vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #40 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2025, 09:34:04 pm » |
|
2. Binh đoàn 70 thực hiện nhiệm vụ cơ động chiến lược trong quá trình chuẩn bị và giai đoạn đầu chiến dịch.
Ngay sau khi được thành lập, trên cơ sở "Phương hướng nhiệm vụ và kế hoạch tác chiến tại Trung - Nam Lào" đã được Bộ Tổng Tham mưu chuẩn bị từ tháng 5 năm 1970, Binh đoàn 70 đã soạn thảo kế hoạch "Chiến dịch Xuân 1971 Đường số 9 - Nam Lào". Kế hoạch đã được Bộ Tổng Tham mưu thông qua và cho Binh đoàn 70 diễn tập vào tháng 11 năm 1970.
Bên cạnh việc tổ chức diễn tập và chuẩn bị chiến dịch theo sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tổng Tham mưu, một nhiệm vụ không kém phần quan trọng của Binh đoàn 70 trong giai đoạn này là sẵn sàng chiến đấu bảo vệ địa bàn Nam Quân khu 4 - Một địa bàn đặc biệt quan trọng khôngchỉ là tuyến đầu trực tiếp bảo vệ sự an nguy của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, là đầu mối giao thông của tuyến vận tải chiến lược, nơi tập kết nhiều kho hàng, các phương tiện chiến đấu của ta mà còn là nơi đặt các sở chỉ huy quan trọng trực tiếp chỉ đạo công tác chuẩn bị chiến dịch của Bộ và các Tổng cục, các binh chủng.
Về phía địch, cùng với việc ráo riết chuẩn bị cuộc hành quân quy mô lớn ra khu vực Đường 9 - Nam Lào, chúng tung tin sẽ đánh lớn ra Nam Quân khu 4 của ta. Chúng tập trung một lực lượng quân sự lớn ra Quân khu 1 (của địch), mở nhiều cuộc diễn tập dọc vĩ tuyến quân sự, đưa tàu chiến ra vùng biển Vĩnh Linh, Quảng Bình, Nghệ An, tiến hành các hoạt động quân sự thu hút sự chú ý của ta. Trong tháng 11 và 12 nam 1970, Mỹ sử dụng tới 16.746 lần chiếc máy bay, trong đó có 1.800 lần chiếc B-52 ném xuống tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn của ta hơn 81.000 quả bom các loại, gây ách tắc nhiều ngày trên các điểm xung yếu như khu vực Chà Lò, Song Hom, Pha Băng Nưa, Chà Lì... Máy bay địch còn mở từng đợt đánh phá vào các đoạn cửa khẩu Bắc Đường 9 trên các trục đường 12, 16, 18 và 20 hòng ngăn chặn, giữ chân quân chủ lực miền Bắc, phá hoại các đường cơ động chiến dịch, hạn chế việc di chuyển các binh khí kỹ thuật của ta vào chiến trường, đổ một số toán biệt kích thăm dò hoạt động của ta ở khu vực Đường 9... Những động thái trên của Mỹ và quân đội Sài Gòn đòi hỏibộ đội ta đóng quân ở địa bàn Quân khu 4 nói chung Binh đoàn 70 nói riêng phải cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao.
Cuối năm 1970, để sẵn sàng cơ động đánh địch trong mọi tình huống trên địa bàn Nam Quân khu 4, Binh đoàn 70 đã bố trí đội hình sẵn sàng cơ động chiến đấu như sau:
- Sư đoàn 308 triển khai lực lượng ở Nghệ An - Hà Tĩnh.
- Sư đoàn 304 (thiếu Trung đoàn 24) đứng chân ở Quảng Bình.
- Sư đoàn 320 (thiếu Trung đoàn 52) bố trí Trung đoàn 48 sẵn sàng tác chiến trên hướng Mường Phìn, Pha Lan, Trung đoàn 64 triển khai trên hướng đi vào B3, sẵn sàng đánh địch ở khu vực Đường 9.
Các đơn vị binh chủng triển khai lực lượng sẵn sàng chi viện bộ binh cơ động đánh địch trên các hướng. Các đơn vị trong toàn binh đoàn đều có sẵn 7 ngày lương khô với cơ số đạn cần thiết bảo đảm đến vị trí là triển khai đánh địch được ngay. Sự cảnh giác cao độ của bộ đội ta, đặc biệt là các đơn vị trong đội hình Binh đoàn 70 đã làm cho Mỹ và quân đội Sài Gòn dù rất muốn cũng không dám mạo hiểm đổ quân ra Hà Tĩnh, Quảng Bình như chúng đã từng tuyên bố. Hậu phương chiến dịch được giữ vững trong suốt quá trình chuẩn bị chiến dịch đã góp phần tạo ra thế và lực có lợi cho ta trong chiến dịch này.
Trong chiến dịch phản công, điểm khó nhất là dự đoán đúng hướng, lực lượng và thủ đoạn tiến công của địch. Trong kế hoạch tác chiến ở khu vực Đường 9 - Nam Lào về khả năng địch đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào Bộ Tư lệnh chiến dịch dự đoán:
- Địch có thể bất ngờ đánh chiếm các khu vực Bản Đông, Sê Pôn, Mường Noòng với lực lượng mỗi nơi một chiến đoàn.
- Địch sử dụng khoảng 15 - 20 tiểu đoàn quân Sài Gòn phía Tây có sự phối hợp của quân đội chính phủ phái hữu Lào (khoảng 8-10 tiểu đoàn). Khu vực có thể đánh chiếm là Bản Đông, Sê Pôn, Mường Phìn, Pha Lan.
- Sử dụng tập trung quân Sài Gòn (khoảng 25 - 30 tiểu đoàn) đánh ra Đường 9 doạn Na Bô, Tha Mé, ở phía Tây có khoảng 13 - 15 tiểu đoàn quân phái hữu Lào phối hợp.
Khả năng quân Mỹ vượt biên giới sang Lào, trực tiếp tham chiến ít xảy ra (ngày 24 tháng 6 năm 1970, Thượng viện Mỹ đã hủy bỏ Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ năm 19641 (Theo Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ năm 1964, Quốc hội Mỹ trao cho tổng thống toàn quyền quyết định việc đưa Quân đội Mỹ ra nước ngoài tham chiến), Tổng thống Níchxơn không có quyền đưa Quân đội Mỹ ra ngoài Nam Việt Nam khi chưa được Quốc hội Mỹ cho phép).
Dự đoán đúng khả năng tấn công của địch đã khó nhưng việc sử dụng lực lượng cơ động thế nào để đánh trả đối phương có hiệu quả lại phụ thuộc rất lớn vào hai yếu tố: việc sử dụng có đúng thời cơ không và lực lượng cơ động có kịp thời cơ động đến những địa bàn cần thiết để nổ súng đánh địch đạt hiệu quả không. Thực tế chiến trường cho thấy, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã sử dụng lực lượng cơ động hợp lý. Ban đầu ta không sử dụng lực lượng cơ động ngăn chặn các cuộc đổ quân của địch, mà chỉ sử dụng lực lượng tại chỗ kìm giữ, giam chân địch tạo điều kiện cho lực lượng cơ động của Binh đoàn 70 vận động đến tiến công tiêu diệt địch. Địch cho rằng với địa hình rừng núi, với sự đánh phá ngăn chặn ác liệt của hoả lực không quân Mỹ, chủ lực ta không thể tiếp cận tấn công các cụm quân của chúng. Nhưng ngay khi địch đổ quân xuống, chúng đã bị lực lượng tại chỗ của ta đánh trả quyết liệt, và khi địch vừa triển khai đội hình tấn công đã bị các đơn vị thuộc Binh đoàn 70 chặn đánh. Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 tổ chức các chốt chiến dịch ở điểm cao 351, cầu Ka Ki trên trục Đường 9 ngăn chặn địch từ Lao Bảo lên Bản Đông. Các trung đoàn 64 (Sư đoàn 320), 88, 102 (Sư đoàn 308) nhanh chóng chiếmlĩnh các vị trí ở phía Bắc Đường 9 sẵn sàng cơ động diệt địch. Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320) phối hợp với Quân giải phóng Lào đánh địch ở Pha Lan, Pha Dô Tuya, v.v...
Như vậy, ngay trong giai đoạn địch triển khai đội hình tấn công, Binh đoàn 70 đã kịp thời cơ động phối hợp chặt chẽ với lực lượng tại chỗ ngăn chặn địch trên các hướng làm chậm bước tiến công của địch, gây cho chúng một số thiệt hại, tạo điều kiện để Bộ Tư lệnh chiến dịch tập trung lực lượng phản công tiêu diệt lớn sinh lực địch trong giai đoạn tiếp theo.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #41 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2025, 09:36:39 pm » |
|
3. Binh đoàn 70 trong các trân đánh then chốt quyết định góp phần làm nên thắng lợi của Chiến dịch phân công Đường 9 - Nam Lào.
Ngày 9 tháng 2 năm 1971, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị: "Kiên quyết đập tan bước phiêu lưu quân sự mới của đế quốc Mỹ và tay sai, giành toàn thắng cho chiến dịch X" (Đường 9 - Nam Lào). Quân ủy Trung ương kêu gọi: "Toàn thể cán bộ, đảng viên, đoàn viên hãy ra sức thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính mến và quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng. Tập trung tất cả tinh thần và sức lực dũng mãnh tiến công, liên tục tiến công tiêu diệt thật nhiều lực lượng tinh nhuệ của địch, quyết bảo vệ con đường Hồ Chí Minh, xốc tới giành thắng lợi cao nhất trong chiến dịch quan trọng này"1 (Chỉ thị số 09-QUTVV, hồ sơ 594 - Trung tâm Lưu trữ, Bộ Quốc phòng).
Hưởng ứng chỉ thị của Quân ủy Trung ương, các đơn vị thuộc Binh đoàn 70 liên tiếp tổ chức các trận tiến công tiêu diệt sinh lực dịch. Sau 5 ngày tiến công (8-13.2.1971), sinh lực dịch đã bị thiệt hại một phần, nhiềukế hoạch tấn công bị ta phá, phải hủy bỏ hoặc điều chỉnh, tốc độ tiến quân của địch chậm lại.
Nắm chắc tình hình địch, quyết tâm của Bộ Tư lệnh chiến dịch lúc này là kiềm chế địch trên các hướng, tập trung tiêu diệt cánh quân bảo vệ sườn phía Bắc của chúng, thực hiện chia cắt Đường 9, bao vây cô lập cánh quân trung tâm ở Bản Đông, không để địch lên Sê Pôn. Nêu địch tới được Sê Pôn thì buộc chúng phải sa lầy và bị tiêu diệt ở đó.
Thực hiện quyết tâm của Bộ Tư lệnh chiến địch, các đơn vị của Binh đoàn 70 được tung vào các trận đánh then chốt quyết định, mở đầu là trận tiêu diệt Tiểu đoàn 39 Liên đoàn 1 biệt động quân quân đội Sài Gòn ở điểm cao 500.
Là vị trí tiền tiêu quan trọng, nằm sát trục đường 16B, nối đường 16A với Bản Đông, cách Bản Đông 14km về phía Nam, từ điểm cao 500 địch có thể khống chế cả đường 16 và khu hậu cần của ta ở Mường Chương, ngã ba Cha Ky, ngăn chặn ta triển khai binh khí kỹ thuật nặng xuống phía Nam và tiếp tế cho bộ đội ở tuyến trước. Tiểu đoàn 39 biệt động quân được đánh giá là "đơn vị công, thủ toàn diện" của quân địch, biên chế gần 500 quân, được trang bị hoả lực mạnh, được pháo binh từ các căn cứ hoả lực ở Tá Púc điểm cao 543, Bản Đông, Lao Bảo và không quân Mỹ chi viện. Với lực lượng đó, địch cho rằng điểm cao 500 sẽ là một "cánh cửa thép" ngăn chặn chủ lực ta từ hướng Bắc đánh xuống.
Nhận thấy đây là trận đánh có ý nghĩa "mở cửa chiến dịch" Bộ Tư lệnh Binh đoàn 70 đã sử dụng Trung đoàn bộ binh 102 (thiếu 1 tiểu đoàn), được tăng cường 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 88 và 5 đại đội pháo của Mặt trận vào trận đánh quan trọng này. Sau 5 ngày đêm chiến đấu ác liệt (16 - 20.2.1971) ta đã tiêu diệt và bắt sống gần hết Tiểu đoàn 39 địch, mở toang "cánh cửa thép" phía bắc của chiến dịch.
Tiếp theo trận diệt địch ở điểm cao 500, Binh đoàn 70 sử dụng Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) và các đơn vị tăng cường tiến công tiêu diệt căn cứ 31 ở điểm cao 543 - một vị trí quan trọng1(Điểm cao 543 có 4 mỏm liên tiếp do chỉ huy Lữ đoàn 3 quân đội Sài Gòn và Tiểu đoàn 3 dù chốt giữ. Lực lượng địch tại đây khoảng hơn 600 tên. Hỏa lực lại chỗ của địch có 6 khẩu pháo 105mm, 4 cối 81mm, 4 ĐKZ 57mm, 1 khẩu DKZ 106mm, 4 khẩu 12,8mm. Khi tác chiến căn cứ được sự chi viện tối đa của không quân Mỹ) của địch nằm án ngữ trên đường 16A, ngăn chặn lực lượng ta phát triển xuống Bản Đông. Với quyết tâm cao, cách đánh sáng tạo, được sự chi viện đắc lực của xe tăng, các chiến sĩ Trung đoàn 64 đã lần lượt đè bẹp các ổ đề kháng của địch. 16 giờ 30 ngày 25 tháng 2 năm 1971, ta làm chủ căn cứ 31, tiêu diệt Tiểu đoàn 3 dù, bắt sống Đại tá Nguyễn Văn Thọ - Lữ đoàn trưởng và toàn bộ Ban tham mưu lữ đoàn.
Cùng thời gian này, các đơn vị khác của Binh đoàn 70 đánh địch phản kích ở Bản Đông lên và tiến công 2 tiểu đoàn dù ở điểm cao 655 (Pua Rinh). Đến ngày 3 tháng 3 năm 1971, ta đã bẻ gãy hoàn toàn cánh quân bảo vệ sườn Bắc của địch, tiêu diệt Lữ đoàn 3 dù, Thiết đoàn 17 và đánh thiệt hại nặng Liên đoàn 1 biệt động quân. Kế hoạch dùng Lữ đoàn 3 dù thiết lập các căn cứ hoả lực vừa bảo vệ sườn Bắc vừa chi viện cho cánh quân chủ yếu đánh chiếm Sê Pôn của địch bị phá vỡ. Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chủ lực của Binh đoàn 70 trên hướng chủ yếu của chiến dịch, ở phía Nam, các lực lượng chiến đấu của Đoàn 559 và Sư đoàn 324 đã chiến đấu dũng cảm, bắn rơi nhiều trực thăng, đập tan các cuộc đổ bộ đường không của địch, đẩy lùi cánh quân phía Nam. Ở phía Tây, Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320) và các đơn vị bạn phối hợp với Quân giải phóng Lào đánh bại các cuộc tiến công của quân đội phái hữu Lào vào Pha Dô Tuya, Đồng Một, Huội Xan... ở hướng Đông, các lực lượng của Mặt trận B5 tiếp tục đánh mạnh vào các tuyến giao thông, kho tàng, các sở chỉ huy, trận địa hoả lực của địch...
Bị đánh thiệt hại trên tất cả các hướng, cả phía trước lẫn phía sau, nhận thấy: "Nếu quân Nam Việt Nam tiếp tục tiến sâu vào Lào thì thương vong chắc chắn sẽ tăng lên và có nguy cơ thất bại hoàn toàn. Để tránh những hậu qua chính trị và quân sự mạo hiểm đó, tướng Lãm đã ra lệnh cho binh sĩ dừng lại và rút về biên giới"1 (J.Pimlott, Việt Nam những trận đánh quyết định, Trung tâm Thông tin Khoa học Cong nghệ và Môi trường Bộ Quốc phòng, 1997, tr. 138).
Sau khi địch co cụm về Bản Đông, thực hiện quyết tâm của Bộ chỉ huy chiến dịch, Bộ Tư lệnh Binh đoàn 70 sử dụng Trung đoàn 36 (Sư đoàn 308), Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320), một bộ phận Trung đoàn 66 (Sư đoàn 304) và các đơn vị binh chủng tăng cường áp sát Bản Đông, dùng hoả lực đánh nát hệ thống phòng ngự và triệt tiếp tế đường không của địch, đồng thời sử dụng 2 trung đoàn (24 và 102) đưa lực lượng ra áp sát Đường 9, tổ chức tập kích, phục kích tiêu diệt xe cơ giới địch trên Đường 9.
Ngày 18 tháng 3, phát hiện địch đang tìm cách rút chạy khỏi Bản Đông, Bộ Tư lệnh chiến dịch sử dụng 3 trung đoàn (36, 64, 66), được tăng cường xe tăng, tiến công tiêu diệt cụm quân địch ở Bản Đông. Ngày 20 tháng 3, ta hoàn toàn làm chủ Bản Đông, diệt 1.763 tên, bắt 107 tên, thu và phá hủy 113 xe quân sự, 24 khẩu pháo, bắn rơi 52 máy bay địch. Sau trận then chốt quyết định này, cuộc rút lui của quân đội Sài Gòn khỏi khu vực Đường 9 - Nam Lào nhanh chóng trở thành một cuộc tháo chạy kinh hoàng: "xe tăng làm nghẽn đường khiến đội hình phía sau trở thành mục tiêu cho quân Bắc Việt Nam tấn công"1 (J.Pimlott, Sdd, tr.139). Nhà phân tích quân sự Briêngiênkin gọi cuộc tháo chạy của quân Sài Gòn khỏi Đường 9 - Nam Lào "là một thảm hoạ lớn nhất đã tiêu diệt số lớn sĩ quan trẻ của quân đội Sài Gòn", còn Thượng nghị sĩ Étuốt Kennơđi coi đây là "một cơn ác mộng".
Ngày 31 tháng 3 năm 1971, Ban Chấp hành Trung ương Đảng gửi thư khen cán bộ, chiến sĩ Mặt trận Đường 9-Nam Lào đã "đánh giỏi, thắng giờn giã, lập nên thắng lợi rất quan trọng cả về quân sự và chính trị, giáng một đòn mạnh vào chính sách "Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ, mở ra những triển vọng vô cùng tốt đẹp đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến toàn thắng"2 (Thư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng gửi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên thanh niên Mặt trận Đường 9 - Nam Lào ngày 31 tháng 3 năm 1971, hồ sơ số 594, Trung tâm Lưu trữ - Bộ Quốc phòng). Góp vào thắng lợi to lớn đó, trong các thời điểm quan trọng và ở những trận đánh quyết định, các đơn vị thuộc Binh đoàn 70 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xứng đáng là lực lượng cơ động chiến lược, là "quả đấm thép" của Bộ trên chiến trường.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #42 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2025, 09:45:39 pm » |
|
ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHIẾN LƯỢC CỦA MỸ TRONG NĂM 1971 VÀ CUỘC HÀNH QUÂN "LAM SƠN 719" Đại tá, ThS NGUYỄN VĂN QUANG Trưởng phòng Quản lý khoa học - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam Trung tá, ThS LÊ THANH BÀI Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Têt Mậu Thân (1968) của quân và dân ta trên toàn chiến trường miền Nam đã làm phá sản chiến lược "Chiến tranh cục bộ" - cố gắng quân sự cao nhất của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom đánh phá miền Bắc, chấp thuận đàm phán với ta tại Pari, rút dần quân chiến đấu Mỹ về nước. Tuy vậy, với bản chất hiếu chiến và ngoan cố, Mỹ đã chuyển sang thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", tiếp tục cuộc chiến tranh thực dân kiểu mới ở miền Nam Việt Nam. Lợi dụng những khó khăn tạm thời của ta sau Tết Mậu Thân, Mỹ ráo riết đẩy mạnh chương trình bình định và tăng cường sức mạnh cho quân đội Sài Gòn. Sau hơn hai năm tiến hành chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", quân Mỹ và quân đội Sài Gòn đã thực hiện hàng vạn cuộc hành quân càn quét, bình định trên khắp chiến trường miền Nam. Đến đầu năm 1970, chúng chiếm lại hầu hết các vùng nông thôn rộng lớn, kể cả các vùng ta mởi mở trong dịp Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, nâng số đồn bốt từ 4.954 lên 9.224. Ở Khu 8, chúng lấy lại 119 xã, 680 ấp; cả khu chỉ còn 4 xã và 312 ấp giải phóng. Trên chiến trường miền Nam hơn 10 vạn cán bộ, chiến sĩ, cơ sở ta bị thương vong (xấp xỉ số thương vong trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp). Chỉ riêng Nam Bộ, số thương vong năm 1968 và 1969 gấp hai lần so với 7 năm trước đó (1961 - 1967), bằng 1/3 quân số chiến trường miền Nam ở thời điểm đó 1 (Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 314 - 315). Đây là một trong hai thời kỳ khó khăn nhất, tổn thất lớn nhất của cách mạng miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 2 (Thời kỳ 1 là 4 năm sau Hiệp định Giơnevơ 1955 - 1958). Hầu hết chủ lực của ta phải tạm thời rút ra miền Bắc, hoặc chuyển sang bên kia biên giới để bổ sung, củng cố; một số đơn vị phải giải thể. Thế và lực của ta bị suy giảm đáng kể. Tháng 3 năm 1970, Mỹ tiến hành cuộc đảo chính ở Campuchia, lật đổ Chính phủ Xihanúc, thành lập chính phủ do Lon Non cầm đầu. Tháng 4 năm 1970, 10 vạn quân Mỹ và quân Sài Gòn tràn sang Campuchia, phối hợp với quân Lon Non, mở cuộc hành quân đánh vào khu vực Móc Câuvà Mỏ Vẹt (Đông Bắc Campuchia), hòng diệt lực lượng ta và chụp bắt cơ quan đầu não cách mạng miền Nam. Đối với Lào, từ tháng 8 năm 1969, Mỹ và lực lượng Vàng Pao, quân chính phủ phái hữu, mở cuộc hành quân "Cù Kiệt" đánh chiếm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, làm bàn đạp tiến sâu vào vùng giải phóng, uy hiếp căn cứ địa cách mạng Sầm Nưa. Bên cạnh việc mở rộng chiến tranh, Mỹ tập trung xây dựng quân đội Việt Nam cộng hòa, coi đây là nhiệm vụ chủ yếu của "Việt Nam hóa chiến tranh". Theo đó, chúng đẩy mạnh đôn quân, bắt lính. Đến cuốỉ năm 1970, quân chủ lực Sài Gòn đã có hơn 700 nghìn và 268 nghìn bảo an, dân vệ, 90 nghìn cảnh sát vũ trang. Mỹ chú trọng xây dựng lực lượng hải quân và không quân, gia tăng số lượng và nhịp độ đào tạo phi công, thủy thủ, nhân viên kỹ thuật, hoa tiêu cho quân đội Sài Gòn; đồng thời tăng viện trợ quân sự, trang bị các loại vũ khí, kỹ thuật hiện đại cho lực lượng này. Không quân được trang bị máy bay F5, C119, C130 và 1.500 máy bay lên thẳng. Tháng 3 năm 1970, quân đội Sài Gòn thành lập thêm 1 sư đoàn không quân, cùng nhiều sư đoàn độc lập khác. Hải quân được trang bị thêm 1.600 thuyền chiến đấu các loại và tuần dương hạm DE. Để tăng thêm sức mạnh, Mỹ chuyển sang Nam Việt Nam 700 nghìn súng M16 - loại súng cá nhân hiện đại nhất lúc đó, 30 nghìn súng phóng lựu, 10 nghìn súng máy các loại, 200 xe tăng M41, M48, 100 xe bọc thép (nâng số xe tăng thiết giáp của quân đội Sài Gòn lên 1.879 chiếc). Mặt khác, Mỹ còn lập thêm 20 tiểu đoàn pháo, trang bị thêm 600 đại bác từ 105 đến 175mm, đưa tổng số đại bác của quân đội Sài Gòn lên 1.300 khẩu và 10 nghìn súng cối các loại; 20 nghìn máy thông tin, 24 nghìn xe vận tải 1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập VI, Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 39, 50). Trong khi đó, dù có giảm nhưng năm 1970, số quân Mỹ trên chiến trường miền Nam vẫn còn 474 nghìn tên 2 (Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975 - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 503). Cùng với việc tăng cường sức mạnh cho quân đội Sài Gòn, Mỹ đẩy mạnh cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân xuống các tỉnh phía Nam Quân khu 4, các căn cứ hậu cần và tuyến chi viện chiến lược 559. Chỉ riêng 5 tháng đầu năm 1970, máy bay Mỹ đã ném hơn 600 nghìn tấn bom xuống các vùng giải phóng miền Nam và đường Hồ Chí Minh, xấp xỉ bằng số bom Mỹ thả trong cuộc chiến tranh Triều Tiên 3 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập VI, Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 39, 50). Ngoài ra, Mỹ còn rải hàng triệu thùng chất độc diệt cỏ xuống miền Nam Việt Nam. Bằng những việc làm trên, Mỹ dự tính đến khoảng giữa năm 1971 sẽ cơ bản bình định toàn bộ các vùng đông dân quan trọng ở Nam Việt Nam, buộc lực lượng vũ trang giải phóng phải phân tán nhỏ lẻ, không thể hoạt động được ở quy mô từ đại đội trở lên; hoàn thành muc tiêu xây dựng quân đội Sài Gòn đủ sức đảm nhiệm tác chiến trên các chiến trường thay quân Mỹ rút dần về nước.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #43 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2025, 09:46:57 pm » |
|
Về phía ta, vượt qua những khó khăn sau Tết Mậu Thân trong năm 1970, lực lượng ta trên các chiến trường đã từng bước được khôi phục, sẵn sàng thực hiện chỉ thịcủa Bộ Chính trị: "Đánh cho quân ngụy miền Nam những đòn chí mạng ở Campuchia, đồng thời phá kế hoạch bình định ở chiến trường miền Nam"1 (Điện Bộ Chính trị gửi Trung ương Cục và Quân ủy Miền ngày 30 tháng 4 năm 1970), chuyển sang phản công và tiến công khi có thời cơ. Nhờ xác định chủ trương và hạ quyết tâm chiến lược chính xác, hành động kiên quyết nên chúng ta đã giành được những thắng lợi to lớn và toàn diện. Riêng tháng 7 năm 1970, trên chiến trường Campuchia ta và bạn đã loại khỏi vòng chiến đấu 54 nghìn tên địch, giải phóng hoàn toàn 5 tỉnh miền Đông và phần lớn nông thôn 10 tỉnh, bao gồm 61/102 quận với 4,5/7 triệu dân của đất nước Campuchia2 (Văn Tiến Dũng, về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 284, 289). Trên chiến trường Lào, liên quân chiến đấu Việt - Lào đã tiến công giải phóng A Tô Pơ và Xa Ra Van, nối liền Nam - Bắc hành lang chiến trường Đông Dương, hình thành căn cứ địa cách mạng ba nướcở vùng ngã ba biên giới. "Ba nước trên bán đảo Đông Dương đã trở thành một mặt trận chống Mỹ. Đông Dương trên thực tế đã trở thành một chiến trường thống nhất, hình thành thế chiến lược tiến công chung ngày "càng vững mạnh"3 (Văn Tiến Dũng, về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 284, 289).
Trên chiến trường miền Nam, trong đợt hoạt động Xuân Hè 1970, quân và dân ta từ Trị - Thiên đến Nam Bộ đã nỗ lực tiến công, làm cho chương trình bình định của địch bị chững lại. Kế hoạch "bình định đặc biệt" không thành công, buộc chúng phải kéo dài bằng kế hoạch "bình định bổ sung 1970".
Việc địch tập trung đánh phá Nam Khu 4 cũng như tuyến chi viện chiến lược 559, tuy có gây cho ta một số khó khăn, nhưng chúng vẫn chưa thể thực hiện được mục tiêu "bóp nghẹt", ngăn chặn chi viện từ hậu phương miền Bắc, hòng làm cho cách mạng miền Nam phải "lụi tàn". Cay cú bởi những thất bại đầu năm 1970 đã khiến đế quốc Mỹ càng quyết tâm triệt tiêu sự chi viện từ miền Bắc cho miền Nam, "chặt dứt" bằng được tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh của ta.
Đầu tháng 11 năm 1970, Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương yêu cầu tướng Abram (Creigton Williams Abrams), Tư lệnh quân chiến đấu Mỹ ở miền Nam Việt Nam soạn thảo kế hoạch hành quân tấn công vào khu vực Hạ Lào để cắt đứt đường Hồ Chí Minh1 (Ngay từ giữa những năm 60 của thế kỷ XX, tướng W.Oétmolen (Westmoreland), Tư lệnh quân chiến đấu Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã nuôi ý đồ đánh thọc sang Lào, cắt đứt tuyến chi viện chiến lược 559, hòng "đánh gãy xương sống" của cách mạng miền Nam. Vào cuối năm 1966 đã có một loạt kế hoạch hành quân đã được xây dựng như Full Cry, rối Fire Break và cạ trước khi rời khỏi vị trí này (7-1968) ông ta vẫn lệnh cho thuộc cấp lập các kế hoạch chiến dịch El Paso I và II với mục tiêu trên. Nên kế hoạch tấn công vào Hạ Lào do Abram soạn thảo có kế thừa các kế hoạch do W.Oetmolen đã vạch ra), nhưng quân Mỹ chỉ đóng vai trò yểm trợ cho quân đội Sài Gòn trực tiếp tiến hành. Bởi, theo Sắc luật 91-652 (Public Law 91-652) đã được Quốc hội Mỹ thông qua, Tổng thống phê chuẩn2 (Luật này được hai thượng nghị sĩ John Sherman Cooper và Frank Church đề xuất sau khi Mỹ đưa quân sang xâm chiếm Campuchia, được Thượng viện Mỹ thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1970 và Hạ viện phê chuẩn ngày 22 tháng 12 năm 1970, có hiệu lực vào ngày 5 tháng 1 năm 1971, thường được gọi luật Cooper-Church), trong đó có điều khoản không cho phép quân chiến đấu Mỹ hỗ trợ quân đội Sài Gòn ngoài biên giới miền Nam Việt Nam. Ngày 7tháng 11, Đại sứ Bâncơ (Ellsworth Bunker) và tướng Abram hội kiến với Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu, trình bày những kế hoạch tấn công qua biên giới, Tổng thống Thiệu đồng ý. Ngày 11 tháng 1 năm 1971, Bộ trưởng Quốc phòng và Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ đến Sài Gòn kiểm tra tình hình và tiếp tục nhận được sự ủng hộ của người đứng đầu chính quyền Sài Gòn. Ngoài ra, Mỹ còn lôi kéo được quân đội chính phủ phái hữu Lào tham gia.
Một kế hoạch tấn công với ba cuộc hành quân mang mật danh: "Lam Sơn 719", "Toàn thắng 1-71" và "Quang Trung 4" đã được phác thảo. Giới cầm quyền Nhà Trắng và Lầu Năm Góc kỳ vọng rằng thắng lợi của các cuộc hành quân này sẽ làm suy yếu sức chiến đấu của quân và dân ba nước Đông Dương, tạo thắng lợi có tính quyết định trong chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", để quân chiến đấu Mỹ về nước, buộc ta phải chấp nhận những điều kiện của chúng.
Thực hiện kế hoạch trên, Mỹ và quân lực Việt Nam cộng hòa quyết định tập trung 88 tiểu đoàn (trong tổng số 214 tiểu đoàn bộ binh của quân đội Sài Gòn), 15 thiết đoàn xe tăng, xe thiết giáp, do tiểu đoàn pháo binh từ 105 đến 175mm, 3 sư đoàn không quân và hàng trăm tàu, xuồng chiến đấu các loại, cùng lúc tiến công quy mô lớn trên ba vùng chiến lược, nhằm triệt phá tuyến vận tải quân sự chiến lược của ta. Trong đó, "Lam Sơn 719" là cuộc hành quân quy mô nhất, đặt mục tiêu lớn nhất trong kế hoạch quân sự đầu năm 1971 của chúng.
Trong tính toán chiến lược của Mỹ, Đường 9 - Nam Lào là nơi ta tập trung nhiều kho tàng dự trữ chiến lược, là "cuống họng" của tuyến chi viện chiến lược 559, là huyết mạch đặc biệt quan trọng để nuôi sống cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam Việt Nam và cách mạng Lào, Campuchia. Mục tiêu của cuộc hành quân được xác định: cắt đứt, tiến tới phá hủy hoàn toàn tuyến vận tải và cơ sở hậu cần chiến lược ở khu vực Đường 9 - Nam Lào, từ đó sẽ chặn đứng và triệt bỏ được nguồn tiếp tế từ gốc khiến lực lượng vũ trang ta, mà trước hết là bộ đội chủ lực ở miền Nam không thể đánh lớn được trong mùa khô 1971 - 1972, buộc phải quay về hoạt động nhỏ lẻ, phân tán trong khuôn khổ một cuộc chiến tranh du kích, làm cho cách mạng miền Nam, Lào, Campuchia "lụi tàn"; kiểm chứng sức mạnh và khả năng tác chiến của quân đội Sài Gòn, "công cụ" chủ yếu để thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và cũng là thử thách quyết tâm và khả năng quân sự của miền Bắc; đồng thời, cũng muốn qua chiến thắng này làm "yên lòng" nhân dân Mỹ, rằng: quân đội Sài Gòn đủ sức trở thành lực lượng nòng cốt và có khả năng thay thế quân Mỹ ở Đông Dương, là điều kiện căn bản để Mỹ rút quân chiến đấu ra khỏi miền Nam Việt Nam. Tổng thống Níchxơn (Richard Milhous Nixon) cũng hy vọng thắng lợi của cuộc hành quân này, sẽ tạo chuyển biến có lợi cho Mỹ và tạo thếm cơ hội cho ông trong cuộc tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ tiếp theo sẽ diễn ra trong năm 1972. Kítxinhgơ (Henry Alfred Kissinger), Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ khẳng định: Mục đích của chiến dịch là gây nhiều thiệt hại cho phía bên kia để có thể rút quân đội Mỹnhanh hơn trong năm 1971 và 1972,... làm cho các lực lượng vũ trang của Sài Gòn có thể chống lại quân chủ lực Bắc Việt. Với tham vọng như vậy, cho dù còn có những tranh cãi chưa thống nhất, song Níchxơn vẫn quyết định: "kế hoạch đã được cân nhắc và chúng ta xốc tới"1 (Xem Jeffrey Kimball, Hồ sơ chiến tranh Việt Nam - tiết lộ bí mật của chiến lược thời kỳ Níchxơn, Hồ Tuyến dịch, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007. tr. 284,285).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #44 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2025, 09:48:14 pm » |
|
Mỹ đã tính toán rất kỹ về mặt chiến lược khi mở cuộc tiến công ra Đường 9 - Nam Lào. Bởi địa hình nơi đây thuận lợi cho việc phát huy sức mạnh binh khí, kỹ thuật hiện đại và hiệp đồng tác chiến giữa quân Sài Gòn với quân Mỹ; là nơi có sẵn hệ thống căn cứ hoả lực, căn cứ hậu cần, các sân bay dã chiến để máy bay vận tải hạng nặng như C130 hoạt động; có mạng lưới giao thông thủy - bộ khá thuận tiện cho việc cơ động lực lượng và phương tiện chiến tranh. Mặt khác, sau khi cuộc hành quân kết thúc, việc chốt giữ hành lang Đường 9 - Nam Lào sẽ tạo thế chia cắt chiến trường Đông Dương, tạo bàn đạp cho quân đội Sài Gòn xuất phát tiến công sang Lào và ra Nam Quân khu 4, Tây Trị - Thiên, chủ động đối phó với sự tiến công, phản công của ta.
Để đạt mục tiêu đề ra, địch huy động 42 nghìn quân, trong đó 33 nghìn quân Sài Gòn, 9.000 quân Mỹ2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập VI, Sdd, tr. 250) cho cuộc hành quân "Lam Sơn 719", gồm 11 trung đoàn bộ binh, trong đó có 10 trung đoàn quân đội Sài Gòn, 1 trung đoàn bộ binh Mỹ, 2 thiết đoàn thiết giáp với 464 xe tăng và bọcthép, 16 tiểu đoàn pháo (250 khẩu). Hỗ trợ cho bộ binh là 1.000 máy bay các loại, gồm 600 máy bay lên thăng (có 150 máy bay lên thẳng vũ trang), 300 máy bay phản lực, 50 máy bay vận tải hạng nặng C130, C123 và 50 máy bay chiến lược B-52... Hầu hết các lực lượng tham gia tiến công đều là những đơn vị thiện chiến, thuộc lực lượng dự bị chiến lược và lực lượng chủ lực cơ động của Quân khu 1 (Vùng I chiến thuật) của quân đội Sài Gòn. Lực lượng không quân và pháo binh Mỹ đảm nhiệm tiếp tế hậu cần, chi viện hoả lực cho các đơn vị tác chiến.
Hỗ trợ cho hướng tiến công chính còn có các đơn vị quân Mỹ gồm 2 tiểu đoàn pháo binh (155 và 175mm) chi viện trực tiếp cho quân Sài Gòn vượt biên giớichiến đấu, 3 tiểu đoàn pháo binh (175 và 203mm), 1 trung đoàn thiết giáp (gồm 4 tiểu đoàn) đứng ở khu vực Kho Sanh sẵn sàng phối hợp ở phía sau. Bên kia biên giới, phía Tây Đường 9, 9 tiểu đoàn thuộc hai binh đoàn (GM30 và GM33) của quân phái hữu Lào từ Sê Nô, Đồng Hến cùng tiến đánh ra khu vực Sê Săng Soi, Sô Ta Mộc và dự kiến sẽ hội quân với các đơn vị quân đội Sài Gòn ở Pha Lan, Mường Phìn. Đây là cuộc hành quân điển hình thoo công thức Việt Nam hoá và Đông Dương hoá chiến tranh của Tổng thống Níchxơn.
Kế hoạch tác chiến của địch là nhanh chóng đánh chiếm Sê Pôn, chiếm giữ đoạn đường Bản Đông - Sê Pôn đánh phá kho tàng, đường sá xung quanh Sẽ Pôn, phía bắc lên tới Kho Vinh, Na Thôn, phía Tây Nam đến Mường Phìn, nhằm phối hợp với lực lượng phái hữu Lào từ phía Tây tiến sang. Tiếp đó cơ động lực lượng xuống đánh phá kho tàng khu vực từ Sa Đi, Mường Noòng, A Túc đến A Sầu, A Lưới thuộc tỉnh Thừa Thiên. Thời gian cuộc hành quân dự kiến sẽ kéo dài trong 90 ngày, kết thúc vào tháng 5 năm 1971, trước khi mùa mưa ở Nam Lào. Cụ thể gồm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn 1, từ ngày 30 tháng 1 đôn ngày 7 tháng 2 năm 1971, thực hiện cơ động lực lượng, chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công.
- Giai đoạn 2, từ ngày 8 đến ngày 14 tháng 2 năm 1971, tiến công chiếm các mục tiêu Bản Đông và Sê Pôn.
- Giai đoạn 3, từ ngày 15 tháng 2 đến ngày 12 tháng 3 năm 1971, lùng sục, đánh phá kho tàng, cơ sở hậu cần của ta.
- Giai đoạn 4, từ ngày 13 tháng 3 đến đầu tháng 5 năm 1971, chuyển xuống đánh phá các kho tàng phía nam từ Sa Đi, Mường Noòng, A Túc đến A Sầu, A Lưới.
Nhằm đánh lạc hướng, phân tán sự chuẩn bị và kế hoạch đối phó của ta, ngay từ tháng 11 năm 1970, địch đã tiến hành một loạt kế hoạch nghi binh lớn, tung tin chuẩn bị tiến công ra miền Bắc (Nam Quân khu 4) và để phục vụ cho cuộc hành quân, từ ngày 30 tháng 1 năm 1971, đang trong dịp Tết Tân Hợi, quân Mỹ dọc bờ nam sông Bến Hải lặng lẽ triển khai chiếm lĩnh các vị trí then chốt, tạo bàn đạp cho ba cánh quân của quân đội Sài Gòn gồm quân dù, thiết giáp và bộ binh vượt biên giới sang Lào. Địch hy vọng, với kế hoạch tác chiến như trên, sẽ nhanh chóng phá được kho tàng, chặn được tiếp tế và tránh những trận đối đầu lớn với chủ lực của ta. Bởi chúng cho rằng đối tượng tác chiến chủ yếu sẽ là bộ đội bảo vệ hành lang và khotàng, còn chủ lực của ta đang bị phân tán không thể cơ động đến kịp.
Trái ngược với những tính toán của địch, ngay từ giữa năm 1970, sau khi bẻ gãy trận càn của địch vào Campuchia, ta đã sớm nhận định địch sẽ tiếp tục những hành động phiêu lưu quân sự mới. "Ta còn dự đoán chính xác là phương hướng tiến công của địch trong mùa khô 1970 - 1971 sẽ là hành lang vận chuyển chiến lược của ta ở Trung - Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia... Các chiến trường, nhất là khu vực Đường số 9 - Nam Lào đã được lệnh khẩn trương chuẩn bị đánh địch"1 (Văn Tiến Dũng, Về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 295). Từ mùa hè năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu đã vạch kế hoạch tác chiến, điều động lực lượng và chỉ đạo việc chuẩn bị chiến trường khu vực Đường 9 - Nam Lào. Tháng 10 năm 1970, Binh đoàn 70 - binh đoàn chiến lược đầu tiên của quân đội ta được thành lập, gồm các sư đoàn (304, 308, 320), sẵn sàng đánh địch trên Mặt trận Đường 9 - Nam Lào. Các đơn vị thuộc mặt trận B5 (Đường 9 - Bắc Quảng Trị), B4 (Quân khu Trị - Thiên) và Đoàn 559 gấp rút điều chỉnh lực lượng, chuẩn bị chiến trường sẵn sàng phối hợp đánh địch. Dự trữ hậu cần lên đến 6 nghìn tấn, đủ cho năm, sáu vạn quân tác chiến từ bốn đến năm tháng, công tác quân y, hậu cần dự bị đã được trù liệu cơ bản.
Nhờ nhận định chính xác âm mưu thủ đoạn mới của Mỹ và quân đội Sài Gòn, ta đã chủ động chuẩn bị chu đáo mọi mặt, sẵn sàng đánh bại mọi mưu đồ quân sự của địch. Trải qua hơn 50 ngày đêm chiến đấu (31.1 - 23.3.1971), quân dân Mặt trận Đường 9 - Nam Lào đã thực hànhchiến dịch phản công, giáng cho quân đội Sài Gòn - lực lượng nòng cốt thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh những đòn chí mạng. Hơn 21 nghìn tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, 556 máy bay, 528 xe tăng, xe bọc thép, 112 khẩu pháo, cối bị phá hủy. Ta thu được số lượng khá lớn vũ khí quân trang quân dụng. Đặc biệt, ta đã bảo vệ vững chắc tuyến chi viện chiến lược 559. Âm mưu cắt đứt tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn, chia cắt chiến trường Đông Dương của địch đã thất bại hoàn toàn.
Thắng lợi Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đã "đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của ngụy quân trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", đánh dấu bước thất bại nghiêm trọng của chiến lược này"1 (Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹi cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 32). "Lam Sơn 719" với những kỳ vọng cao độ đã trở thành "Cuộc dạo chơi xuống địa ngục"2 (Gloria Emerson, To hell and back... The Straits Times, ngày 30 tháng 3 năm 1971). Kítxinhgơ, cố vấn an ninh quốc gia Mỹ phải thừa nhận: "Các sư đoàn Nam Việt Nam rõ ràng chưa đủ tốt để tiến hành một cuộc hành quân phức tạp như cuộc hành quân vào Lào"3 (Giôdép A. Amtơ, Lời phán quyết về Việt Nam (Nguyễn Tấn Cưu dịch), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr. 326, 325). Còn Níchxơn cho rằng kết cục đó "đã làm giảm lòng tin vào thắng lợi của Việt Nam hóa và vào triển vọng chấm dứt chiến tranh"4 (Giôdép A. Amtơ, Lời phán quyết về Việt Nam (Nguyễn Tấn Cưu dịch), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr. 326, 325).
Cùng với chiến thắng Đường 9 - Nam Lào, quân và dân ta đã đập tan cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" trên chiến trường Đông Bắc Campuchia, đánh bại cuộc hành quân "Quang Trung 4" của địch trên địa bàn Tây Nguyên, đã làm cho những toan tính của chúng trong năm 1971 phá sản. Chấm dứt quá trình tiến công - phản kích đánh ra vòng ngoài bằng các cuộc hành quân lớn của Mỹ và quân đội Sài Gòn, mở ra những triển vọng tốt đẹp đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi đến thắng lợi hoàn toàn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #45 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2025, 08:31:02 pm » |
|
TÁC CHIẾN CỦA QUÂN MỸ TRONG CUỘC HÀNH QUÂN "LAM SƠN 719" TS NGUYỄN THỊ MAI HOA Đại học Quốc gia Hà Nội Đại úy, ThS TRẦN ANH TUẤN Viện Lịch sử Quản sự Việt Nam Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của quân đội Sài Gòn và quân Mỹ tấn công ra Đường 9 - Nam Lào là cuộc hành quân điển hình theo công thức "Chủ lực quân Sài Gòn + hỏa lực yểm trợ tối đa của Mỹ" trong giai đoạn "Việt Nam hóa chiến tranh". Bằng cuộc tiến công của nhiều đơn vị cơ động chiến lược tinh nhuệ nhất của quân đội Sài Gòn, có sự yểm hộ tối đa của không quân, pháo binh và nhiều đơn vị bộ binh, thiết giáp Mỹ phối hợp tác chiến, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tin tưởng sẽ nhanh chóng cắt đứt tuyến vận chuyển chiến lược của đối phương từ gốc, làm cho lực lượng vũ trang Quân giải phóng suy yếu, không thể đánh tập trung lớn trong mùa khô năm 1971 và cả năm 1972 để chúng dễ dàng thực hiện chủ trương "Việt Nam hóa chiến tranh". Giữa tháng 1 năm 1971, các viên tướng chịu trách nhiệm lập kế hoạch là Suthơlan (J.Sutherland) và Hoàng Xuân Lãm đã độ trình lên Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ cho Việt Nam cộng hòa (MACV) kế hoạch hiệp đồng tácchiến của quân Mỹ và quân Việt Nam cộng hòa trong cuộc hành binh "Lam Sơn 719". Phần chiến dịch do Mỹ thực hiện được mang mật danh Dewey Canyon II, lấy tên theo chiến dịch Dewey Canyon do thủy quân lục chiến Mỹ thực hiện tại vùng Tây Bắc năm 1968 (tức trận Khe Sanh). Khi lấy mật danh đó, MACV hy vọng rằng sự trùng tên này sẽ làm Hà Nội nhầm lẫn về mục tiêu chính của cuộc tấn công. Phần của quân đội Sài Gòn dảm nhận trong cuộc hành quân này được đặt tên "Lam Sơn 719" (con số 719 được ghép từ năm 71 và Đường 9 - trục chính của cuộc tấn công). Trong hồi ký của mình, Kítxinhgơ (H.Kissinger) gọi "Lam Sơn 719" là một "dự án hoành tráng trên giấy tờ" (splendid project on paper). Trong hình dung của những người vạch kế hoạch hành quân, khi đó "các trực thăng Mỹ sẽ bay đến từ phía đông, hỏa điểm được đặt trên những đồi núi gồ ghề của xứ Lào lập tức hoạt động; đồng thời, những đoàn quân bọc thép sẽ xốc tới, hợp binh với quân đổ bộ đường không" 1 (John Prados, The hidden history of the Vietnam war, Chicago Ivan R. Deo, 1995, p.248). Ngày 29 tháng 1 năm 1971, dự án này được Tổng thống Mỹ Níchxơn phê chuẩn lần cuối. Theo kế hoạch tác chiến, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" gồm 4 giai đoạn: Giai đoạn 1: điều động lực lượng, chiếm lĩnh bàn đạp xuất phát; giai đoạn 2: tiến công chiếm các mục tiêu Bản Đông và Sê Pôn; giai đoạn 3: lùng sục, đánh phá kho tàng ở xung quanh Sê Pôn và Bản Đông; giai đoạn 4: chuyển xuống đánh phá các kho tàng phía Nam từ Sa Đi, Mường Noòng đến A Túc, A Sầu, A Lưới. Thời gian chiến dịch dự kiến trong khoảng 90 ngày, kết thúc trước mùa mưa (5-1971). Về lực lượng tham chiến, theo kế hoạch ban đầu, quân Mỹ là 9.000 binh lính, gồm 1 tiểu đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn thiết giáp, 5 tiểu đoàn pháo binh (cỡ 155mm, 175 và 203mm), 700 máy bay các loại (300 máy bay chiến đấu phản lực, 300 máy bay lên thẳng, 100 máy bay các loại khác). Trong quá trình diễn biến của cuộc hành quân, khi cao nhất - ngày 10 tháng 3 năm 1971, quân Mỹ tham chiến tăng lên đến 15.000 quân (vượt 6.000 quân so với dự kiến), bao gồm 7 tiểu đoàn bộ binh (tăng 6 tiểu đoàn), 5 tiểu đoàn thiết giáp (tăng 1 tiểu đoàn) và 8 tiểu đoàn pháo binh (tăng 3 tiểu đoàn) để chi viện trực tiếp cho quân đội Sài Gòn vượt biên giới chiến đấu và bảo vệ phía sau, 1.000 máy bay các loại (tăng 300 chiếc), trong đó quân đội Sài Gòn có 40 máy bay lên thẳng, quân Mỹ có 940 chiếc máy bay các loại. Theo kế hoạch phối hợp tác chiến, các đơn vị thuộc Quân đoàn 24 Mỹ do tướng ba sao Suthơlan (J.Sutherlan) làm Tư lệnh được điều động yểm trợ cuộc hành quân: Sư đoàn 101 nhảy dù, bản doanh đặt tại Dạ Lê (thuộc huyện Hương Thủy, cách Huế khoảng 5km) có nhiệm vụ thiết lập những vị trí phòng thủ dọc theo vùng phi quân sự kéo dài về hướng Đông trong thời gian các đơn vị quân đội Sài Gòn tham dự cuộc hành quân. Hai tiểu đoàn pháo binh hạng nặng của Liên đoàn 108 pháo binh có nhiệm vụ yểm trợ hỏa lực pháo binh tầm xa từ Khe Sanh để tạo thành một màn lưới hỏa lực kéo dài đến biên giới Việt - Lào. Liên đoàn 45 công binh đảm nhiệm việc thiết lập một số căn cứ, tu sửa các đoạn đường hư hỏng và trục giao thông huyết mạch từ Đông Hà đến gần biên giới, bảo đảm giao thông thông suốt liên tục cho cả hai chiều. Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn 5 bộ binh được không quân yểm trợ tổ chức cuộchành quân tảo thanh về hướng Tây, giữ Đường số 9 từ Đông Hà đến biên giới Lào - Việt, phía Tây tỉnh Quảng Trị. Sau đó, lực lượng này làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ hỏa lực Vandergriít và căn cứ Khe Sanh. Ngoài ra, các phi đoàn trực thăng của sư đoàn này cũng được điều động để thực hiện các cuộc chuyển quân, tiếp tế, chuyển thương binh cho các đơn vị quân đội Sài Gòn. Về lực lượng không quân, trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719", Mỹ đã huy động hơn 600 máy bay lên thẳng trực tiếp chi viện cho cuộc hành quân của quân đội Sài Gòn, 300 máy bay phản lực, 50 máy bay vận tải (loại C130, C123) và 50 máy bay chiến lược B-52 chi viện cho cuộc hành quân 1 (Bộ Quốc phòng, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971, Viện Khoa học quân sự, Hà Nội, 1976, tr. 17). Các đơn vị không quân Mỹ được điều động tham gia chiến dịch và sẵn sàng tăng viện gồm: Không đoàn tác chiến 8, xuất phát từ căn cứ không quân Ubon Royal (Thái Lan). Không đoàn tác chiến 12, xuất phát từ sân bay Phù Cát (Bình Định). Không đoàn tác chiến 366, xuất phát từ căn cứ không quân Đà Nẵng. Cả ba không đoàn này đều sử dụng loại phản lực cơ F-4 Phantom để tiến hành các cuộc oanh kích vào các vị trí được ghi nhận là có quân của đối phương tập trung. Không đoàn tác chiến 35 sử dụng phản lực cơ F-100 xuất phát từ phi trường Phan Rang. Không đoàn 1 thủy quân lục chiến yểm trợ bằng phi cơ F-4, A-4 và A-6. Không đoàn hành quân đặc biệt dùng phi cơ cánh quạt A-1 Skyraider cho việc tìm kiếm, cấp cứu. Phi đoàn 18 hành quân đặc biệt, từ Nakhon Phanom (Thái Lan) cung cấp vận tải cơ vũ trang AC-119. Không đoàn 16 sử dụng máy bay vận tải vũ trang AC-130Spectre. Sư đoàn 384 không lực Mỹ từ Tân Sơn Nhất phụ trách không vận, cung cấp phi cơ C130 Hercules và C123 Caribou để chở quân. Các phi đoàn của sư đoàn này đảm nhiệm vận chuyển các đơn vị nhảy dù, thủy quân lục chiến từ Tân Sơn Nhất, từ Biên Hòa ra đến Quảng Trị và Đông Hà trong thời gianđầu của chiến dịch. Không đoàn 307 chiến lược sử dụng máy bay B-52 ném bom và phi cơ nhiên liệu KC-135. Ngoài ra còn có các đơn vị khác như Không đoàn quan sát chiến thuật 460 và 6 trung tâm điều hợp yểm trợ cho cuộc hành quân 1 (Theo Vương Hồng Sơn, Không quân Hoa Kỳ và không yểm tại Hạ Lào, http://wwww.route 14.plciku.org). Để phối hợp chiến đấu và bảo vệ phía sau, quân Mỹ sử dụng 2 tiểu đoàn pháo binh (155 và 175mm) chi viện trực tiếp cho quân ngụy vượt biên giới chiến đấu; dùng 1 tiểu đoàn dù, 3 tiểu đoàn pháo binh (175 và 203mm), 1 trung đoàn thiết giáp (gồm 4 tiểu đoàn) đứng ở khu vực Khe Sanh sẵn sàng hỗ trợ cho cuộc hành quân của quân đội Sài Gòn; huy động các loại máy bay trực tiếp chi viện hỏa lực, chuyển quân, tiếp tế hậu cần cho cuộc hành quân; dùng 2 tiểu đoàn pháo binh và một số đơn vị bộ binh để bảo vệ phía sau quân Sài Gòn từ Tân Lâm đến Quảng Trị.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #46 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2025, 08:33:02 pm » |
|
Giai đoạn I của cuộc hành quân "Lam Sơn 719", quân Mỹ khởi đầu bằng chiến dịch cục bộ mang tên Dewey Canyon II để chuẩn bị về địa bàn, hậu cần cho lính Việt Nam cộng hòa trực tiếp thực hiện cuộc hành quân, đồng thời nghi binh cho quân Sài Gòn triển khai lực lượng. Đêm 29 tháng 1 năm 1971, các đơn vị bộ binh, nhảy dù, pháo binh, công binh... thuộc Quân đoàn 24 Mỹ xuất phát khai thông quốc lộ 9, từ Đông Hà đến biên giới Việt - Lào. Đến ngày 2 tháng 2 năm 1971, công việc của các đơn vị Mỹ hoàn tất. Quốc lộ 9, từ Đông Hà đến Lao Bảo được khai thông. Các căn cứ hỏa lực, hậu cần nhanh chóng được thiết lập tại Cà Lu, Khe Sanh và Lao Bảo. Từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1971, máy bay không vận (C130, C123), máy bay lên thẳng và xe cơ giới cơ động 22 tiểu đoàn lính dù, thủy,quân lục chiến và 7 tiểu đoàn pháo từ Sài Gòn, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Thừa Thiên ra khu vực Đông Hà, Ái Tử, Khe Sanh chờ đến ngày N xuất phát vượt biên, ở phía sau, quân Mỹ triển khai Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn 5 bộ binh cơ giới từ đông Hướng Hóa về Tân Lâm làm lực lượng hỗ trợ trực tiếp cho quân đội Sài Gòn. Cùng lúc đó, để thu hút sự chú ý của đối phương, một số tàu chiến thuộc Hạm đội 7 Mỹ, từ biển Đông tiến vào uy hiếp vùng biển phía Nam Quảng Bình.
Từ ngày 8 tháng 2 năm 1971, được sự chi viện hỏa lực của Mỹ, các đơn vị bộ binh, dù, thiết giáp quân đội Sài Gòn chia thành 3 cánh quân mở đầu cuộc tiến công vượt biên giới Việt - Lào. Trong những ngày đầu của chiến dịch, Mỹ đã huy động trên 300 máy bay lên thẳng, có cả máy bay lên thẳng cần cẩu để chở pháo, xe ủi đất xuống tổ chức các căn cứ ở Bản Đông; chiếm các điểm cao 500, 316, 456, 619, 537, 550, 532, 540; lập căn cứ hỏa lực ở các đồi 655, 543 với bí danh căn cứ 30, 31. Suốt cuộc hành quân "Lam Sơn 719", tùy theo diễn biến của chiến dịch và yêu cầu ứng cứu, yểm trợ của quân đội Sài Gòn, mức độ tham chiến và chi viện của quân Mỹ có sự điều chỉnh. Từ ngày 23 tháng 2 năm 1971, trước sự thất bại liên tiếp của ba cánh quân Sài Gòn, Mỹ phải điều động thêm lực lượng và phương tiện chiến tranh để bảo vệ tuyến sau và chi viện cho lực lượng tham chiến1 (Thời điểm cao nhất là ngày 10 tháng 3 năm 1971, số quân Mỹ tham gia chiến dịch lên đến 15.000 binh lính (7.000 quân trực tiếp tham chiến, 8.000 quân bảo vệ tuyến sau), 1.000 máy bay các loại (450 máy bay lên thăng vận tải, 150 máy bay lên thẳng vũ trang, 300 máy bay chiến đấu phản lực, 50 máy bay ném bom B-52, 50 máy bay C130 và C123), 5 tiểu đoán thiết giáp, 8 tiểu đoàn pháo binh).
Cho đến ngày 18 tháng 3 năm 1971, khi quân đội Sài Gòn ở Bản Đông rút chạy, không quân Mỹ đã thực hiện một nỗ lực lớn với 270 lượt máy bay cánh cố định, 1.388 chuyến trực thăng chiến đấu, 11 lần chiếc B-52 rải thảm hòng ứng cứu cho quân đội Sài Gòn.
Theo số liệu thống kê của Mỹ, từ ngày 8 tháng 2 năm 1971 đến ngày 5 tháng 3 năm 1971, máy bay lên thẳng Mỹ đã bay tới 26.000 lần chiếc vừa để đổ quân vừa để chi viện hỏa lực cho bộ binh quân đội Sài Gòn1 (Theo Dương Hảo: Một chương bi thảm, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1980, tr. 91). Trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719", Mỹ đã sử dụng 3.050 lần chiếc CH-53 (máy bay lên thẳng vận tải), tiếp tế được 5.927 tấn vật chất, chuyển được 2.524 thương binh. Thống kê của tác giả Prađốt (Prados) cho biết, chỉ riêng Trung đoàn 77 của Sư đoàn không vận 101 đã bay tới 24.000 lượt, trên tổng số 34.000 lần cất cánh trong toàn chiến dịch. Máy bay lên thẳng của kỵ binh bay Mỹ tham chiến tới 12.000 lần chiếc trên tổng số 18.000 lần cất cánh. Tỷ lệ bay của các chuyến bay chở quân của Mỹ là 34.000/51.000, còn của các chuyến tiếp tế do phi công Mỹ thực hiện là 19.000/59.000 lượt trong toàn chiến cuộc. Thủy quân lục chiến Mỹ bay tới2.000 chuyến trực thăng chiến đấu, 3.000 chuyến khác chuyển quân Sài Gòn, cùng 950 chuyên máy bay cánh cố định, ném xuống 2.600 tấn bom đạn2 (John Prados, The hidden history of the Vietnam war, Chicago, Ivan R. Dee, 1995, p.257).
Không quân chiến thuật Mỹ thực hiện hơn 9.000 chuyến bay, ném tới 14.000 tấn bom. Chung cho toàn khu vực hành quân "Lam Sơn 719", không quân Mỹ đã chi viện từ 160 đến 172 lần chiếc ngày. Chi viện hỏa lực của không quân Mỹ cho từng lữ đoàn là 30 đến 32 lần chiếc máy bay chiến thuật trong một ngày. Với từng tiểu đoàn quân Sài Gòn, chi viện hỏa lực bằng máy bay lên thẳng vũ trang từ 10 đến 12 lần chiếc trong một trận. Chi viện của máy bay ném bom chiến lược B-52 thường tập trung vào các mục tiêu như đường vận chuyển chiến dịch, sở chỉ huy và đội hình hành quân của đối phương. Trong chiến dịch "Lam Sơn 719", Mỹ đã sử dụng 50 pháo đài bay B-52, bay 1.358 lần chiếc, ném gần 32.000 tấn bom1 (Ngọc Thắng, Chi viện về không quân và hậu cần của Mỹ cho quân ngụy Sài Gòn trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 4-1991, tr. 44). Các đơn vị pháo binh Mỹ đã bắn hàng trăm ngàn quả đạn chi viện cho quân Sài Gòn suốt cả quá trình hành quân, tác chiến và rút lui. Theo số liệu thống kê, chỉ với hai tiểu đoàn tăng cường của Binh đoàn pháo 108 Mỹ, đã bắn sang Lào khoảng 209.000 quả đạn từ các trận địa dọc biên giới và ở Khe Sanh.
Ngược với dự báo của quân báo MACV, rằng cuộc hành binh chỉ gặp "đụng độ lẻ tẻ" với khoảng 3 trung đoàn và 8 binh trạm bảo vệ hành lang và kho tàng, còn chủ lực của đối phương không thể nào điều động đến kịp trước khả năng cơ động nhanh của máy bay lên thẳng và sức đột kích của tăng thiết giáp..., trên thực tế, khi bắt đầu cuộc hành quân "Lam Sơn 719", đã có khoảng 8 trung đoàn tăng cường của Quân giải phóng và Pathét Lào ém quân chờ sẵn, cùng 20 tiểu đoàn cao xạ với khoảng từ 170 đến 200 khẩu pháo phòng không sẵn sàng bắn máy bay địch.
Mạng lưới phòng không của Quân giải phóng đã hạn chế tối đa sự chi viện hỏa lực và tiếp vận của máy bay Mỹ, nhất là máy bay lên thẳng. Các loại máy bay cánh cứng Mỹ chỉ hoạt động ở tầm bay cao, nhưng theo Prađốt, Mỹvẫn mất 7 chiếc và 4 phi công, trong khi Chính phủ Mỹ chỉ thú nhận có 5 chiếc bị hạ1 (John Prados, The hidden history of the Vietnam war, Chicago, Ivan R. Dcc, 1995, p.258). Hỏa lực cao xạ và hỏa lực bộ binh của Quân giải phóng tạo thành một lưới lửa phòng không mạnh mẽ, tiêu diệt hơn 500 máy bay lên thẳng của Mỹ2 (Theo Viện Lịch sử Quân sự, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971, Hà Nội, 10-1987, tr. 62: Quân giải phóng đã bắn rơi và phá hủy 556 máy bay các loại, trong đó có 505 máy bay lên thẳng; thu được 2 máy bay lên thẳng). Đây là số máy bay lên thẳng bị tiêu diệt nhiều nhất trong một chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹcủa nhân dân Việt Nam. Một phi công Mỹ lái máy bay lên thẳng đổ quân và yểm trợ cho quân đội Sài Gòn đã nói về nỗi khiếp sợ của họ rằng: "Chúng tôi giống như đội "Thần phong" Camicadê cảm tử của Nhật trong đại chiến thế giới thứ hai. Bay thấp thì vấp phải lưới lửa AK47, bay cao hơn thì bị đạn cao xạ đủ loại, đậu xuống thì bị pháo kích, hỏa tiễn đủ loại,... chỉ trong một cuộc tiến công trực thăng vận của Sư đoàn 1 đã có tới 38 trong số 60 chiếc tham gia trận đánh bị bắn hạ". Một sĩ quan khác của quân đội Mỹ cũng chia sẻ: "Chúng tôi chưa bao giờ nghĩ rằng lại có thể có nhiều cao xạ được bố trí khéo đến thế, ngoài ra xe tăng đối phương đã xuất hiện với một con số chưa từng thấy, chính những xe tăng này đã bắn trả máy bay lên thẳng chính xác một cách kỳ lạ"3 (Báo Tuần tin tức, ngày 15 tháng 3 năm 1971).
Cùng chung số phận với máy bay lên thẳng, 8 tiểu đoàn pháo binh của Mỹ và 13 tiểu đoàn pháo binh quân đội Sài Gòn tham chiến cũng bị thất bại nặng nề. Với 4 trung đoàn pháo binh được triển khai thành nhiều trận địa, bố trí trên cả bốn hướng, Quân giải phóng đã tổ chức hệ thống hỏa lực chế áp hầu như toàn bộ trận địa pháo binh Mỹ và quân đội Sài Gòn, gây thương vong nhiều binh lính. Quân giải phóng đã phá hủy 112 khẩu pháo, thu 57 khẩu pháo và nhiều súng cối. Lực lượng tăng thiết giáp Mỹ tham chiến trong chiến dịch này cũng bị tổn thất nặng với hơn 50 chiếc bị tiêu diệt trong tổng số 350 chiếc tham chiến. Tổn thất về người của quân Mỹ trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719" là 215 binh lính bị chết, 1.149 bị thương, 38 mất tích.
Như vậy, trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719", Mỹ đã huy động nhiều quân binh chủng trực tiếp tham gia chiến đấu và chi viện đắc lực về hỏa lực, hậu cần cho quân Sài Gòn suốt cả quá trình chuẩn bị, tác chiến cho đến giai đoạn rút quân. Nếu như trong giai đoạn đầu, quân Mỹ chủ yếu đảm nhiệm việc nghi binh, chuẩn bị căn cứ hỏa lực, hậu cần, đường sá, vận chuyển binh lính cho cho quân Sài Gon, thi từ khi quân đội Sài Gòn tổ chức hành quân Mỹ đã tăng cường lực lượng pháo binh, tăng thiết giáp và không quân trực tiếp tham chiến và chi viện tối đa cho quân đội Sài Gòn. Thế nhưng, mọi nỗ lực hiệp đồng tác chiến giữa hỏa lực Mỹ với quân chủ lực Sài Gòn, giữa không quân Mỹ với bộ binh Sài Gòn, giữa tuyến trước với tuyến sau đã bị Quân giải phóng phá vỡ, chia cắt. Kế hoạch tác chiến theo công thức "Chủ lực quân Sài Gòn + hỏa lực yểm trợ tối đa của Mỹ" bị phá sản. Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đầy tham vọng của Mỹ và quân đội Sài Gòn đã kết thúc bằng cuộc tháo chạy hoảng loạn của đội quân này.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #47 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2025, 08:42:28 pm » |
|
PHẦN II QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC VÀ THỰC HÀNH CHIẾN DỊCH - NÉT ĐẶC SẮC CỦA NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM ĐÁNH QUỴ SƯ ĐOÀN 1 BỘ BINH QUÂN ĐỘI VIỆT NAM CỘNG HÒAThượng tướng NGUYỄN CHƠN Nguyên ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2 trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào 1971 Sư đoàn 2 là Sư đoàn chủ lực của Quân khu 5. Tháng 6 năm 1970, Sư đoàn được lệnh hành quân ra địa bàn Bắc Đường 9, cùng các sư đoàn chủ lực của Bộ tham gia Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Nhân Hội thảo khoa học kỷ niệm 10 chiến thắng Đường 9 - Nam Lào, tôi xin điểm lại những hoạt động của Sư đoàn 2 để chúng ta thấy được tầm nhìn xa của Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh cũng như tinh thần chiến đấu anh dũng, sáng tạo của bộ đội ta trong chiến dịch. Chuẩn bị cho trận đánh lớn.Ngay từ giữa năm 1970, phán đoán địch sẽ mở các cuộc hành quân lớn ra vùng Trung Lào, Hạ Lào, ngã ba biên giới và Đông Bắc Campuchia, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo các chiến trường điều chỉnh lực lượng, vạch kế hoạch tác chiến, chuẩn bị vật chất, thiết bị chiến trường, phối hợp với bạn Lào sẵn sàng đánh địch. Đang chiến đấu trên chiến trường Khu 5, ngày 10 tháng 6 năm 1970, Sư đoàn 2 nhận được lệnh hành quân ra bắc Đường 9 nhận nhiệm vụ mới. Một nhiệm vụ thật đột xuất, khó tin. Sư đoàn 2 là đơn vị chủ lực của Quân khu 5, sao lại hành quân ra tận bắc Đường 9. Bộ Tư lệnh Sư đoàn cho rằng cơ yếu dịch điện nhầm nên điện hỏi lại Quân khu. Từ đầu dây bên kia, Tư lệnh Quân khu trả lời dứt khoát: "Đó là mệnh lệnh, hãy nghiêm chỉnh chấp hành. Không hỏi lại!". Cuối tháng 6 năm 1970, Sư đoàn bắt đầu hành quân. Trung đoàn 141 được điều về đội hình của Sư đoàn, thay cho Trung đoàn 21 tiếp tục đứng chân chiến đấu ở Quảng Ngãi. Đến Binh trạm 61, Sư đoàn được lệnh bàn giao lại toàn bộ vũ khí nặng và đạn dược, sau đó theo Đường 559 Tây Trường Sơn ra Bắc. Sau hơn một tháng hành quân, đến giữa tháng 8, toàn bộ Sư đoàn đã tập kết ở vùng rừng núi Bắc Đường 9, thuộc huyện Mường Phìn, tỉnh Khăm Muộn của Lào. Tháng 9, Sư đoàn được bổ sung quân số. Lớp chiến sĩ mới đợt này có trình độ văn hóa cao, phần lớn tốt nghiệp phổ thông cấp 3, có nhiều đồng chí là sinh viên của các trường đại học, cao đẳng. Các tiểu đoàn đã đủ quân (trên 500 quân), trung đoàn có trên 2.000 quân, vũ khí, trang bị hoàn toàn mới, đầy đủ và khá hiện đại. Thời gian này trên cương vị Sư đoàn phó, tôi cùng một số cán bộ Sư đoàn ra Bắc dự lớp tập huấn cán bộ Quân khu, Binh chủng, Sư đoàn trong toàn quân do Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh mở. Ngày 24 tháng 8 năm 1970, lớp tập huấn khai mạc. Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp đến phát biểu chỉ đạo lớp tập huấn, xác định: đợt tập huấn này phải xác định tư tưởng đánh tập trung, hiệp đồng binh chủng; phải đánh lớn, thắng to, đánh tiêu diệt trung đoàn, chiến đoàn, sư đoàn địch... Trong những ngày tôi đi tập huấn ở miền Bắc, Sư đoàn trưởng Hoàng Anh Tuấn cùng một số cán bộ từ đại đội trưởng trở lên đi trinh sát thực địa dọc tuyến đường 9, từ Bản Đông đến Sê Pôn, Tha Mé... để nghiên cứu địa hình trên thực địa và lập phương án đánh địch theo kế hoạch của cấp trên. Đoàn cán bộ đối chiếu với bản đồ hầu hết các điểm cao, đồi trọc, khe suối trong khu vực; chọn khu vực đặt trận địa hỏa lực và đo đạc phần tử xạ kích cho các trận địa. Cũng thời gian này, Sư đoàn sôi nổi bước vào đợt huấn luyện quân sự, chính trị tương đối chính quy. Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp vạch kế hoạch và chỉ đạo. Trường Sĩ quan Lục quân cử một đoàn cán bộ giúp Sư đoàn tổ chức và thực hành huấn luyện. Một số đơn vị pháo binh, cao xạ, xe tăng cũng được lệnh của Bộ đến phối hợp tập luyện với Sư đoàn. Đây là lần đầu tiên Sư đoàn được huấn luyện chiến thuật, chiến dịch có hiệp đồng binh chủng, với vũ khí trang bị hiện đại. Một số cán bộ tiểu đoàn có tư tưởng cho rằng ra Bắc là để nghỉ ngơi nên tổ chức huấn luyện còn đơn giản. Song cán bộ Sư đoàn đã sớm kiểm tra, phát hiện và kiên quyết yêu cầu các đơn vị phải xây dựng thao trường, bãi tập đúng yêu cầu, bảo đảm huấn luyện có chất lượng. Trinh sát nghiên cứu địa hình và huấn luyện đơn vị là việc làm thường xuyên của bất kỳ người chỉ huy nào trong chiến trận, song đối với Sư đoàn 2 đợt này thực sự là đợt cóý nghĩa trước khi bước vào trận đánh lớn hiệp đồng binh chủng trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Tháng 12 năm 1970, đồng chí Hoàng Anh Tuấn, Sư đoàn trưởng được điều động về làm Tham mưu trưởng Quân khu 5, tôi được trên đề bạt làm Sư đoàn trưởng. Trung đoàn 31 hành quân trở lại chiến trường Tây Nguyên. Ngày 21 tháng 1 năm 1971, khi mà địch chưa mở cuộc hành quân thì Sư đoàn 2 nhận được lệnh của Bộ: "Triển khai đội hình chiến đấu, sẵn sàng đánh địch đổ bộ trong khu vực từ Bản Đông đến Sê Pôn. Nhiệm vụ của Sư đoàn là diệt nhiều sinh lực địch, bắn rơi nhiều máy bay, bảo vệ vững chắc đường vận chuyển chiến lược...". Như vậy, trước khi tham gia trận đánh lớn, Sư đoàn 2 đã có sự chuẩn bị rất chu đáo về mọi mặt. Sư đoàn đã được bổ sung quân số, trang bị, được huấn luyện về tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng, được nghiên cứu địa hình từ trước khi địch đến và hoàn toàn chủ động đón đánh cuộc tiến công của địch ở địa hình có lợi.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #48 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2025, 08:43:37 pm » |
|
Qua việc Bộ chuẩn bị cho Sư đoàn 2 và sau này nghiên cứu, tôi càng thấy sự chủ động, tầm nhìn xa của Quân ủy Trung ương và Tổng Tư lệnh trong việc chuẩn bị cho Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào cũng như cho việc tác chiến tập trung, hiệp đồng binh chủng lớn của quân đội ta.
Đầu năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu đã dự kiến địch sẽ tiến công chia cắt chiến lược trên ba hướng: một là, Đường 9 - Nam Lào, cắt đoạn Bản Đông - Sê Pôn; hai là, phản công ra vùng ngã ba biên giới và Hạ Lào; ba là, phản công sang Campuchia. Trong đó, Đường 9 - Bản Đông - Sê Pôn là hướng chủ yếu, địch hy vọng cắt ta từ "cuống họng", chặn nguồn chi viện tiếp tế từ "đầu nguồn". Từ nhận định trên, trên hướng Đường 9 - Nam Lào, Bộ Chính trị và Thường trực Quân ủy Trung ương xác định đây là địa bàn gần miền Bắc, có nhiều kho dự trữ chiến lược, ta có điều kiện phát huy sức mạnh của các đơn vị chủ lực, tập dượt chiến đấu hiệp đồng binh chủng, giao cho Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp chỉ huy, điều hành chiến dịch phản công với lực lượng binh chủng hợp thành nhằm giành thắng lợi lớn, đánh bại bước đầu chiến lược "'Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ.
Từ tháng 3 năm 1970, Cục Tác chiến đã bắt tay vào chuẩn bị kế hoạch chiến dịch, chủ yếu là nhận định tình hình, dự kiến sử dụng lực lượng trên các hướng, chuẩn bị hậu cần - kỹ thuật. Tháng 10, hoàn thành tổ chức Binh đoàn chiến dịch B70, gồm các sư đoàn 308, 304, 320 và một số đơn vị binh chủng (đây là lần đầu tiên ta hình thành tổ chức binh đoàn chiến dịch, tương đương quân đoàn). Tiếp đó, Bộ đã cử đoàn cán bộ có các đồng chí Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và đồng chí Hoàng Nghĩa Khánh, Cục phó Cục Tác chiến vào Bộ Tư lệnh 559 và một số đơn vị phía Nam để phổ biến ý định của Quân ủy Trung ương và công việc chuẩn bị chiến trường 559, đồng thời trực tiếp thu thập các ý kiến từ chiến trường.
Tháng 11 năm 1970, kế hoạch chiến dịch được Quân ủy Trung ương thông qua lần đầu, sau đó bổ sung và thông qua chính thức vào tháng 12 năm 1970. Tiếp đó, Quân ủy quyết định thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch do đồng chí Tổng Tham mưu phó Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Lê Quang Đạo làm Chính ủy, đồng chí Cao Văn Khánh làm Tư lệnh phó chiến dịch, chỉ huy Binh đoàn 70, đồng chí Hoàng Phương là Chính ủy Binh đoàn 70.
Quân ủy Trung ương nhấn mạnh: Đây là chiến dịch có ý nghĩa quyết định về chiến lược và do Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp tổ chức và chỉ huy đầu tiên ở phía Nam nên nhất định phải đánh thắng; phải nhân cơ hội địch ra lần này mà rèn luyện bộ đội chủ lực trưởng thành lên một bước mới trong tác chiến tập trung đánh lớn, hiệp đồng binh chủng.
Về tổ chức lực lượng, Bộ Tổng Tham mưu xác định: Lực lượng ngăn chặn, tạo thế gồm Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 và các đơn vị tại chỗ của Đoàn 559; Cụm lực lượng trên hướng chủ yếu phía Bắc gồm Binh đoàn 70 (thiếu) và phần lớn xe tăng, pháo binh chiến dịch; Cụm lực lượng trên hướng thứ yếu phía Nam gồm Sư đoàn 324 (thiếu), Sư đoàn 2 và một bộ phận pháo binh, xe tăng, phòng không chiến dịch; Lực lượng đánh địch ở phía sau gồm lực lượng tại chỗ của B5, một số tiểu đoàn đặc công Bộ, Trung đoàn pháo binh 84 và Trung đoàn 2 Sư đoàn 324; Lực lượng đánh địch trên hướng phối hợp ở phía Tây có Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 và lực lượng tại chỗ.
Cho đến trước ngày địch mở cuộc hành quân lớn, mọi công tác chuẩn bị của ta từ cấp chiến lược đến các đơn vị đã cơ bản hoàn thành. Trên địa bàn Bắc Nam Đường 9, Bộ đội 559 đã tổ chức 7 khu vực tác chiến tại chỗ; huy động tham gia chiến dịch 1 sư đoàn và 5 trung đoàn phòng không (có 1 trung đoàn tên lửa của Bộ), 10 tiểu đoàn pháo cao xạ, 25 đại đội và 33 trung đội súng máy cao xạ bố trí thành 8 cụm trên tâm điểm là tam giác Bản Đông - Tha Mé - La Hạp, hình thành lưới lửa phòng không nhiều tầng, nhiều vòng đợi chờ địch. Các mạng đường chiến dịch đã được hoàn chỉnh thêm. Các kho vật chất ở khu vực Đường 9 có hơn 3.000 tấn. Hàng dự trữ chiến lược trên tuyến có hơn 3.000 tấn.
Trước giờ nổ súng chiến dịch, tôi nhận được điện trực tiếp của đồng chí Đồng Sĩ Nguyên, Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn hỏi về tình hình đạn dược, lương thực, thông tin đã bảo đảm chưa? Tôi vui mừng báo cáo: Bộ đội Trường Sơn đã bảo đảm cho Sư đoàn đầy đủ. Nhất định chúng tôi sẽ đánh thắng! Bên kia đầu dây, giọng đồng chí Tư lệnh trầm ấm động viên: Chúc Sư đoàn 2 giành thắng lợi. Phải kiên quyết chặn đứng, bao vây, tiêu diệt không cho địch có đường về!
Ngày 31 tháng 1 năm 1971, Mỹ và quân ngụy Sài Gòn bắt đầu cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra Đường 9 - Nam Lào. Chúng đã huy động một lực lượng khổng lồ gồm hơn 40.000 quân ngụy Sài Gòn, trên 6.000 quân Mỹ, với một lực lượng không quân, xe tăng, thiết giáp, pháo binh yểm trợ1 (Lực lượng địch trên địa bàn chiến dịch lúc cao nhất 55.000 quân gồm 15 trung đoàn bộ binh, 3 thiết đoàn thiết giáp, 578 xe tăng, xe bọc thép 318 pháo 700 máy bay các loại. Ngoài ra còn có 2 binh đoàn quân đội phải hữu Lào), hùng hổ để quân đánh chiếm các điểm cao dọc theo Đường 9, hy vọng nhanh chóng đánh chiếm Sê Pôn, chiếm giữ Đường 9 đoạn Bản Đông - Sê Pôn lập thành tuyến ngăn chặn cắt đôi Đông Dương, đe dọa miền Bắc Việt Nam, uy hiếp cách mạng Lào và bịt được "con đường sống" của ta vào chiến trường miền Nam.
Địch không ngờ rằng chúng đang lọt vào thế trận đã giăng sẵn của ta. Các lực lượng tham gia chiến dịch được chuẩn bị kỹ càng đang chủ động chờ chúng "chui đầu vào rọ" đổ tổ chức những trận đánh lớn, quyết không cho chúng đường về.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #49 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2025, 08:47:28 pm » |
|
Đánh quỵ Sư đoàn 1 quân đội Việt Nam cộng hòa.
Sau khi triển khai chiếm lĩnh xong khu vực tập kết, ngày 8 tháng 2, được sự yểm trợ của hoả lực Mỹ, 7 trung đoàn bộ binh, dù và thiết giáp ngụy hình thành 3 cánh quân vượt biên giới Việt - Lào. Cánh quân chủ yếu tiến theo Đường 9 lên Bản Đông. Hai cánh quân khác đổ bộ bằng máy bay lên thẳng chiếm một loạt các điểm caoở Nam, Bắc Đường 9, lập các căn cứ, hoả lực bảo vệ sườn cho cánh quân chủ yếu. Trên khu vực phía Bắc Đường 9, tuy bị lực lượng tại chỗ, nhất là phòng không của ta đánh trả quyết liệt nhưng Lữ đoàn 3 dù và Liên đoàn biệt động 2 địch cũng đổ được quân xuống các điểm cao 500, 316, 655, 543, 456 lập các căn cứ hoả lực. Trên khu vực phía Nam, Sư đoàn 1 bộ binh địch (thiếu) chiếm khu vực Cô Bốc và các điểm cao 619, 537, 550, 532, 540. Quân phái hữu Lào phối hợp hoạt động ở Tây Đường 9, đưa 2 binh đoàn (GM 30 và GM 33 gồm 9 tiểu đoàn) đánh ra khu vực Mường Pha Lan.
Ngay từ khi địch tiến công, Đoàn 559 đã tổ chức các chốt ngăn chặn ở Cô Bốc, Cô Rốc, các điểm cao 660, 723; Trung đoàn 24 tổ chức chốt ở điểm cao 351, cầu Cha Ky; Sư đoàn 308 tổ chức chốt ở điểm cao 311; lực lượng của B5 và Đặc công Hải quân đánh chìm 9 tàu chở vũ khí của địch ở Xuân Khánh, Vinh Quang, phục kích địch ở Bông Kho, Đầu Mầu, tập kích địch ở Kế Sóc, Ba Lào... Tiếp đó, trên hướng chủ yếu Binh đoàn 70 đã phản công đánh tan cánh quân chủ yếu của địch ở phía Bắc Đường 9. Đặc biệt, ngày 19 đến ngày 25 tháng 2, Trung đoàn bộ binh 64 cùng Trung đoàn pháo binh 45 và 1 đại đội xe tăng đã thực hiện thành công trận then chốt tiêu diệt căn cứ 31 của địch ở điểm cao 543, xoá sổ Lữ đoàn 3 dù, bắt sống đại tá Thọ và ban tham mưu lữ đoàn.
Bị chặn đánh cả ở phía trước, phía sau và 2 bên sườn, nhất là cánh quân phía Bắc Đường 9 bị tiêu diệt, địch đưa thê đội 2 vào chiến đấu, chuyển cánh quân phía Nam Đường 9 thành cánh quân chủ yếu tiến lên Sê Pôn. Ngày 4 tháng 3, Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn đổ quân xuống chiếm các điểm cao 660, 723, 748 làm bàn đạp chiếm Sê Pôn. Trong đó, Trung đoàn 1 ở điểm cao 723, Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 ở các điểm cao 660, 462 và 651.
Quyết tâm bẻ gãy cánh quân phía Nam, tiêu diệt Sư đoàn 1 địch, không cho chúng tiến lên Sê Pôn, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 2 (thiếu Trung đoàn 31) được tăng cường 1 tiểu đoàn (Trung đoàn 48, Sư đoàn 320), Trung đoàn pháo binh 368 thực hiện trận then chốt tiêu diệt Trung đoàn 1 địch ở điểm cao 723, tiếp theo là Trung đoàn 2 ở các điểm cao 660, 462.
Điểm cao 723 nằm trong dãy Phu Rệp, phía Nam Đường 9 và sông Sê Pôn, cách Lao Bảo khoảng 15km về phía Tây. Điểm cao nằm trên trục đường vận tải chiến lược 559, gần dốc Nguyễn Chí Thanh nổi tiếng mà các đơn vị hành quân bộ vào Nam đều phải đi qua. 723 là một điểm cao đột xuất, có thể khống chế từ Sê Pôn xuôi về phía Đông đến ngã tư Bản Đông.
Kế hoạch ban đầu đánh 723 của Sư đoàn là dùng sức mạnh hiệp đồng binh chủng của cả Sư đoàn được hoả lực của chiến dịch chi viện tiến công địch. Sau khi đi trinh sát, nghiên cứu lại, tôi thấy đánh theo phương án này có nhiều bất lợi. Địch ở trên cao, lại có hệ thống công sự, trận địa khá kiên cố nên ta tiến công sẽ rất khó khăn và tốn nhiều vật chất, lực lượng. Mặt khác, qua tin trinh sát tôi thấy địch đang muốn tiến về Sê Pôn, nên đề xuất phương án mới: đánh ép mặt trước, buộc địch phải rời công sự, kéo về Sê Pôn; ta sẽ dùng 6 tiểu đoàn thực hiện bao vây, đón lõng dọc đường địch hành quân để đánh địch ngoài công sự, tiêu diệt toàn bộ trung đoàn địch. Phương án mới được Đảng ủy Sư đoàn và Bộ Tư lệnh chiến dịch chấp nhận.
Thực hiện theo phương án trên, Sư đoàn 2 sử dụng Tiểu đoàn 10 đặc công và Tiểu đoàn 15 công binh đón lõng ở phía Đông Bắc điểm cao 723. Trung đoàn 141 vây lấn từ phía Nam lên. Trung đoàn Ba Gia (được tăng cường Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48) vây lấn từ phía Tây và Tây Nam. Hai trung đoàn này sẵn sàng cơ động lực lượng tiêu diệt địch trong khu vực dự kiến ở thung lũng phía Đông Bắc điểm cao 723.
Đêm 8 tháng 3 năm 1971, các lực lượng bao vây, đón lõng bắt đầu triển khai chiếm lĩnh trận địa. Sau khi hình thành thế bao vây, Sư đoàn tăng sức ép cả bằng hoả lực và xung lực đối với Trung đoàn 1 địch, đồng thời khống chế chặt chẽ đường không, cắt tiếp tế của chúng cho 723. Trong các ngày 13, 14, 15 tháng 3, các loại hoả lực của ta từ cối 82mm, ĐKZ 75, pháo Đ.74, cối 160... liên tục bắn vào 723. Pháo phòng không của Sư đoàn và chiến dịch cắt đứt đường không, không một máy bay trực thăng nào của địch tới được 723. Ngày 15 tháng 3, phát hiện địch có triệu chứng rút quân. Ngay trong đêm 15, tôi triệu tập Thường vụ Đang ủy hạ quyết tâm diệt Trung đoàn 1 dịch, đồng thời lệnh cho Tiểu đoàn 15 công binh nới vây để địch rút về Sê Pôn, đôn đốc các đơn vị bao vây đón lõng nắm chắc địch, không được bỏ lỡ thời cơ diệt địch.
Vòng vây nới lỏng, sáng ngày 16 dịch bắt đầu rút khỏi 723 theo hướng Tây - Bắc để lên Sê Pôn. Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn 141 được lệnh lên chiếm lĩnh 723 để đánh vào phía sau địch. Pháo binh được lệnh bắn chặn các ngả đường buộc dịch phải dồn vào khu vực ta có lực lượng đón sẵn. Theo kế hoạch, đợt bắn phá này pháo chiến dịch chỉ bắn 500 quả. Song trước thời cơ diệt gọn cả trung đoàn địch, Sư đoàn đã đề nghị bắn 1.000 quả và được chấp nhận nên mật độ pháo khá lớn, quân địch buộc phải đi vào các khu vực Sư đoàn đã dự kiến. Khi pháo ngừng bắn, các tiểu đoàn bộ binh được lệnh đồng loạt bám sát địch, thực hành tiến công, chia cắt để tiêu diệt từng cụm địch.
Quân địch thoát ly công sự, lại bị ta tiến công từ cả bên sườn phía sau nên hoang mang ngay từ đầu. Máy bay địch liều mạng vượt qua lưới lửa phòng không của ta để ném bom chi viện cho bọn bộ binh. Bom napan, bom phá, bom sát thương nổ dữ dội. Cả khu rừng khói bụi, lửa cháy mù mịt song bộ đội vẫn dũng cảm bao vây, chia cắt tiêu diệt từng cụm quân địch. Đến 11 giờ ngày 16 tháng 3, vòng vây của ta đã xiết chặt và Tiểu đoàn 1 của địch đã bị tiêu diệt hoàn toàn, các tiểu đoàn khác của Trung đoàn 1 địch đang ở trong tình trạng hoang mang dao dộng, tinh thần rệu rã.
Để vừa tiêu diệt được toàn bộ Trung đoàn 1, vừa không để Trung đoàn 2 của chúng đang ở điểm cao 660 có cơ hội chạy thoát, Thường vụ Sư đoàn đã táo bạo quyết định đưa một phần lực lượng sang vây ép 660, lực lượng còn lại nhanh chóng tiêu diệt Trung đoàn 1 rồi chuyển sang cùng các đơn vị vây ép, tiêu diệt địch ở điểm cao 660
Các đơn vị đã nghiêm chỉnh thực hiện quyết định mới của Sư đoàn. Trung đoàn 141, Tiểu đoàn 40 của Trung đoàn Ba Gia cùng các tiểu đoàn đặc công, công binh xốc lại lực lượng, áp sát đội hình địch, tiến công mãnh liệt vào các cụm quân địch còn lại dưới chân điểm cao 723. Cùng lúc, Trung đoàn Ba Gia (thiếu Tiểu đoàn 40) cùng Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 va một bộ phận hoả lực nhanh chóng vận động sang vây ép Trung đoàn 2 địch ở điểm cao 660.
14 giờ ngày 16, trận chiến đấu ở khu vực 723 tiếp tục. Bộ đội ta từ các hướng xung phong mãnh liệt tiêu diệt Trung đoàn 1 địch. Từ phía Tây, Trung đoàn 141 đánh xuống. Từ hướng Đông Bắc, Tiểu đoàn 40 Trung đoàn Ba Gia đánh vào. Từ hướng Đông - Nam, Tiểu đoàn Đặc công và Tiểu đoàn công binh 15 đánh thốc lên. Trước sức tiến công liên tục của bộ đội ta, Trung đoàn 1 địch dần tan rã và bị tiêu diệt. 10 giờ 30 phút ngày 17 tháng 3, Sở chỉ huy Trung đoàn 1 bị tiêu diệt, viên đại tá, Trung đoàn trưởng đã bị bắn chết từ trước đó, trận đánh ở khu vực 723 kết thúc. Ta diệt và bắt sống 1.700 tên, bắn rơi nhiều máy bay, thu hàng trăm vũ khí và nhiều phương tiện, quân trang, quân dụng.
Tin 723 bị diệt làm binh lính Trung đoàn 2 địch ở điểm cao 660 hết sức hoang mang. Để tránh nguy cơ bị tiêu diệt, chỉ huy cuộc hành quân của địch cho Trung đoàn 2 tháo chạy. Song quyết định tháo chạy của địch đã quá muộn. Trung đoàn Ba Gia vượt qua bom đạn, chạy đua với thời gian, khẩn trương đến được khu vực điểm cao 660 và xiết chặt vòng vây trước khi quân địch nhận được lệnh tháo chạy. Cả trung đoàn địch cố tìm đường chạy nhưng đến đâu cũng gặp các chiến sĩ của Trung đoàn Ba Gia chặn đánh. Đêm 20 tháng 3, sau khi hội ý với Chính ủy Nguyễn Tá, Trung đoàn trưởng Trần Quang Lập quyết định đưa Tiểu đoàn 40 vừa mới từ 723 về, phối hợp với Đại đội 7 Tiểu đoàn 60 hình thành hai mũi tiến công vào cụm quân địch. 3 giờ 30 phút ngày 21, trận tiến công dứt điểm Trung đoàn 2 địch bắt đầu. Sau một loạt pháo chuẩn bị, bộ đội ta đồng loạt xung phong. Tiểu đội trưởng Nguyễn Ngọc Lũy cùng tiểu đội đánh thốc ngang đội hình địch, diệt và bắt 50 tên. Mũi tiến công khác, chiến sĩ Nguyễn Khắc Hoàng, trong trận đầu ở điểm cao 723 đã diệt 16 tên, trận này lại cùng đồng đội đánh thẳng vào sở chỉ huy tiểu đoàn địch, bắt sống tên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 dịch là Nguyễn Xuân Huy. Vậy là, sau hơn ba ngày chiến đấu liên tục Trung đoàn Ba Gia đã gần như xoá sổ Trung đoàn 2 địch, diệt và bắt sống gần 1.300 tên, thu 4 khẩu pháo 105mm, 54 máy PRC 25, bắn rơi 36 máy bay.
Ngày 23 tháng 3 năm 1971, sau khi giải phóng Bản Đông, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc. Trong chiến dịch, Sư đoàn 2 đã đánh thắng hai trận lớn, tiêu diệt Trung đoàn 1 và đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 2,như vậy là đã đánh quỵ Sư đoàn 1 bộ binh quân đội Việt Nam cộng hòa. Chiến công của Sư đoàn 2 đánh dấu một bước tiến bộ mới rất quan trọng của Sư đoàn và góp phần xứng đáng vào thắng lợi rất to lớn của chiến dịch lịch sử Đường 9 - Nam Lào 1971.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|