Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:44:05 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử  (Đọc 29213 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #70 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2025, 08:45:17 pm »

Chiến công của Bộ đội phòng không trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 có nghĩa to lớn và toàn diện, lực lượng Phòng không đã hoàn thành các nhiệm vụ và yêu cầu đề ra. Thắng lợi đó đã góp phần vào sự phát triển của nghệ thuật sử dụng lực lượng Phòng không trong tác chiến chiến dịch. Từ thắng lợi này chúng ta có thể rút ra mấy bài học kinh nghiệm về nghệ thuật sử dụng lực lượng Phòng không trong tác chiến chiến dịch binh chủng hợp thành như sau:


Thứ nhất: Phán đoán đúng hướng tiến công của địch, tiến hành công tác chuẩn bị lực lượng sớm là điều kiện cơ bản để giành thắng lợi của bộ đội Phòng không.

Nghệ thuật chiến dịch xem việc nắm chắc địch và phán đoán đúng ý đồ của địch là yêu cầu hàng đầu. Trong chiến dịch phản công, đối với bộ đội Phòng không, yêu cầu đó lại càng quan trọng, đặc biệt là đoán đúng hướng tiến công bằng các loại máy bay của địch. Bởi vì, địch có thể chọn nhiều hướng tiến công khác nhau. Nhưng phán đoán đúng hướng tiến công của địch là cơ sở để tiến hành mọi công tác chuẩn bị sớm cho trận chiến đấu được chu đáo, toàn diện.


Do tính chất cực kỳ quan trọng của chiến dịch, căn cứ vào quy luật hoạt động của địch trên không và do công tác tình báo chiến lược, ta nắm chắc tình hình hoạt động của địch, nên lực lượng Phòng không của ta đã nắm quyền chủ động trên không gian chiến dịch. Mặt khác, trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971, lực lượng Phòng không đã phát hiện những mâu thuẫn và khó khăn của địch; địch muốn sử dụng nhiều máy bay trực thăng, ta đã bố trí đón lõng, xây dựng thế trận phòng không rộng khắp, nhưng tập trung có trọng điểm, về âm mưu, thủ đoạn tác chiến của địch, ta đã phát hiện rõ sai lầm của địch trong việc đánh giá khả năng của lực lượng Phòng không ta và ta đã biết lợi dụng triệt để sai lầm của địch để chuẩn bị tiêu diệt chúng đúng thời cơ.


Thứ hai: sử dụng lực lượng Phòng không trong chiến dịch phải lấy việc bảo vệ mục tiêu, bảo vệ đội hình binh chủng hợp thành làm nhiệm vụ cơ bản nhất; tiêu diệt máy bay địch là một trong những biện pháp tích cực để bảo vệ mục tiêu.

Phương pháp tác chiến chiến dịch phản công là: tiến hành ngăn chặn, vây hãm không cho không quân địch tiếp tế, tiếp viện, chi viện cho quân địch rút chạy đê lực lượng binh chủng hợp thành tiến hành bẻ gãy từng cánh quân địch, thực hiện thành công các trận then chốt chiến dịch.Và lực lượng Phòng không phải lấy việc bảo vệ mục tiêu, bảo vệ đội hình binh chủng hợp thành làm nhiệm vụ cơ bản. Đồng thời tiêu diệt máy bay địch là một trong những biện pháp tích cực để bảo vệ mục tiêu.


Lần đầu tiên trong Chiến dịch phản công Đường 9 Nam Lào, ta đã chỉ đạo, sử dụng lực lượng Phòng không thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ bộ đội binh chủng hợp thành và tiến hành thành công các hình thức chiến thuật như chốt giữ và tiến công, bao vây đột phá để tiêu diệt các cụm quân có xe tăng, xe thiết giáp của địch, kết hợp chốt chặn lớn, cơ động tiêu diệt địch ở các điểm cao và truy kích địch rút chạy đạt hiệu suất chiến đấu cao.


Thứ ba: Tập trung lực lượng hợp lý, bảo vệ các mục tiêu trọng điểm, trong các trận then chốt; kết hợp với các lực lượng đánh địch tại chỗ tạo nên hệ thống hoả lực phòng không vừa tập trung, vừa rộng khắp trong địa bànchiến dịch.

Biết tập trung lực lượng hợp lý, trong thời điểm quyết định; kết hợp chặt chẽ giữa tập trung với phân tán; tập trung được mình, phân tán được địch vừa là yêu cầu, vừa là nghệ thuật sử dụng lực lượng Phòng không trong chiến dịch Bằng việc tập trung lực lượng Phòng không hợp lý trong từng giai đoạn (từng đợt) chiến dịch, tập trung trên hướng chủ yếu, trong các trận then chốt, ở những mục tiêu trọng điểm của chiến dịch đã tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh bại các hoạt động tập trung đánh phá của không


Cùng với sử dụng lực lượng Phòng không một cách hợp lý nghệ thuật sử dụng lực lượng Phòng không trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào còn kết hợp chặt chẽ giữa sử dụng lực lượng tập trung với sử dụng phân tán để tạo nên lưới lửa phòng không rộng khắp, máy bay địch từ hướng nào vào cũng bị đánh. Chính bằng sự kết hợp chặt chẽ đó mà ta vừa bảo vệ được mục tiêu trọng điểm, vừa bảo vệ được lực lượng trên hướng tiến công chủ yếu, ở các khu vực mục tiêu quan trọng, vừa bảo vệ được các hướng, các mục tiêu khác và khi cần đã có lực lượng xen kẽ cài thế sẵn sàng giúp ta nhanh chóng chuyển hoá thế trận, chuyển hướng tiến công được mau lẹ. Đồng thời vừa bảo vệ được lực lượng trực tiếp chiến đấu, vừa bảo vệ được cơ sở vật chất kỹ thuật, khả năng chi viện thường xuyên cho chiến dịch; bảo đảm cho chiến dịch hoạt động nhịp nhàng, liên tục theo một kế hoạch thống nhất. Thực tiễn sử dụng lực lượng Phòng không trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào cho thấy việc kết hợp giữa sử dụng lực lượng tập trung và phân tán là thể hiện nghệ thuật rất cao trong việc tạo sức mạnh tổng hợp, làm cho thế trận của lực lượng Phòng không luôn luôn biến động nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu chiến dịch; đồng thời làm cho địch khó phán đoán, khó đối phó với thế trận phòng không thiên biến vạn hoá của ta.


Thứ tư: Sử dụng tập trung lực lượng Phòng không trên hướng trọng điểm, chủ yếu và trong các trận then chốt chiến dịch.

Để phát huy sức mạnh của lực lượng Phòng không trong chiến dịch, ta đã căn cứ vào nhiệm vụ trên giao, mục tiêu và thời cơ chủ yếu cần bảo vệ, đối tượng và thủ đoạn hoat động của địch và những mặt mạnh, mặt yếu của chúng; những mặt mạnh, hạn chế của từng lực lượng, từng loại vũ khí để tập trung lực lượng cho thích hợp, vừa phát huy được sức mạnh đánh các loại máy bay, vừa bảo vệ  được bộ đội chiến đấu; bảo vệ được giao thông vận chuyển, bảo vệ được căn cứ chiến đấu, hậu phương trực tiếp của chiến dịch.


Nhờ sử dụng tập trung lực lượng Phòng không trên hướng trọng điểm (chủ yếu), trong các đợt và các trận đánh quan trọng (then chốt) mà ta đã có đủ sức mạnh bảo vệ cho các lực lượng tiến công tiêu diệt lần lượt các cụm cứ điểm, tiến tới tiêu diệt hoàn toàn cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch trên Đường 9 - Nam Lào. Trong điều kiện địch có lực lượng không quân hiện đại, mạnh.


Trên hướng chủ yếu, hướng quan trọng Bắc Đường 9 (hướng Binh đoàn 70); ta sử dụng Trung đoàn pháo phòng không 241 bảo vệ đội hình tiến công trên hướng chủ yếu của Binh đoàn. Trung đoàn tên lửa phòng không 237 và Trung đoàn pháo phòng không 230 bảo vệ hậu phương và giao thông chiến dịch. Chính nghệ thuật sử dụng tập trung lực lượng Phòng không vào hướng chủ yếu, hướng quan trọng, vào các trận then chốt, trong những thời cơ, thời điểm có lợi đã góp phần quyết định đánh thắng các hoạt động của địch, góp phần quan trọng đưa chiến dịch đến thắng lợi hoàn toàn.


Thứ năm: Kết hợp chặt chẽ giữa hoả lực tập trung có trọng điểm của lực lượng Phòng không với hoả lực của binh chủng hợp thành để đánh máy bay địch.

Tác chiến với đội quân có lực lượng không quân mạnh, việc kết hợp chặt chẽ giữa hoả lực tập trung có trọng điểm của lực lượng Phòng không với hoả lực súng bộ binh của các đơn vị binh chủng hợp thành để đánh máy bay địch là một yêu cầu khách quan mà nghệ thuật sử dụng lực lượng Phòng không phải giải quyết. Trong Chiến dịch phản công Đường. 9 - Nam Lào ta sử dụng súng máy phòng không mang vác 12,7mm và 14,5mm đi cùng bộ binh, xe tăng "cơ động phục kích", "vận động tiến công" đánh địch đổ bộ đường không, yểm hộ bộ binh ngăn chặn quân địch hành quân cơ giới và giữ các điểm cao quan trọng trong chiến dịch. Chiến dịch càng lớn, địch sử dụng không quân càng nhiều, tính chất chiến dịch càng quyết liệt, càng đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa hai lực lượng trên để đánh địch.


Sử dụng lực lượng đánh tập trung hiệp đồng binh chủng: phòng không, bộ binh, xe tăng, pháo binh đánh địch đổ bộ đường không bằng trực thăng là điểm nổi bật nhất trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Số lượng 556 máy bay địch bị bắn rơi (chủ yếu là trực thăng)1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào 1971, Hà Nội, 1987, tr. 62) đã nói lên sự thành công của cách đánh tập trung hiệp đồng binh chủng, lấy lực lượng Phòng không làm nòng cốt đánh máy bay địch trong chiến dịch. Sự kết hợp khéo léo và chặt chẽ giữa hai lực lượng hoả lực đã tạo được sức mạnh tổng hợp để vừa bỏ gãy các đợt tập kích của không quân địch, vừa tạo được lưới lửa phòng không rộng khắp trên không gian chiến dịch, đánh địch liên tục trong suốt quá trình chiến dịch và nhờ đó mà ta đủ mạnh để duy trì sự kết hợp tác chiến tập trung từng đợt với đánh địch liên tục; kết hợp tập trung lực lượng đánh địch có trọng điểm trên từng hướng, từng mục tiêu với đánh địch phân tán làm cho lực lượng Phòng không ta tuy ít"hóa" thành nhiều, nhỏ thành lớn, yếu thành mạnh để đánh thắng địch.


Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971 - một chiến dịch điển hình về nghệ thuật sử dụng lực lượng Phòng không - là một chiến dịch phản công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn của bộ đội chủ lực cơ động, phối hợp chặt chẽ với lực lượng tại chỗ (B4, B5 và Đoàn 559). Chiến dịch được chuẩn bị chu đáo từ trước, diễn ra trên địa hình rừng núi, kế cận hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Thắng lợi của chiến dịch đã đánh dấu một bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam nói chung, nghệ thuật sử dụng lực lượng Phòng không nói riêng. Nó khởi đầu thời kỳ mới của sự phát triển hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, trên không gian chiến dịch rộng, nhiều mục tiêu cần bảo vệ, tính khẩn trương, ác liệt và tính cơ động cao bảo đảm cơ sở vật chất nhiều, phức tạp. Đồng thời, cũng đánh dấu thời kỳ phát triển của lực lượng Phòng không về các hình thức tác chiến tập trung, hiệp đồng binh chủng, các biện pháp tác chiến, các hình thức chiến thuật. Thắng lợi của bộ đội Phòng không trong chiến dịch có ý nghĩa chiến lược, ta đã bảo vệ được tuyến vận chuyển chiến lược thông suốt trong suốt quá trình chiến dịch; tạo điều kiện cho các đơn vị bạn phối hợp chiến đấu chặt chẽ giữa các chiến trường và đã góp phần bảo vệ vững chắc các mục tiêu trọng điểm, trong đó có miền Bắc xã hội chủ nghĩa.


Những bài học kinh nghiệm về sử dụng lực lượng Phòng không trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đến nay vẫn còn nguyên giá trị; vẫn tiếp tục cùng chúng ta tiếp bước tiến lên trên con đường phát triển về nghệ thuật chiến dịch nói chung và nghệ thuật sử dụng lực lượng Phòng không trong tác chiến chiến dịch ngày càng hoàn thiện, phù hợp với yêu cầu mới của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hôm nay và tương lai.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #71 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2025, 08:52:19 pm »

TỔ CHỨC BẢO ĐẢM THÔNG TIN LIÊN LẠC TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971

Thiếu tướng VŨ DƯƠNG NGHI
Chính ủy Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc


Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, tác động mạnh đến cục diện chiến trường, giáng đòn nặng vào chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, đánh dấu bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam. Trong thắng lợi chung đó, có sự đóng góp quan trọng của bộ đội thông tin liên lạc. Tổng kết Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, Bộ Tư lệnh đã đánh giá: Trong chiến dịch lịch sử này, Bộ đội Thông tin liên lạc có công rất lớn trong việc bảo đảm chỉ huy chiến dịch, bảo đảm cho cơ quan chỉ huy thông suốt liên tục với các đơn vị và các hướng, tạo điều kiện cho việc chỉ đạo, chỉ huy chiến dịch được cụ thể, kịp thời và thực hiện được tốt mối hiệp đồng ở các hướng, ở phía trước và phía sau...


Ưu điểm nổi bật về bảo đảm thông tin liên lạc trong chiến dịch này là: Cơ quan thông tin chiến dịch nắm chắc được phương án tác chiến cơ bản của một chiến dịch phản công; dự kiến và triển khai được kế hoạch thông tin liên lac thích hợp; tranh thủ được sự lãnh đạo, chỉ đạo từng bước của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh và cơ quan tham mưu chiến dịch; phát huy được tinh thần chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong công tác chỉ đạo và tổ chức thông tin liên lạc theo yêu cầu của chỉ huy trong từng giai đoạn chiến dịch; tận dụng và phát huy tốt hệ thống thông tin liên lạc tại chỗ, đồng thời khẩn trương triển khai hệ thống thông tin liên lạc cơ động ở khu vực tác chiến; bảo đảm thông tin chỉ huy kịp thời, liên tục trong các tình huống. Trong quá trình tác chiến, luôn tìm mọi biện pháp tăng cường và cải tiến thiết bị kỹ thuật các trạm thông tin chiến lược trong địa bàn chiến dịch; coi trọng tổ chức thông tin liên lạc bảo đảm cho chỉ huy nắm chắc tình hình địch, thông tin liên lạc hiệp đồng, kết hợp chặt chẽ các loại phương tiện, các hệ thống thông tin liên lạc ở từng cấp và trong toàn chiến dịch, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ các trận đánh then chốt giành thắng lợi; đồng thời, coi trọng công tác bảo đảm vật chất kỹ thuật và bổ sung kịp thời lượng tiêu hao trong quá trình chiến đấu. Ngày 6 tháng 4 năm Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam đến thăm Trạm cơ vụ A72 đã đánh giá: Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư Lệnh, Bộ chỉ huy mặt trận rất tự hào về hệ thống thông tin liên lạc phục vụ chiến dịch. Có thể nói chưa bao giờ mạng lưới thông tin thông suốt như lần này.


Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, công tác tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào còn bộc lộ những tồn tại khuyết điểm như: Cơ quan thông tin chiến dịch hình thành chậm nên không thực hiện được việc chỉ đạo, chỉ huy tập trung thống nhất ngay từ đầu, gây ảnh hưởng đến việc tổ chức và sử dụng các phương tiện thông tin ở các cấp; công tác tham mưu thông tin chưa đáp ứng được yêu cầu của một chiến dịch tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô tương đối lớn; ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần cảnh giác giữ bí mật và trình độ nghiệp vụ của một số cán bộ, chiến sĩ thông tin còn yếu; người chỉ huy và cơ quan chiến dịch còn hiện tượng thích dùng hữu tuyến điện, ngại sử dụng vô tuyến điện sóng cực ngắn; yêu cầu tổ chức liên lạc vô tuyến điện sóng ngắn vượt cấp quá nhiều, gây nhiều khó khăn cho cấp dưới.


Thành công của công tác tổ chức, bảo đảm thông tin liên lạc vô tuyến điện trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 đã để lại một số kinh nghiệm sau:

Một là: Thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng thông tin vô tuyến điện vững mạnh về chính trị, tư tưởng; xây dựng quyết tâm cho cán hộ, nhân viên, chiến sĩ thông tin hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Thông tin vô tuyến điện là một công tác cơ mật, các bức điện chuyển nhận qua mạng vô tuyến điện đều có nội dung liên quan đến tình hình nhiệm vụ tác chiến, chỉ thị, mệnh lệnh của chỉ huy,v.v. Các nội dung trên khi truyền qua làn sóng điện dễ bị kẻ địch thư nghe trộm, giải mã để nắm tình hình của ta và tìm cách đối phó. Vì vậy, yêu cầu cao nhất đối với người chiến sĩ thông tin vô tuyến điện là phải thật sự trung thành, tin cậy, có tính kỷ luật cao và trình độ năng lực nghiệp vụ vững vàng mới hoàn thành được nhiệm vụ chuyên môn của mình. Do được giáo dục tốt về chính trị, tư tưởng, huấn luyện tốt về nghiệp vụ, trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, lực lượng thôngtin vô tuyến điện đã tỏ rõ tinh thần kiên quyết, chủ động, sáng tạo, có nhiều biện pháp cụ thể, tỉ mỉ, khoa học, vừa bảo đảm liên lạc thông suốt từ sở chỉ huy chiến dịch đến các đơn vị cấp dưới, vừa cầm súng chiến đấu tiêu diệt địch, bảo vệ an toàn cho đài trạm, bảo đảm thông tin kịp thời phục vụ chỉ huy đánh thắng nhiều trận then chốt trong giai đoạn 1 của chiến dịch; đồng thời góp phần làm tốt công tác truyền tin chiến thắng và động viên chính trị tinh thần có hiệu quả trong quá trình thực hành chiến dịch.


Đi đôi với việc xây dựng quyết tâm còn chú trọng giáo dục tinh thần đoàn kết, hiệp đồng với các đơn vị bạn. Thông tin vô tuyến điện có thông suốt hay không là do sự phối hợp, hiệp đồng và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, chiến sĩ quyết định. Vì vậy, đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ thông tin vô tuyến điện phải có tinh thần đoàn kết, hiệp đồng cao, nhường thuận lợi cho bạn, nhận khó khăn về mình; có như vậy việc liên lạc hai chiều mới luôn được thông suốt. Trong chiến dịch này, việc hiệp đồng chặt chẽ giữa lực lượng thông tin của Trung đoàn 205 với lực lượng thông tin Binh đoàn 70, Sư đoàn 304 và Đoàn 559 đã tạo điều kiện cho nhau bảo đảm thông tin liên lạc đạt hiệu suất, chất lượng cao. Bên cạnh đó, đã coi trọng giáo dục cho cán bộ, nhân viên, chiến sĩ thông tin ý thức cần kiệm, yêu quý phương tiện, sử dụng hợp lý và có hiệu quả những trang bị kỹ thuật hiện có, nhất là trong điều kiện nước ta chưa sản xuất được đủ theo nhu cầu và những trang bị khí tài đang dùng đã phải hy sinh xương máu mới có được.


Binh chủng Thông tin liên lạc là một binh chủng kỹ thuật, việc xây dựng lực lượng thông tin quân sự nói chung và thông tin vô tuyến điện nói riêng vững mạnh về chính trị tư tưởng là một yêu cầu tất yêu, có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Trong tương lai nếu chiến tranh xảy ra sẽ là cuộc chiến tranh có sử dụng vũ khí, phương tiện công nghệ cao thì kinh nghiệm về xây dựng lực lượng thông tin vững mạnh về chính trị, tư tưởng vẫn còn giữ nguyên giá trị.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #72 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2025, 08:58:46 pm »

Hai là: Xác định đúng vai trò của lực lượng thông tin liên lạc quân sự, kết hợp chặt chẽ giữa phục vụ chiến đấu và xây dựng lực lượng; thường xuyên bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật, báo vụ viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tác chiến.

Trước khi bước vào chiến dịch này, Bộ Tư lệnh Binh chủng đã tập trung nghiên cứu chấn chỉnh cơ quan, đơn vị trực thuộc và thông tin toàn quân thực hiện điều chỉnh lại quân số theo yêu cầu tổ chức phải gọn, có số lượng thích hợp nâng được chất lượng, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ; ưu tiên quân số để tổ chức các đơn vị thông tin mới bổ sung vào chiến trường miền Nam và tổ chức các tiểu đoàn thông tin dự bị phục vụ các chiến dịch lớn do Bộ trực tiếp chỉ huy. Tháng 7 năm 1970, Binh đoàn 70 được thành lập, trong biên chế có Phòng Thông tin và các tiểu đoàn thông tin, được ưu tiên về quân số và phương tiện gấp đôi đơn vị thông tin cấp sư đoàn. Đầu năm 1971, Binh chủng tổ chức thêm Tiểu đoàn 2 mới, gấp rút làm công tác chuẩn bị chi viện cho chiến trường miền Nam. Tính đến đầu năm 1971, Binh chủng đã bổ sung cho chiến trường 500 báo vụ viên, thợ sửa chữa và một tiểu đoàn thông tin hỗn hợp cơ động hoàn chỉnh. Để chủ động chuẩn bị cho chiến dịch, một khối lượng rất lớn trang bị kỹ thuật thông tin từ miền Bắc được vận chuyển vào miền Nam, trong đó có một số khí tài vô tuyến điện loại mới như điện đài sóng ngắn 81 bán dẫn; đồng thời cử các đội sửa chữa lưu động vào Mặt trận 135, B4 để tăng thêm lực lượng sửa chữa, khôi phục các trang bị khí tài thông tin bị hư hỏng. Để thuận tiện cho việc chỉ huy điều hành, khai thác thông tin liên lạc, từ năm 1969, Binh chủng đã tổ chức di chuyển một số trạm máy trong tổng trạm thông tin về gần sở chỉ huy của Bộ, riêng các khu thu phát vô tuyến điện sóng ngắn vẫn duy trì ở vị trí cũ. Củng cố vững chắc các mạng vô tuyến điện sóng ngắn, các trạm vô tuyến điện sóng cực ngắn (và vô tuyến điện tiếp sức) trên các điểm cao, mở rộng mạng lưới và phát huy hết tính năng tác dụng của các phương tiện. Binh chủng đã tăng cường lực lượng, phương tiện cho Đoàn 559, nhờ đó các đơn vị thông tin của Đoàn 559 đã kết hợp chặt chẽ với thông tin bạn (Lào) sử dụng có hiệu quả cao phương tiện thông tin vô tuyến điện sóng ngắn, sóng cực ngắn và các phương tiện thông tin khắc phục vụ chỉ huy giành thắng lợi trong các chiến dịch mùa khô năm 1969, 1970, 1971 và các chiến dịch tiếp theo. Năm 1970, ngoài việc mở lại các lớp đào tạo cán bộ chỉ huy sơ cấp theo hướng cơ bản, toàn diện, có hệ thống, Binh chủng chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo báo vụ ở Đoàn 4, mở các lớp tập huấn hàng năm và tổng kết, nghiên cứu về tổ chức bảo đảm thông tin phù hợp với cách đánh mới. Bộ Tư lệnh Binh chủng cử nhiều đoàn cán bộ trực tiếp vào các chiến trường B4, B5, Đoàn 559 phổ biến kinh nghiệm tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc trong các chiến dịch đã được tổng kết, hướng dẫn sử dụng các loại phương tiện thông tin mới được biên chế, đồng thời tìm hiểu tình hình tại chỗ, đề xuất kịp thời biện pháp giải quyết khó khăn của đơn vị.


Đối với Binh chủng Thông tin liên lạc - một binh chủng kỹ thuật, trên cơ sở giáo dục chính trị, tư tưởng còn phải hết sức coi trọng việc bồi dưỡng về mặt kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, xây dựng lực lượng thông tin vững mạnh toàn diện, động viên mọi cán bộ, chiến sĩ vươn lên làm chủ khoa học kỹ thuật - công nghệ; đồng thời giải quyết tốt mối quan hệ trong xây dựng lực lượng, huấn luyện đào tạo, quan hệ giữa chiến đấu, công tác và xây dựng, giữa số lượng và chất lượng. Đó là kinh nghiệm được rút ra về xây dựng và phát triển lực lượng thông tin nói chung và thông tin vô tuyến điện nói riêng trong chiến dịch này và các chiến dịch tiếp theo của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để vận dụng trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #73 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2025, 09:00:07 pm »

Ba là: Xây dựng kế hoạch tổ chức, bảo đảm thông tin vô tuyến điện kết hợp chặt chẽ với các loại phương tiện khác, không ngừng nâng cao nghệ thuật tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc quân sự.

Trên cơ sở quán triệt đường lối chính trị, quân sự của Đảng nắm vững phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân và phương thức chỉ huy của Bộ, đồng thời dựa vào khả năng thực tế của lực lượng thông tin quân sự và các loại phương tiện thông tin hiện có, Bộ Tư lệnh Binh chủng Thông tin đã từng bước chỉ đạo xây dựng hệ thống thông tin liên lạc quân sự một cách hợp lý với 3 loại phương tiện: hữu tuyến diện, vô tuyến điện và thông tin quân bưu. Từ năm 1968 trở đi, cùng với việc trang bị kỹ thuật thông tin được tăng cường về số lượng và chủng loại, thì hệ thống thông tin liên lạc quân sự đã có bước phát triển mới, bằng các loại phương tiện: vô tuyến điện sóng ngắn, sóng cực ngắn, vô tuyến điện tiếp sức, hữu tuyến điện và thông tin quân bưu, hình thành một hệ thống thông tin liên lạc tương đối hoàn chỉnh trên miền Bắc và nối liền đến các mặt trận ở chiến trường miền Nam. Trong các chiến dịch phản công (năm 1971), thành công của công tác tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc là sự kết hợp chặt chẽ hệ thống thông tin sẵn có tại chỗ ở khu vực mở chiến dịch với hệ thống thông tin cơ động triển khai theo phương án tác chiến cơ bản, kết hợp chặt chẽ các loại phương tiện thông tin của các cấp, hình thành hệ thống thông tin chiến dịch hoàn chỉnh.


Từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 3 tháng 3 năm 1971, khi địch đã hình thành hai cánh quân phía bắc và phía nam theo hướng Bản Đông - Sê Pôn, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định đánh những trận then chốt bẻ gãy cánh quân phía bắc và đánh thiệt hại nặng cánh quân phía nam, đồng thời tích cực chuẩn bị để chuyển sang tiến công trên toàn mặt trận thì hệ thống thông tin chiến dịch được khẩn trương củng cố và điều chỉnh. Đó là tăng cường điện đài cho cụm vô tuyến điện để bảo đảm liên lạc vô tuyến điện với tất cả các đơn vị tham gia chiến dịch; tăng thêm phiên liên lạc với các hướng chủ yếu và hướng quan trọng của chiến dịch; tập trung các điện đài cơ động do Binh chủng mang theo vào cụm vô tuyến điện sở chỉ huy chiến dịch để sử dụng thống nhất; củng cố vững chắc hệ thống thông tin của các đơn vị trên từng hướng; tổ chức thêm các trạm trung gian chuyển tiếp vô tuyến điện sóng cực ngắn trên các điểm cao, bảo đảm cho chỉ huy đơn vị cơ động đánh địch ở các khu vực. Nhờ vậy mà thông tin liên lạc đã bảo đảm thông suốt, liên tục cho chỉ huy đánh thắng nhiều trận then chốt trong giai đoạn 1 của chiến dịch, tiêu biểu như: trận tiêu diệt Tiểu đoàn 39 biệt động quân ở điểm cao 500 (20-2-1971), trận tiêu diệt Tiểu đoàn 3 dù (cả sở chỉ huy) ở điểm cao 543 (23-2-1971), trận tiêu diệt Tiểu đoàn 2 và 3 thuộc Sư đoàn 1 bộ binh địch ở khu vực Tam Luông và điểm cao 619 (27-2 và 1-3-1971). Mặt khác, thông tin chiến dịch còn góp phần làm tốt công tác truyền tin chiến thắng và động viên chính trị trong quá trình thực hành chiến dịch. Đặc biệt, ngày 28 tháng 2 năm 1971, giữa lúc chiến dịch đang diễn ra gay go quyết liệt, Tổng thống Việt Nam cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu tung tin là quân đội của chúng đã chiếm được Sê Pôn - đích cuối cùng của cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Để đập tan luận điệu tuyên truyền lừa bịp của địch, cơ quan thông tin Đoàn 559 đã chuyển kịp thời về Bộ Tổng Tham mưu băng ghi âm tuyên bố của ông Văn Đi - Chủ tịch Ủy ban hành chính huyện Sẽ Pôn là tại thị trấn Sê Pôn chưa hề có một tên địch nào đặt chân đến, nhân dân vẫn làm ăn bình thường và sẵn sàng chiến đấu. Băng ghi âm đó đã được nhanh chóng truyền đi trên làn sóng Đài tiếng nói Việt Nam, đưa lại một thắng lợi chính trị tinh thần rất lớn, cổ vũ động viên mạnh mẽ chiến sĩ và nhân dân cả nước tiếp tục giáng cho địch những thất bại thảm hại.


Từ ngày 4 đến 11 tháng 3 năm 1971, khi địch đưa lực lượng dự bị chiến dịch vào đánh chiếm cũng là thời cơ ta chuẩn bị chuyến sang tiến công trên toàn tuyến. Cơ quan thông tin chiến dịch đã kịp thời điều chỉnh các mạng, hướng thông tin, xử lý linh hoạt các tình huống bảo đảm liên lạc chỉ huy và hiệp đồng thông suốt, nhất là với các đơn vị cơ động tác chiến. Phát huy hiệu quả cao hệ thống vô tuyến điện sóng ngắn (và mạng hữu tuyến điện) trong quá trình thực hành chiến dịch, việc sử dụng kết hợp giữa hệ thống thông tin liên lạc cấp trên, cấp dưới và các binh chủng có nhiều tiến bộ. Vì vậy, đã góp phần bảo đảm cho chỉ huy đánh thắng nhiều trận lớn, như trận tập kích hỏa lực vào sân bay Tà Cơn và cụm Bản Đông (13-3-1971), trận tiêu diệt cụm cứ điểm ở điểm cao 723 (18-3-1971), điểm cao 660 (20-3-1971), các trận đánh địch rút chạy khỏi cụm cứ điểm Bản Đông (18 - 20-3-1971), trận tiêu diệt Lữ đoàn 174 lính thủy đánh bộ ở điểm cao 550 (22-3-1971).


Từ thực tiễn trên cho ta thấy: chỉ khi tổ chức, sử dụng kết hợp chặt chẽ các loại phương tiện mới phát huy được đầy đủ ưu điểm và khắc phục các nhược điểm của mỗi loại phương tiện, nâng cao được tính vững chắc của cả hệ thống thông tin liên lạc. Mặt khác, đây còn là một biện pháp có hiệu quả để phòng chống sự phá hoại của địch đối với hệ thống thông tin liên lạc của ta, như trường hợp địch gây nhiễu nặng đối với vô tuyến điện, vô tuyến điện tiếp sức, việc liên lạc khó khăn nhưng nếu các phương tiện thông tin hữu tuyến điện, thông tin quân bưu vẫn đảm bảo tốt thì việc chỉ huy bộ đội vẫn duy trì được liên lạc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #74 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2025, 09:01:45 pm »

Bốn là: Bảo vệ, giữ gìn bí mật thông tin liên lạc, phòng chống chiến tranh điện tử của địch, tích cực thực hành thông tin nghi binh lừa địch.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, kẻ địch tổ chức hệ thống trinh sát điện tử với các trang bị kỹ thuật hiện đại để tiến hành chiến tranh điện tử: thả các khí tài (như "cây nhiệt đới") dọc đường hành quân của ta theo tuyến đường Hồ Chí Minh để thu nghe tiếng động; bố trí các trạm cố định theo dõi hệ thống rađa trinh sát của ta trên các điểm cao, vùng giới tuyến, ven biển kết hợp với các trạm trên hạm đội, trên không và vệ tinh tiến hành trinh sát, chụp ảnh, thu nghe tín hiệu vô tuyến điện của ta để phát hiện sở chỉ huy các cấp, các đường hành quân, các khu vực tập kết; tìm cách đánh cắp tin tức qua các bức điện báo được phát đi, qua đó tìm hiểu ý đồ chiến lược, chiến dịch, sử dụng lực lượng của ta. Nhưng hệ thống trinh sát điện tử của chúng không phát hiện được vị trí bố trí các sở chỉ huy của ta để đánh phá. Đó là do các đơn vị thông tin đã làm tốt công tác nghi binh lừa địch, chấp hành nghiêm kỷ luật thông tin liên lạc; nghiên cứu, áp dụng nhiều biện pháp linh hoạt, sáng tạo như: xê dịch, thay đổi tần số làm việc, dùng giờ giả, sóng giả, thay đổi báo vụ kết hợp với thay đổi tên sóng liên lạc, quy định nhiều tần số dự bị cho một hướng, mạng liên lạc; sử dụng kết hợp nhiều loại phương tiện thông tin trên một hướng (nhất là hướng quan trọng); thay đổi hình thức liên lạc vô tuyến điện khi cần thiết (từ liên lạc báo moóc chuyên sang liên lạc thoại và ngược lại); tổ chức liên lạc đường vòng; sử dụng ăngten định hướng; thay đổi công suất máy phát...


Việc sử dụng linh hoạt, có hiệu quả các biện pháp trên đã góp phần bảo vệ thông tin liên lạc, giữ được bí mật ý định tác chiến, do đó cũng trực tiếp góp phần vào thắng lợi của các chiến dịch.

Trên thực tế, ngay trước khi mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, để tạo yếu tố bất ngờ, ta đã chủ động tổ chức nghi binh thông tin bằng vô tuyến điện: Sư đoàn 304 tổ chức một cụm vô tuyến điện sóng ngắn, dùng quy ước cũ liên lạc với Bộ và Binh đoàn 70, chuyển nhận các bức điện giả làm cho địch bị lừa cho là Sư đoàn 304 đã vào Tây Nguyên. Đặc biệt, tiểu đội vô tuyến sóng cực ngắn của Trung đoàn 205 tham gia phục vụ chiến dịch đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ làm đài trung gian chuyển tiếp trên địa bàn phía nam Quân khu 4, đồng thời còn dùng máy P105 phát sóng gây nhiễu đài địch và thực hiện nghi binh lừa địch rất hiệu quả. Từ thành công của công tác nghi binh thông tin nêu trên, càng khẳng định nghi binh thông tin là một bộ phận không thể thiếu trong kế hoạch nghi binh chiến dịch và chiến dịch thắng lợi có một phần đóng góp của hoạt động thông tin nghi binh lừa địch. Vì vậy, khi xây dựng và tiến hành kế hoạch, cần có sự chỉ đạo thống nhất, tập trung của cơ quan tham mưu để bảo đảm đạt kết quả cao nhất. Bảo vệ, giữ bí mật thông tin liên lạc, phòng chống trinh sát điện tử, tích cực nghi binh lừa địch là một bộ phận không thể thiếu trong nghệ thuật tổ chức và bảo đảm thông tin liên lạc của quân đội ta.


Những kinh nghiệm quý báu nêu trên có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với Binh chủng Thông tin liên lạc trong chiến đấu và xây dựng trước mắt cũng như lâu dài. Trong giai đoạn hiện nay, những kinh nghiệm quý báu đó vẫn còn nguyên giá trị. Việc nghiên cứu, hoàn thiện, vận dụng các kinh nghiệm trên trong điều kiện mới theo vùng, miền cần phải được sự quan tâm một cách nghiêm túc, đầy đủ, đúng mức của mọi cấp, mọi ngành. Đây là một vấn đề hết sức quan trọng, nhằm góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp của Bộ đội Thông tin liên lạc trong chiến tranh hiện đại cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #75 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2025, 07:08:46 pm »

TÁC CHIẾN CỦA BỘ ĐỘI PHÁO BINH TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÕNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971

Thiếu tướng NGUYỄN VĂN CÔN
Tư lệnh Binh chủng Pháo binh


Cách đây 4 thập kỷ (1971 - 2011), Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã diễn ra và giành được thắng lợi có ý nghĩa chiến lược: Không những giữ vững được tuyến vận chuyển Bắc - Nam mà còn tiêu diệt được một bộ phận lớn sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch; đánh bại một bước quan trọng chiến Lược "Việt Nam hoá chiến tranh", góp phần đưa cuộc kháng chiến tiến lên mạnh mẽ, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào còn đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc về nghệ thuật chiến dịch phản công của quân đội ta, cả về quy mô sử dụng lực lượng, phương pháp tác chiến hiệp đồng quân binh chủng và liên minh chiến đấu Việt - Lào.


Đối với địch, Đường 9 - Nam Lào là mục tiêu chiến lược phải đánh chiếm nhằm chặn đứng tuyến vận chuyển Bắc - Nam của ta và để thực hiện âm mưu "bóp nghẹt", "bịt nguồn sống" của các lực lượng ta trên chiến trường. Để thực hiện mưu đồ đó, Mỹ và chính quyền Sài Gòn mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Ngày 30 tháng 1 năm 1971, dưới sự chỉ huy của cố vấn Mỹ, được không quân, pháo binh và một vạn quân Mỹ đứng phía sau yểm trợ, hơn ba vạn lính chủ lực quân đội Sài Gòn, gồm những đơn vị sừng sỏ nhất như: sư đoàn dù, sư đoàn lính thủy đánh bộ, sư đoàn 1 bộ binh và một lực lượng lớn binh khí kỹ thuật gồm 460 xe tăng, xe bọc thép, 250 khẩu pháo, 700 máy bay lên thẳng cùng phối hợp với 4 tiểu đoàn (GM30) của quân đội chính phủ phái hữu Lào từ Đồng Hến đánh ra khu vực Mường Pha Lan (phía tây Đường 9), hòng đánh chiếm bằng được khu vực Đường 9 - Nam Lào.


Về ta, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết tâm tập trung lực lượng cùng với quân đội Pathét Lào đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch; đánh bại một bước quan trọng chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của chúng, giữ vững tuyến vận chuyển Bắc - Nam, bảo vệ kho tàng và vùng căn cứ cách mạng trên đất bạn Lào. Lực lượng tham gia chiến dịch nòng cốt là 5 sư đoàn (308, 304, 320, 324 và Sư đoàn 2); cùng với lực lượng tại chỗ của B4, B5, Đoàn 559; 4 trung đoàn tăng thiết giáp, 4 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn phòng không, 3 trung đoàn công binh cùng một số tiểu đoàn đặc công của Bộ, phối hợp với bộ đội Pathét Lào chặn địch từ phía tây Đường 9.


Bởi vậy, mùa khô năm 1971, Đường 9 - Nam Lào là điểm đối đầu quyết liệt giữa ta và địch.

Trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, bộ đội pháo binh đã tham gia hàng chục trận đánh, và mỗi trận đánh đều phát huy hiệu quả hoả lực chi viện cho lực lượng binh chủng hợp thành, tiêu diệt gọn từng tiểu đoàn, trung (lữ) đoàn địch; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao.


Nghệ thuật tác chiến của bộ đội pháo binh được rút ra từ thực tiễn hoạt động trong chiến dịch là:

1. Nắm vững phương châm chiến lược của Bộ Chính trị, tích cực chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị chiến trường, sẵn sàng đánh địch theo phương án.

Đánh giá đúng bản chất hiếu chiến và phiêu lưu củạ Níchxơn, từ sớm, Bộ Chính trị nhận định: trong mùa khô 1970 - 1971, địch có thể mở cuộc tiến công quy mô vừa và lớn bằng lực lượng quân đội Sài Gòn, có một bộ phận quân Mỹ hỗ trợ vào vùng Trung - Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia, nhằm phá hủy cơ sở hậu cần, cắt đứt hành lang vận chuyển Bắc - Nam, cô lập hơn nữa chiến trường miền Nam; đồng thời chỉ thị cho Bộ Quốc phòng và Tư lệnh các chiến trường, nhất là các Tư lệnh đang chỉ đạo hoạt động tác chiến ở khu vực Đường 9 - Nam Lào khẩn trương chuẩn bị mọi mặt đê kịp thời đánh địch.


Nắm vững phương châm chiến lược của Bộ Chính trị và đươc sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, ngay từ đầu năm 1970, Bộ Tư lênh Pháo binh đã gấp rút chuẩn bị cả về lực lượng và chiến trường để đáp ứng với mọi yêu cầu, nhiệm vụ trên giao.

- Về chuẩn bị lực lượng: Binh chủng Pháo binh đã tích cực chủ động ổn định biên chế tổ chức, bổ sung xe pháo, đạn và trang bị cho các trung đoàn pháo binh dự bị 38, 45, 675 204 16 và Trung đoàn Trinh sát kỹ thuật 97; tăng cường vật chất, khí tài và cán bộ chỉ huy đã qua đào tạo tại Trường Sĩ quan Pháo binh cho các trung đoàn 164, 166, 154, 178, 368 và Trung đoàn 84 của các quân khu, mặt trận. Điều Trung tá Nguyễn Trung Kiên của Trung đoàn 45 về làm Chủ nhiệm Pháo binh Binh đoàn 70 mới thành lập; phối hợp cùng với Sư đoàn bộ binh 2, Quân khu 5 điều động một số phân đội hoả lực để lại toàn bộ pháo mang vác và các trang bị nặng, bí mật cơ động từ huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam ra Mặt trận Đương 9 - Nam Lào nhận nhiệm vụ mới. Trung đoàn pháo binh 368 của Quân khu Trị - Thiên ở tây Thừa Thiên cũng được điều gấp ra Nam Lào, đồng thời bổ sung thêm đạn và trang bị cho Trung đoàn 84, Trung đoàn 38 thuộc Mặt trận bắc Quảng Trị (B5) và thành lập Ban pháo Đoàn 559 để sẵn sàng đánh địch theo phương án.

- Về chuẩn bị chiến trường: Mùa hè năm 1970, Bộ Tư lệnh Pháo binh giao nhiệm vụ cho Trung đoàn Trinh sát kỹ thuật 97 cử một phân đội đo đạc vào Đường 9 - Nam' Lào tiến hành đo đạc, lập mạng làm dày mốc đo đạc pháo binh. Đồng thời, tổ chức một đoàn cán bộ của Bộ Tư lệnh kết hợp với Đoàn 70 vào nghiên cứu thực địa tại khu vực Đường 9 - Nam Lào.


Đến đầu tháng 2 năm 1971, Binh chủng đã cơ bản hoàn thành kế hoạch điều động lực lượng và chuẩn bị chiến trường. Đây là một trong những chiến dịch mà lực lượng Pháo binh được huy động cao nhất so với các chiến dịch trước đó (cả về chuẩn bị lực lượng và thiết bị chiến trường), nên đã tạo ra thế trận chiến dịch có chuẩn bị trước; pháo binh có đầy đủ yếu tố để lựa chọn trận địa, bố trí đội hình chiến đấu và sử dụng lực lượng một cách hợp lý; có khả năng phát huy hoả lực theo yêu cầu tác chiến của bộ đội binh chủng hợp thành.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #76 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2025, 07:09:24 pm »

2. Tổ chức sử dụng pháo binh hơp lý, bào đảm tính vững chắc, liên hoàn, hiểm hóc, có trọng điểm.

Sau nỗ lực chuẩn bị lực lượng, thiết bị chiến trường, ta chủ động điều động lực lượng, bố trí lại thế đứng chân của Trung đoàn pháo binh xe kéo 368, Trung đoàn 84 pháo phản lực mang vác ĐKB đang có mặt tại địa bàn dự kiến xảy ra chiến dịch và pháo binh Sư đoàn 2, Sư đoàn 324 tham gia chiến dịch; một số đại đội, tiểu đoàn pháo có trong biên chế của 5 sư đoàn bộ binh và các phân đội pháo của Đoàn 559.


Lực lượng Pháo binh tham gia chiến dịch, bao gồm: 4 trung đoàn pháo binh của Bộ, trong đó có: 3 trung đoàn pháo xe kéo, 1 trung đoàn pháo mang vác, cùng với 277 khẩu pháo mang vác (gồm ĐKB, cối 120, cối 82 và ĐKZ) của các đơn vị: Trung đoàn 84, 38, 45, 368 và một số đại đội, tiểu đoàn của các trung đoàn pháo 16, 204, 675, Đoàn 559. Theo phương án, ngay từ tháng 1 năm 1971, Pháo binh đã hình thành 2 thành phần lực lượng chủ yếu là: Pháo binh của lực lượng tại chỗ và Pháo binh của lực lượng cơ động. Pháo binh của lực lượng tại chỗ bao gồm các đơn vị pháo binh của Mặt trận Trị - Thiên, của Đoàn 559 đang làm nhiệm vụ trên địa bàn chiến dịch. Pháo binh của lực lượng cơ động bao gồm các đơn vị pháo binh dự bị của Bộ, được tổ chức thành 4 cụm pháo binh. Lực lượng còn lại tăng cường cho các sư đoàn, trung đoàn bộ binh trên các hướng chiến dịch và được phân chia, bố trí theo chiều sâu nhiệm vụ từ Đông Hà qua Sa Mưu, Lao Bảo, Bản Đông và Sê Pôn...


Theo cách bố trí này, Pháo binh tại chỗ có khả năng chi viện cho Đoàn 559, B4, B5 từng bước ngăn chặn địch khi chúng hành quân vượt qua biên giới và chặn địch ở khu vực Bản Đông - Lao Bảo, bảo vệ kho tàng và đường vận chuyển chiến lược. Pháo binh của lực lượng cơ động được bố trí ở tuyến sau, sẵn sàng chi viện cho các lực lượng cơ động thực hành phản công giành thắng lợi.


3. Tập trung ưu thế pháo binh hợp lý, đúng thời cơ vào các trận đánh quan trong, then chốt của chiến dịch.

Sử dụng pháo binh tập trung, đạt được ưu thế cần thiết về hoả lực chi viện cho binh chủng hợp thành đánh thắng địch trong các trận đánh then chốt, đúng thời cơ để từng bước tạo ra đột biến có lợi cho sự phát triển của chiến dịch, là một trong những nguyên tắc cơ bản của nghệ thuật tác chiến pháo binh. Tập trung pháo binh hợp lý được thể hiện ở kết quả hoả lực: chi viện kịp thời, liên tục, đạt hiệu quả cao trong chiến đấu, tạo nên những đòn hoả lực cần thiết, đủ mạnh để chế áp vào những đối tượng, mục tiêu chủ yếu và thời cơ quan trọng, là một trong những biện pháp tác chiến quan trọng của Bộ đội Pháo binh, nhằm bảo đảm chi viện cho bộ binh, xe tăng chiến đấu, giành thắng lợi trong mọi nhiệm vụ của chiến dịch.


Xuất phát từ yêu cầu chung đó, trong chiến dịch này nguyên tắc tập trung luôn được các lực lượng Pháo binh vận dụng hết sức linh hoạt và sáng tạo, ngoài việc thể hiện ở số lượng, chất lượng Pháo binh được huy động, còn tập trung cả về con người, khả năng tổ chức chỉ huy, bảo đảm cho các trận đánh trọng điểm. Trong đợt mở đầu (30.1 - 7.2.1971), ta đã sử dụng 2 trung đoàn pháo binh (368 và 84) cùng với pháo binh của Đoàn 559, B5 tham gia chặn địch trên hướng Bản Đông, Trung đoàn 84 luồn sâu vào tây đường 71, nên đã tập kích hoả lực chính xác vào căn cứ hậu cần, sở chỉ huy địch ở Sa Mưu, Đông Hà điểm cao 544, 241, bãi đổ bộ đường không trên điểm cao 435 (bắc điểm cao 543), đồi Yên Ngựa (Ta Pang)... đập tan ý đồ lập căn cứ của Sư đoàn 1 bộ binh quân đội Sài Gòn.


Trận đánh địch trên điểm cao 723, ta đã khéo léo kết hợp giữa pháo xe kéo cùng với súng cối đi cùng chi viện cho Sư đoàn bộ binh 2 thực hành đánh chiếm điểm cao 723 giành thắng lợi, xoá sổ 2 trung đoàn địch tại đây. Từ ngày 15 đến ngày 23 tháng 3, ta sử dụng 4 khẩu Đ74 của Trung đoàn 368 bắn vào sở chỉ huy và trận địa pháo địch ở phía đông điểm cao 550, chi viện cho Sư đoàn 324 tiêu diệt gọn lữ đoàn thủy quân lục chiến địch trên điểm cao 550. Để mở đầu đợt tống công kích vào các lực lượng chủ yếu của địch, Pháo binh toàn chiến dịch đã tập trung hoả lực bắn phá mạnh mẽ vào 7 căn cứ hoả lực và lực lượng của địch tại Tà Cơn, Lao Bảo, Tà Púc, các điểm cao 462, bắc điểm cao 550 và 723, làm tê liệt hệ thống hoả lực pháo binh và hệ thống điều hành của chỉ huy địch. Cùng phối hợp với Pháo binh chiến dịch, trên hướng đông, Trung đoàn 84 sử dụng ĐKB bắn phá căn cứ đông Tà Cơn, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thuận lợi.


Khi Sư đoàn 2 và Sư đoàn 320 bước vào phản công, ta tập trung cả 2 trung đoàn pháo xe kéo (45, 368) cùng với súng cối đi cùng chi viện cho bộ binh, xe tăng đánh chiếm khu vực Bản Đông. Trước nguy cơ bị bao vây, tiêu diệt, đêm ngày 18 tháng 3, quân địch phải bỏ Bản Đông, để lại tất cả xe, pháo luồn theo đường rừng tháo chạy. Trung đoàn 45 tập trung hỏa lực phối hợp với pháo binh tại chỗ bắn vào đội hình rút chạy của địch.


Có thể khẳng định, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào là chiến dịch phản công có quy mô lớn và hiệp đồng tác chiến binh chủng bài bản. Cùng với sự phát triển của nghệ thuật chiến dịch, nghệ thuật sử dụng pháo binh chiến dịch có những bước phát triển mới: tổ chức hai lực lượng cơ bản là lực lượng pháo binh tại chỗ và lực lượng pháo binh cơ động để có thể đánh phủ đầu chi viện cho lực lượng chặn, cắt, đánh tiêu hao, tiêu diệt từng bước không cho địch thực hiện được ý đồ đánh chiếm Đường 9 - Nam Lào, đồng thời có lực lượng Pháo binh dự bị mạnh, sẵn sàng chi viện cho lực lượng cơ động thực hành phản công giành thắng lợi triệt để.


Với thế bố trí pháo binh hợp lý, chúng ta đã tạo ra khả năng, thế đánh địch trên mọi hướng; cả phía trước, phía sau, bên sườn và có khả năng khống chế hoả lực trên phạm vi toàn chiến dịch. Việc phân chia pháo binh trong chiến đấu đã tạo ra cấp nào cũng có hoả lực nắm trong tay, tập trung nhiều hơn cho lực lượng cơ động tiến công để tạo sức mạnh tổng hợp, giải quyết triệt để nhiệm vụ chiến dịch. Sự tận dụng ưu thế hoả lực của từng loại pháo để giải quyết mâu thuẫn giữa đánh tập trung và đánh rộng khắp; phát huy hiệu quả hoả lực của pháo xe kéo, coi trọng hoả lực pháo đi cùng để luồn sâu, đánh hiểm, tạo ra thế đánh, thế chặn cắt và thế phản công hết sức hiệu quả.


Như vậy, nghệ thuật sử dụng pháo binh trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào 1971 đã khẳng định vai trò quan trọng của hoả lực pháo binh trong chiến dịch hiệp đồng binh chủng, mở đầu một thời kỳ mới của nghệ thuật sử dụng pháo binh trong các chiến dịch phản công, trong tác chiến hiệp đồng quân binh chủng những năm tiếp sau đó của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Những kinh nghiệm sử dụng pháo binh trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào nói riêng, trong kháng chiến chống Mỹ nói chung vẫn còn có giá trị thực tiễn thiết thực cho công cuộc xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #77 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2025, 07:13:46 pm »

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG TĂNG THIẾT GIÁP TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO

Đại tá TẠ QUANG THỤC
Phó Tư lệnh Binh chủng Tăng thiết giáp


Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào (30.1 - 23.3.1971) là chiến dịch quy mô lớn của quân và dân ta phối hợp với các lực lượng vũ trang cách mạng Lào tiến hành và giành thắng lợi to lớn, đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ và quân đội Sài Gòn, góp phần làm thất bại chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta phát triển thuận lợi, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với nhân dân Lào anh em.


Trong chiến dịch này, lực lượng Tăng thiết giáp được sử dụng với quy mô và số lượng lớn nhất tính đến thời điểm đó (3 tiểu đoàn, gồm 88 xe tăng, xe thiết giáp các loại), được Bộ Tư lệnh chiến dịch sử dụng phối thuộc cho các trung đoàn, sư đoàn bộ binh, chiến đấu 5 trận trong giai đoạn 2 và giai đoạn 3 của chiến dịch, trong đó có trận then chốt, then chốt quyết định. Một số trận đạt hiệu suất chiến đấu cao như trận tiến công tiêu diệt đich phòng ngự điểm cao 543 (25-2) và trận đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn thủy quân lục chiến 147 quân đội Sài Gòn ở điểm cao 550 (22-3).


Trong đợt 1 chiến dịch (30.1 - 7.2.1971), địch điều động lực lượng chuẩn bị tiến công, ta triển khai thế trận nhằm tiêu hao lực lượng và làm chậm bước tiến của địch. Các đơn vị xe tăng được lệnh cơ động đến vị trí tập kết bí mật, an toàn: Tiểu đoàn tăng 198 chiếm lĩnh các khu vực tập kết ở phía tây và bắc Đường 9; Tiểu đoàn tăng 297 hành quân theo trục đường 16 và đường 10 xuống khu vực phía bắc Bản Đông; Tiểu đoàn tăng 397 từ Quảng Bình cũng hành quân vào khu vực bắc Đường 9, chuẩn bị tham gia chiến đấu.


Trong đợt 2 chiến dịch (8.2 - 11.3.1971), ta triển khai hoạt động tác chiến rộng khắp, nhằm ngăn chặn dịch từng bước, tập trung lực lượng bẻ gãy cánh quân phía bắc, đánh thiệt hại nặng cánh quân phía nam và tích cực chuẩn bị tiến công vào đội hình cơ động của địch. Ngày 25 tháng 2 Tiểu đoàn tăng 198 phối thuộc cho bộ binh tiến công địch phòng ngự ở điểm cao 543 và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đánh chiếm sở chỉ huy Lữ dù 3 và trận địa hoả lực của địch. Xe tăng 555 đã anh dũng chiến đấu, bắn rơi 1 máy bay F4, cùng các lực lượng chiến dịch tiêu diệt 1 tiểu đoàn bộ binh địch, 1 đại đội pháo, sở chỉ huy Lữ dù 3, bắt sống 138 tên, trong đó có viên lữ đoàn trưởng cùng ban tham mưu Lữ dù 3 quân đội Sài Gòn. Trong trận này, Tiểu đoàn tăng 198 đã làm tốt công tác chuẩn bị, từ ngày 18 tháng 2 Tiểu đoàn trưởng và các đại đội trưởng đã nhiều lần trinh sát thực địa và thấy rằng các hướng tây, tây bắc và đông bắc điểm cao 543 độ dốc lớn, xe tăng không thể lên được chỉ có hướng đông nam độ dốc thoải và thấp, xe tăng có thể lên được nhưng có nhiều cây to, nếu chặt cây để mở đường thì sẽ bị máy bay địch phát hiện. Vì vậy, để thực hiện quyết tâm đưa được 1 đến 3 xe tăng đánh vào sở chỉ huy Lữ dù 3 của địch, đơn vị đã đề nghị công binh mở đường cho xe tăng tiến công từ hướng đông nam. Để giữ bí mật, bất ngờ, các cây to không chặt đổ ngay mà chỉ cưa đứt phần lớn thân cây về hướng tiến của xe tăng, khi có lệnh xuất kích thì xe tăng sẽ húc đổ cây để cơ động. Bằng cách này, 3 xe tăng của Tiểu đoàn tăng 198 đã nhanh chóng vượt qua hoả lực ngăn chặn của pháo binh và máy bay địch, phối hợp hiệp đồng chiến đấu tốt, phát huy được sức đột kích mạnh, thọc sâu nhanh, trong đó xe tăng 555 đã dũng mãnh đánh thẳng vào sở chỉ huy Lữ dù 3 ở điểm cao 543. Xe tăng đã lợi dụng kết quả vây lấn của bộ binh, phối hợp với các lực lượng tiêu diệt gọn quân địch, nhanh chóng làm chủ chiến trường.


Ngày 27 tháng 2, Đại đội tăng 7 thuộc Tiểu đoàn tăng 297 và Đại đội tăng 9 thuộc Tiểu đoàn tăng 198 phối thuộc cho bộ binh đánh địch phản kích chiếm lại điểm cao 543, tiêu diệt một bộ phận quân địch thuộc Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn 8 dù đang dừng lại ở khu vực điểm cao 543 và tiến công địch ra phản kích ở đồi Không tên (nam điểm cao 543). Mặc dù thời gian chiến đấu gấp, công tác nắm địch và chuẩn bị chiến đấu chưa được tốt, nhưng xe tăng đã hoàn thành nhiệm vụ tiến công trên hướng chủ yếu, vừa đánh trả máy bay địch, vừa khắc phục đường lầy dốc, tiêu diệt nhiều xe tăng và bộ binh địch, đánh bật chúng khỏi điểm cao 543, tạo điều kiện cho bộ binh ta tiêu diệt Thiết đoàn 17 và đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 8 dù của quân đội Sài Gòn.


Trong đợt 3 chiến dịch (12.3 - 23.3.1971), thực hiện kế hoạch tiến công địch rộng khắp, đồng thời tập trung lực lượng đánh trận then chốt quyết định, ngày 20 và 21 tháng 3, xe tăng được sử dụng với lực lượng lớn (5 đại đội) phối thuộc cho các trung đoàn bộ binh tiêu diệt địch phòng ngự ở Bản Đông và đánh địch rút chạy khỏi Bản Đông. Tiếp đó, ngày 23 tháng 3, xe tăng phối thuộc cho bộ binh tiến công Lữ đoàn thủy quân lục chiến 147 phòng ngự điểm cao 550.


Do chuẩn bị gấp, khắc phục vật cản cho xe tăng gặp khó khăn và bị máy bay địch đánh phá quyết liệt, nên cả hai hướng tiến công địch ở Bản Đông đều triển khai chiến đấu chậm, sáng 20 tháng 3, đến Bản Đông thì địch đã rút chạy, xe tăng được lệnh cùng bộ binh chuyển sang truy kích địch theo trục Đường 9 tới Huội San... Đến 21 tháng 3, xe tăng cùng các lực lượng ta đã hoàn toàn làm chủ Bản Đông. Kết quả đợt 3, lực lượng Tăng thiết giáp cùng với bộ binh đã tiêu diệt khoảng 1.600 tên địch, bắt 87 tù binh, thu 289 súng các loại, bắn rơi 51 máy bay, phần lớn là máy bay lên thẳng, riêng lực lượng Tăng thiết giáp bắn rơi 3 máy bay, thu 1 xe tăng M41, 3 xe bọc thép M113, cùng các lực lượng khác thu thêm 7 xe tăng, xe thiết giáp và một số xe quân sự của địch.


Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào khẳng định vai trò quan trọng của lực lượng Tăng thiết giáp trong đội hình binh chủng hợp thành. Lực lượng Tăng thiết giáp không chỉ tham gia chiến dịch tiến công mà còn hoàn thành tốt nhiệm vụ trong chiến dịch phản công và các loại hình chiến dịch khác. Mặc dù lực lượng Tăng thiết giáp được sử dụng tham gia tác chiến chưa nhiều, lần thứ hai tham gia chiến dịch phản công (sau Chiến dịch phản công 139 trên chiến trường Lào cuối 1969 - đầu 1970). Trong chiến dịch này, lực lượng Tăng thiết giáp tham gia với số lượng tương đối lớn và được tập trung sử dụng vào các trận then chốt, then chốt quyết định và các trận đánh quan trọng của chiến dịch. Tăng thiết giáp đã vận dụng nhiều hình thức chiến thuật như tiến công địch phòng ngự điểm cao, đánh địch phản kích và đánh đuổi địch rút chạy... Cán bộ, chiến sĩ thể hiện rõ tinh thần quyết tâm tiêu diệt địch, vận dụng linh hoạt, sáng tạo cách đánh của chiến dịch, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.


Việc chọn thời cơ nổ súng vào ban ngày và không cưa đứt hoàn toàn những cây to trên đường tiến công điểm cao 543, vừa tiết kiệm công sức bộ đội, vừa bảo đảm bí mật bất ngờ; sáng kiến lắp thêm súng máy 12,7mm trên xe tăng PT-76 góp phần bắn rơi máy bay địch, bảo vệ đội hình tiến công của ta. Đó là sự sáng tạo độc đáo xuất phát từ kinh nghiệm thực tiễn trong chiến đấu của bộ đội Tăng thiết giáp và những yêu cầu cụ thể của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào.


Về đội hình chiến đấu của Tăng thiết giáp, trong điều kiện địa hình không cho phép, số lượng xe tăng, xe thiết giáp của ta có hạn và tiến công địch phòng ngự trên từng mỏm đồi như ở dãy điểm cao 543, thì tổ chức đội hình 1 thê đội và đội dự bị là phù hợp. Thực tế cho thấy đội hình này vừa tập trung được sức mạnh đột phá, vừa có điều kiện phát triển chiến đấu liên tục, sử dụng 1 đại đội tăng bí mật cơ động đến khu vực nam Đường 9 để tiến công địch ở điểm cao 550 là hành động gây bất ngờ đối với địch, góp phần làm cho trận đánh nhanh chóng giành thắng lợi.


Trong cách đánh chung của binh chủng hợp thành, xe tăng đã lợi dụng kết quả vây lấn, tiến công của bộ binh để cô lập, tiêu hao lực lượng và phương tiện của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch dứt điểm bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng. Thực hiện cách đánh này, Tăng thiết giáp có điều kiện làm tốt công tác chuẩn bị chiến đấu, sau đó cơ động triển khai đội hình tiến công địch, nâng cao sức mạnh đột kích, hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu trong thời gian ngắn.


Với những ưu điểm đó, Tăng thiết giáp đã phát huy tốt vai trò là lực lượng đột kích quan trọng của lục quân, phát huy được tác dụng của mọi vũ khí trên xe, hiệp đồng chặt chẽ với bộ binh, công binh và các lực lượng khác, đột phá mạnh, thọc sâu nhanh, kiên quyết tiêu diệt địch, làm chủ chiến trường.


Tuy vậy, do công tác bảo đảm chưa chu đáo nhất là bảo đảm cơ động, phòng không, kỹ thuật, thông tin liên lạc... nên số lượng Tăng thiết giáp vào trực tiếp chiến đấu chưa được nhiều (toàn chiến dịch mới sử dụng 5/8 đại đội), có đơn vị như Đại đội tăng 9 thuộc Tiểu đoàn 198 có 9 xe tăng, khi đánh chiếm điểm cao 543, do chuẩn bị kỹ thuật không tốt nên chỉ có 5 xe bước vào chiến đấu. Có trường hợp do thông tin liên lạc không thông suốt nên nhận lệnh chiến đấu chậm (lực lượng dự bị của Đại đội tăng 9 thuộc Tiểu đoàn tăng 198 khi tiến công điểm cao 543 ngày 25-2).


Sử dụng lực lượng Tăng thiết giáp có trận chưa phù hợp, như sử dụng lực lượng Tăng thiết giáp đánh vào quân địch mạnh ở trận đánh địch phản kích điểm cao 543 ngày 27 tháng 2, dịch có 70 xe tăng các loại, được hoả lực không quân chi viện, trong khi đó ta chỉ có 7 xe T54 và 3 xe PT-76. Do công tác nắm địch chưa tốt, ta không tổ chức hoả lực phòng không bắn máy bay địch, không tăng cường vũ khí chống tăng cho các đơn vị... nên bộ binh va xe tăng bị tổn thất lớn, riêng xe tăng cháy và hỏng 9 chiếc; sử dụng lực lượng Tăng thiết giáp còn thiếu tập trung nên không tạo được sức mạnh áp đảo quân địch, như trận tiến công tiêu diệt địch ở điểm cao 543, Đại đội tăng 9 có 6 xe tăng, cũng tổ chức thành 2 thê đội, môi thê đội 3 xe.


Công tác chuẩn bị chiến đấu, tổ chức hiệp đồng có trận làm chưa tốt, nhất là giữa xe tăng với bộ binh, triển khai đánh địch chậm, hành động chiến đấu của bộ binh và xe tăng không nhịp nhàng, bỏ lỡ thời cơ tiêu diệt địch (trận Bản Đông, xe tăng đã xuất kích chiếm tuyến triển khai, nhưng bộ binh chưa vào kịp nên xe tăng phải quay ra). Có trận do hiệp đồng chưa tốt nên xe tăng bị tổn thất lớn, Đại đội tăng 7 thuộc Tiểu đoàn 297 trong trận đánh Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn 8 quân dù ở nam điểm cao 543, do nắm không chắc địch và địa hình, triển khai đội hình chiến đấu của xe tăng không có pháo binh, phòng không chi viện nên chỉ có 1 xe tăng vào chiến đấu, 6 xe còn lại đều bị máy bay địch đánh hỏng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #78 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2025, 07:16:32 pm »

Từ thực tiễn kinh nghiệm tác chiến của lực lượng Tăng thiết giáp trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971, để lực lượng Tăng thiết giáp phát huy vai trò và khả năng của mình, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong chiến dịch phản công, chúng tôi xin nêu một số vấn đề để nghiên cứu:

Một là, nắm chắc tình hình địch, phán đoán đúng âm mưu, thủ đoạn, quy luật hoạt động, hướng tiến công của chúng, trên cơ sở đó xây dựng phương án tác chiến và sử dụng Tăng thiết giáp phù hợp.

Đây là yêu cầu hàng đầu quyết định thắng lợi của chiến dịch phản công. Trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, lực lượng Tăng thiết giáp đã quán triệt sâu sắc nhiệm vụ và cách đánh của chiến dịch, làm tốt công tác nghiên cứu, nắm vững tình hình địch, đề xuất với trên các phương án sử dụng phù hợp, do đó Tăng thiết giáp được sử dụng cùng binh chủng hợp thành đánh một số trận then chốt, then chốt quyết định như tiến công địch ở điểm cao 543, 550, tiến công địch phòng ngự Bản Đông... đạt hiệu suất chiến đấu cao. Tuy nhiên, có trận do nắm địch chưa tốt, chuẩn bị chiến đấu không chu đáo, hiệp đồng thiếu chặt chẽ dẫn đến tổn thất lớn. Trong tương lai, địch chiếm ưu thế về vũ khí công nghệ cao, về tác chiến điện tử, về sức cơ động..., tình huống diễn biến rất mau lẹ và phức tạp. Do đó nghiên cứu, nắm vững tình hình địch, dự đoán đúng âm mưu, thủ đoạn tác chiến của chúng là nội dung rất quan trọng, trên cơ sở đó để xác định phương án tác chiến và sử dụng Tăng thiết giáp phù hợp.


Hai là, sử dụng tập trung Tăng thiết giáp vào hướng, mục tiêu tiến công chủ yếu, các trận then chốt, then chốt quyết định của chiến dịch.

Chiến dịch phản công trong tương lai sẽ diễn ra rất ác liệt, lực lượng Tăng thiết giáp của ta hạn chế so với lực lượng Tăng thiết giáp và phương tiện chống tăng của địch nhiều lần cả về số lượng và chất lượng, nên chỉ có sử dụng Tăng thiết giáp tập trung mới tạo được lực lượng đủ mạnh để đánh thắng địch. Để đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trong từng trận then chốt, then chốt quyết định, việc bố trí, sử dụng lực lượng Tăng thiết giáp trong chiến dịch phản công cần phải linh hoạt, sáng tạo, có thể tập trung lực lượng nhanh nhất vào nhiệm vụ, hướng, mục tiêu chủ yếu, tạo ra ưu thế hơn địch tại thời điểm quyết định để đánh bại lực lượng tiến công của chúng.


Thực tiễn trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, so sánh tương quan lực lượng của ta và địch là 1/7, nhưng do ta biết tập trung lực lượng Tăng thiết giáp phù hợp nên trong nhiều trận đánh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ tiêu biểu là trận then chốt chiến dịch ngày 20 và 21 tháng 3, sử dụng tới 5 đại đội tăng tham gia, nên trong thời gian ngắn ta đã tạo được sức mạnh tiến công địch co cụm phòng ngự Bản Đông, đồng thời cùng bộ binh hoàn thành tốt nhiệm vụ truy kích địch theo trục Đường 9 lên Huội San.


Ba là, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức chiến thuật của xe tăng trong chiến dịch phản công.

Đây là nội dung có ý nghĩa quyết định khả năng hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu của Tăng thiết giáp, vì có cách đánh phù hợp mới phát huy được sức mạnh đột kích, cùng bộ binh và các lực lượng chiến dịch tạo thành sức mạnh tổng hợp trong chiến đấu. Tăng thiết giáp phải căn cứ vào tình hình mọi mặt như nhiệm vụ và cách đánh chiến dịch, cách đánh của Tăng thiết giáp trong đội hình binh chủng hợp thành, đặc biệt là nắm vững trạng thái của địch trong từng thời điểm nhất định để vận dụng các hình thức chiến thuật và thủ đoạn chiến đấu cho phù hợp.


Trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, Tăng thiết giáp đã vận dụng nhiều hình thức chiến thuật như tiến công địch phòng ngự trận địa, tiến công tiêu diệt địch phản kích, co cụm, rút chạy...; với nhiều thủ đoạn chiến đấu được vận dụng như đột phá trận địa phòng ngự đột phá kết hợp thọc sâu vào sở chỉ huy... Từ thực tế trên có thể nghiên cứu vận dụng các hình thức chiến thuật và thủ đoạn chiến đấu của Tăng thiết giáp trong từng trang thái dịch cụ thể:

- Khi địch ở trạng thái cơ động tiến công, Tăng thiết giáp có thể vận dụng hình thức chiến thuật vận động tiến công và thủ đoạn đột kích là chủ yếu.

- Khi địch ở trạng thái tạm dừng, Tăng thiết giáp có thể vận dụng hình thức chiến thuật vận động tập kích và thủ đoạn đột kích là chủ yếu, kết hợp với thủ đoạn thọc sâu khi có điều kiện.

- Khi địch ở trạng thái co cụm, thì Tăng thiết giáp dựa vào thế trận khu vực phòng thủ địa phương, thế trận chiến dịch phản công, hiệp đồng chặt chẽ với bộ binh và các lực lượng chiến dịch, có thể vận dụng hình thức chiến thuật tiến công trận địa, kết hợp với thủ đoạn đột phá là chủ yếu, đồng thời kết hợp linh hoạt các thủ đoạn thọc sâu vu hồi... để tiêu diệt địch.


Bốn là, tổ chức chỉ huy hiệp đồng tác chiến chặt chẽ, liên tục giữa lực lượng Tăng thiết giáp với các lực lượng tham gia chiến dịch.

Tăng thiết giáp thường được tăng cường, phối thuộc cho bộ binh, đảm nhiệm nhiệm vụ trên hướng tiến công chủ yếu, thực hiện các trận đánh then chốt, then chốt quyết định của chiến dịch. Người chỉ huy binh chủng hợp thành cần có nhiều biện pháp nắm chắc các đơn vị xe tăng trên các hướng, kịp thời điều chỉnh, bổ sung kế hoạch tác chiến, chỉ huy xử trí tình huống mau lẹ, quyết đoán. Để nâng cao hiệu quả tổ chức chỉ huy đối với lực lượng Tăng thiết giáp, chỉ huy binh chủng hợp thành cần thông qua đại diện Tăng thiết giáp và bảo đảm thông tin liên lạc vững chắc trong mọi tình huống.


Thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng cả về quân sự và chính trị. Đánh bại quân chủ lực ngụy dưới sự yểm trợ của Mỹ, đánh dấu một bước thất bại nghiêm trọng của chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", mở ra thời cơ mới đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến toàn thắng. Bộ đội Tăng thiết giáp sau 4 năm chiến đấu trên chiến trường miền Nam và làm nhiệm vụ quốc tế, đã tham gia 4 chiến dịch, trong đó, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đánh dấu sự phát triển mới về quy mô sử dụng lực lượng và nghệ thuật tác chiến của Tăng thiết giáp trong đội hình binh chủng hợp thành.


Những bài học kinh nghiệm rút ra từ sử dụng Tăng thiết giáp trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào cách đây 40 năm vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Hiện nay, trước yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, việc nâng cao trình độ và khả năng chiến đấu của quân đội ta là vấn đề vừa cấp thiết trước mắt, vừa có tính cơ bản lâu dài. Vì vậy, Binh chủng Tăng thiết giáp đã nghiêm túc tổ chức tổng kết hoạt động tác chiến của lực lượng Tăng thiết giáp trong chiến dịch này nhằm tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí của Tăng thiết giáp trong chiến tranh giải phóng dân tộc và vận dụng những bài học kinh nghiệm đó vào xây dựng và huấn luyện nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của Binh chủng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #79 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2025, 07:23:28 pm »

LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN VỚI CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO VÀ CÁC CHIẾN TRƯỜNG PHỐI HỢP NĂM 1971

Thiếu tướng, TS ĐỖ VĂN THUYẾT
Viện trưởng Viện Lịch sử Công an - Bộ Công an


Cách đây 40 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta phối hợp với quân và dân các bộ tộc Lào mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ và quân đội Sài Gòn, lập nên chiến công to lớn. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào năm 1971 làm thay đổi cục diện chiến trường có lợi cho cách mạng ba nước Đông Dương, làm phá sản một bước quan trọng chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ ở miền Nam, mở ra triển vọng đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn.


Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào là kết quả hợp thành của nhiều yếu tố, trong đó có sự phối hợp chiến đấu của các lực lượng và liên minh đoàn kết đặc biệt giữa nhân dân hai nước Việt Nam - Lào trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Dưới đây, chúng tôi xin đề cập chủ đề "Lực lượng Công an nhân dân với Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào và các chiến trường phối hợp năm 1971".

1. Phối hợp tiến công địch, bảo đảm an ninh trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào.

Trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất, đế quốc Mỹ đã tập trung lực lượng không quân, kể cả máy bay chiến lược B-52, kết hợp với chiến tranh gián điệp, chiến tranh tâm lý, đánh phá rất ác liệt đường hành lang tuyến vận chuyển chiến lược Trường Sơn của ta nhằm ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam, nhưng ý đồ của chúng không thực hiện được. Vì vậy, giới cầm quyền Mỹ mà nòng cốt là Hội đồng An ninh quốc gia, đã đề nghị với Tổng thống Mỹ Níchxơn là phải bằng mọi cách đánh phá việc bảo đảm hậu cần của ta ngay từ gốc.


Bước vào Đông Xuân 1970-1971, đế quốc Mỹ một mặt đẩy mạnh chương trình "bình định" nông thôn miền Nam mặt khác ráo riết chuẩn bị các cuộc tiến công lớn trên chiến trường ba nước Đông Dương. Ngày 2 tháng 2 năm 1971 Tổng thống Mỹ đã thông qua kế hoạch mở ba cuộc hành quân: "Lam Sơn 719" đánh ra Đường 9 - Nam Lào- cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" đánh lên vùng Đông Bắc Campuchia và cuộc hành quân "Quang Trung 4" đánh vào vùng Ba biên giới (Tây Nguyên) nhằm thực hiện âm mưu chặn đứng hướng tiếp tế của ta qua đường Hồ Chí Minh và cảng Kông Pông Xom (Campuchia), cô lập cách mạng miền Nam, uy hiếp miền Bắc, hỗ trợ cho chiến tranh đặc biệt ở Lào và xâm chiếm toàn bộ Campuchia.


Trong ba cuộc hành quân nói trên, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh vào khu vực Đường 9 - Nam Lào được Mỹ xác định là lớn nhất và chủ yếu hòng nhanh chóng phá vỡ "trung tâm hệ thống hậu cần chiến lược" và "bóp nghẹt từ cuống họng" tuyến huyết mạch chi viện của ta; làm cho cách mạng Đông Dương "tàn lụi", lực lượng ta suy yếu không còn đủ sức tập trung đánh lớn trong mùa khô 1971-1972. Với tham vọng đó, giới cầm quyền Mỹ coi cuộc hành quân này có ý nghĩa quyết định, tạo ra bước ngoặt thực sự cho cuộc chiến tranh xâm lược của chúng đang bế tắc ở Việt Nam.


Từ giữa năm 1970, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã dự báo tình hình địch có thể mở cuộc tiến công lớn ra vùng Trung - Hạ Lào, vùng giải phóng Đông Bắc Campuchia và chắc chắn chúng sẽ đánh vào tuyến đường Hồ Chí Minh, đánh ra Đường số 9 hòng mở rộng chiến tranh trên chiến trường ba nước Đông Dương, ngăn chặn đường vận chuyển chiến lược của ta. Bộ Chính trị đã chỉ thị cho các chiến trường tích cực chuẩn bị lực lượng, sẵn sàng và chủ động đánh địch làm thất bại mọi âm mưu của chúng, tạo bước chuyển biến có tính chiến lược cho cách mạng ba nước Đông Dương.


Ngay từ khi cuộc hành quân của địch mới triển khai, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã thống nhất với Bộ Chính trị Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào mở chiến dịch phản công lớn đập tan âm mưu của chúng. Bộ Chính trị chỉ thị cho các chiến trường "nhất thiết phải đánh thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào, vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược". Chiến thắng trận này ta sẽ tiêu diệt được một bộ phận lớn sinh lực tinh nhuệ của quân ngụy Sài Gòn và phá hủy một mảng phương tiện chiến tranh của chúng; tiêu hao một bộ phận quân Mỹ và làm thất bại cố gắng cao nhất của địch trong chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", giữ vững tuyến vận chuyển chiến lược, bảo vệ tốt kho tàng của ta, tạo nên những chuyển biến căn bản cho phong trào cách mạng ba nước Đông Dương, củng cố niềm tin cho nhân dân ta và bạn bè trên thế giới. Chỉ thị của Bộ Chính trị còn nêu rõ: các chiến trường cần nắm chắc cơ hội địch điều động phần lớn lực lượng cơ động của chúng ra tuyến ngoài mà đẩy mạnh tiến công và nổi dậy đánh phá "bình định" của địch. Đây không chỉ là nhiệm vụ phối hợp mà còn là "nhiệm vụ thiết thân" của mỗi chiến trường.


Đầu năm 1971, Hội nghị lần thứ 19 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp xác định nhiệm vụ hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta là: Đoàn kết chặt chẽ với nhân dân Lào và nhân dân Campuchia anh em, cùng chiến đấu đánh bại âm mưu kéo dài và mở rộng chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở ba nước Đông Dương, tiến tới đánh đuổi chúng ra khỏi khu vực này.


Ngày 31 tháng 1 năm 1971, Trung ương Đảng kêu gọi quân và dân ta trên Mặt trận Đường 9 nhận rõ thời cơ lớn "quân địch đã ra cho ta đánh trên một chiến trường bất lợi cho chúng", hãy nêu cao tinh thần quyết thắng, tiến công quyết liệt tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bảo vệ bằng được đường Hồ Chí Minh, giành toàn thắng cho chiến dịch. Lời kêu gọi của Trung ương Đảng động viên các lực lượng, làm tăng thêm sức mạnh đoàn kết chiến đấu và lòng tin vào thắng lợi, cổ vũ khí thế đánh giặc lập công của toàn quân và toàn dân ta trên khắp các chiến trường.


Tư tưởng cách mạng tiến công là vũ khí sắc bén để chiến thắng kẻ thù, là một yêu cầu khách quan của cách mạng. Mục đích cao nhất và cũng là yêu cầu cơ bản của cuộc đấu tranh là phải bảo đảm an toàn cho cách mạng, không để kẻ địch phá hoại, tạo điều kiện cho cách mạng phát triển không ngừng. Muốn tích cực phòng ngừa, bảo vệ cách mạng phải quán triệt tư tưởng tiến công và tiến công liên tục. Đó là vấn đề có tính nguyên tắc.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM