Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:46:54 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử  (Đọc 29217 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #60 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2025, 08:02:39 pm »

Từ phương thức đã được xác định, Trung đoàn 1 ở Long Mỹ liên tục đánh địch, diệt 11 đại đội bảo an; Trung đoàn 3 bám đánh địch trên các địa bàn then chốt giữa hai tỉnh Vĩnh Long - Trà Vinh. Trước những khó khăn trong việc bám trụ đánh địch của các cơ quan Quân khu, Khu ủy có ý kiến đề nghị Bộ Tư lệnh quân khu di chuyển cơ quan về Nam Cà Mau để có điều kiện ổn định làm việc. Bộ Tư lệnh quân khu nhận định: nếu chuyển về Nam Cà Mau thì sẽ gặp trở ngại, khó khăn lớn trong việc chỉ đạo, chỉ huy và ảnh hưởng đến phong trào chung, đến khi chuyển trở lại càng khó khăn nhiều hơn; và nếu ta rút thì địch sẽ chiếm ngay. Từ đó, Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định bám trụ ở U Minh Thượng, đồng thời triển khai tiền phương quân khu ở Long Mỹ (Cần Thơ), sát đồn địch. Đồng chí Lê Đức Anh, Tư lệnh quân khu thường xuyên ở đây từ những năm 1970 - 1973 để chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị thực hành đánh phá bình định.


Thời gian này, ở đồng bằng sông Cửu Long, Quân đoàn 4 địch liên tiếp tập trung lực lượng mở nhiều cuộc hành quân lấn chiếm U Minh. Địch quyết tâm bình định lấn chiếm cho bằng được U Minh vì chúng xác định đây là căn cứ, nơi đứng chân của cơ quan lãnh đạo kháng chiến ở miền Tây Nam Bộ, là căn cứ hậu cần, kỹ thuật của Quân khu. Đồng thời, địch cũng phát hiện lực lượng, vũ khí và phương tiện chiến tranh của ta được Trung ương chi viện cho Quân khu 9 qua đường 1C về đây. Chúng cho rằng, đây thực sự là một nguy cơ, mối đe dọa đến sự sống còn của chúng ở miền Tây Nam Bộ. Vì vậy, chúng tập trung quy mô lớn lực lượng, với mật độ bom pháo dày đặc kể cả máy bay chiến lược B-52 ném bom rải thảm, máy bay B-57 ném bom tọa độ và sử dụng cả chất độc hóa học, đánh phá ác liệt có tính hủy diệt tại vùng căn cứ U Minh và đường hành lang vận chuyển của ta trên tuyến đường 1C.


Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 9 đề ra chủ trương hoạt động là: Tập trung nỗ lực đánh bại kế hoạch bình định lấn chiếm U Minh của địch, đồng thời đẩy mạnh phong trào chống phá bình định ở phía sau, hỗ trợ phong trào quần chúng giành quyền làm chủ trên diện rộng; tăng cường chỉ đạo giữ vững hành lang bảo đảm tiếp nhận tốt sự chi viện của Trung ương; tích cực xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân về mọi mặt, bảo đảm cho lực lượng vũ trang mạnh, hoàn thành mọi nhiệm vụ; tăng cường công tác hậu phương bảo đảm cung cấp vật chất tại chỗ. Đây là chủ trương hoạt động tích cực, chủ động, phù hợp với tình hình chung của toàn Miền. Tuy nhiên, trong thực hiện vẫn gặp nhiều khó khăn.


Đến cuối năm 1970, sau hai cuộc hành quân "Nhổ cỏ U Minh" không đạt kết quả như mong muốn, đầu năm 1971, địch sử dụng Sư đoàn 21, một bộ phận Sư đoàn 9, hai liên đoàn biệt động quân (thay phiên nhau), Lữ đoàn B thủy quân lục chiến, Thiết đoàn 9, không quân, hải quân hạm đội nhỏ trên sông của Mỹ và điều động lực lượng bảo an từ các tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh... mở cuộc hành quân "Nhổ cỏ U Minh" lần thứ ba. Lần này, thủ đoạn của chúng là lấn dần từng bước; lấn đến đâu đóng đồn đến đó.


Đối phó với cuộc hành quân lấn chiếm U Minh lần thứ ba của địch, ngay từ đầu, Bộ Tư lệnh Quân khu sử dụng Đoàn pháo binh 6 đánh thiệt hại nặng căn cứ Xẻo Rô (cửa ngõ U Minh Thượng), nơi tập trung tàu và quân địch, đánh chìm và cháy 10 tàu, buộc địch phải dừng lại để giải quyết hậu quả. Bộ Tư lệnh Quân khu tiếp tục chỉ đạo các đơn vị chủ lực đánh phá bình định trên chiến trường U Minh. Trung đoàn bộ binh 2 đánh địch trên địa bàn rộng từ An Biên, Vĩnh Thuận (Rạch Giá) đến Thới Bình (Cà Mau). Trung đoàn đã thực hành hàng chục trận đánh, có những trận điển hình, đạt hiệu suất chiến đấu cao, như trận tập kích sở chỉ huy Trung đoàn 33 địch ở kênh Thứ Mười Một, diệt hàng trăm tên địch, bắn chìm 11 tàu... Trong lúc đó, Trung đoàn bộ binh 1 phối hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ liên tục tiến công địch theo kênh Xáng Xẻo Rô, sông Trẹm. Trung đoàn 10 - đơn vị vừa được Bộ Tư lệnh Miền tăng cường, đánh địch ở U Minh Hạ... Ý định của Quân khu là đánh một trận diệt căn cứ trung tâm hành quân để đánh bại kế hoạch bình định lấn chiếm U Minh của địch. Thế nhưng, lúc này ta không còn khả năng thực hiện (quân số ít, đạn dược, nhất là đạn hỏa lực thiếu trầm trọng). Do đó, về cơ bản, địch đã lấn chiếm xong U Minh Thượng, một phần U Minh Hạ và đang có kế hoạch tô dày, lấp kín U Minh.


Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc. Thắng lợi của quân và dân ta trên mặt trận Đường 9 - Nam Lào có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng cả về quân sự và chính trị. Cùng với chiến thắng ở Đường 9 - Nam Lào, quân và dân ta đã phản công đánh bại cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" và cuộc hành quân "Quang Trung 4" quy mô lớn của quân Sài Gòn ở Campuchia và Tây Nguyên. Tiếp đó, ta đánh bại cuộc hành quân Chenla 2 ở đường 6 - Campuchia, giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, phá âm mưu dùng quân Lon Non, có không quân Mỹ chi viện để thực hiện "Khmer hóa chiến tranh" và sử dụng quân Lon Non làm lực lượng cơ động đánh vào sau lưng ta. Những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trên đã thúc đẩy mạnh mẽ phong trào đánh phá bình định của nhân dân miền Nam.


Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền, Khu ủy, Bộ Tư lệnh hai quân khu ở đồng bằng sông Cửu Long đều có chủ trương, kế hoạch lợi dụng sơ hở của địch trên chiến trường chung, do quân chủ lực địch phải tập trung cho chiến trường chính, để đẩy mạnh đánh phá, bình định, khôi phục thế và lực của cách mạng ở cơ sở.


Ở Quân khu 8, tỉnh Kiến Phong đã sắp xếp lại tổ chức, đưa đảng viên, cán bộ ra phía trước, bám sát động viên quân chúng đấu tranh, tạo được thế mới, lực mới, phong trào kháng chiến được khôi phục và từng bước củng cố, phát triển. Đáng chú ý là ta đã xây dựng được chi bộ vùng yếu, vùng tôn giáo như ở cù lao Tây, cù lao Long Khánh, Chợ Mới, các khu dinh điền và thị xã, thị trấn.


Tại tỉnh Bến Tre, từ tháng 6 năm 1971, cơ quan Tỉnh ủy Tỉnh đội đã chuyển về đứng chân trên địa bàn Mỏ Cày Nam và Giồng Trôm, chỉ đạo phong trào tiến công ba mặt đạt nhiều kết quả. Đến cuối năm 1971, xã nào cũng mở thêm "lõm" du kích, 55 đảng bộ, 66 chi bộ của 115 xã trong tỉnh đã đứng vững trên địa bàn. Bộ đội tập trung được củng cố, bổ sung, nhiều đội du kích được phát triển và đánh địch tốt.


Ở tỉnh Mỹ Tho, trọng điểm của Quân khu 8, từ hoạt động tiến công địch sau những chiến thắng của1 () chiến trường chung đến cuối năm ta đã mở được 14 ấp giải phóng, nâng tổng số ấp giải phóng toàn tỉnh lên 87 ấp với 67.000 dân. Ta phát triển được 927 đảng viên, 482 tân binh phát triển được 1.374 dân quân du kích...


Trên chiến trường Quân khu 9, sau khi lấn chiếm được phần lớn vùng căn cứ U Minh, địch rất lạc quan với kết quả đã đạt được sau gần ba năm bình định lấn chiếm nơi đây.Ngày 1 tháng 6 năm 1971, Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Việt Nam cộng hòa xuống căn cứ Thứ Mười Một làm lễ khánh thành chi khu Hiếu Lễ và mừng chiến thắng U Minh. Thiệu đã huênh hoang tuyên bố: Bộ đội tập trung của "Việt cộng" không còn nữa, hiện nay chỉ còn 100 du kích ở U Minh Thượng và 100 du kích ở U Minh Hạ, chỉ hoạt động kiểu du kích mà thôi! Từ đó, chúng quyết tâm tô dày đồn bót, lấp kín U Minh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #61 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2025, 08:03:44 pm »

Nắm được ý đồ tô dày, lấp kín U Minh của địch, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 nhận định: Tuy có nhiều khó khăn, nhưng nếu ta không tích cực, kiên quyết tiến công địch thì chúng sẽ lấp kín U Minh, mở rộng lấn chiếm Nam Cà Mau, khi đó ta sẽ gặp khó khăn hơn, tổn thất lớn hơn và tình thế sẽ xấu đi khó bề cứu vãn được. Cũng trong thời điểm này, trên chiến trường chung, ta đã giành được thắng lợi lớn ở Đường 9 - Nam Lào, khu vực ngã ba biên giới... Địch đang bị co kéo, đang bị động đối phó, ta cần tranh thủ thời cơ tích cực phối hợp với chiến trường bạn... Từ nhận định đó, Quân khu quyết định mở đợt phản công lớn vào mùa mưa năm 1971 ở U Minh, ngay trong vùng trọng điểm bình định của địch.


Mục đích của đợt phản công mùa mưa ở U Minh là: Bẻ gãy kế hoạch đóng thêm đồn bốt của địch, cải thiện một bước hình thái chiến trường, tạo điều kiện tiến lên đánh bại địch ở U Minh; đánh một đòn thôi động, tạo được ảnh hưởng chính trị, quân sự, hỗ trợ trực tiếp phong trào tại chỗ và các tỉnh.


Tháng 9 năm 1971, Quân khu sử dụng Trung đoàn 10 và Trung đoàn 20 (của trên tăng cường cho Khu 9) đánh vào đội hình của Sư đoàn 21 địch - lực lượng chủ yếu đang chiếm đóng và cơ động ở U Minh. Đợt phản công do Bộ Tư lệnh Quân khu trực tiếp chỉ huy; thời gian nổ súng được quy định thống nhất là đêm 7 rạng sáng 8 tháng 9 năm 1971. Trưa ngày 6 tháng 9, một chiến sĩ của Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 2 ra đầu hàng địch tại sở chỉ huy Trung đoàn 33 Sư đoàn 21 địch và khai báo Tiểu đoàn 7 của ta đang đóng quân tại kênh Bảy Rẫy, Biển Bạch huyện Thới Bình. Tư lệnh Sư đoàn 21 địch lập tức lệnh cho các trận địa pháo bắn cấp tập vào khu vực được chỉ điểm. Sau đó, địch cho 20 máy bay A37 ném bom bắn phá. Trung đoàn 33 địch được lệnh hợp vây tiêu diệt Tiểu đoàn 7 của ta. 14 giờ 30 phút cùng ngày, địch dùng 12 trực thăng đổ Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 33 và Đại đội trinh sát của Sư đoàn 21 xuống trận địa của Tiểu đoàn 7.


Bộ Tư lệnh Quân khu ra lệnh cho Tiểu đoàn 7 nổ súng diệt gọn Tiểu đoàn 3 địch, mở màn cho đợt phản công. Quá trình Tiểu đoàn 3 và đại đội trinh sát địch đổ quân cũng là quá trình Tiểu đoàn 7 của ta hình thành thê bao vây. Đến chuyến trực thăng đổ quân sau cùng, Tiểu đoàn 7 nổ súng tiến công quyết liệt. Sau 2 giờ chiến đấu, ta diệt gọn Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 33 và đại đội trinh sát của Sư đoàn 21 địch. Đến 17 giờ, Trung đoàn 31 địch đổ quân cứu viện bị Trung đoàn 2 chặn đánh, làm thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn. Đêm 7 rạng 8 tháng 9, Trung đoàn 10 tập kích diệt căn cứ Nỗng Cạn, xã Khánh Lâm, huyện Trần Văn Thời (Cà Mau) - căn cứ này do sở chỉ huy nhẹ Trung đoàn 32 và một tiểu đoàn địch đóng giữ; ta diệt gần 600 tên. Cùng đêm, Trung đoàn 20 đánh thiệt hại nặng căn cứ dịch ở Rọ Ghe, huyện An Biên (Rạch Giá).


Ngày 12 tháng 9 năm 1971, đợt phản công U Minh của ta kết thúc thắng lợi. Ta diệt 1 căn cứ, 1 đồn, diệt gọn 2 tiểu đoàn, 2 sở chỉ huy nhẹ trung đoàn, 5 đại đội, đánh thiệt hại nặng 4 tiểu đoàn khác, loại khỏi vòng chiến đấu trên 2.000 tên địch. Địch buộc phải rút bỏ 2 chốt cấp tiểu đoàn ở Rạch Mới và kênh Hai Mươi Hai (trên tuyến sông Cái Tàu). Ta làm chủ 7 khu vực theo tuyến sông này, giải phóng cụm đồn và trận địa pháo ở Đá Bạc, giải phóng xã Khánh Hưng B. Sư đoàn 21 địch bị thiệt hại nặng buộc phải bổ sung quân số, củng cố tổ chức, nên địch phải hủy bỏ kế hoạch tô dày, lấp kín U Minh.


Phối hợp với chiến trường U Minh, lực lượng đặc công khu đánh thiệt hại nặng căn cứ Xẻo Rô và chi khu Thứ Ba, đánh chìm 2 tàu. Trung đoàn 1 ở Long Mỹ cơ bản đánh quỵ 11 đại đội bảo an, lần lượt diệt 3 đồn ở Xà Phiên, tạo thế cho du kích vây ép đồn bốt địch. Trung đoàn 3 ở Vĩnh Trà trước đó đã tiến công chi khu Càng Long (23.4.1971), đánh thiệt hại nặng hậu cứ Trung đoàn 14, Sư đoàn 9 địch, loại khỏi vòng chiến đấu trên 300 tên địch. Trung đoàn tiếp tục tiến công địch, tạo được thế mới cho phong trào diệt được một số đồn bốt địch mới chiếm đóng. Ở Sóc Trăng, một bộ phận đặc công và trinh sát diệt chi khu Phú Lộc. Tiểu đoàn U Minh 3 tỉnh Cà Mau tập kích địch ở Rau Dừa, phá hủy 2 pháo, diệt 100 tên; phối hợp với bộ đội địa phương huyện Cái Nước và du kích diệt 5 đồn ở tuyến Bình Hưng...


Cuộc phản công của ta trong mùa mưa năm 1971 thắng lợi. Chiến thắng này có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ, động viên kịp thời tinh thần chiến đấu của quân và dân đồng bằng sông Cửu Long, củng cố thêm niềm tin của nhân dân vào thắng lợi của cách mạng. Có được thắng lợi trong giai đoạn khó khăn này, quân và dân đồng bằng sông Cửu Long luôn ghi nhớ sự chi viện to lớn và kịp thời của Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng về người và của.


Quân và dân đồng bằng sông Cửu Long đã kiên trì bám trụ đánh địch bình định lấn chiếm trong khó khăn gian khổ suốt thời gian chiến trường chung diễn ra Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Từ thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, Đảng bộ, quân và dân đồng bằng sông Cửu Long đã kịp thời nắm thời cơ, đẩy mạnh phản công và tiến công địch, giành nhiều thắng lợi, từng bước khôi phục và phát triển phong trào chiến tranh nhân dân địa phương.


Sau chiến thắng của quân và dân ta trên chiến trường Đường 9 - Nam Lào, qua các cuộc phản công và tiến công địch ở đồng bằng sông Cửu Long, thực lực cách mạng ở cơ sở bắt đầu được hồi phục, phong trào chiến tranh du kích được củng cố và hoạt động có hiệu quả. Bộ đội địa phương huyện, tỉnh và chủ lực khu được bổ sung một bước và đứng vững trên các địa bàn trọng điểm. Phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của quần chúng có bước chuyển biến mới; thế tiến công ba mũi (quân sự, chính trị, binh vận) ở cơ sở được phát triển. Với tinh thần tích cực phản công và tiến công địch bằng nhiều phương thức thích hợp, ta đã phá lỏng, phá rã thế kìm kẹp của địch ở nhiều nơi; mở ra được nhiều "lõm" giải phóng, phát triển được thế làm chủ của nhân dân ở xã, ấp. Ta đã vượt qua được thử thách ác liệt của thời kỳ khó khăn nghiêm trọng (1969 - 1971), tạo ra những điều kiện mới để cùng toàn Miền thực hành cuộc tiến công chiến lược trong năm 1972 giành thắng lợi quyết định, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Quân và dân đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục tiến công địch, phối hợp với chiến trường chung thực hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy, góp phần cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc trong mùa Xuân năm 1975.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #62 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2025, 08:06:04 pm »

CÔNG BINH BẢO ĐẢM CƠ ĐỘNG TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971

Thiếu tướng, TS PHẠM QUANG XUÂN
Tư lệnh Binh chủng Công binh


Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (31.1 - 23.3.1971) là chiến dịch phản công có ý nghĩa chiến lược, tác chiến hiệp đồng binh chủng hợp thành quy mô lớn1 (Lực lượng tham gia chiến dịch có Binh đoàn B70 (tương đương quân đoàn; gồm các sư đoàn bộ binh 304, 308, 320) Trung đoàn 61, Sư đoàn bộ binh 2, Sư đoàn bộ binh 324; các lực lượng tại chỗ của bộ đội Trường Sơn và Mặt trận B5. Riêng bộ đội công binh đã được huy động với một lực lượng lớn, gồm có 2 trung đoàn (219, 7) và các đơn vị công binh B70, Quân khu Trị - Thiên, Trung đoàn công binh 98 thuộc Đoàn 559 và 11 tiểu đoàn công binh, 11 đội thanh niên xung phong thuộc các binh trạm vận tải trên địa bàn chiến dịch, các tiểu đoàn và đại đội công binh của các sư đoàn, trung đoàn bộ binh và binh chủng; riêng công binh có tới 28 tiểu đoàn, không kể 11 đội thanh niên xung phong, trong đó 60% là công binh các binh trạm), được chuẩn bị trước không qua giai đoạn phòng ngự chiến dịch, đã đánh quỵ lực lượng chủ lực tinh nhuệ nhất của quân đội Sài Gòn, khẳng định sự thất bại tất yếu của chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh". Để làm nên thắng lợi có ý nghĩa chiến lược này, bộ đội Công binh đã góp một phần công sức quan trọng.


Trước khi bước vào chiến dịch, bộ đội Công binh đã tập trung chuẩn bị mạng đường cơ động. Theo đó, lực lượng công binh Đoàn B70 và Đoàn 559 đã tập trung nỗ lực cho việc phát triển xây dựng và củng cố cơ bản các trục đường 18, 16, 20 và 12. Ở phía Đông Trường Sơn, Tiểu đoàn công binh 69 của Binh trạm 32 và Đội thanh niên xung phong số 25 tập trung hoàn thành tuyến đương từ Chà Lỳ - Mường Trương - Bản Đông, để phát triển tiến công xuống Đường 9; trong đó, đường 20 được mở rộng và rải đá từng đoạn do công binh Binh trạm 14 tiến hành. Hai tiểu đoàn công binh của Binh trạm 9 và 2 tiểu đoàn công binh của Binh trạm 31, 12 củng cố đường 18 với chiều dài hơn 100km, có những đoạn vòng tránh phải mở mới dài 8 - 13km, đến cuối tháng 10 năm 1970 hoàn thành. Trung đoàn công binh 98 và Tiểu đoàn 2 của Binh trạm 12 tập trung củng cố đường 16 dài hơn 140km, bao gồm đường 16A được kéo dài và nối thông từ Chà Lỳ đến Bản Đông, đường 16C từ Chà Lỳ đến Đường 9 (dài 70km) đến giữa tháng 1 năm 1971 hoàn thành. Tiểu đoàn công binh 93 Binh trạm 27 mở rộng và nâng cấp toàn bộ đường 16B dài 25km và hoàn thành vào cuối tháng 11 năm 1970. Công binh Binh trạm 41 và các trung đoàn công binh 7, 83 củng cố nâng cấp đường 70B, cuối tháng 10 năm 1970. Các bến vượt trên sông Sê Băng Hiêng, từ cửa khẩu Chà Lỳ trở đi cũng được lực lượng công binh 559 cải tạo để sử dụng được từ đầu mùa khô 1970 - 1971. Một số đường ngang và đường nhánh nối các trục đường dọc cũng được cải thiện. Đến giai đoạn chuẩn bị trực tiếp cho chiến dịch (cuối tháng 12 năm 1970 và đầu tháng 1 năm 1971) Trung đoàn công binh 219 đã khẩn trương làm đường từ Cha Ky - A Li A, đường Ta Pường - Xa Líp; Trung đoàn 98 (Đoàn 559) làm đường 16D. Trong khi đó lực lượng công binh Binh trạm 27 và bộ phận của Trung đoàn 98 tiếp tục củng cố nâng cấp đường 16, 16B và đường tránh khu vực Chà Lỳ. Toàn bộ hệ thống đường cơ động, đặc biệt là các trục dọc chiến dịch đã được chuẩn bị tương đối tốt, các đoạn trọng điểm xe chạy được 2 chiều, có đường vòng tránh ở những nơi cần thiết, hệ thống bến vượt tại khu vực chiến dịch có bến chính thức và bến dự bị và chuẩn bị thêm một số đường cơ động cho lực lượng cơ giới của ta. Đặc biệt đã cho sửa chữa nâng cấp nhiều tuyến đường quan trọng (10, 16, 18, 20...) trong quá trình chuẩn bị chiến dịch, bảo đảm cho một lực lượng lớn gồm 5 sư đoàn và nhiều trung đoàn độc lập (trên 200 xe cơ giới các loại, cùng 80.000 tấn lương thực, thực phẩm, đạn, thuốc quân y đen ngày 5 tháng 2) đã được chuyển đến các vị trí tập kết bí mật an toàn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #63 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2025, 08:07:06 pm »

Khi bước vào chiến dịch, bộ đội Công binh đã triển khai lực lượng thực hành bảo đảm trong 3 đợt; trong đó:

- Đợt 1 bảo đảm cho các lực lượng cơ động triển khai đội hình tác chiến đánh địch tiến công từ biên giới Việt - Lào, theo Đường 9 vào Bản Đông, Sê Pôn.

Ngày 8 tháng 2 năm 1971, một lực lượng lớn bộ binh và cơ giới của địch có không quân yểm trợ vượt qua biên giới Viêt - Lào âm mưu đánh chiếm Bản Đông và Sê Pôn. Máy bay trực thăng đổ quân tạo thành hai cánh bảo vệ sườn phía Nam và Bắc. Ở phía Tây, quân phái hữu Lào cũng tiến ra chiếm Mường Pha Lan.


Trên toàn mặt trận bộ đội ta nổ súng đánh địch. Phía Bắc, công binh bảo đảm cho xe tăng, pháo xe kéo chiến đấu. Thấy xe tăng ta xuất kích, địch cho máy bay oanh tạc dữ dội, các chiến sĩ công binh vẫn dũng cảm bảo đảm cho xe tăng tiến lên. Công binh Trung đoàn 64 thuộc Sư đoàn 320 phối hợp với một bộ phận của Trung đoàn công binh 219 bí mật mở đường cho Tiểu đoàn tăng 198 tiếp cận cùng Trung đoàn pháo 45 bất ngờ đột phá sở chỉ huy Lữ đoàn 3 dù địch, diệt 370 tên, bắt sống 137 tên (trong đó có Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 dù - đại tá Nguyễn Văn Thọ), thu 10 khẩu pháo. Hai phân đội công binh của Trung đoàn 219 bảo đảm cho pháo cơ động và bảo đảm cho bộ binh đánh bại Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn 8 dù từ Bản Đông phản kích lên điểm cao 543. Công binh Binh trạm 27 và công binh 2 trung đoàn pháo 368 và 45 bảo đảm đường cho pháo vào trận địa bắn kiềm chế pháo địch ở A Rinh, tạo điều kiện cho Trung đoàn 64 thuộc Sư đoàn 304 và Trung đoàn 88 thuộc Sư đoàn 320 tiến công địch ở Làng Sen, các điểm cao 655, 436, riêng Trung đoàn 102 của Sư đoàn 308 tiến công điểm cao 500, diệt gọn Tiểu đoàn 39 biệt động Sài Gòn.


Ở khu vực Nam Đường 9, công binh các sư đoàn bộ binh cùng công binh các binh trạm chốt giữ các điểm cao 400B 595, 723, 199... sử dụng mìn định hướng, mìn chống tăng, bộc phá, B40, B41 chặn đánh địch quyết liệt nên đã hạn chế các hành động lùng sục, phá hoại kho tàng của địch. Hàng trăm xe thiết giáp, xe vận tải và máy bay trực thăng của cánh quân phía Nam Đường 9 của địch bị phá hủy.


Ở phía Đông, Đại đội công binh 8 trong đội hình của Trung đoàn hải quân 126 rải thủy lôi trên các đoạn sông Xuân Khánh, Vinh Quang ở Cửa Việt, Đông Hà. Trong các ngày 5, 6 và 7 tháng 2 năm 1971, thủy lôi ta đánh chìm 9 tàu địch cùng hàng ngàn tấn vũ khí, quân dụng, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch. Sông Cửa Việt tắc nghẽn gần một tuần. Các lực lượng vũ trang Quân khu Trị - Thiên tổ chức nhiều trận phục kích, tập kích trên đường giao thông, các căn cứ Đông Hà, Ái Tử... gây cho địch nhiều tổn thất.


Ở phía Tây, công binh thuộc các Trung đoàn 141 thuộc Sư đoàn 2 và Trung đoàn 48 của Sư đoàn 320 bảo đảm đường cho bộ binh, pháo binh tiến đánh địch ở Mường Pha Lan, Phu Đô Tuya, buộc chúng phải rút về Đồng Hến.


- Đợt 2, bảo đảm cho các lực lượng cơ động triển khai đội hình tác chiến đánh địch co cụm ở khu vực Bản Đông, Tà Cơn và địch đổ bộ đường không xuống Đông Bắc Sê Pôn.

Bị chủ lực ta đánh mạnh và bị thiệt hại nặng, quân địch buộc phải co cụm ở một số khu vực như Bản Đông, Tà Cơn; đồng thời dùng máy bay lên thẳng đổ hai tiểu đoàn xuống Đông Bắc Sê Pôn. Trước sức ép của ta, hai tiểu đoàn này vừa đến gần Sê Pôn đã phải vội vã rút lui. Bộ chỉ huy chiến dịch chủ trương chặn không cho địch lên Sê Pôn và điều động lực lượng lớn đến bao vây, chia cắt địch, chuẩn bị đánh trận then chốt chiến dịch. Nhiệm vụ mở thêm đường và bảo đảm cơ động rất khẩn trương nhằm đưa các Binh đoàn chủ lực có xe tăng, pháo xe kéo thực hành phản đột kích địch ở khu vực Bản Đông.


Máy bay địch đánh phá quyết liệt các con đường dẫn đến Bản Đông, nhất là khu vực Binh trạm 27. Đường 16A bị tắc hai ngày 4 và 5 tháng 3. Trước tình hình đó, Bộ tăng cường cho mặt trận Trung đoàn công binh 7, một đơn vị có nhiều kinh nghiệm mở đường và bảo đảm giao thông, đã quen thuộc khu vực Đường 9. Trung đoàn 7 hành quân gấp bằng cơ giới và đi bộ vượt qua quãng đường 300km (từ cửa khẩu Ta Lê - đường 20), kịp cho Tiểu đoàn 3 của trung đoàn hỗ trợ Binh trạm 27 bảo đảm giao thông 16A,mở đường vòng tránh, khai thông đường; Tiểu đoàn 2 khôi phục đường A Li A đi A Đu Ấp và làm 18 trận địa pháo. Tiểu đoàn 1 vào thay thế Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 219 khôi phục tuyến đường ngang Tà Loi - Cha Ky và Làng Sen - A Li A. Trong hai ngày tiểu đoàn hoàn chỉnh 33km đường để pháo binh triển khai, bắn vào Tà Cơn.


Được Trung đoàn 7 vào tăng cường, hai trung đoàn công binh 98 và 219 chuyển lên phía trước cùng Trung đoàn công binh 10 khôi phục các đường 16, 16A, 29A... tiến đến Bản Đông. Đây là những con đường cũ từ lâu không sử dụng, đã bị hư hỏng nặng. Với nỗ lực chung của các đơn vị các tuyến đường phía trước, phía sau liên tục thông suốt. Nhưng đang giữa mùa khô mà trời đổ mưa to, nước lũ tràn về. Ngầm qua sông Sê Băng Hiêng bị ngập sâu 1,8m, nước chảy xiết, Bộ đã điều gấp 4 xe lội nước K61 của Quân khu 4 vào ứng cứu, bảo đảm vượt sông Sê Băng Hiêng.


Ngày 16 tháng 3, quân ta đánh Bản Đông và bước vào đánh phản đột kích trên toàn tuyến. Công binh Sư đoàn 2 cùng công binh Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 bảo đảm đường, phá gỡ mìn trên đường cho bộ đội các đơn vị này tiến công lực lượng Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn ở điểm cao 723. Công binh Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 bảo đảm cho trung đoàn vận động đánh cắt Đường 9 từ Hướng Hoá đến Bản Đông. Đêm 17 tháng 3, Đại đội 8 Trung đoàn công binh 219 mở đường qua bãi mìn trên đường 16 bảo đảm cho xe tăng cùng bộ binh Sư đoàn 304 đánh địch ở đôi Mâm Xôi. Mặc dù bị bom B-52 đánh trúng đội hình, một số cán bộ, chiến sĩ hy sinh và bị thương, Đại đội 8 đã vượt qua khó khăn, bảo đảm cho xe tăng và bộ binh tiến vào đúng lúc quân địch rút chạy. Công binh Trung đoàn 88 Sư đoàn 308 mở đường, dọn mìn cho xe tăng đánh địch ở đồi Không Tên. Ngày 20 tháng 3, quân ta hoàn toàn làm chủ Bản Đông, diệt nhiều địch. Đại đội 8 Trung đoàn công binh 219 nhanh chóng hộ tống xe tăng phát triển theo Đường 9 đuổi đánh địch về Huổi San. Vượt qua các bãi mìn, hố bom, xác xe pháo và cầu Ka Ki bị địch phá sập, công binh đã phá gỡ mìn trên đường do địch bố trí, làm ngầm bảo đảm cho xe tăng ta đuổi kịp. Bị đánh mạnh, chiều ngày 22 tháng 3, quân địch tháo chạy vứt bỏ lại toàn bộ xe, pháo.


Ở cánh nam, phân đội công binh Sư đoàn 324 chuẩn bị đường, mở cửa mở và hộ tống Tiểu đoàn xe tăng 397 đánh Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến địch ở điểm cao 550 (đêm 22 tháng 3), 2 giờ sáng ngày 23 tháng 3, sư đoàn làm chủ trận địa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #64 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2025, 08:08:10 pm »

- Đợt 3, bảo đảm cho các lực lượng chuyển sang tiến công vào toàn bộ đội hình địch và đánh địch rút chạy trên toàn tuyến.

Sau khi địch bị kìm lại ở Bản Đông, co cụm lại ở một số điểm, ta một mặt giữ chặt Sê Pôn, một mặt dùng lực lượng vừa chốt chặn vừa cơ động đánh địch giải tỏa, triển khai lực lượng tiến công địch trên toàn tuyến. Mặt khác các đơn vị tại chỗ tập kích căn cứ địch ở Sa Mưu, Ái Tử... Trước sức tiến công của ta, địch tháo chạy khỏi Bản Đông (20-3), điểm cao 660. Hai ngày sau (22-3) Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến bị đánh thiệt hại nặng ở điểm cao 550. Địch bỏ chạy. Trong đợt này đổ bảo đảm triển khai, cơ động lực lượng lớn trên địa bàn chiến dịch, Bộ đã điều động Trung đoàn 7 đang hoạt động ở khu vực Ta Lê (đường 20) và Tiểu đoàn 3 Trung đoàn công binh 219 vào tăng cường cho các binh trạm 16, 17 thi công trục đường 10 và 16A tới sông Sê Băng Hiêng. Hai tiểu đoàn còn lại được sử dụng làm các trục đường ngang để triển khai cụm pháo binh chiến dịch, pháo cao xạ và xe tăng.


Tiểu đoàn 3 Trung đoàn công binh 219 làm nhiệm vụ khôi phục gấp tuyến đường Ta Loi - Làng Sen và Cha Ki - A Li A, để cơ động pháo vào đánh Tà Cơn. Ngày 9 tháng 3 các đoạn đường này được khôi phục xong với tổng chiều dài trên 40km. Sau đó Trung đoàn công binh 7 làm nhiệm vụ bảo đảm cơ động tuyến đường này. Nhờ đó, các cụm pháo binh của các trung đoàn 368 và 45 đã chi viện đắc lực cho các sư đoàn 324, 304 và 308 đánh và tiêu diệt địch ở khu vực Bản Đông, điểm cao 550 ở Tà Púc, Lao Bảo và đánh sâu vào sân bay Tà Cơn. Sau khi bàn giao tuyến Ta Loi - Làng Sen và Cha Ky - A Li A cho các trung đoàn công binh 7, 98 và 219 chuyển lên phía trước cùng Trung đoàn công binh 10 khôi phục và bảo đảm cơ động đường 16, 16A, 29A... tiến đến Bản Đông. Đây là con đường cũ từ lâu không sử dụng đã bị hỏng nặng, bộ đội công binh thi công liên tục cả ngày và đêm dưới bom đạn ác liệt của địch, ngày 16 tháng 3 đã hoàn thành bảo đảm đường cơ động cho các lực lượng của ta tiến đánh Bản Đông.


Từ ngày 15 tháng 3 Trung đoàn công binh 7 vừa bảo đảm cơ động các tuyến được giao vừa làm tiếp các tuyến đường nhánh như đi A Đu Ấp và đường Cha Ky - Cô Hôn. Từ ngày 20 tháng 3 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 7 chuyển sang bảo đảm cơ động đoạn Đường 9 (Bản Đông - Lao Bảo), trong đó có 1 đại đội đi hộ tống xe tăng.


Trong giai đoạn này công binh Binh trạm 27 được sử dụng tập trung vào làm đường ngang, đường nhánh và bảo đảm cơ động. Song song với công tác bảo đảm cơ động cho bộ đội và binh khí kỹ thuật phản công đánh địch trên toàn mặt trận, công binh các cấp trong chiến dịch còn làm sở chỉ huy các cấp, làm trận địa pháo binh, tên lửa và các công trình khác. Đặc biệt sở chỉ huy và trận địa pháo thường xuyên phải di chuyển theo yêu cầu chiến dịch, nên khối lượng xây dựng sở chỉ huy chiến dịch khá lớn.


Từ ngày 16 tháng 3 lực lượng công binh làm nhiệm vụ bảo đảm cho Sư đoàn 2 cùng Trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn 320, Sư đoàn 324 và Trung đoàn 2 thuộc Sư đoàn 304 đánh địch tại các điểm cao 723, 550 và đánh địch từ Hướng Hóa đến Bản Đông. Đại đội công binh 8 Trung đoàn 219 và Đại đội công binh 4 Trung đoàn 7 làm nhiệm vụ hộ tống cho các mũi xe tăng, tăng cường cho Sư đoàn 308 đánh Bản Đông. Công binh đã phá gỡ hàng trăm mìn các loại, mở 4km đường vòng tránh, bảo đảm cho xe tăng cơ động, truy kích địch trên Đường 9 về Huội San. Đại đội công binh Sư đoàn 324 mở cửa, hộ tống Tiểu đoàn 397 xe tăng cùng bộ binh tiến công địch ở điểm cao 550. Công binh Trung đoàn 88 Sư đoàn 308 mở đường cho xe tăng đánh điểm cao Không Tên ở Bản Đông và dùng mìn diệt xe cơ giới địch.


Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Đây là chiến dịch công binh tham gia với lực lượng đông, trên một địa bàn rất rộng (4.800km2). Công binh đã bảo đảm cho bộ binh và binh khí kỹ thuật từ hậu phương cơ động đến địa bàn chiến dịch, bảo đảm cho binh khí kỹ thuật triển khai và di chuyển đội hình trong những tình huống hết sức khẩn trương, dưới hỏa lực, phi pháo ác liệt của địch. Trong chiến dịch công binh đã mở mới trên 90km đường, khôi phục 116km đường cũ, mở trên 300km đường cho bộ binh và xe tăng, bảo đảm giao thông trên nhiều tuyến đường với tổng chiều dài trên 700km. Cấu trúc hàng nghìn hầm chữ A cho các sở chỉ huy, đội điều trị, xây dựng hàng chục trận địa pháo, phá gỡ trên 1.000 quả bom mìn; trực tiếp đánh 72 trận phục kích, tập kích, chốt chặn... loại khỏi chiến đấu hơn 1.700 tên địch, phá hủy gần 300 xe các loại, trong đó có 63 xe bọc thép, phá hủy 3 khẩu pháo 175mm của địch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #65 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2025, 08:10:26 pm »

Nhìn lại kết quả bảo đảm cơ động và vượt sông trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, chúng ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm. Cụ thể:

Một là, công tác chuẩn bị đường cơ động và bến vượt sông phải đi trước một bước và phải giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ.

Đặc điểm của nhiệm vụ bảo đảm đường cơ động và bảo đảm vượt sông trong chiến dịch hiệp đồng binh chủng quy mô lớn là bảo đảm trong một phạm vi rộng, khối lượng lớn, tiêu tốn nguyên vật liệu nhiều và thời gian làm công tác chuẩn bị trực tiếp ngày càng rút ngắn. Do đó, công tác chuẩn bị đường, bến vượt phải đi trước một bước. Để giảm khối lượng, thời gian khai thác vận chuyển nguyên vật liệu thi công, tăng tính bất ngờ và độ vững chắc cho công trình, bảo đảm bí mật ý định tác chiến, phải triệt để tận dụng địa hình, địa vật, nguyên vật liệu tại chỗ, tận dụng, cải tạo đường, bến vượt cũ trong khu vực tác chiến chiến dịch, đồng thời kết hợp ngụy trang, nghi binh khôn khéo.


Để bảo đảm bí mật, an toàn cho các tuyến đường, công binh đã thực hiện một số biện pháp cần thiết như: chọn tuyến đường đi qua các rừng cây xanh che khuất; ở những nơi trống trải, dùng ống bương, thùng lương khô, hoặc đan sọt, đựng đất trồng cây leo hai bên để che khuất thành đường. Biện pháp ngụy trang này được tiến hành đồng thời với việc mở đường, mở tới đâu ngụy trang tới đó và hạn chế thi công bằng thuốc nổ; càng vào gần địch thì càng phải hạn chế hoặc không dùng thuốc nổ. Mặt khác, ở những nơi địch bố trí mìn chống bộ binh, lực lượng công binh phải nhanh chóng khắc phục kịp thời, bảo đảm cho chiến dịch giành thắng lợi.


Hai là, phải nắm chắc ý định và các tình huống chiến dịch, tổ chức bảo đảm đường và bảo đảm vượt sông toàn diện, tập trung lực lượng, phương tiện vào khu vực, nhiệm vụ chủ yếu và luôn có lực lượng dự bị mạnh, đồng bộ.

Trong tác chiến chiến dịch, các tình huống thường xảy ra liên tục, khẩn trương, nhiều tình huống có thể nằm ngoài dự kiến; vì vậy, cơ quan và người chỉ huy đơn vị phải nắm chắc ý định và các phương án tác chiến để có phương án bảo đảm đường, bảo đảm vượt sông hợp lý.


Nhiêm vụ bảo đảm đường và bảo đảm vượt sông trong tác chiến chiến địch, thường phải triển khai cùng một lúc trên các hướng, nhiều khu vực, nhiều đối tượng và lực lượng tham gia. Do đó, phải có kế hoạch tổ chức, chỉ huy, chỉ đạo lực lượng công binh các cấp thực hiện đầy đủ và hiệu quả các nhiệm vụ bảo đảm đường và bảo đảm vượt sông theo quyết tâm của người chỉ huy (đầu chiến dịch Trung đoàn công binh 7 đang làm nhiệm vụ ở đường 20; Trung đoàn 7 tăng cường cho Bộ Tư lệnh chiến dịch để bảo đảm đường 10 và 16A và sau đó chuyển sang bảo đảm một số tuyến đường khác, chuẩn bị cho bộ đội ta phản công trên toàn tuyến); đồng thời, phải biết vận dụng linh hoạt kết quả bảo đảm đường của giai đoạn (tình huống) trước, cho giai đoạn (tình huống) tiếp theo một cách hợp lý, nhằm giảm bớt khối lượng phải thi công, nhất là trong điều kiện khó khăn, ác liệt do địch đánh phá.


Mặt khác, để mở cửa mở cho xe tăng, công binh đã chủ động hiệp đồng và được pháo binh chi viện, dùng biện pháp bộc phá liên tục để mở cửa mở qua các bãi mìn và hàng rào của địch. Tuy nhiên, do hoả lực của địch quá mạnh, lực lượng công binh bị thương vong lớn. Nhưng, với tinh thần chiến đấu kiên cường, dũng cảm, các chiến sĩ công binh đã nhanh chóng củng cố đội hình, tiếp tục xông lên để mở cửa. Khi phát hiện thấy lực lượng công binh mở cửa mở khó khăn, Tư lệnh chiến dịch đã kịp thời lệnh cho pháo binh tăng cường bắn áp chế dồn dập, tạo điều kiện cho công binh mở cửa mở cho xe tăng đột phá thành công vào đội hình co cụm của địch. Đây là một nội dung hoàn toàn mới của nghệ thuật bảo đảm công binh chiến dịch phản công; trong đó công binh đã giải quyết tốt cả về chiến thuật (tổ chức đội hình bộc phá liên tục theo kinh nghiệm trong kháng chiến chống Pháp) cũng như về chiến dịch (hiệp đồng binh chủng có hiệu quả việc sử dụng pháo binh bắn chi viện cho công binh và bộ binh mở cửa mở).


Trong tác chiến chiến dịch, tình huống diễn ra hết sức mau lẹ, khẩn trương, ác liệt, dài ngày... cần phải có biện pháp duy trì khả năng của lực lượng bảo đảm đường và bảo đảm vượt sông các cấp. Phải luôn có lực lượng dự bị mạnh và khi đã sử dụng lực lượng dự bị, phải nhanh chóng tổ chức lực lượng dự bị mới, để kịp thời xử trí các tình huống tiếp theo.


Ba là, bảo đảm đường cơ động và bảo đảm vượt sông, trước hết phải triệt đế tận dụng đường và bến vượt sông có sẵn; kết hợp sửa chữa, cải tạo đường và bến vượt cũ, chỉ làm đường mới ở những nơi cần thiết; đồng thời phải vận dụng nhiều hình thức chiến thuật hợp lý, linh hoạt và hành động nhanh.


Triệt để tận dụng mạng đường và bến vượt có sẵn, bao gồm các đường, bến cũ, hẹp không bảo đảm cho binh khí kỹ thuật cơ động, cần tổ chức mở rộng, hạ bớt độ dốc; những nơi địa hình bằng phẳng, chỉ cần phát quang, đánh dấu để giảm bớt khối lượng đào, đắp; nơi địa hình vừa đào vừa đắp, cần chú ý gia cố vững chắc bên nền đường đắp, khi sử dụng một thời gian dài, đất đá phần đường đắp dễ bị lún sụt, đặc biệt vào mùa mưa rất dễ bị sạt lở, khối lượng khắc phục lớn sẽ làm ảnh hưởng đến cơ động lực lượng. Việc sửa chữa, cải tạo đường và bến cũ phải có kế hoạch ém lót sẵn lực lượng, phương tiện, vật liệu, nhất là các trọng điểm giao thông; tại đó, tổ chức các tổ, đội chốt đế sẵn sàng khắc phục do địch đánh phá, hoặc do xe cơ giới cơ động nhiều, do thiên tai gây ra. Trong đó, tập trung lực lượng, phương tiện bảo đảm ở những khu vực có đường hẹp, độc đạo, nơi núi cao, vực sâu, nơi có nền đất yếu, lầy lún, nơi có các đầu mối giao thông quan trọng. Chỉ tiến hành làm đường, thiết bị bến vượt mới khi thật sự cần thiết, theo yêu cầu nhiệm vụ tác chiến. Thông thường, khi có thay đổi hướng, khu vực tác chiến, hoặc khi bị địch đánh phá hư hỏng nặng, bị rải chất độc lâu tan, không đủ khả năng khắc phục. Việc mở đường, bến vượt mới phải chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện, để vừa có lực lượng mở đường, làm bến mới; vừa có lực lượng sẵn sàng đánh địch trên không, địch mặt đất để bảo đảm cho việc mở đường, làm bến hoàn thành đúng kế hoạch trong mọi điều kiện địa hình, thời tiết và tình huống khó khăn phức tạp. Trong mọi trường hợp, phải có nhiều đường và bến dự bị để sẵn sàng thay thế khi bị địch đánh phá, hoặc do thay đổi hướng tiến công; đường, bến dự bị phải được thiết bị đầy đủ các công trình như chính thức và phù hợp với ý định tác chiến của người chỉ huy.


Bốn là, sử dụng rộng rãi lực lượng công binh các cấp, lực lượng binh chủng hợp thành và các lực lượng khác, nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp cho nhiệm vụ bảo đảm đường và bảo đảm vượt sông tác chiến chiến dịch.

Tổ chức lực lượng của công binh hầu như chưa có giai đoạn nào được hoàn thiện để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ. Mặt khác, không phải trận đánh (chiến dịch) nào, chúng ta cũng có thể tập trung lớn một lực lượng công binh, vì phải giữ yếu tố bí mật bất ngờ; do đó ta đã kết hợp khéo léo việc sử dụng lực lượng công binh chiến dịch; trong đó, lực lượng công binh của Bộ gồm các đơn vị công trình, vượt sông, được sử dụng vào bảo đảm một số trục đường cơ động quan trọng, khu vực địch đánh phá ác liệt thay thế lực lượng thanh niên xung phong; ngoài ra, phải có lực lượng tăng cường cho cấp dưới để bảo đảm cơ động, hộ tống cho xe tăng trong quá trình chiến dịch. Lực lượng công binh tại chỗ gồm các đơn vị công binh của B5, B70, các binh trạm 16, 27, 32, 35, 41 của Đoàn 559, được sử dụng để bảo đảm đường, bến vượt trên khu vực mình trong quá trình chuẩn bị chiến dịch. Lực lượng này vừa thực hiện nhiệm vụ bảo đảm cho cấp mình, vừa thực hiện nhiệm vụ đánh phá giao thông địch. Lực lượng thanh niên xung phong hoặc dân công tập trung thực hiện nhiệm vụ bảo đảm giao thông, khôi phục và giữ đường ở tuyến sau.


Việc huy động lực lượng công binh các cấp (chiến dịch, chiến thuật, địa phương...) cùng bộ đội các binh chủng thực hiện các nhiệm vụ bảo đảm công trình trong suốt quá trình chuẩn bị và thực hành chiến dịch, đặc biệt trong chuẩn bị mạng đường cơ động và bến vượt đã tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội ta tiến hành chiến dịch bí mật, kịp thời, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của chiến dịch.


Năm là, tiếp tục nghiên cứu phát triển về công tác tổ chức chỉ huy, chỉ đạo các lực lượng thực hiện nhiệm vụ bảo đảm đường cơ động, bảo đảm vượt sông trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Tổ chức chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng bảo đảm công binh tác chiến nói chung và bảo đảm đường, bảo đảm vượt sông nói riêng là một nhân tố rất quan trọng. Vì vậy, ngay từ thời bình, cần phải nghiên cứu và có dự kiến, chuẩn bị trước một bước về mô hình tổ chức, cơ chế, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy điều hành nhiệm vụ bảo đảm đương, bảo đảm vượt sông; đồng thời phải có kế hoạch huấn luyện, diễn tập theo phương án, để không ngừng nâng cao khả năng hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống.


Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc có thể vận dụng nhiều loại hình tác chiến, nhiều lực lượng tham gia, trên không gian rộng và nhiều chiến trường, hướng chiến lược khác nhau; phụ thuộc rất nhiều vào thời cơ chiến lược, chiến dịch khác nhau và tổ chức bảo đảm đường cơ động, vượt sông cũng có những thuận lợi, khó khăn khác nhau; do đó, càng phải tập trung nghiên cứu phát triền về công tác tổ chức chỉ huy, chỉ đạo các lực lượng thực hiện nhiệm vụ.


Thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, đã để lại những bài học đặc sắc về bảo đảm công binh cho các đơn vị tham gia chiến đấu hiệp đồng binh chủng. Các bài học này vẫn nguyên giá trị kể cả cho hôm nay và mai sau. Trước tình hình nhiệm vụ và yêu cầu mới, người chỉ huy, cơ quan và đơn vị công binh các cấp cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển những bài học kinh nghiệm về nghệ thuật bảo đảm công binh nói chung và nghệ thuật bảo đảm cơ động nói riêng, cũng như phát triển lý luận nhận thức và hành động thiết thực, để góp phần cùng cả nước xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #66 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2025, 08:36:29 pm »

VAI TRÒ CỦA BỘ ĐỘI ĐẶC CÔNG
TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971

Thiếu tướng TRẦN XUÂN HÒE
Tư lệnh Binh chủng Đặc công


Mùa Xuân 1971, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt, nhạy bén của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương và Quân ủy Trung ương, lực lượng vũ trang ta đã thực hiện thắng lợi chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch ra Đường 9 - Nam Lào, bảo vệ vững chắc hệ thống kho tàng và tuyến hành lang vận chuyển chiến lược Bắc - Nam của ta. Đây là lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ta tiến hành thành công một chiến dịch phản công bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, đọ sức với cuộc hành quân quy mô lớn nhất của quân đội Sài Gòn có sự yểm trợ, chi viện của quân đội Mỹ và sự phối hợp của quân đội chính phủ phái hữu Lào. Thắng lợi của chiến dịch có ý nghĩa to lớn, tác độngđến cục diện chiến trường ba nước Đông Dương, đánh dấu một bước thất bại quan trọng chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ, khẳng định bước phát triển, trưởng thành vượt bậc của các lực lượng vũ trang ta, nhất là lực lượng chủ lực đã vươn tới trình độcao về nghệ thuật tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng quy mô lớn.


Đối với Bộ đội Đặc công, đây là lần đầu tiên ta sử dụng lực lượng quy mô đoàn, trung đoàn và nhiều tiểu đoàn tham gia chiến dịch phản công, có cán bộ lãnh đạo, chỉ huy của Bộ Tư lệnh Binh chủng trong cơ quan tham mưu chiến dịch. Với vai trò là lực lượng tác chiến đặc biệt tinh nhuệ của chiến dịch, Bộ đội Đặc công đã tham gia tác chiến liên tục trong suốt quá trình chiến dịch, đánh địch ở cả phía trước, phía sau và trong đội hình của chúng, gây nhiều thiệt hại cho địch về cả sinh lực và phương tiện chiến tranh, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của chiến dịch.


Trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719", địch huy động phần lớn lực lượng tổng trù bị chiến lược cùng lực lượng cơ động của Vùng chiến thuật 1; với sự chi viện trực tiếp của hoả lực không quân, pháo binh Mỹ, một bộ phận quân chiến đấu Mỹ yểm trợ phía sau. Ngoài ra, địch còn huy động quân đội phái hữu Lào tham gia tác chiến phối hợp. Nhìn chung, địch có những điểm mạnh là lực lượng tham gia cuộc hành quân đông, gồm những đơn vị tinh nhuệ nhất của cả quân đội Sài Gòn và quân Mỹ, được trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại. Hoả lực của không quân, pháo binh rất mạnh, sức đột kích của xe tăng- thiết giáp lớn. Khả năng cơ động nhanh, chủ yếu bằng máy bay trực thăng, máy bay vận tải và xe cơ giới, nên việc vận chuyển, chi viện, tiếp tế được kịp thời. Các căn cứ, bàn đạp xuất phát tiến công dựa được vào hệ thống trận địa của một chiến trường có chuẩn bị trước tương đối chu đáo, thuận tiện cho cơ động, triển khai lực lượng tiến công... Kiên quyết đánh tan các cuộc hành quân của quân độiSài Gòn, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương quyết định mở Chiến dịch phản công ở Đường 9 - Nam Lào. Ngày 4 tháng 2 năm 1971, Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (gọi tắt là Bộ Tư lệnh 702), do các đồng chí Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam làm Tư lệnh và Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam làm Chính ủy, được thành lập. Lực lượng chiến dịch gồm 5 sư đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp, 4 trung đoàn pháo binh, 4 trung đoàn phòng không, 3 trung đoàn công binh cùng lực lượng tại chỗ của Đoàn 559 và các mặt trận B4, B5. Lực lượng đặc công tham gia chiến dịch có 3 tiểu đoàn đặc công cơ động của Bộ (25, 31, 35), Đoàn Đặc công nước 126 Quân chủng Hải quân, Tiểu đoàn đặc công 33 Quân khu Trị - Thiên, 5 tiểu đoàn và 10 đại đội của các sư đoàn bộ binh (Tiểu đoàn đặc công 19 thuộc Sư đoàn 308, Tiểu đoàn đặc công 19 thuộc Sư đoàn 304, Tiểu đoàn đặc công 19 của Sư đoàn 320, Tiểu đoàn đặc công 10 của Sư đoàn 2 và Tiểu đoàn đặc công 3 của Sư đoàn 324).


Về phương châm chỉ đạo tác chiến, Bộ Tư lệnh chiến dịch xác định: Chủ động tạo và nắm thời cơ đánh địch đang vận động, tích cực đánh địch dừng lại, co cụm chưa kịp củng cố; lấy tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng cấp tiểu đoàn, trung đoàn là chủ yếu, kết hợp với đánh nhỏ của các lực lượng binh chủng tinh nhuệ để tiêu diệt địch; sử dụng các phân đội nhỏ đặc công luồn sâu, tiến công tiêu diệt các mục tiêu hiểm yếu nhưng quan trọng sâu trong hậu phương và trong đội hình quân địch, phối hợp với chiến dịch. Bộ Tư lệnh chiến dịch cũng xác định khu vực tập trung tiêu diệt địch chủ yếu từ Bản Đông đến Lao Bảo,khu vực ngăn chặn địch từ Bắc Bản Đông đến Cha Ky, khu vực đánh phá hậu phương địch ỏ Đông Lao Bảo, Sa Mưu, Đông Hà, Cửa Việt.


Chiến dịch diễn ra trên một địa bàn trải dài khoảng 90km theo trục Đường 9, từ Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (Việt Nam) đến Sê Pôn, tỉnh Xa Van Na Khẹt (Lào) và rộng khoảng 60km, từ cao điểm 1.250, Mường Tương đến Mường Noòng. Đây là vùng đất vừa có rừng núi vừa đồng bằng ven biển; trong đó, rừng chiếm phần lớn diện tích, càng về phía tây đồi núi càng nhiều và cao, tương đối thuận lợi cho tác chiến phòng ngự, bất lợi cho tiến công. Khu vực phía đông từ Lao Bảo đến Quảng Trị, địa thế thấp dần từ tây sang đông, có dải đồng bằng hẹp chạy dọc bờ biển Quảng Trị, địa hình ở đây thuận lợi cho hoạt động tác chiến của bộ đội Đặc công, bộ đội địa phương và dân quân du kích đánh phá hậu phương dịch, phối hợp với chiến dịch.


Chiến dịch chia làm 3 đợt. Hoạt động của Đặc công trong các đợt tác chiến như sau:

Trong đợt 1 (31.1 - 7.2.1971), cả địch và ta đều cơ động triển khai lực lượng. Địch cơ động triển khai lực lượng chiếm lĩnh bàn đạp xuất phát tiến công. Ta triển khai thế trận chuẩn bị đánh địch.

Để chủ động đánh địch ngay khi chúng cơ động lực lượng, ngày 1 tháng 2, Đoàn Đặc công nước 126 chính thức ra quân, chỉ trong ngày 2 tháng 2, đã hoàn thành nhiệm vụ thả thủy lôi. Ngày 3 tháng 2, một đoàn tàu vận tải quân sự của địch từ Cửa Việt lên Đông Hà đụng thủy lôi, một chiếc nổ tung. Tiếp đó, từ ngày 5 đến ngày 8 tháng 2, ngày nào cũng có tàu địch bị đánh chìm trên đoạn sông Cửa Việt - Đông Hà.


Đợt 2 (8.2 - 11.3.1971), địch vượt biên giới Việt - Lào, đánh chiếm Bản Đông, đồng thời hình thành hai cánh quân bảo vệ sườn Bắc và sườn Nam cho cánh quân chủ yếu tiến theo Đường 9, nhằm phát triển lên Sê Pôn đánh phá tuyến hành lang chiến lược của ta. Ta ngăn chặn địch từng bước, tập trung bẻ gãy cánh quân sườn Bắc, kiềm chế cánh quân sườn Nam, chặn đứng cánh quân chủ yếu của địch trên Đường 9 tại Bản Đông, buộc chúng phải chuyển vào phòng ngự, ta chuyển sang thế bao vây chiến dịch, chia cắt địch ra từng khu vực để tiêu diệt.


Trước sự ngăn chặn, đánh trả ngày càng mạnh mẽ của các lực lượng ta ở phía trước, địch phải dốc hầu hết lực lượng chủ lực của Vùng chiến thuật 1 cơ động lên Nam Lào tiếp sức cho đồng bọn. Đồng thời, để đáp ứng nhu cầu về hậu cần và phương tiện chiến đấu cho lực lượng phía trước, mỗi ngày có từ 8 đến 10 tàu vận tải quân sự của địch ra vào Cửa Việt và lên Đông Hà, các kho tàng ở phía sau đội hình hành quân của chúng đầy ắp bom đạn, xăng dầu... xe vận tải quân sự ra vào tấp nập đưa hàng hoá vào kho và chuyển ra phía trước. Lúc này, đặc công tiếp tục hoạt động tác chiến sau lưng địch là chủ yếu. Đoàn Đặc công nước 126 bám đánh địch ở Cửa Việt, đánh cả trên cảng, trên sông và trên bộ. Ngày 16 tháng 2, các tổ bom phóng của Đoàn phối hợp với lực lượng hoả lực pháo, cối của Mặt trận B5 dội cấp tập hàng loạt bom, đạn vào các căn cứ Dốc Miếu, Cồn Tiên, Quán Ngang... vô hiệu hoá hoạt động của địch tại các căn cứ này. Lợi dụng lúc quân địch chui vào công sự tránh bom, pháo, Đoàn 126 cho các Đội 3 và 4 xuất kích. Vào lúc 4 giờ ngày 17 tháng 2, các đội thả xong thủy lôi ở các vị trí quy định. Trưa hôm đó, 2 tàu địch chạy trên sông Cửa Việt - Đông Hà đến khu vực Mai Xá vấp thủy lôi bị chìm cả hai. Tiếp theo, từ chiều 17 đến ngày 20 tháng 2, Đoàn 126 thả thêm 16 quả thủy lôi, đánh chìm 7 tàu vận tải quân sự cùng hàng trăm tấn vật chất, vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch, gây tắc nghẽn giao thông đường thủy Cửa Việt - Đông Hà trong nhiều ngày.


Tiểu đoàn đặc công 33 Quân khu Trị - Thiên tham gia chiến dịch với nhiệm vụ tập kích các căn cứ, hậu cứ địch. Ngày 18 tháng 2, đơn vị tập kích trận đầu tiên vào kho Sa Mưu, mười ngày sau lại tập kích kho Sa Mưu lần hai (28-2), tiếp đó bám đánh hậu cứ địch liên tục. Tính từ khi được giao nhiệm vụ (12-2) cho đến kết thúc chiến dịch (23-3), Tiểu đoàn 33 đã đánh 7 trận vào kho Sa Mưu, 1 trận vào kho Ái Tử, đốt cháy hàng triệu lít xăng dầu, phá hủy hàng chục nghìn tấn đạn pháo, góp phần hạn chế đáng kể khả năng cơ động và hoả lực của địch.


Trên khu vực sườn Bắc, từ Tây Bắc Bản Đông đến Cha Ky, trong lúc các sư đoàn chủ lực 308, 320, 304 cùng các lực lượng tại chỗ ngăn chặn địch quyết liệt, diệt nhiều sinh lực, phá huy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng ngày 11 tháng 2, đại đội đặc công thuộc Trung đoàn bộ binh 88 Sư đoàn 308 trên đường hành quân gặp địch đã nhanh chóng triển khai tiến công diệt gần hết một đại đội biệt động quân đóng dã ngoại, phối hợp có hiệu quả với Trung đoàn 88 đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn biệt động quân 21 ở điểm cao 316.


Vào những ngày cuối đợt 2 chiến dịch (8 - 11.3), quân địch đã hoàn toàn mất sức chiến đấu: Cánh quân sườn Bắc bị bẻ gãy, cánh quân sườn Nam bị thiệt hại nặng, ý định phát triển lên Sê Pôn không thực hiện được, cánh quân chủ yếu cụm lại ở Bản Đông bị bao vây, uy hiếp ngày càng mạnh. Nhằm phối hợp tích cực và có hiệu quả hơn nữa với hướng chính của chiến dịch, Đoàn Đặc công nước 126 tiếp tục đánh phá mạnh hậu phương địch, đánh cả trên sông, trong cảng và cửa biển.


Ngay chiều tối 8 tháng 3, các đội của Đoàn 126 đã lần lượt lên đường làm nhiệm vụ. 2 giờ 30 phút đến 4 giờ sáng ngày 9 tháng 3, các đội 1 và 3 đã thả xong thủy lôi ở những vị trí quy định. Đội 4, khi đưa được thủy lôi ra được gần mép sông thì bị địch phục kích, 3 chiến sĩ bị thương, đơn vị buộc phải triển khai đánh địch phục kích, bộ phận thả thủy lôi dù thiếu người nhưng vẫn hoàn thành nhiệm vụ tuy có chậm so với kế hoạch. Từ ngày 10 đến ngày 12 tháng 3, nhiều tàu địch từ Cửa Việt lên Đông Hà bị thủy lôi phá hủy, phá hỏng. Trong khi đó lực lượng đánh địch bằng hoả lực bắn thẳng cũng chiến đấu quyết liệt và giành nhiều thắng lợi, tiêu diệt và làm bị thương một số tàu tuần tiễu trên sông, đánh bại quân bảo an lùng sục, phục kích trên bộ, buộc chúng phải co hết lực lượng về đồn, tạo điều kiện cho bộ phận thả thủy lôi hoàn thành nhiệm vụ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #67 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2025, 08:37:19 pm »

Đợt 3 (12 - 23.3.1971), địch bị bao vây, chia cắt và buộc phải rút lui. Ta tiến công trên toàn tuyến, đánh địch rút chạy và kết thúc chiến dịch.

Về phía địch, mặc dù đã đưa Thê đội 2 vào chiến đấu, nhưng chúng vẫn không ngăn được chiều hướng thất bại của cuộc hành quân. Ngay cả khi địch thay đổi phương án tác chiến, sử dụng lực lượng của cánh quân sườn Nam (Trung đoàn 2 thuộc Sư đoàn 1 bộ binh) thay cánh quân chủ yếu (đang bị vây hãm ở Bản Đông) tiến lên Sê Pôn, nhưng không thực hiện được, phải rút về sau vị trí xuất phát, dừng lại ở điểm cao 660. Trong khi đó, hai lữ đoàn 147 và 258 thủy quân lục chiến thuộc lực lượng Thê đội 2 vừa đưa từ Khe Sanh và Tích Tường lên, nhưng chúng chỉ củng cố vị trí phòng thủ, không dám tiến công. Lực lượng ở các hướng, các cánh khác đều bị đánh thiệt hại nặng ở cả phía trước lẫn phía sau.


Trước tình hình đó, ta nhận định địch không thể tiếp tục tiến lên Sê Pôn và cũng không thể lật cánh xuống phía Nam, mà chúng sẽ rút lui. Từ nhận định đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trương: Phải kiên quyết cắt đứt đường rút lui của địch không cho chúng rút nhanh, rút có tổ chức, rút an toàn; phải nhanh chóng chuyển sang tiến công địch trên toàn tuyến, tập trung lực lượng đánh trận then chốt quyết định. Theo đó, các lực lượng chủ lực, lực lượng tại chỗ, lực lượng các binh chủng... đã phối hợp chặt chẽ, tiến hành các trận đánh tiêu diệt bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng đạt hiệu suất cao.


Lực lượng đặc công của các sư đoàn bộ binh ở phía trước phối hợp tác chiến tốt hơn đợt 1 và đợt 2. Ngày 16 tháng 3, Tiểu đoàn đặc công 10 Sư đoàn bộ binh 2 thực hiện một trận đánh xuất sắc, phá hủy trận địa pháo và làm tê liệt Sở chỉ huy Trung đoàn 1 Sư đoàn 1 địch tại điểm cao 723, tạo điều kiện cho Sư đoàn 2 chuyển thế từ vây lấn sang tiến công, tiêu diệt đại bộ phận quân địch tại điểm cao này. Ngày 22 tháng 3, Tiểu đoàn đặc công 3 Sư đoàn bộ binh 324 cùng với bộ binh trong thế vây lấn đã tiến hành trận tập kích có hiệu suất cao, phá hủy 1 trận địa pháo và diệt gọn 1 đại đội địch, tạo điều kiện cho Sư đoàn 324 chuyển sang tiến công, đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ quân đội Sài Gòn ở điểm cao 550. Tiểu đoàn đặc công 19 Sư đoàn bộ binh 320, tuy mãi đến ngày 11 tháng 3, mới được cấp trên giao nhiệm vụ chính thức, nhưng khi bước vào chiến đấu, chỉ trong thời gian ngắn của đợt 3 (12 - 23.3), Tiểu đoàn đã đánh liên tiếp 9 trận, đạt kết quả rất tốt.


Các đơn vị đặc công hoạt động ở phía sau đội hình địch, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn do địch tăng cường lùng sục, càn quét, đánh phá ác liệt bằng cả không quân, pháo binh, xe tăng và bộ binh, cả chủ lực và bảo an, dân vệ... nhằm dọn đường rút lui cho lực lượng bại trận ở phía trước, nhưng các đơn vị đã chủ động phối hợp, hiệp đồng với bộ đội địa phương, dân quân du kích để tiếp tục trụ bám đánh các căn cứ, hậu cứ, đánh phá giao thông, đánh địch càn quét... gây cho chúng nhiều thiệt hại.


Đoàn Đặc công nước 126 giành giật với địch từng khúc sông để thả thủy lôi và liên tục chống trả các cuộc càn quét của địch ở trên bộ. Từ ngày 18 đến ngày 23 tháng 3, Đoàn đã đánh thắng nhiều trận, diệt được cả xe tăng, xe thiết giáp và sinh lực của địch, đánh lui, đánh bại nhiều đợt càn quét của chúng, bảo vệ và tạo điều kiện cho các phân đội thả thủy lôi hoàn thành nhiệm vụ, thả được hàng chục quả thủy lôi xuống các vị trí quy định ở Xuân Khánh, Mai Xá, Vinh Quang Thượng, Hà Lộc...


Tiểu đoàn đặc công 35 của Bộ, tuy mối được thành lập gấp trong quá trình chiến dịch và nhận nhiệm vụ chiến đấu muộn, ngày 13 tháng 2 mới được cấp trên chính thức giao nhiệm vụ, sau đó phải mất nhiều thời gian hành quân đường dài từ Nghệ An và chiến trường, nhưng đến nơi Tiểu đoàn đã chủ động, tích cực triển khai bám nắm địa bàn mục tiêu và bước vào chiến đấu được ngay. Điển hình có trận sân bay Tà Cơn ngày 23 tháng 3, Đại đội 51 của Tiểu đoàn đã phá hủy trên 40 máy bay và 1 kho đạn, diệt hàng trăm giặc lái, nhân viên kỹ thuật và quân bảo vệ sân bay góp phần nâng cao hiệu quả chiến dịch.


Hơn một tháng tham gia chiến dịch, vượt qua nhiều gian khổ hy sinh bám đánh địch liên tục ở cả phía trước, phía sau và đánh ngay trong đội hình quân địch, đánh trong mọi trường hợp địch cơ động triển khai lực lượng cũng như khi chúng đang tiến công và đánh cả lúc địch dừng lại, co cụm, tháo chạy, bộ đội Đặc công đã giành được những chiến công oai hùng. Thực tiễn đó cho ta khẳng định: Đặc công hoàn toàn có khả năng tham gia chiến dịch phản công như tham gia các loại hình chiến dịch khác, với vai trò là lực lượng tác chiến đặc biệt tinh nhuệ của chiến dịch, bí mật bất ngờ, luồn sâu đánh hiểm trong đội hình và trong hậu phương chiến dịch của địch, phối hợp và tạo điều kiện cho các lực lượng ta phát triển chiến đấu, chiến dịch.


Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên tham gia chiến dịch phản công bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, tác chiến đặc công cũng bộc lộ những khuyết điểm, hạn chế. Đó là, tham mưu cho Bộ chưa nhạy bén, kịp thời, Bộ giao nhiệm vụ cho đặc công muộn, đặc công ra quân chậm, lỡ thời cơ tiêu diệt địch, một số đơn vị đặc công đánh không đúng nhiệm vụ, không đúng đối tượng mục tiêu tác chiến của đặc công; hiệu suất chiến đấu của một số trận, một số đơn vị còn thấp, chưa tương xứng với khả năng của đặc công.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #68 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2025, 08:38:54 pm »

Nhìn lại hoạt động tác chiến của các lực lượng đặc công trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, với những thành công và hạn chế, có thể rút ra một số vấn đề sau:

Một là, nên sớm có ý định và kế hoạch sử dụng lực lượng Đặc công trong chiến đấu, chiến dịch.

Để phát huy được vai trò cũng như sở trường tác chiến của bộ đội Đặc công, các cấp chiến lược, chiến dịch nên sớm có ý định và kế hoạch sử dụng đặc công, tạo điều kiện cho đặc công biết sớm nhiệm vụ và được triển khai công tác chuẩn bị trước càng sớm càng tốt. Vai trò chủ yếu của đặc công trong chiến dịch là tiến công tiêu diệt những mục tiêu hiểm yếu, quan trọng; phối hợp hiệp đồng và tạo điều kiện cho các lực lượng của chiến dịch tiêu diệt lớn quân địch, hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch. Nhưng các mục tiêu hiểm yếu quan trọng thường được địch bố trí sâu trong đội hình và trong hậu phương của chúng, mục tiêu càng quan, trọng càng bố trí ở sâu và được bảo vệ càng chặt chẽ. Để đánh được các mục tiêu quan trọng, đòi hỏi công tác chuẩn bị phải được tiến hành một cách chu đáo với nhiều nội dung công việc và phải tiến hành trong điều kiện hoàn toàn bí mật, rất phức tạp và nguy hiểm, cần có một thời gian nhất định, không thể chỉ tiến hành trong ngày một ngày hai bằng một vài lần trinh sát mục tiêu... là có thể cơ động lực lượng tiếp cận tiến công mục tiêu được ngay. Thực tế cho thấy, những trận đánh của Bộ đội Đặc công vào các mục tiêu quan trọng có ý nghĩa chiến lược, chiến dịch của địch, bộ đội ta phải chuẩn bị hàng tháng, thậm chí nhiều tháng bám nắm liên tục mối có thể đánh được. Do đó, trên cơ sở nhận định tình hình, dự kiến các khu vực địa bàn, hướng chiến lược dịch có thể tiến công lớn và ta sẽ mở chiến dịch phản công bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, các cấp chiến lược, chiến dịch nên sớm có kế hoạch sử dụng đặc công, giao nhiệm vụ và tạo điều kiện cho đặc công vào hoạt động trong địa bàn chiến dịch càng sớm càng tốt để khi chiến dịch diễn ra đặc công có thể tham gia tác chiến được ngay từ đầu và tác chiến được liên tục, hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu chiến dịch. Như vậy, bộ đội mới phát huy cao nhất vai trò của đặc công trong chiến dịch.


Trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, tất cả các đơn vị đặc công cơ động đều được chiến dịch giao nhiệm vụ muộn, vì vậy chỉ có những đơn vị được bố trí sẵn trên địa bàn từ trước như lực lượng tại chỗ thì kết quả tác chiến khá, phát huy được vai trò lực lượng tác chiến đặc biệt tinh nhuệ của đặc công trong chiến dịch. Còn lại, các đơn vị đặc công cơ động của Bộ, của các sư đoàn bộ binh cơ động từ ngoài muộn, bỏ lỡ nhiều thời cơ tiêu diệt địch. Một số đơn vị do vào muộn, không được chuẩn bị chiến trường từ trước, nên hành động chiến đấu lúng túng, thậm chí có đơn vị không đánh được trận nào, không thể hiện được vai trò của đặc công trong chiến dịch.


Hai là, sử dụng Đặc công đúng sở trường của từng thành phần, lực lượng và đúng thời cơ chiến dịch, một yếu tố răt quan trọng để phát huy vai trò đặc công trong chiến dịch.

Đặc công là lực lượng chiến đấu đặc biệt tinh nhuệ của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và cũng là lực lượng tác chiến đặc biệt tinh nhuệ của các chiến dịch, có sở trường nổi bật là luồn sâu, bí mật, bất ngờ, đánh hiểm, đánh nhanh, diệt gọn. Các cấp chỉ đạo, chỉ huy chiến dịch sử dụng đặc công đúng với sở trường này sẽ tạo điều kiện tốt cho đặc công chiến đấu giành thắng lợi, phát huy được vai trò của đặc công trong chiến dịch.


Trong chiến dịch hiệp đồng binh chủng quy mô lớn nói chung và chiến dịch phản công nói riêng, đặc công thường tham gia gồm nhiều thành phần, lực lượng như Đặc công chủ lực, Đặc công địa phương, Đặc công cơ động, Đặc công tại chỗ; trong từng thành phần lực lượng lại có các loại Đặc công đánh bộ, Đặc công nước, Đặc công biệt động... Tuy cùng là đặc công có chức năng chiến đấu chủ yếu như nhau, tiến công tiêu diệt sinh lực, phá hủy phương tiện vật chất quan trọng ở sâu trong đội hình và trong hậu phương quân địch, nhưng từng thành phần, lực lượng, đơn vị lại có sở trường riêng không hoàn toàn giống nhau, có lực lượng chuyên đánh bộ, có lực lượng giỏi đánh trên sông nước, có lực lượng quen đánh tiểu khu, chi khu trong các tỉnh lỵ, quận lỵ, cũng có đơn vị giỏi đánh hiệp đồng nhưng có đơn vị chỉ quen đánh độc lập... Điều quan trọng để đặc công chiến đấu giành thắng lợi, phát huy tốt vai trò đặc công trong chiến dịch là phải sử dụng đúng sở trường của từng thành phần, lực lượng và từng đơn vị, phù hợp với từng khu vực địa bàn, mục tiêu tác chiến chiến dịch. Đó là nghệ thuật sử dụng lực lượng của người chỉ đạo, chỉ huy tác chiến chiến dịch.


Để phát huy vai trò của đặc công, nâng cao hiệu quả tác chiến, bên cạnh việc sử dụng đúng sở trường còn phải sử dụng đặc công đúng thời cơ chiến dịch. Do tính chất, đặc điểm, cách đánh của chiến dịch phản công là lấy tiến công của ta đổ đánh bại tiến công của địch, tính chủ động của ta thường bị hạn chế, thông thường khi địch cơ động triển khai tiến công, ta mới phát hiện và mới hạ quyết tâm, thời cơ tiêu diệt địch xuất hiện không nhiều... Trong khi đó, đặc công tham gia chiến dịch gồm nhiều thành phần, đảm nhiệm tác chiến ở nhiều khu vực khác nhau, với những nhiệm vụ, mục tiêu tác chiến cụ thể khác nhau, thời cơ tiêu diệt địch đến với các lực lượng, các đơn vị cũng khác nhau... Điều quan trọng là người chỉ đạo, chỉ huy biết tổ chức, bố trí lực lượng khôn khéo, phù hợp với địa bàn, phù hợp với sở trường của từng lực lượng, từng đơn vị để bộ đội chủ động tạo thời cơ, đón và sử dụng tốt nhất thời cơ để tiêu diệt địch.


Trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, ta sử dụng Đoàn Đặc công 126 hoạt động tác chiến ở Cửa Việt - Đông Hà là phù hợp sở trường tác chiến trên sông nước ở phía sau đội hình quân địch của cán bộ, chiến sĩ đặc công nước. Tại đây, Đoàn đã đánh được địch ngay từ đầu cho đến khi kết thúc chiến dịch, các trận đánh được thực hiện đúng thời cơ, hiệu quả chiến đấu cao, có tác dụng phối hợp tốt với chiến dịch. Sử dụng đặc công cơ động của Bộ đánh các hậu cứ địch là đúng, phù hợp với sở trường luồn sâu, đánh hiểm của bộ đội nhưng sử dụng quá muộn, lỡ thời cơ tiêu diệt địch.


Những kinh nghiệm tác chiến của đặc công trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào 1971 đã được các cấp chỉ đạo, chỉ huy và các đơn vị đặc công nghiên cứu, vận dụng có hiệu quả cao trong các chiến dịch của cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 cũng như trong chiến tranh bảo vệ biên giới Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế (1975 - 1989). Ngày nay, trước những yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới, bộ đội Đặc công được Đảng và quân đội giao cho những nhiệm vụ quan trọng, là một trong những lực lượng tiên phong thực hiện các nhiệm vụ A2, chống khủng bố, tác chiến bảo vệ biển, đảo... Vì vậy, những kinh nghiệm tác chiến trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng vào huấn luyện, giáo dục để nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu và lòng tự hào truyền thống, nâng cao sức mạnh chiến đấu cho bộ đội, nhằm đáp ứng kịp thời và hiệu quả cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay và tương lai.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #69 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2025, 08:43:08 pm »

BỘ ĐỘI PHÒNG KHÔNG TRONG CHIẾN DỊCH
ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971

Trung tướng VÕ VĂN TUẤN
Phó Tổng Tham mưu trưởng


Đường 9 - Nam Lào năm 1971 là chiến dịch điển hình mang tầm chiến lược (cả về quy mô sử dụng lực lượng và ý nghĩa quân sự, chính trị). Lần đầu tiên ta sử dụng khối chủ lực cơ động tập trung, với nhiều binh chủng kỹ thuật tương đối hiện đại để tiêu diệt khối chủ lực của quân đội Việt Nam cộng hoà (quân đội của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu do Mỹ viện trợ và dày công huấn luyện, chỉ huy). Thành công của chiến dịch chẳng những tác động mạnh mẽ đến cục diện chung của cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương, giáng đòn nặng vào chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ, mà còn đánh dấu bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam, nghệ thuật sử dụng lực lượng Phòng không trong tác chiến chiến dịch.


Lực lượng Phòng không tham gia Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lao gồm lực lượng Phòng không trong biên chế của Binh đoàn 70; 1 trung đoàn tên lửa Phòng không CA-75 (tầm trung); 2 trung đoàn pháo phòng không hỗn hợp gồm cả súng máy phòng không 12,7mm, pháo phòng không 57mm của Quân chủng Phòng không - Không quân; 1 trung đoàn pháo phòng không hỗn hợp gồm các loại từ súng máy phòng không 12,7mm đến pháo phòng không 57mm của Đoàn 559.


Phối hợp tác chiến còn có Sư đoàn phòng không 367, phòng không của mặt trận B4, B5.

Nhiệm vụ của lực lượng Phòng không chiến dịch là:

- Hiệp đồng chặt chẽ cùng các đơn vị binh chủng hợp thành; nhanh chóng hình thành thế trận đánh địch rộng khắp, tiêu diệt nhĩều máy bay địch, đặc biệt là máy bay lên thẳng.

- Không cho địch đổ quân tăng viện hoặc bốc quân rút chạy.

- Triệt đường tiếp tế bằng đường không.

- Trực tiếp chi viện cho bộ binh, xe tăng, pháo binh tiến công địch.

- Tiêu diệt máy bay cường kích, máy bay ném bom chiến lược B-52. Bảo vệ các tuyến vận chuyển chiến dịch, kho tàng, chân hàng, sở chỉ huy...

-  Sẵn sàng sử dụng một bộ phận lực lượng đánh địch phản kích.


Quân chủng Phòng không - Không quân đã tổ chức cơ quan chủ nhiệm phòng không chiến dịch và sở chỉ huy tiền phương để làm tham mưu về công tác phòng không cho Bộ Tư lệnh chiến dịch nhằm chỉ huy, hiệp đồng tập trung, thống nhất các lực lượng Phòng không tham gia chiến dịch.


Về sử dụng lực lượng:

- Trên hướng chủ yếu Bắc Đường 9 (hướng Binh đoàn 70): Trung đoàn pháo phòng không 241 bảo vệ đội hình tiến công trên hướng chủ yếu của Binh đoàn, Trung đoàn tên lửa phòng không 237 và Trung đoàn pháo phòng không 230 bảo vệ hậu phương và giao thông chiến dịch;

- Trên hướng Đoàn 559: lực lượng Phòng không bí mật cơ động triển khai thành thế trận bảo vệ khu vực hậu cần và tuyến hành lang vận chuyển chiến lược. Đội hình bố trí cấp tiểu đoàn nhưng phân tán rộng, lấy đánh độc lập của các đại đội, trung đội làm chính.

Từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2, địch triển khai lực lượng thành thế đứng chân: quân đội Sài Gòn ở phía trước, quân Mỹ ở phía sau, quân phái hữu Lào ở phía Tây phối hợp. Phát hiện rõ âm mưu địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch kịp thời chuyển trọng tâm tác chiến chiến dịch vào khu vực Đường 9 - Nam Lào. Lực lượng Phòng không khẩn trương hoàn thành công tác chuẩn bị, triển khai đội hình sẵn sàng chiến đấu. Các đơn vị phòng không chiến dịch vào chiếm lĩnh trận địa, tổ chức thành từng cụm hỏa lực đánh tập trung 2 đến 3 tiểu đoàn sẵn sàng đánh máy bay địch.


Mờ sáng ngày 8 tháng 2 năm 1971, sau 3 đợt ném bom của 30 máy bay B-52 vào một số khu vực trọng điểm hai bên Đường 9, khu vực trận địa của Binh đoàn 70, các cao điểm ven đường, địch thực hành tiến công vượt qua biên giới Việt - Lào bằng đường bộ và đổ bộ đường không. Các lực lượng của ta tiến hành các trận đánh ngăn chặn. Hỏa lực phòng không của các binh trạm 27, 41 (Đoàn 559), của Mặt trận B5 và của Tiểu đoàn 24 (Trung đoàn pháo phòng không 241) bố trí đón lõng bên sườn núi, trên điểm cao ở khu vực Làng Sen, Cô Bốc, Đông Bắc Bản Đông nổ súng kịp thời, bắn rơi liên tiếp 76 máy bay lên thẳng của địch. Tại khu vực Cha Ky, lực lượng Phòng không của các đơn vị cũng bắn rơi 30 chiếc.


Bị thất bại ngay từ trận đầu, địch lúng túng phải dừng lại đối phó. Đó là thời cơ có lợi cho ta. Vì vậy, từ ngày 12 tháng 2 trở đi, lực lượng Phòng không của ta trên hướng chủ yếu bắt đầu thực hiện các trận đánh tập trung quy mô lớn.

Để bảo vệ và chi viện vững chắc đội hình chiến dịch, ta đã chủ động đưa lực lượng Phòng không từ phía sau lên tăng cường cho các hướng. Trung đoàn tên lửa phòng không 237 vào khu vực Km 66 (đường 10). Tiểu đoàn tên lửa 84 (Trung đoàn tên lửa phòng không 238) vào khu vực trận địa ở Coong Le (đường 18). Tiểu đoàn 39 súng máy phòng không 14,5mm mang vác phối hợp cho Trung đoàn bộ binh 64,... Trong những đợt đánh đầu tiên của chiến dịch này, lực lượng Phòng không của ta đã bắn rơi 92 máy bay của địch. Đặc biệt, Tiểu đoàn tên lửa 69 đã bắn rơi 1 máy bay B-52 trong trận then chốt chiến dịch ở Bản Đông. Đây là chiếc máy bay ném bom chiến lược đầu tiên của không lực Hoa Kỳ bị Bộ đội tên lửa phòng không của ta bắn rơi. Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường số 9 - Nam Lào kết thúc. Trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của quân và dân ta, Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào 1971 là chiến dịch phản công điển hình có ý nghĩa chiến lược, tiêu diệt một bộ phận lớn quân địch, góp phần làm thay đổi so sánh tương quan lực lượng có lợi cho ta, tạo ra sự thay đổi cục diện chiến trường, đánh bại một bước chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ.


Lực lượng Phòng không tham gia chiến dịch là lực lượng nòng cốt đánh địch trên không. Trong quá trình phát triển của chiến dịch, lực lượng Phòng không được sử dụng từ đơn giản đến phức tạp, từ bảo vệ các phân đội bộ binh tiến công trên từng hướng, phát triển lên bảo vệ đội hình bộ đội binh chủng hợp thành trong không gian chiến dịch ngày càng lớn. Từ bảo vệ bộ đội trực tiếp chiến đấu, phát triển lên bảo vệ cả hậu phương, bảo vệ các trọng điểm giao thông chiến dịch và đã tạo điều kiện để phát triển quy mô chiến dịch binh chủng hợp thành ngày càng lớn, đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung trên các loại địa hình và thời tiết khác nhau; đánh địch cả ban ngày, ban đêm, cả trong tiến công và phòng ngự,... Sự phát triển đó đã góp phần tạo nên sức mạnh để đẩy nhanh tốc độ, rút ngắn thời gian, nâng cao hiệu quả tác chiến chiến dịch.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM