Nam và Lào ngày thêm được củng cố, phát triển về mọi mặt. Quảng Trị kết nghĩa vớiXa Van Na Khẹt là một minh chứng sống động đầy tình nghĩa thủy chung, bền chặt được thử thách trong cuộc chiến đấu sinh tử trong những năm tháng kháng chiến chống kẻ thù chung là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mà Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 thực sự là một trong những dấu ấn sâu đậm; và đây là nhân tố bảo đảm cho tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt của quân và dân 2 tỉnh nói riêng, hai nước Việt - Lào nói chung tiếp tục có bước phát triển mới, giành thêm những thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của hai quốc gia, dân tộc anh em.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #39 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2025, 09:33:03 pm »

BINH ĐOÀN 70 LỰC LƯỢNG CƠ ĐỘNG CHIẾN LƯỢC TRỌNG YẾU GÓP PHẦN LÀM NÊN THẮNG LỢI CỦA CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971


Đại tá VŨ TRỌNG HOAN
Phó Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Tổ chức quân sự -
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Ngày 10 tháng 10 năm 1970, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 200/QĐ-QP thành lập Binh đoàn 70 gồm: 3 sư đoàn bộ binh (304, 308 và 320), Trung đoàn pháo mặt đất 45, Trung đoàn cao xạ 241, Trung đoàn công binh 219 và một số đơn vị binh chủng phục vụ, do Đại tá Cao Văn Khánh làm Tư lệnh, Đại tá Hoàng Phương làm Chính ủy.


Nhiệm vụ ban đầu của Binh đoàn được xác định là lực lượng cơ động sẵn sàng chiến đấu trên các chiến trường, làm lực lượng nòng cốt cùng các đơn vị tại chỗ tiêu diệt địch trong các chiến dịch lớn. Việc thành lập Binh đoàn 70 và bố trí các đơn vị của binh đoàn đứng chân ở địa bàn "nhạy cảm" Nam Quân khu 4 cho thấy tầm nhìn chiến lược của Đảng ta trong chuẩn bị lực lượng đón thời cơ mới.


Có thể đánh giá việc thành lập Binh đoàn 70 và vai trò của binh đoàn trong các trận đánh quyết định củaChiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào trên một số phương diện chủ yếu sau.

1. Binh đoàn 70 được thành lập thể hiện quyết tâm chiến lược của Đảng trong xây dựng phát triển lực lượng vũ trang, đáp ứng yêu cầu tác chiến mới trên chiến trường Đông Dương.

Khi chuyển sang thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", cùng với việc tiến hành các biện pháp bình định giành dân; tiến hành kiểu chiến tranh "bóp nghẹt" nhằm ngăn chặn các nguồn tiếp tế của ta từ tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn vào các chiến trường; tăng thêm viện trợ cho các chính quyến tay sai của Mỹ ở Lào và Campuchia, xây dựng cho lực lượng này mạnh lên để phối hợp tác chiến với quân đội Sài Gòn khi Mỹ rút đi; Mỹ đã ráo riết xây dựng phát triển quân đội Sài Gòn cả về số lượng và chất lượng để từng bước thay dần quân Mỹ rút ra, làm cho quân đội Sài Gòn không những đủ sức đương đầu với lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam, kể cả lực lượng chính quy miền Bắc, mà còn làm nòng cốt sau này cho các đội quân tay sai của Mỹ ở Đông Dương và Đông Nam Á.


Với chủ trương đó, Mỹ tập trung tiền của xây dựng phát triển, hiện đại hoá nhành quân đội Sài Gòn. Về số lượng, năm 1968, quân đội Sài Gòn mới có 71 vạn tên, đến năm 1970 đã tăng lên 1 triệu 46 nghìn tên. Năm 1970, chủ lực quân đội Sài Gòn không còn bị trói buộc vào nhiệm vụ chiếm đóng mà được sử dụng làm nhiệm vụ cơ động trên toàn miền Nam. Chúng có 12 sư đoàn và 8 trung đoàn bộ binh. So với năm 1968, thành phần cơ động trong quân đội Sài Gòn tăng 2 lần (chiếm 42% tổng số quân chủ lực). Các binh chủng kỹ thuật được đặc biệt coi trọng và phát triển nhanh1 (Pháo binh có 60 tiểu đoàn với 990 khẩu pháo các loại, 18 chi đoàn và 44 chi đội xe tăng - xe bọc thép (1.310 chiếc). Không quân được tổ chức thành 20 phi đoàn (100 máy bay), trong đó có 6 phi đoàn máy bay chiến đấu (120 chiếc). Hải quân có 632 tàu các loại). So với thời kỳ cuối của chiến lược "chiến tranh đặc biệt", quân đội Sài Gòn được tổ chức chính quy và trang bị hiện đại hơn, được cố vấn Mỹ tin tưởng đánh giá là "lực lượng nòng cốt", là "xương sống" của chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh".


Đánh giá đúng những nỗ lực mới của địch trong xây dựng lực lượng quân đội Sài Gòn thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lần thứ 18 (1-1970) đề ra nhiệm vụ: "Động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên cả hai miền, phát huy thắng lợi đã đạt được, kiên trí và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, tiếp tục phát triền chiến lược tiến công một cách toàn diện liên tục và mạnh mẽ, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và kinh tế, kết hợp tiến công ngoại giao, vừa tiến công địch vừa ra sức xây dựng lực lượng quản sự và chính trị của ta ngày càng lớn mạnh. Đánh bại âm mưu của chúng xuống thang từng bước, kéo dài chiến tranh để tạo thế mạnh hòng duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới của chúng ở miền Nam Việt Nam; làm thất bại thế chiến lược phòng ngự của địch, tạo ra chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh, giành thắng lợi từng bước, đi đến giành thắng lợi quyết định"2 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991, tr. 40-41).


Thực hiện nhiệm vụ của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 18, tháng 2 năm 1970, Quân ủyTrung ương họp hội nghị toàn thể tại Hà Nội thảo luận thống nhất vị trí của đấu tranh quân sự, vai trò của bộ đội chủ lực và yêu cầu đưa quân đội lên tác chiến hiệp đồng binh chủng ở các chiến trường. Hội nghị chỉ rõ: "Nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của quân đội ta lúc này là xây dựng những binh đoàn chủ lực mạnh, làm trụ cột cho cả chiến trường Đông Dương; xây dựng bộ đội chủ lực ở miền Nam đủ mạnh để có thể đánh những trận tiêu diệt lớn; nâng cao sức mạnh chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng dự bị chiến lược trên miền Bắc sát với tính chất, yêu cầu, nhiệm vụ của những binh đoàn chủ lực cơ động, có khả năng tác chiến tập trung, hiệp đồng binh chủng trên các chiến trường"1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr.365).


Theo phương hướng xây dựng đó, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần đã tập trung củng cố nâng cao sức mạnh chiến đấu và khả năng cơ động của 4 sư đoàn bộ binh chủ lực: 308, 304, 312 và 320. Hai sư đoàn 325 và 320B chuyển từ nhiệm vụ huấn luyện quân bổ sung thành sư đoàn cơ động trực thuộc Bộ, Sư đoàn 316 làm nhiệm vụ chiến đấu trên chiến trường Lào được tăng cường hoả lực và sức cơ động.


Các binh chủng phục vụ tác chiến hiệp đồng binh chủng như Pháo binh, Tăng - thiết giáp, Công binh, Thông tin được tăng cường thêm cán bộ, nhân viên kỹ thuật và vũ khí, phương tiện để khi có nhu cầu sẽ tổ chức thành các đơn vị mới góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu hiệp đồng binh chủng của các khối chủ lực. Việc tổ chức thêm nhiều đơn vị mới, đặc biệt là các đơn vị binh chủng kỹthuật đã thể hiện chủ trương chiến lược của ta trong xây dựng phát triển lực lượng vũ trang, đáp ứng yêu cầu tác chiến mới trên chiến trường Đông Dương. Đây cũng là yếu tố quan trọng để Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương hạ quyết tâm mở các chiến dịch lớn tiêu diệt nhiều sinh lực dịch khi có thời cơ.


Giữa lúc ta đang khẩn trương xây dựng phát triển bộ đội chủ lực thì Mỹ và chính quyền Sài Gòn tập trung lực lượng, mở rộng chiến tranh sang Lào và Campuchia. Trước những diễn biến quân sự mới ở ba nước Đông Dương, ngày 19 tháng 6 năm 1970, Bộ Chính trị họp quyết nghị về "Tình hình mới ở bán đảo Đông Dương và nhiệm vụ mái của chúng ta". Phân tích thế trận giữa ta và dịch trên các chiến trường, Bộ Chính trị đặc biệt lưu ý tầm quan trọng chiến lược của Chiến trường Đường 9 - Nam Lào, bởi nó có ý nghĩa sống còn đối với tuyến vận tảichiến lược của ta từ Bắc vào Nam, bởi sự an nguy trực tiếp đối với miền Bắc xã hội chủ nghĩa và sự phát triển của cách mạng Lào; đồng thời dự đoán trong mùa khô 1970-1971, địch sẽ mở các cuộc hành quân lớn đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào và Đông Bắc Campuchia.


Dự đoán khả năng dịch đánh ra Đường 9 - Nam Lào, từ mùa hè năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu vạch kế hoạch tác chiến điều động lực lượng và chỉ đạo việc chuẩn bị chiến trường. Với lực lượng bộ đội chủ lực đã được chuẩn bị từ trước, tháng 10 năm 1970, Binh đoàn 70 nhanh chóng được thành lập với 3 sư đoàn chủ lực đã dày dạn kinh nghiệm, tác chiến trên chiếntrường Trị - Thiên (cả 3 sư đoàn 304, 308 và 320 đều đã tham gia chiến dịch Khe Sanh năm 1968 với những chiến công oanh liệt ở Làng Vây, Khe Sanh, Hướng Hoá) các đơn vị binh chủng pháo binh, xe tăng, công binh, thông tin trực thuộc Binh đoàn đều là những đơn vị tham gia các chiến dịch lớn ở Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị. Các đơn vị trong Binh đoàn được bổ sung quân số đầy đủ theo biên chế, được trang bị thêm những vũ khí, trang bị mới với hoả lực mạnh, sức cơ động cao, đặc biệt là được huấn luyện tác chiến hiệp đồng binh chủng nhuần nhuyễn trên địa bàn Nam Quân khu 4 (một địa bàn có địa hình tương đối giống với khu vực Đường 9 - Nam Lào).


Như vậy, từ tầm nhìn xa trông rộng trong tổ chức xây dựng lực lượng bộ đội chủ lực, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương mà trực tiếp là Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu đã tạo ra những yếu tố vô cùng thuận lợi để Binh đoàn 70 làm nhiệm vụ cơ động tác chiến đánh những trận then chốt quyết định trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM