Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:29:16 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử  (Đọc 29260 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #90 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2025, 08:13:09 pm »

Ngày 18 tháng 3 năm 1971, địch ở Bản Đông rút chạy, tổ phun lửa do đồng chí Hoàng Văn Vẻ chỉ huy có các đồng chí Phùng Văn Thiện, Phạm Văn Nhuần, Đinh Xuân Tảng cùng Đại đội 1 thuộc Trung đoàn 36 vận động ra Đường 9 chặn địch, đã chiến đấu dũng cảm, bắn cháy 4 xe M113, diệt 57 tên địch. Đồng chí Hoàng Văn Vẻ được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, được công nhận là dũng sĩ diệt ngụy cấp I và dũng sĩ diệt cơ giới. Đồng chí Phạm Văn Nhuần và Phùng Văn Thiện được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, được công nhận là dũng sĩ diệt ngụy cấp II và dũng sĩ diệt cơ giới. Đồng chí Đinh Xuân Tảng được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba và được công nhận là dũng sĩ diệt ngụy cấp III. Đồng chí Hoàng Văn Vẻ sau này được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.


Ngày 19 tháng 3 năm 1971, địch cho máy bay và pháo binh bắn phá ác liệt vào trận địa chốt của Đại đội 1 trên Đường 9, nhằm chi viện cho bộ binh từ Bản Đông đánh bật ta ra khỏi khu vực cầu Cha Ky. Một tổ phun lửa đã cùng Đại đội 2 của Trung đoàn 36 phối hợp ba lần đánh bật quân địch ra khỏi khu vực chốt giữ, tiêu diệt nhiều tên, giữ vững trận địa. 15 giờ cùng ngày, các phân đội phun lửa cùng hai tiểu đoàn bộ binh 1 và 3 của Trung đoàn 36 cường tập vào Bản Đông. Phát hiện thấy ta đang tiếp cận, địch hốt hoảng bỏ xe pháo chạy tán loạn vào rừng. Ta thừa thắng xung phong tràn vào cứ điểm chiếm nhiều xe địch vẫn còn đang nổ máy, diệt nốt những tên còn ngoan cố chống cự, hoàn toàn làm chủ Bản Đông. Tiếp những trận sau, các phân đội phun lửa còn phối thuộc với Đại đội 2 và Đại đội 3 đánh địch trên Đường 9 và tăng cường cho các chốt chiến đấu. Nhiều chiến sĩ phun lửa đã anh dũng hy sinh, nhiều chiến sĩ bị thương vẫn không rời trận địa, góp phần cùng các đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Đại đội hoá học của B70 hoạt động trên địa bàn rộng, phân tán, nhưng nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, bộ đội đã cấu trúc hầm và bảo đảm cho sở chỉ huy chiến dịch; tổ chức các vọng, đài quan sát hoá học góp phần phát hiện, báo động và kịp thời tổ chức phòng hoá bảo đảm sở chỉ huy và các hướng chiến dịch, ở các hướng, các mũi của các sư đoàn, các phân đội hoá học đã tích cực tranh thủ thời gian, khẩn trương huấn luyện cách cấp cứu, tiêu độc, khắc phục hậu quả chất độc của địch cho bộ đội. Kết quả 4.500 lượt cán bộ và chiến sĩ, 1.500 lượt dân công mặt trận đã được huấn luyện kỹ thuật phòng hoá. Những phân đội nghi binh đã làm sở chỉ huy chiến dịch giả thu hút 6 lần chiếc B-52 và ba lần bom tọa độ. Một số phân đội dùng màn khói để ngụy trang bảo đảm cho các đơn vị xe tăng triển khai chiến đấu tốt. Ngoài ra, chiến sĩ hoá học còn là những chiến sĩ giữ chốt kiên cường, cùng bộ binh đánh bật nhiều đợt phản kích của địch trên các điểm chốt tại các hướng chiến dịch. Tổ hoá học đi với Tiểu đoàn 37 pháo mặt đất chiến đấu ở Bản Đông đã bảo đảm cho pháo đánh tốt. Tổ đảm nhiệm kho khí tài ở Cha Ky đã tổ chức gùi, thồ, cất giấu, bảo vệ hàng trăm tấn hàng không để địch phát hiện đánh phá. Một số phân đội phòng hoá ngay sau chiến dịch còn nhận nhiệm vụ dẫn giải tù binh địch về phía sau...


Qua hơn 50 ngày đêm chiến đấu, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đã kết thúc thắng lợi. Các lực lượng vũ trang ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch; đập tan được âm mưu ngăn chặn, hòng bóp nghẹt sự chi viện của miền Bắc cho các chiến trường, bảo vệ được tuyến vận tải chiến lược thông suốt; làm tròn nhiệm vụ của mặt trận chính trong Xuân - Hè 1971, tạo điều kiện phối hợp chặt chẽ với các chiến trường; đánh bại một bước quan trọng âm mưu của địch, mở ra triển vọng đánh bại chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ.


Về công tác phòng hoá, Bộ đội Hoá học đã thực hiện tốt nhiệm vụ chức năng của mình, bảo đảm khí tài phòng hoá, tổ chức huấn luyện đổ các lực lượng tham gia chiến dịch có đủ khả năng tự làm tốt công tác phòng hoá cho minh, giữ vững sức chiến đấu, góp phần bảo toàn và gìn giữ lực lượng chiến dịch. Suốt trong quá trình diễn ra chiến dịch, được sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh chiến dịch, thủ trưởng các binh quân chủng, các sư đoàn đều chú trọng nhắc nhở và kiểm tra công tác phòng chống vũ khí hoá học, nhấn mạnh biện pháp tích cực bắn máy bay bay thấp, kiềm chế và phá hủy các trận địa pháo binh địch, vây sát, bám sát, xen kẽ chiến đấu với địch, tăng cường công tác phòng không. Đồng thời, trên cơ sở chỉ đạo tác chiến chung, Bộ Tư lệnh chiến dịch chú trọng phát huy sức mạnh của các binh chủng, quân chủng trong tác chiến hiệp đồng nên đã hạn chế mặt mạnh về không quân, pháo binh địch, hạn chế có hiệu quả khả năng sử dụng vũ khí hoá học của địch. Bên cạnh đó, do có kế hoạch và biện pháp bảo đảm các mặt phòng hoá cho hướng chủ yếu tương đối chu đáo ngay từ đầu và trong quá trình chiến dịch như tăng cường và bố trí sử dụng lực lượng hoá học thích hợp; bảo đảm trang bị phòng hoá đủ số lượng và chất lượng, có kế hoạch bổ sung; kịp thời hướng dẫn huấn luyện bổ sung công tác phòng chống hoá học cho các đơn vị còn yếu; thông báo tình hình hoá học kịp thời, có dự kiến, nhận định khả năng sử dụng hoá học của địch và chỉ thị công tác tổ chức phòng chống hoá học của ta trong từng giai đoạn và từng trận chiến đấu... nên công tác bảo đảm phòng hoá đã đạt được yêu cầu đề ra, bảo đảm cho bộ đội giữ vững được sức chiến đấu suốt quá trình chiến dịch trong tình huống địch thường xuyên sử dụng vũ khí hoá học nhằm làm mất sức chiến đấu của ta.


Hoạt động phòng hoá của Bộ đội Hoá học trong chiến dịch là cơ sở để rút ra những kinh nghiệm quý trong chỉ đạo, tổ chức hệ thống phòng hoá từ trên xuống dưới mà nội dung cơ bản là lấy quần chúng tự chuẩn bị đề phòng, cấp cứu, tiêu độc cho mình để giữ vững sức chiến đấu là chính, lực lượng hoá học chuyên môn chỉ làm nòng cốt, đảm nhiệm có trọng điểm và chi viện cho những nơi thật cần thiết. Các lực lượng tham gia chiến dịch có kế hoạch và biện pháp tích cực theo dõi địch về hoá học để kịp thời chỉ đạo công tác phòng hoá cho bộ đội; đã quán triệt và vận dụng tư tưởng chỉ đạo tích cực tấn công, luôn chủ động bám sát địch, phát huy sức mạnh của các quân binh chủng và bằng nhiều cách kiềm chế, phá hủy những phương tiện, vũ khí, làm hạn chế hoặc mất khả năng sử dụng vũ khí hoá học của địch. Việc bảo đảm khí tài phòng hoá đã đáp ứng được số lượng và chất lượng, có kế hoạch bổ sung kịp thời, bổ sung tại chỗ cho mọi lực lượng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #91 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2025, 08:15:12 pm »

SƯ ĐOÀN 304 TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971

Đại tá PHẠM VĂN CHIẾN
Chính ủy Sư đoàn 304 - Quân đoàn 2


Sự kiện quân sự quan trọng nhất của chiến tranh Việt Nam trong năm 1971 là cuộc hành quân mang tên "Lam Sơn 719" của Mỹ và quân đội Sài Gòn đánh ra Đường 9 - Nam Lào và Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đánh bại cuộc hành quân này của chủ lực Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.


Sau khi buộc phải chấm dứt ném bom miền Bắc, Mỹ tập trung lực lượng không quân chiến thuật, không quân chiến lược đánh phá hành lang vận chuyển chiến lược (559) của ta. Mặc dù đã gây cản trở trong việc tiếp tế và phá hủy được một số kho tàng của ta, nhưng chúng không thể bịt nổi tuyến vận tải quân sự Trường Sơn. Chính vì vậy, đầu năm 1971, Mỹ chủ trương tiến hành cuộc phiêu lưu quân sự mối với nỗ lực cao nhất của quân đội Sài Gòn có sự chi viện hỏa lực của quân Mỹ, mở cuộc hành quân vào các khu vực mà chúng cho là "yết hầu" trên tuyến vận tải chiến lược của ta. Chúng cho rằng, nếu bịt được con đường này, nhất là khu vực Đường 9 - Nam Lào, thì chiến tranh cách mạng miền Nam sẽ "tàn lụi", "Việt Nam hóa chiến tranh" sẽ thành công.


Thực hiện mục tiêu chiến lược đó, chúng huy động 88 tiểu đoàn bộ binh (trong tổng số 214 tiểu đoàn - tức là trên 1/3 lực lượng hiện có), 15 thiết đoàn, mở 3 cuộc hành quân quy mô lớn, đánh vào tuyến vận tải chiến lược của ta. Đó là các cuộc hành quân: "Lam Sơn 719" đánh vào khu vực Đường 9 - Nam Lào; "Toàn thắng 1-71", với quy mô 30 tiểu đoàn từ Tây Ninh và Lộc Ninh đánh lên vùng Kông Pông Chàm, Kra Chiê (Đông Bắc Campuchia) và cuộc hành quân "Quang Trung 4", với quy mô khoảng 1 sư đoàn từ Bắc Kon Tum đánh ra hướng Ngã ba biên giới (vùng Tà Xẻng, Pa Kha, Sê Sụ) thuộc A Tô Pơ, Nam Lào.


Trong 3 cuộc hành quân trên, "Lam Sơn 719" là cuộc hành quân có quy mô lớn nhất, với mục đích: đánh phá, cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược chi viện nhân lực, vật lực từ hậu phương miền Bắc cho chiến trường miền Nam, Lào và Campuchia; tập trung hủy diệt cơ sở hậu cần, làm cho ta không thể đánh lớn trong mùa khô 1971 - 1972, từ đó buộc ta phải quay về hoạt động du kích; đưa quân đội Sài Gòn ra thực nghiệm vai trò thay quân Mỹ trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", làm lực lượng nòng cốt cho các đội quân tay sai của Mỹ ở Đông Dương- đồng thời thử thách quyết tâm và khả năng quân sự của miền Bắc.


Ngay từ giữa năm 1970, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã sớm nhận định: địch sẽ tiếp tục nhưng hành động phiêu lưu quân sự mới; hướng tiến công của chúng trong mùa khô 1970 - 1971 sẽ là hành lang vận chuyển chiến lược của ta ở Trung - Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Các chiến trường, nhất là ở khu vực Đường 9 - Nam Lào đã được lệnh khẩn trương chuẩn bị đánh địch; đồng thời cũng chủ động xây dựng phương án đối phó với khả năng dịch có thể đánh ra Nam Quân khu 4.


Lực lượng tham gia chiến đấu gồm có Binh đoàn 70 (Sư đoàn 304, 308, 320); Sư đoàn 2; Sư đoàn 324 và Trung đoàn 65; 3 trung đoàn pháo (58, 64, 368); 2 trung đoàn pháo cao xạ 230 và 237; 3 trung đoàn công binh (219, 83,7); 3 tiểu đoàn xe tăng (297, 397, 198). Ngoài ra còn có lực lượng tại chỗ của 135, B4 và Đoàn 559.


Cuối năm 1970, khi thành lập Binh đoàn 70, Sư đoàn 304 nằm trong đội hình chiến đấu của Binh đoàn. Các đơn vị trong Sư đoàn đã tiến hành trinh sát, diễn tập và chuẩn bị phương án đánh địch ở địa bàn Quân khu 4 (hướng mà địch nghi binh). Tuy nhiên, ngay từ tháng 6 năm 1970 Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 đã tổ chức đoàn cán bộ quân sự di trinh sốt thực địa, chuẩn bị chiến trường, tổ chức chỉ huy tiền phương, sở chỉ huy cơ bản, mạng trinh sát, thông tin, công binh và đã làm xong các đường để cơ động xuất kích ra Đường 9.


Đến tháng 9 năm 1970, Trung đoàn 24 tiếp tục đi trinh sát thực địa lần thứ 2, đưa Tiểu đoàn 4 vào đứng chân ở Bản Búc, làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và vận chuyển; đồng thời tiến hành mở thêm đường mới từ Nam sông Sê Băng Hiêng vào khu vực tác chiến; tiến hành diễn tập tại thực địa theo phương án đánh địch trên Đường 9, đoạn từ Khe Sanh - Lao Bảo - Bản Đông; xây dựng các trận địa chốt và mạng giao thông giữa điểm cao 351 - điểm cao 311.


Sau khi trinh sát xong, Trung đoàn 24 nhanh chóng đưa toàn bộ lực lượng vào chiến trường chuẩn bị các trận địa chốt và chuẩn bị các phương án đánh địch. Ngày 15 tháng 10 năm 1970, các đơn vị vào chiếm lĩnh vị trí, xây dựng trận địa, đến ngày 20 tháng 12, tất cả công tác chuẩn bị đã hoàn tất. Nhiệm vụ của Trung đoàn 24 được Bộ Tư lệnh 70 giao là: Xây dựng một hệ thống trận địa chốt ở các điểm cao 311, 351, 229... thuộc khu vực cầu Cha Ky, và tổ chức chuẩn bị các phương án đánh địch trên Đường 9, đoạn từ Khe Sanh - Lao Bảo - Bản Đông. Đây là một trong những trận địa chốt rất quan trọng trong hệ thống phòng thủ cách xa địch và nằm trong hậu phương của ta, nếu để mất trận địa chốt này thì địch dễ dàng có thể từ Bản Đông đánh lên Sê Pôn, ta sẽ rất khó khăn trong việc giữ vững hành lang vận chuyển chiến lược, sẽ khó giữ được các kho tàng phục vụ cho chiến trường miền Nam.


Xác định được tính chất đặc biệt quan trọng của chiến dịch này, trong quá trình chuẩn bị chiến trường, yếu tố bí mật, bất ngờ được đặt lên hàng đầu, bộ đội được quán triệt và giáo dục rất kỹ. Theo sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh chiến dịch, các trận địa chốt phải được xây dựng kiên cố và có tính liên hoàn, các cuộc diễn tập đánh địch được thực hiện theo nhiều phương án, nhiều cách đánh khác nhau. Sau mỗi đợt diễn tập đều tổ chức rút kinh nghiệm kịp thời, vì vậy chỉ trong một thời gian ngắn, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 24 đã thuần thục tất cả các hình thức chiến thuật, thuộc hết các địa danh, địa hình trong khu vực tác chiến.


Ngày 15 tháng 1 năm 1971, Sư đoàn nhận được lệnh của Bộ Tư lệnh chiến dịch đưa tiếp Trung đoàn 66, Tiểu đoàn 14, Tiểu đoàn 16, Tiểu đoàn 19 và một số cán bộ, cơ quan sư đoàn hành quân gấp vào chiến trường làm lực lượng dự bị của chiến dịch. Ngày 23 tháng 1, chỉ huy Sư đoàn cùng các đơn vị tham gia chiến đấu đã có mặt ở vị trí quy định, sẵn sàng nhận nhiệm vụ.


Từ ngày 30 tháng 1 đến 7 tháng 2 năm 1971, địch triển khai lực lượng chuẩn bị tiến công: một bộ phận quân phái hữu Lào ở phía tây nống ra Pha Lan và Phu Đô Tuya, 26 tiểu đoàn quân đội Việt Nam cộng hòa từ Sài Gòn, Đà Nẵng được cơ động bằng máy bay trực thăng và xe cơ giới ra Đông Hà, Ái Tử.


Chủ động đối phó với địch ở hướng tây, ta nhanh chóng triển khai lực lượng chủ lực, cùng lực lượng tại chỗ chuẩn bi tiêu diệt địch, bảo vệ kho tàng. Các đơn vị còn lại ở miền Bắc sẵn sàng đánh địch ở hướng Quân khu 4 (do địch nghi binh), ở hướng đông, các lực lượng của B5 đã nổ súng (4-2-1971). Các lực lượng tại chỗ bắn rơi nhiều máy bay trực thăng của địch.


Ở cánh bắc, theo kế hoạch của Bộ Tư lệnh 70, các đồng chí Nguyễn Ân, Duy Sơn, Lê Đăng Dần và một số cán bộ cơ quan Sư đoàn 304 trực tiếp chỉ huy Trung đoàn 66 và Trung đoàn 64. Trung đoàn 64 kết hợp với đại đội xe tăng diệt Tiểu đoàn 3 và Lữ đoàn 3 dù ở điểm cao 543, bắt sống Đại tá Nguyễn Văn Thọ - Lữ đoàn trưởng, cùng Bộ Tham mưu của Lữ đoàn 3 dù; Trung đoàn 36 và một lực lượng của Trung đoàn 64 diệt Trung đoàn 17 thiết giáp và Tiểu đoàn 8 dù từ Bản Đông lên chiếm lại điểm cao 543. Đôn ngày 3 tháng 3, cánh bắc của địch đã bị ta bẻ gãy.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #92 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2025, 08:16:00 pm »

Trong khi đó, trên hướng của Trung đoàn 24 thuộc Sư đoàn 304 đảm nhiệm, cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng gay go, ác liệt.

Với một thế trận đã được chủ động xây dựng từ trước, kể cả việc chuẩn bị làm đường cơ động trong những năm 1969, 1970, với một địa hình quen thuộc và việc chuẩn bị nhiều phương án tác chiến, Trung đoàn 24 đã liên tục tiến công, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, đoạn đường từ Lao Bảo đến Bản Đông - nơi có các chốt của Trung đoàn 24 đảm nhiệm trở thành "con đường máu lửa" đối với địch, khi tiến quân cũng như khi rút chạy, cả trận tuyến của Trung đoàn 24 dọc theo Đường 9 thật sự trở thành "cơn ác mộng" của bọn chúng.


Điển hình là trận ngày 9 và 10 tháng 2, với 1 tiểu đoàn dù địch đổ bộ bằng đường không xuống nam Pa Rinh, đánh thẳng vào đội hình đóng quân của Trung đoàn 24 và tiến công nhằm chiếm điểm cao 351, một điểm cao có tầm không chế toàn bộ khu vực, nhưng đã bị trung đoàn ngăn chặn quyết liệt, buộc chúng phải dừng lại.


Ngày 11 tháng 2, dịch dùng 2 tiểu đoàn hỗn hợp dù, công binh cùng 30 xe tăng và thiết giáp, có hỏa lực không quân và pháo binh chi viện, từ Lao Bảo tiến lên Bản Đông. Ngay lập tức, chỉ huy Trung đoàn 24 lệnh cho toàn bộ lực lượng cơ động xuất kích ra khu vực bắc Kha Đáp - Cha Ky - 269, Bản Búc, điểm cao 206, A Mo, chỉ để lại một bộ phận chốt ở điểm cao 351. Tiểu đoàn 5 của Trung đoàn hình thành 3 mũi tiến công vào đội hình hành quân của địch. Đại đội 5 do đồng chí Lê Mã Lương chỉ huy, tiến công địch ở khu vực cầu Cha Ky và A Mo, sau gần 2 giờ chiến đấu đã bắn cháy 4 xe M113, tiêu diệt phần lớn quân địch, bộ phận sống sót quay đầu tháo chạy về hướng Lao Bảo. Đại đội 6 và Đại đội 7 nhanh chóng đánh vượt Đường 9, thọc thẳng lên điểm cao 206, đánh chiếm sở chỉ huy Tiểu đoàn 1 dù và trận địa cối, tiêu diệt phần lớn quân địch ở đây.


Trên hướng Tiểu đoàn 4, Đại đội 2 giữ chốt điểm cao 351 sử dụng hỏa lực ĐKZ, cối 82 và 60, đánh lui nhiều đợt phản công của địch và tập kích gây thiệt hại cụm địch ở cầu Cha Ky. Riêng lực lượng cơ động của Tiểu đoàn 4, khi ra đến Đường 9, gặp xe tăng và bộ binh địch từ hướng Cha Ky rút lên Bản Đồng, đã kịp thời nổ súng, tiêu diệt 5 xe. Bị đánh đòn bất ngờ, địch huy động máy bay cùng pháo binh đánh phá ác liệt dọc Đường 9, thậm chí chúng còn dùng cả đạn hóa học bắn ngăn chặn sự truy kích của ta, tạo điều kiện cho lực lượng này rút chạy.


Trận đánh kết thúc, Trung đoàn 24 đã tiêu diệt 5 đại đội địch, trong đó có 2 đại đội dù, bắt sống một thiếu tá tiểu đoàn trưởng, cùng một số binh sĩ địch; diệt gọn chi đoàn 3, thiết đoàn 4, phá hủy 25 xe tảng, xe bọc thép, bắn rơi 30 máy bay các loại của chúng.


Tiếp đó, trong 7 ngày (14 - 20.3.1971), Trung đoàn 24 đã phối hợp cùng với các đơn vị bạn đánh bại ý đồ chiếm Sê Pôn của địch, diệt 350 tên thuộc Tiểu đoàn 7 dù, bắt sống 28 tên, trong đó có tên thiếu tá tiểu đoàn phó, tạo điều kiện thuận lợi để các lực lượng của ta tràn xuống Đường 9, bao vây Bản Đông, giữ chắc hệ thống chốt 498 - 402 và điểm cao không tên.


Đây là lần đầu tiên Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 vừa làm tốt nhiệm vụ chốt chiến dịch, vừa vận dụng thành công cách đánh bao vây công kích liên tục, tiêu diệt 1 tiểu đoàn địch cơ động ở vùng rừng núi.


Ngày 21 và 22 tháng 3 năm 1971, địch ở các nơi, kể cả ở Bản Đông tháo chạy về khu vực chốt giữ của Trung đoàn. Bị các đơn vị của Trung đoàn chặn đánh quyết liệt, chỉ huy và binh sĩ địch mạnh ai nấy chạy, bỏ lại hàng trăm xe pháo các loại hòng thoát thân. Quyết không để chúng chạy thoát, chỉ huy Trung đoàn 24 lệnh cho các đơn vị tiếp tục vận động truy kích địch về phía nam Đường 9, quyết không cho chúng chạy thoát.


Gần 60 ngày đêm chiến đấu ngoan cường, Trung đoàn 24 cùng với các đơn vị bạn đã chặn đứng được quân địch ở Bản Đông, không cho địch tiến lên Sê Pôn theo kế hoạch. Ta đã bẻ gãy hoàn toàn quân địch ở cánh bắc, đánh thiệt hại cánh nam và triển khai đội hình bao vây chiến dịch rất chắc. Tuy bị thiệt hại nặng nề, nhưng với bản chất hiếu chiến, địch tung lực lượng dự bị tiến công Sê Pôn và phía nam Đường 9. Nắm bắt được mưu đồ của địch, một mặt ta kiên quyết giữ vững Phu Ta Băng và sẵn sàng chặn địch chiếm Sê Pôn, Na Bo để bảo vệ tuyến vận chuyển chiến lược; mặt khác, khẩn trương chuẩn bị tiến công tiêu diệt lực lượng dự bị của địch. Theo đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch điều Trung đoàn 64 lên giữ Sê Pôn, nhích đội hình Trung đoàn 66 Sư đoàn 304 lên phía tây vừa làm lực lượng dự bị cho Sự đoàn 2 tiến công Sư đoàn 1 bộ binh địch, vừa làm dự bị cho hướng Bản Đông; mặt khác, sử dụng Sư đoàn 324 (thiếu Trung đoàn 2) tiến công tiêu diệt Lữ 147 thủy quân lục chiến địch; tập trung lực lượng của Trung đoàn 2 (Sư đoàn 324), Trung đoàn 102 (Sư đoàn 308), Trung đoàn 24 (Sư đoàn 304) thực hiện nhiệm vụ chia cắt Đường 9, đoạn từ Lao Bảo đến Bản Đông và Lao Bảo về Hướng Hoá; Sư đoàn 308 chuẩn bị đánh địch ở Bản Đông.


Trước sức mạnh áp đảo, thế trận và cách đánh linh hoạt, sáng tạo, quân và dân Mặt trận Đường 9 - Nam Lào đã đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ và quân đội Sài Gòn. Ta đã tiêu diệt một bộ phận lớn lực lượng tinh nhuệ, phá hủy một số lượng lớn vũ khí, phương tiện chiến tranh của Mỹ và quân đội Sài Gòn, bảo vệ vững chắc tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, làm tròn nhiệm vụ của hướng chiến lược chính trong Xuân Hè 1971, góp phần thắt chặt tình đoàn kết chiến đấu của quân và dân Việt Nam, Lào và Campuchia trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ.


Trong chiến dịch này, Sư đoàn 304, trực tiếp là Trung đoàn 24 tham gia từ đầu đến cuối chiến dịch, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chốt chiến dịch, đồng thời là lực lượng nòng cốt ngăn chặn, truy kích địch rút chạy. Trung đoàn đã đánh 28 trận (cấp trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội), đánh nhỏ 46 trận (từ tiểu đội đến trung đội); tiêu diệt 2 tiểu đoàn dịch (Tiểu đoàn đặc nhiệm và Tiểu đoàn 7 thuộc Lữ đoàn 2 dù), đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn (Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 11 dù), loại khỏi chiến đấu 2.511 tên địch, trong đó có 2 cố vấn Mỹ, bắt sống 29 tên, thu 86 súng các loại, 33 máy vô tuyến điện.


Trung đoàn 66, các tiểu đoàn 14, 16, 19 và một số cán bộ Sư đoàn, cơ quan Sư đoàn tăng cường chỉ huy cho một hướng chiến dịch, khi vào chiến trường làm lực lượng dự bị của B70, cuối chiến dịch tham gia một hướng đánh vào Bản Đông, phối hợp cùng với các trung đoàn 36, 64 đánh chiếm Bản Đông.


Trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Trung đoàn 24 làm nhiệm vụ chốt chiến dịch, đây là một hình thức tác chiến mới, với một cụm chốt liên hoàn ở khu vực cầu Cha Ky nằm trên các điểm cao 351, 488, 311, 282, Trung đoàn 24 đã quần nhau với lữ đoàn đặc nhiệm của địch (2 thiết đoàn tăng 17, 11 và lữ đoàn dù) suốt 43 ngày đêm, khi địch đã lên đến Bản Đông và chiếm các điểm cao phía tây thì thực chất hoạt động của Trung đoàn 24 là nằm sâu trong lòng địch, trong thế cài răng lược, mọi tiếp tế từ phía sau lên đều rất khó khăn vì dễ bị địch phát hiện và ngăn chặn. Nhưng Trung đoàn 24 vẫn bám chắc khu vực. Tiểu đoàn 4 vẫn đứng vững ở điểm cao 351, 489. Tiểu đoàn 5 vẫn trụ vững ở Xê Đen - A Mo và Tiểu đoàn 6 vẫn kiên cường bám trụ ở Pa Cho - điểm cao 311. Trung đoàn 24 vừa kiên cường giữ chốt, vừa kiên quyết và liên tục đánh địch có hiệu quả, làm cho quân địch phải co lại, các kho tàng của ta trong khu vực vẫn được bảo đảm an toàn.


Với một diện tích chưa đầy một kilômét vuông khu vực chốt 351, cầu Cha Ky, địch đã ném xuống 940 quả bom phá, 69 quả bom bi mẹ, bắn gần 8.000 quá đạn pháo, 2 lần thả chất độc hoá học. Những số liệu trên đã cho thấy sự khốc liệt của khu vực chốt mà Trung đoàn 24 đảm nhiệm.


Nằm trong đội hình chiến đấu của Binh đoàn 70, việc Trung đoàn 24 được tham gia ngay từ đầu chiến dịch và các lực lượng dự bị của Sư đoàn tham gia chiến đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ đã góp phần làm thay đổi tương quan lực lượng và cục diện chiến trường có lợi cho ta. Đây là đòn chí mạng báo hiệu sự thất bại của chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", tác động mạnh mẽ đến cục diện chung cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ba nước Đông Dương.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #93 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2025, 08:16:40 pm »

Từ thắng lợi Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Sư đoàn 304 rút ra một số kinh nghiệm:

1. Xác định nhiệm vụ, nhận định đánh giá đúng tình hình mọi mặt, chuẩn bị lực lượng và công tác tổ chức chiến đấu chu đáo, chặt chẽ là yếu tố quan trọng hàng đầu, là cơ sở giành thắng lợi.

Chấp hành mệnh lệnh của Bộ, từ tháng 6 đến tháng 9 năm 1970, Sư đoàn 304 đã giao cho Trung đoàn 24 tổ chức các đội đi trinh sát thực địa 2 lần, tổ chức diễn tập và chuẩn bị nhiều phương án đánh địch. Trung đoàn 24 là lực lượng đi trước thực hiện chốt chặn chiến dịch từ cuối năm 1970. Khi có lệnh của Bộ Tư lệnh 70 điều tiếp Trung đoàn 66, Tiểu đoàn 14, 16, 19 và một số cán bộ Sư đoàn và cơ quan Sư đoàn vào gấp chiến trường làm lực lượng dự bị của chiến dịch, chỉ huy Sư đoàn chấp hành nghiêm mệnh lệnh nhanh chóng đưa các lực lượng vào chiến trường đúng thời gian quy định và thực hiện tốt nhiệm vụ.


Khi Trung đoàn 24 vào chiến trường đã khẩn trương xây dựng, củng cố công sự, hầm hào, ngụy trang, vừa làm nhiệm vụ vận chuyển, vừa mở thêm đường mới vào khu vực tác chiến; đồng thời tổ chức diễn tập tại thực địa theo phương án đánh địch ở khu vực Đường 9 (từ Khe Sanh - Lao Bảo đến Bản Đông), xây dựng các trận địa chốt và mạng giao thông giữa các điểm cao 351 - 311 (khu vực cầu Cha Ky). Công tác chuẩn bị chiến trường tiến hành tích cực theo đúng kế hoạch của trên, đã tạo điều kiện thuận lợi cho Trung đoàn 24 hành quân vào triển khai đội hình nhanh, gọn, kịp thời trước thời gian quy định.


2. Dự kiến chính xác các tình huống, nắm chắc địa bàn hoạt động là nhân tố đảm bảo thắng lợi trên chiến trường.

Để chuẩn bị cho cuộc hành quân "Lam Sơn 719", từ tháng 11 năm 1970, địch đã tiến hành một kế hoạch nghi binh lớn, đồng thời tung tin chuẩn bị tiến công ra miền Bắc (Nam Quân khu 4) nhằm đánh lạc hướng, phân tán sự chuẩn bị đối phó của ta trên hướng tiến công chính của chúng. Với toan tính trên, chúng hy vọng sõ thực hiện được mục đích của cuộc hành quân: chặn được tiếp tế, phá được kho tàng của ta. Nắm được ý đồ của địch, theo mệnh lệnh của Bộ, một số các đơn vị đã tổ chức diễn tập ở khu vực Hà Tĩnh, Quảng Bình để "phản nghi binh" với địch đồng thời khẩn trương chuẩn bị cho Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Trong đó, Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 được lệnh bí mật giấu quân ở Làng Ho, đưa Tiểu đoàn 4 lên chốt giữ điểm cao 351, chặn địch trên Đường 9. Đặc biệt hơn ngay từ năm 1968, các đơn vị của Sư đoàn 304 đã liên tục hoạt động trên địa bàn Đường 9 - Nam Lào, tổ chức nhiều đợt diễn tập đánh địch theo các phương án khác nhau. Có thể khắng định rằng, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đã thuộc hết các địa danh, địa bàn trong khu vực tác chiến. Đây chính là một trong những yếu tố góp phần làm nên chiến thắng của Sư đoàn 304, nhất là Trung đoàn 24 trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971 và những năm tiếp theo.


3. Tổ chức trận địa chốt vững chắc, hiệp đồng tác chiến tốt, cơ động lực lượng nhanh, xử lý linh hoạt các tình huống diễn ra trong chiến đấu, liên tục tiến công tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Đây là một thành công lớn trong cụm chốt liên hoàn của chiến dịch mà Trung đoàn 24 đảm nhiệm.

Thực hiện quyết tâm tác chiến của Bộ Tư lệnh Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, các lực lượng ém quân trên các hướng, đặc biệt là Trung đoàn 24 có nhiệm vụ chốt và chia cắt Đường 9, đã có mặt đón lõng địch từ tháng 10 năm 1970, và hoàn thành mọi công tác chuẩn bị chiến trường xong trước tháng 12 năm 1970. Trong quá trình tác chiến, các chốt hỗ trợ nhau rất hiệu quả, địch hoàn toàn bị bất ngờ vì sự xuất hiện của bộ đội chủ lực ta. Chúng cho rằng ta tập trung đối phó ở hướng Quân khu 4; chính vì vậy, khi nổ súng tiến công, các chốt chặn của chiến dịch ngay từ đầu đã tạo thế chia cắt đội hình địch, ngăn chặn và làm giảm nhịp điệu tiến công của chúng, tạo yếu tố bất ngờ, tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực, phương tiện chiến tranh của chúng. Các kho tàng, tuyến vận chuyển khu vực Trung đoàn 24 và các đơn vị bạn đảm nhiệm vẫn được giữ vững và thông suốt, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng cơ động, phục kích, tập kích, ngăn chặn địch ở Bản Đông không cho chúng tiến lên Sê Pôn.


Chính vì thế trận chốt chiến dịch phát huy hiệu quả, đẩy địch vào thế bị động, lúng túng đối phó và sa lầy ở Mặt trận Đường 9, buộc chúng phải tung nốt lực lượng dự bị chiến lược vào cuộc hành quân, tạo ra những sai lầm mới.


4. Hoàn thành tốt nhiệm vụ giam chân, chia cắt địch ở Đường 9 là điều kiện thuận lợi để Bộ Tư lệnh chiến dịch điều chỉnh lực lượng, tổ chức các đòn phản công giành thắng lợi lớn.

Năm ngày đầu chiến dịch (8.2 - 13.2.1971), các cụm chốt của Trung đoàn 24 và các đơn vị bạn đã bất ngờ giáng cho địch một đòn chí mạng, các cụm chốt của ta vẫn được giữ vững. Ngược lại, địch bị thiệt hại nặng, nhiều kế hoạch triển khai lực lượng bị phá vỡ, buộc phải điều chỉnh, làm cho tốc độ tiến quân và các mục tiêu đánh chiếm được của chúng rất thấp. Thế trận của ta được củng cố và giữ vững, tạo thế cho toàn chiến dịch kiềm chế địch trên các hướng, đồng thời chia cắt Đường 9 - con đường độc đạo nối từ Quảng Trị (Việt Nam) qua tỉnh Xa Van Na Khẹt (Lào) bị bao vây cô lập, lực lượng tinh nhuệ của địch ở Bản Đông bị chặn đứng không thể tiến lên Sê Pôn.


Những trận thắng khởi đầu trên đã tạo cơ sở để Bộ Tư lệnh chiến dịch điều chỉnh lực lượng, lên kế hoạch triển khai thế trận phản công toàn chiến dịch (15-2-1971). Thực tế diễn biến chiến dịch đã diễn ra đúng như dự kiến của ta. Ở cánh bắc, địch đã bị vây hãm, ngăn chặn và bị diệt từng đơn vị, buộc lực lượng địch ở Bản Đông phải cơ động lên ứng cứu nhưng không được.


Trong khi lực lượng ở Bản Đông bị chặn đứng, dù địch đã phải tung nốt thê đội 2 vào cuộc, nhưng vẫn không giải quyết được tình hình, mà còn bị tổn thất rất nặng nề. Sê Pôn vẫn được giữ vững, tuyến vận chuyển chiến lược của ta vẫn được đảm bảo an toàn.

Trong quá trình ngăn chặn và phá thế tiến công của địch, các lực lượng của ta, trong đó có Trung đoàn 24 đảm nhiệm cụm chốt liên hoàn dọc Đường 9, đã phát huy tác dụng đánh ngăn chặn, diệt nhiều máy bay và xe cơ giới địch. Đặc biệt, cuối tháng 3 năm 1971, bị tổn thất quá lớn, quân địch hoảng loạn, từ các nơi tháo chạy dồn về và bị chặn lại tại khu vực chốt của Trung đoàn 24, và phần lớn trong số này đã bị tiêu diệt.


Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 toàn thắng, đã tạo ra cục diện chiến lược mới cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ba nước Đông Dương. Với thắng lợi này, chúng ta đã giáng cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn một đòn chí tử; đồng thời rút ra được một số kinh nghiệm quý về chỉ đạo chiến lược, chiến dịch và chiến thuật; tạo đà cho Sư đoàn tiếp tục giành được những thắng lợi lớn hơn trong những năm tiếp theo.


Trong quá trình tham gia chiến dịch, đã xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu ngoan cường, mưu trí, dũng cảm lập nên những chiến công đặc biệt xuất sắc. Đó là các tập thể như: Trung đoàn 24, Trung đoàn 66, Tiểu đoàn 14, Tiểu đoàn 16, Tiểu đoàn 19; về cá nhân có đồng chí Lê Mã Lương - Chính trị viên phó Đại đội 7 Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 (cuối chiến dịch đã được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân). Hành động anh hùng và với câu nói nổi tiếng của đồng chí: "Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù" đã động viên lớp lớp thanh niên hăng hái lên đường đánh Mỹ.


Có thể khẳng định rằng, được tham gia và đóng góp chiến công trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào (1971) thực sự là một trong những mốc son chói ngời, một trong những trang sử vàng truyền thống vinh quang của Sư đoàn 304 anh hùng. Đây chính là những hành trang quý giá và mãi trường tồn cùng với quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Sư đoàn 304; đồng thời là động lực thúc đẩy cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn tiếp tục phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và quân đội giao phó trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay và những năm tiếp sau.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #94 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2025, 07:33:13 pm »

HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN CỦA SƯ ĐOÀN 2 CHỦ LỰC QUÂN KHU 5 TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971

Đại tá TRƯƠNG ĐỨC NGHĨA
Sư đoàn trưởng Sư đoàn bộ binh 2 - Quân khu 5


Sau cuộc đảo chính phản cách mạng ở Campuchia (3-1970), đế quốc Mỹ chủ quan cho rằng chúng đã cắt đứt được con đường tiếp tế quan trọng của cách mạng miền Nam qua cảng Xihanúcvin. Đầu năm 1971, Mỹ và quân đội Sài Gòn lại tiến hành một cuộc phiêu lưu quân sự mới, đánh ra Đường 9 - Nam Lào. Đây là cuộc hành quân có tầm quan trọng đặc biệt đối với chúng trong điểm "nút" của chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh". Nếu cuộc hành quân này thành công, cắt được đường hành lang chiến lược chạy dọc Trường Sơn, bịt nốt được con đường tiếp tế còn lại (sau khi đã bịt được con đường qua cảng Xihanúcvin) từ miền Bắc vào miền Nam của ta, là chúng đã thực hiện được mục tiêu "bóp nghẹt" cách mạng miền Nam. Bị cắt đứt mọi nguồn tiếp tế, cách mạng miền Nam sẽ tàn lụi, "Việt Nam hoá chiến tranh" của chúng sẽ thành công.


Theo kế hoạch của địch, cuộc hành quân sẽ chia thành 4 giai đoạn:

- Từ ngày 30 tháng 1 đến 8 tháng 2, triển khai chiếm lĩnh bàn đạp Tà Cơn, Khe Sanh, Lao Bảo.

- Từ ngày 8 đến 14 tháng 2, tiến công chiếm các mục tiêu chiến dịch Bản Đông, Sê Pôn, lập thành tuyến ngăn chặn nhằm cắt đôi Đông Dương.

- Từ ngày 15 tháng 2 đến 12 tháng 3, lùng sục đánh phá kho tàng ở xung quanh Sê Pôn và Bản Đông.

- Từ ngày 13 tháng 3 đến đầu tháng 5 năm 1971, chuyển xuống phía nam đánh phá kho tàng của ta trong các khu vực Sa Đi, Mường Noòng, A Túc, A Sầu, A Lưới.

Tháng 2 năm 1971, khi địch tập trung lực lượng, chuẩn bị vượt biên giới, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã nêu rõ quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là: "Tập trung lực lượng kiên quyết tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ - ngụy, bảo vệ bằng được con đường chi viện cho tiền tuyến, phối hợp với các chiến trường, với nhân dân các nước Lào, Campuchia anh em, đập tan hành động phiêu lưu quân sự của đế quốc Mỹ và tay sai". Quán triệt quyết tâm của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chủ trương mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Đây là một chiến dịch có ý nghĩa như một trận quyết chiến chiến lược trên một diện rộng. Lực lượng tham gia chiến dịch có Binh đoàn 70 (gồm các sư đoàn chủ lực 308, 304, 320, một số trung đoàn độc lập và các đơn vị binh chủng kỹ thuật), lực lượng của Bộ Tư lệnh 559, Sư đoàn 324 và Sư đoàn 2.


Ngày 8 tháng 2 năm 1971, quân địch bắt đầu vượt biên giới Việt - Lào. Cánh quân chủ yếu của địch do chiến đoàn đặc nhiệm gồm Lữ đoàn 1 dù và 2 thiết đoàn số 11, 17, tiến công theo Đường 9.

Nhưng chủ lực ta đã bố trí sẵn sàng và xuất hiện ngay từ đầu. Đây là bất ngờ lớn nhất đối với chúng và đã làm cho địch từ chủ động chuyển sang bị động đối phó. Sau 23 ngày chiến đấu liên tục, ta đã bẻ gãy hoàn toàn cánh quân bảo vệ sườn phía bắc, tiêu diệt Lữ đoàn 3 dù, Thiết đoàn 17, đánh thiệt hại nặng Liên đoàn 1 quân biệt động Sài Gòn. Kế hoạch xây dựng các căn cứ hoả lực để chi viện cho cánh quân chủ yếu tiến công chiếm Sê Pôn của địch bị đập tan. Ở phía nam, ngay trong ngày đầu, lực lượng bảo vệ hành lang đã đánh địch ở Cô Bốc và điểm cao 550, bắn rơi 12 máy bay lên thẳng, tiêu diệt một đại đội và đánh thiệt hại nặng một đại đội khác của địch. Tiếp theo, lực lượng cơ động của ta tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 2, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 3 Trung đoàn 3 Sư đoàn 1 bộ binh địch.


Từ ngày 3 tháng 3, máy bay lên thẳng của chúng lần lượt đổ Sư đoàn 1 bộ binh xuống các điểm cao 660, 723, 748 ở phía nam Đường 9. Sau khi tạo được bàn đạp, ngày 6 tháng 3 địch cho máy bay lên thẳng đổ 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 1, Sư đoàn 1 xuống đông bắc Sê Pôn.


Tháng 7 năm 1970, Sư đoàn 2 (Sư đoàn 2 Quân khu 5 được thành lập ngày 20 tháng 10 năm 1965 lại làng An Lâm xã Phước Hà (nay là xã Tiên Hà), huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam) được lệnh chuyển ra bắc Đường 9 (Trung Lào). Theo kế hoạch của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận, Sư đoàn 2 được tăng cường một tiểu đoàn của Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 để tiến công tiêu diệt các đơn vị của Sư đoàn 1 bộ binh quân đội Sài Gòn trên dãy điểm cao từ 462 đến 748 (dãy điểm cao nối tiếp nhau từ Bản Đông đến Sê Pôn dọc phía nam sông Sê Pôn). Trên một tuyến dài hàng chục kilômét, Sư đoàn 1 địch bố trí thành 3 cụm lớn: Trung đoàn 2 (thiếu) ở điểm cao 748; Trung đoàn 1 ở các điểm cao 723, 690; Trung đoàn 3 ở các điểm cao 462, 65.


Sau khi kế hoạch đổ quân và họp báo ở Sê Pôn thất bại, ngày 12 tháng 3, Trung đoàn 2 địch bỏ đồi yên ngựa và điểm cao 748 co về điểm cao 660. Lúc này lực lượng địch đông và bố trí khá tập trung, nhưng do địa hình chi phối nên bao vây tiêu diệt từng trung đoàn quân địch đang co cụm trên điểm cao là một vấn đề khá phức tạp.


Trong hội nghị bàn kế hoạch tác chiến, Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn đề nghị vận dụng hình thức "bao vây, đón lõng". Theo ông, muốn diệt gọn từng trung đoàn địch, ta phải cắt đứt các đường bộ, đường không, hãm địch trong thế bị vây ép liên tục, sau đó mới tập trung binh hoả lực tiến công dứt điểm, đánh như vậy có thể diễn ra hai tình huống. Do không còn lối thoát, địch sẽ đầu hàng để khỏi bị tiêu diệt, nhưng cũng có thể khiến chúng càng ngoan cố chống cự đến cùng. Sư đoàn 1 là một trong những đơn vị thiện chiến, phần lớn sĩ quan chỉ huy đều là tín đồ đạo Thiên chúa, nên khả năng đầu hàng là điều khó có thể xảy ra; vả lại, khi ta mới tiêu diệt được một cụm thì các cụm khác của địch đã có đủ thời gian tháo chạy. Vậy nếu ta giăng một cái bẫy, mở một hướng vây, tạo một khoảng trống cho địch rút, rồi đón lõng diệt chúng thì sẽ thuận lợi hơn. Phương án của Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn được hội nghị nhất trí thông qua. Theo đó, mục tiêu đánh trước tiên của Sư đoàn là tập trung lực lượng diệt nhanh, gọn Trung đoàn 1 địch ở điểm cao 723, tiếp đó là Trung đoàn 2 ở các điểm cao 660 và 462.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #95 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2025, 07:34:27 pm »

Ngày 13 tháng 3, vòng vây của Sư đoàn quanh điểm cao 723 đã hình thành. Số phận Trung đoàn 1 địch đã được quyết định. Trong 3 ngày (13 - 15.3.1971), các loại hỏa lực của ta từ cối 82, DKZ75 đến pháo Đ74 và cối 160mm liên tục tập kích phá hủy công sự mới làm của địch. Hoả lực phòng không khống chế chặt chẽ bầu trời làm cho không một máy bay lên thẳng nào của địch dám đến gần. Chỉ huy Trung đoàn 1 địch liên tục điện kêu cứu cấp trên. Nhận thấy thời cơ dứt điểm đã đến, 1 giờ 30 phút ngày 16 tháng 3, Hội nghị Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn họp, quyết định "nới vây" để rồi "đón lõng" diệt quân địch rút chạy. Đúng như kế hoạch của ta, mờ sáng ngày 16, quân địch ở điểm cao 723 rút chạy về hướng đông bắc theo đúng ý định tác chiến của Sư đoàn. Lập tức, pháo binh ta đồng loạt bắn chặn các ngả đường buộc địch phải đi vào khu vực đã định sẵn. Hai tiểu đoàn của Trung đoàn 141 từ các sườn núi cao đánh xuống, kẹp chặt toàn bộ quân địch. Cùng lúc, Tiểu đoàn 40 của Trung đoàn Ba Gia vận động đánh cắt ngang sườn đội hình quân địch tháo chạy. Các chiến sĩ ta từ 3 hướng mãnh liệt xung phong vào đội hình đã rối loạn của địch. Tiểu đoàn Công binh 15 chốt chặn ở một đoạn đường mòn liên tục bẻ gãy 6 đợt đột kích phá vây của địch diệt 20 tên. Tuy địch sử dụng máy bay ném bom Napan cố ngăn sức tiến công của ta, nhưng đến 11 giờ ngày 16, ta đã tiêu diệt hoàn toàn Tiểu đoàn 1 của địch.


Lực lượng địch lúc này còn đông nhưng tinh thần hoang mang cực độ, chỉ huy rối loạn. Đến 12 giờ ngày 16 tháng 3 lực lượng còn lại của Trung đoàn 1 địch co lại thành từng cụm và tung hoả mù phân tuyến cho máy bay oanh kích vào đội hình bộ đội ta. 14 giờ ngày 16 khi máy bay địch vừa ngừng đánh phá, từ phía tây, Trung đoàn 141 đánh xuống; từ phía đông bắc, Tiểu doan 40 Trung đoàn Ba Gia đánh vào; trên hướng đông nam, tiểu đoàn đặc công và Tiểu đoàn 15 công binh đánh thốc lên. Quân địch hoàn toàn tan rã. Viên đại tá chỉ huy Trung đoàn 1 bộ binh bị tiêu diệt. Đến sáng 17 tháng 3, lực lượng còn lại và sở chỉ huy Trung đoàn 1 địch bị diệt. Để che giấu thất bại, địch vội vã cho 12 lần chiếc B-52 đến ném bom hủy diệt trận địa. Qua 2 ngày tiến công, Sư đoàn 2 đã tiêu diệt và bắt 1.750 địch, diệt gọn Trung đoàn 1 Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn, bắn rơi 50 máy bay các loại, thu hàng trăm súng, trong đó có 9 đại bác và 19 súng cối hạng nặng, 3 xe ủi đất, 2 máy nổ, 25 máy PRC25 và nhiều quân trang quân dụng.


Trong lúc tiếng súng diệt địch ở điểm cao 723 còn chưa dứt, thì Trung đoàn Ba Gia (thiếu Tiểu đoàn 40) khẩn trương hành quân bôn tập về hướng điểm cao 660. Đến 12 giờ ngày 17 tháng 3, Trung đoàn đã đến vị trí tập kết và nhanh chóng chia thành từng mũi tiến vào vây quanh điểm cao 660.


Để tránh nguy cơ bị tiêu diệt, chỉ huy Trung đoàn 2 địch quyết định cho quân lính men theo sườn đông, các điểm cao 660, 651, Phurơtan tụt xuống rồi vượt qua đường ống dẫn dầu và đường Nava1 (Đường Nava là một con đường chiến lược do thực dân Pháp xây dựng khi xâm lược Lào) lên điểm cao 462 để lên trực thăng rút chạy.


Dự kiến được mưu đồ của địch, Đại đội 6 Tiểu đoàn 60 và Đại đội 19 Tiểu đoàn 90 triển khai phục kích chờ địch. Giữa trưa ngày 18 tháng 3, khi tốp đi đầu của địch vừa mới tới đường ống dẫn dầu thì bị quân ta đánh đòn bất ngờ, một bộ phận quân địch bị tiêu diệt, số còn lại hốt hoảng chạy ngược trở lại và hình thành 3 cụm lớn ở sườn đông các điểm cao 660, 651 và đông bắc Phurơtan. Đây là thời cơ thuận lợi để diệt lớn sinh lực địch.


Đêm 18 tháng 3, Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn họp, quyết định: Tập trung hoả lực bắn phá các điểm cao 660, 651, Phurơtan, đồng thời nới rộng vòng vây nhử địch xuống thung lũng để đánh dứt điểm. Mặt khác, chủ động đánh chặn máy bay, không cho địch tháo chạy bằng đường không; tổ chức trận địa phục kích bí mật dọc bờ sông Sê Pôn đề phòng địch bất ngờ cho máy bay đến bốc quân theo hướng này.


Mờ sáng ngày 19 tháng 3, một lần nữa Trung đoàn 2 địch tìm đường tháo chạy. Cụm quân ở điểm cao 651 vừa tụt xuống chân dốc liền bị Đại đội 11 Tiểu đoàn 90 của ta chặn đánh. Cùng lúc, lực lượng còn lại của Tiểu đoàn 90 vận động bao vây, tiến công cả bên sườn và phía sau, diệt phần lớn Tiểu đoàn 5 dịch. Cùng lúc, quân địch ở điểm cao 660 và Phurơtan cũng bị Đại đội 7 Tiểu đoàn 60 chặn đánh, buộc chúng phải lui lại và đóng thành một cụm lớn ở sườn đông Phurơtan.


Pháo binh ta liên tục bắn phá sở chỉ huy Trung đoàn 2 địch ở điểm cao 462. Do lực lượng của ta ít, địa bàn rộng, không thể vây kín được mọi chỗ, nên bộ phận còn lại của Tiểu đoàn 5 địch thừa cơ vượt khỏi vòng vây chạy đến đường Nava và được trực thăng cứu thoát. Cùng lúc, nhiều trực thăng khác của địch cũng liều chết hạ cánh xuống điểm cao 462 cứu thoát chỉ huy Trung đoàn 2.


Quyết không cho địch chạy thoát, từ khắp các sườn đồi, khe suối, tất cả các cỡ súng của ta tập trung bắn mạnh vào đội hình máy bay địch, hạ một số chiếc, buộc chúng phải tháo lui.

Đêm 20 tháng 3, chỉ huy Trung đoàn Ba Gia quyết định đưa Tiểu đoàn 40 vừa từ điểm cao 723 về phối hợp với Đại đội 7 Tiểu đoàn 60 hình thành 2 mũi tiến công vào các cụm quân của địch. Lực lượng còn lại "đón lõng" tiêu diệt những toán quân địch trên đường tháo chạy.


Sau hơn 5 giờ chiến đấu quyết liệt, phần lớn Trung đoàn 2 địch bị diệt và bị bắt, số còn lại tháo chạy tán loạn vào rừng. Kết quả, ta loại khỏi chiến đấu gần 1.300 tên địch, diệt gọn Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3 và 2 đại đội của Tiểu đoàn 5, thu hàng trăm súng, có 4 đại bác 105mm, 54 máy PRC25, bắn rơi 36 máy bay.


Với những chiến công giành được, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 2 Quân khu 5 đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971.

Đánh giá hoạt động của Sư đoàn trong chiến dịch này, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch kết luận: Nhận trọng trách ở hướng tây và tây nam của mặt trận, Sư đoàn 2 hiệp đồng với các đơn vị bạn đã hoàn thành xuất sắc cả 2 nhiệm vụ: bảo vệ đường đường Hồ Chí Minh ở khu vực Sê Pôn; tiêu diệt được nhiều sinh lực, phá được nhiều phương tiện chiến tranh của địch, nêu cao được truyền thống của Quân khu 5. Các đồng chí đã chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của cấp trên, cơ động nhanh chóng, đoàn kết hiệp đồng tốt với các đơn vị bạn. Tích cực chủ động, mưu trí, linh hoạt, nắm vững thời cơ, liên tục chiến đấu, anh dũng lập công. Đặc biệt là tác chiến kết hợp với binh vận, đánh thắng 2 trận lớn tiêu diệt Trung đoàn 1 và đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 2 của Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn trên khu vực các điểm cao 723, 660, bắt nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí, làm chủ chiến trường. Chiến công của các đồng chí đánh dấu một bước tiến bộ mới rất quan trọng của sư đoàn và góp phần xứng đáng vào thắng lợi rất to lớn của Chiến dịch lịch sử Đường 9 - Nam Lào năm 1971.


Chiến công từ Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971, không chỉ góp phần làm cho truyền thống "Trên tin, bạn mến, dân thương, đã đi là đến, đã đánh là thắng" của Sư đoàn được tô thắm thêm, mà còn bổ sung thêm bề dày thành tích chiến đấu, xây dựng và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chính những phần thưởng cao quý: 2 lần được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, 2 Huân chương Thành đồng hạng Nhì, Huân chương Lao động hạng Ba, 14 Huân chương Quân công và Huân chương bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất của Đảng và Nhà nước, cùng nhiều phần thưởng cao quý khác của các Nhà nước Cu Ba, Triều Tiên, Lào, Campuchia dành cho Sư đoàn 2, là những minh chứng sống động ghi nhận thành tích phấn đấu không ngừng nghỉ của các thế hộ cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn trong suốt gần 50 năm qua.


Ngày nay, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Sư đoàn làm nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và cơ động chiến đấu trong mọi tình huống, từng bước xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện đáp ứng yêu cầu "Cơ động đánh thắng" và thực sự là đơn vị chủ lực cơ động đủ quân của Quân khu 5 và Bộ đứng chân trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên. Lịch sử sẽ được ghi tiếp những trang hào hùng trong chặng đường mới và truyền thống Anh hùng của Sư đoàn bộ binh 2.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #96 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2025, 07:41:25 pm »

VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN QUẢNG TRỊ TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971

Thiếu tướng NGUYỄN CHÍ HƯỚNG
Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy,
Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Quảng Trị


Cách đây 40 năm, chiến dịch phản công quy mô lớn của quân và dân ta cùng với sự phối hợp của lực lượng vũ trang Pathét Lào đã đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Bằng chiến dịch này, quân dân ta không những tiêu diệt được một bộ phận lớn sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch, giữ vững hành lang chiến lược mà còn giáng một đòn chí mạng vào chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ - ngụy. Trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Trị với vai trò là lực lượng tại chỗ đã cùng các đơn vị chủ lực xây dựng cơ sở, chuẩn bị chiến trường, hiệp đồng tác chiến đánh bại các đợt tiến công, tiêu diệt các cứ điểm phòng ngự giành thắng lợi hoàn toàn. Chiến thắng đó đã tạo nên sự thay đổi khá lớn về cục diện trên chiến trường có lợi cho ta là tiền đề quan trọng để lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Trị tiến lên giải phóng quê hương năm 1972.


Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào diễn ra trên một địa bàn rộng, với chiều dài khoảng 140km theo hướng đông - tây, từ Cửa Việt, Đông Hà (Việt Nam) tới Mường Phìn, Pha Lan (Lào), chiều rộng (theo hướng bắc - nam) từ Mường Trương đến Mường Noòng, khoảng 60km. Trên địa bàn gồm khu vực đồng bằng ven biển, đồi núi trung du xen kẽ làng mạc và núi cao rừng rậm, từ Cửa Việt tới Lao Bảo dài 80km và có trục đường 9, tuyến đường huyết mạch có giá trị đặc biệt. Địa bàn tác chiến chủ yếu ở vùng rừng núi biên giới Quảng Trị (Việt Nam) và Lào, là nơi dân cư thưa thớt, gần hậu phương của cả ta và địch.


Tình hình trên chiến trường Quảng Trị, việc xây dựng và phát huy sức mạnh của lực lượng vũ trang địa phương gặp nhiều khó khăn. Lực lượng thường xuyên của địch ở Quảng Trị lúc này có 2 sư đoàn bộ binh, 12 tiểu đoàn pháo 2 thiết đoàn xe tăng, 15.000 tên bảo an, dân vệ, tề điệp. Tính bình quân 6 người dân bị một tên lính kìm kẹp. Địch dốc sức bình định, biến nhiều vùng dân cư thành những vành đai trắng, bắn phá hủy diệt hòng tiêu diệt mầm mống lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng trong những làng xóm, thôn bản... Để thực hiện cuộc hành quân "Lam Sơn 719", Mỹ - ngụy huy động lúc cao nhất có tới 15 trung đoàn bộ binh, hai trung đoàn thiết giáp, 2-1 tiểu đoàn pháo binh, hơn 700 máy bay, 4 tiểu đoàn quân ngụy Lào gồm trên 42.000 quân cùng nhiều phương tiện chiến tranh khác. Đây là cuộc hành quân lớn nhất điển hình của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh".


Với quyết tâm bằng mọi giá phải bảo vệ bằng được tuyến chi viện Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh; bất luận hoàn cảnh nào cũng phải sẵn sàng để đánh địch trên các hướng. Do đó lực lượng của ta tham gia chiến dịch khá lớn bao gồm 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324 và 2), 4 tiểu đoàn tăng thiết giáp, 4 trung đoàn pháo binh, 4 trung đoàn pháo phòng không, một số tiểu đoàn đặc công và lực lượng tại chỗ của các mặt trận B4, B5, Đoàn 559. Đây là bước phát triển mới về tổ chức lực lượng, thể hiện chủ trương của chiến dịch phản công, tác chiến hiệp đồng binh chủng, đánh tiêu diệt lớn, phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị chủ lực và lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Trị cùng quân và dân các bộ tộc Lào anh em. Vượt qua gian khổ của cuộc chiến tranh, sự kìm kẹp của kẻ thù, kiên cường đấu tranh toàn diện: quân sự, chính trị, binh vận, lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Trị có vai trò rất to lớn góp phần quyết đinh chiến thắng của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971. Sự đóng góp đó được thể hiện:

Một là: Lực lượng vũ trang nhán dân Quảng Trị khắc phục khó khăn, đẩy mạnh đấu tranh, tạo thế và lực vững chắc, phối hợp cùng bộ đội chủ lực bố trí lực lượng, chuẩn bị thế trận sẵn sàng kịp thời đón đánh địch.

Từ mùa Hè 1970, Quân ủy Trung ương đã dự kiến trước phán đoán đúng ý đồ của địch và đã chỉ đạo các đơn vị chuẩn bị tốt mọi mặt, chủ động chuẩn bị lực lượng, cơ sở vật chất; chỉ đạo chiến dịch tổ chức trinh sát thực địa, chuẩn bị chiến trường, xây dựng công sự trận địa phòng ngự, luyện tập phương án tác chiến, đồng thời từng bước cơ động triển khai và bố trí lực lượng tại chỗ, lực lượng cơ động đứng chân sẵn trên các khu vực kịp thời đón đánh địch. Lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Trị khẩn trương chuẩn bị, với nhiệm vụ cơ bản được xác định là: "... đánh bại thủ đoạn bình định và "Việt Nam hóa" chiến tranh của địch. Tấn công quân sự, chính trị, phá từng bước tuyến phòng ngự đồng bằng, phá phương tiện chiến tranh hậu cứ, đường giao thông của địch. Đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh ở đồng bằng, thành phố. Bảo vệ hành lang hậu phương, làm chủ vững chắc rừng núi, tạo thế đứng vững vùng giáp ranh, từng bước làm chủ đồng bằng. Tích cực chuẩn bị mọi mặt, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực ta diệt địch. Tạo thế liên hoàn ba vùng tiến tới giành thắng lợi lớn".

a) Quân và dân Quảng Trị không ngừng tiến công, giành nhiều thắng lợi trong đấu tranh vũ trang, xây dựng thế trận, sẵn sàng đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719".

Để thu hút giam chân lực lượng địch tạo điều kiện cho các đơn vị bạn chuẩn bị chiến trường, từ tháng 6 năm 1970 lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Trị cùng với các đơn vị thuộc Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị liên tục mở các đợt tấn công vào lực lượng cơ động ngụy, đánh phá giao thông và mục tiêu nằm sâu trong hậu phương địch. Trong năm 1970, lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Trị đã tham gia cùng các đơn vị thực hiện 508 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu 4.866 tên (trong đó có 635 tên Mỹ), thu 186 súng các loại, bắn cháy 33 máy bay, phá hủy hàng trăm xe quân sự và phương tiện chiến tranh các loại. Lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Trị cùng các đơn vị đã giam chân toàn bộ lực lượng cơ động của Sư đoàn 3 ngụy, gây nhiều khó khăn tổn thất đối với các đơn vị cơ động chiến đấu của ngụy quân, tiêu diệt hàng chục tiểu đoàn "bình định" của địch, phá vỡ nhiều kế hoạch vận chuyển của chúng ra các căn cứ Đông Hà, Ái Tử. Bên cạnh đó, các lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Trị đã tiến hành nhiều hoạt động, kịp thời ngăn chặn các mũi tiến công, các bước chuẩn bị của địch, đánh địch rộng khắp trên toàn địa bàn Quảng Trị, buộc chúng phải phân tán lực lượng để đối phó, hạn chế việc triển khai lực lượng, chuẩn bị hậu cần để tiến hành cuộc hành quân. Đặc biệt trong tháng 11, 12 năm 1970 và tháng 1 năm 1971, quân dân Gio Cam đã 7 lần đánh bại các cuộc thành quân nống ra đánh phá các bàn đạp của ta ở khu vực xã Trung Giang, Gio An và 4 xã phía bắc Cam Lộ. Nổi lên trong phong trào đánh địch là những hoạt động táo bạo, hiệu quả của du kích Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Hải, các xã Cam Chính, Cam Nghĩa, Trung Giang, Trung Hải, Gio An, Gio Hải, Hải Phú, Hải Thượng, Hải Lệ, 5 xã vùng trên của Triệu Phong, trinh sát và tự vệ mật của thị xã Quảng Trị.


Cùng với hoạt động tác chiến, các đơn vị bộ đội địa phương Quảng Trị đã cùng các đơn vị của Đoàn 559 bí mật vận chuyển một khối lượng lớn vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện khổng lồ. Đảm bảo tốt công tác hậu cần, xây dựng hàng nghìn hầm trú ẩn, lán trại cho các đơn vị cơ động chiến đấu như Sư đoàn 2 - Quân khu 5 vừa bí mật cơ động từ Quế Sơn (Quảng Ngãi) ra khu vực Đường 9 tham gia chiến đấu.


b) Lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Trị đấu tranh đạt nhiều thắng lợi trong công tác chính trị, binh vận và xây dựng cơ sở. Phá vỡ kế hoạch "bình định" của địch, làm chủ ở vùng rừng núi, tạo thế vững chắc ở vùng giáp ranh, từng bước làm chủ ở đồng bằng.

Nhiều cuộc đấu tranh của quần chúng chống cướp bóc kiểm tra, kiểm soát lương thực, thực phẩm, đòi chúng phải để cho nhân dân ở các khu tập trung trở về nương vườn cũ làm ăn; đấu tranh chống địch mở các đợt thanh lọc, đấu tranh chống lập phòng vệ dân sự, chống đôn quân bắt lính, kết hợp với công tác binh vận, vận động các gia đình kêu gọi chồng con trong hàng ngũ địch trở về làm ăn.


Được sự hỗ trợ của các lực lượng vũ trang, nhân dân Quảng Trị tiến hành 200 cuộc đấu tranh chính trị chống bắt lính, kìm kẹp, tra tấn, đòi tự do đi lại, buôn bán, sản xuất, chống địch mở các cuộc "bình định", đòi về làng cũ làm ăn, đòi địch không pháo kích bừa bãi vào thôn xóm. Nhân dân các thôn Gio Hà và một số thôn của Gio Mỹ, Gio Hải, Gio Lễ bỏ khu tập trung Quán Ngang về làng cũ sinh sống.


Song song với đấu tranh chính trị, nhân dân Quảng Trị, còn đẩy mạnh công tác binh vận, tổ chức tuyên truyền vận động, tổ chức nội ứng trong lực lượng phòng vệ dân sự, phát động các gia đình có con em đi lính giác ngộ, kêu gọi họ trở về với cách mạng. Tổ chức được 15 vụ nội ứng trong lực lượng phòng vệ dân sự, dân vệ, làm tan rã trên 1.200 phòng vệ dân sự, tiếp đón 15 hàng binh, vận động 100 lính đào bỏ ngũ về nhà làm ăn. Lực lượng vũ trang luồn sâu bám sát cơ sở, mở rộng cơ sở cách mạng trong vùng địch, đưa hơn 100 thanh niên trong vùng địch chiếm ra vùng giải phóng tham gia lực lượng vũ trang cách mạng.


Như vậy, trước khi diễn ra Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Trị bằng ba mũi tiến công: quân sự, chính trị, địch vận đã góp phần tích cực tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, hạn chế chuẩn bị mọi mặt đảm bảo của địch cho cuộc hành quân. Đặc biệt ta đã giữ vững được các địa bàn trọng yếu, tạo nên các bàn đạp quan trọng ven đường 9, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác chuẩn bị chiến trường và triển khai lực lượng cơ động đánh địch trên các hướng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #97 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2025, 07:42:24 pm »

Hai là: Lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Trị đóng vai trò quan trọng trong tạo thế ta, phá thế địch, hỗ trợ cho các don vị chủ lực đánh trận quyết định tiêu diệt lớn quân địch, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng và thực hiện quyết tâm của Quân khu ủy, Ban chỉ đạo Đảng bộ tỉnh chủ trương lãnh đạo lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Trị phối hợp với Mặt trận Đường 9 - Nam Lào tích cực tiến công quân sự, đấu tranh chính trị, cùng các lực lượng trên toàn mặt trận bẻ gãy từng đợt tiến công của địch, đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân "Lam Sơn 719".


Các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang Quảng Trị đứng chân ở vùng giáp ranh cùng với lực lượng du kích các xã tổ chức đánh địch trên các trục đường giao thông, bắn súng cối vào căn cứ địch, kết hợp với công tác diệt ác trừ gian, hạn chế ách kìm kẹp của địch, tăng cường đoàn kết quần chúng ở nông thôn đồng bằng. Các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện đứng chân ở vùng giáp ranh đã cùng với du kích các xã mở đợt hoạt động ở các vùng giáp ranh và đồng bằng, thu được nhiều kết quả trong công tác đấu tranh chính trị, binh vận; kết hợp với diệt ác ôn làm cho thế kìm kẹp của địch lúc này có lỏng bớt, quần chúng tin nhau hơn, đoàn kết đấu tranh chống Mỹ - ngụy. Các hoạt động đấu tranh diễn ra quyết liệt ở các địa phương như huyện Triệu Hải, thị xã Quảng Trị. Lực lượng vũ trang và nhân dân Cam Lộ tổ chức diệt ác ôn ở các thôn Mai Lộc, Thiết Tràng (Cam Chính), thôn Nghĩa An (Cam Thanh) và ra sức đẩy mạnh đấu tranh ở các khu tập trung dân của địch như Tân Tường, Hoàn Cát, An Lạc. Lực lượng vũ trang Gio Linh đẩy mạnh các hoạt động quân sự, phát động quần chúng đấu tranh làm tan rã hàng trăm phòng vệ dân sự của địch, gọi hàng hàng chục binh lính ngụy; đẩy mạnh thực hiện các cuộc đấu tranh tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Nguyễn Văn Thiệu, từng bước hồi phục phong trào cách mạng ở Triệu - Hải và Gio Cam.


Ở Hướng Hóa, phần lớn cán bộ, bộ đội du kích và dân công được huy động đi làm nhiệm vụ phục vụ, phối hợp với bộ đội chủ lực của Quân khu Trị Thiên (B4) chiến đấu ở cánh nam của Mặt trận Đường 9 - Nam Lào.

Khi bộ đội hai nước Việt - Lào nổ súng tiến công địch ở vào Sê Pôn (8-2-1971) - một cứ điểm xung yếu của địch ở Nam Lào, lực lượng ta và bạn Lào đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn thuộc GM30, GM33, buộc chúng phải rút chạy về Xa Ra Van và Đồng Hến... Các đơn vị bộ đội địa phương cùng các lực lượng của B5 đánh địch ngày càng dồn dập bằng những trận pháo kích và tập kích vào các căn cứ hậu cần, các sở chỉ huy của địch ở Khe Sanh, Sa Mưu, Đông Hà, Ái Tử, Cửa Việt, gây cho địch nhiều tổn thất. Nhờ đó, Binh đoàn 70, lực lượng nòng cốt của chiến dịch đang bố trí ở nam Quân khu 4 để sẵn sàng đánh địch theo các phương án dự kiến, nhưng khi được lệnh cơ động vào khu vực địa bàn chiến dịch (cũng là lúc địch đã vượt qua biên giới - Lao Bảo và chiếm các điểm cao) đã tổ chức hành quân kịp thời triển khai đội hình đánh nhiều trận ác liệt với Lữ dù 3, Liên đoàn 1 biệt động và tập kích quân địch khi chúng vừa đổ quân chiếm các điểm cao... Điều đó càng khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của lực lượng vũ trang Quảng Trị trong việc tạo thế và lực cho chiến dịch.


Ngày 28 tháng 2 năm 1971, Tiểu đoàn đặc công của Bộ cùng với Đại đội 5 (Tiểu đoàn 33) phối hợp với lực lượng du kích Triệu Hải đánh kho Ái Tử, đốt cháy 1,5 triệu lít xăng. Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương Quảng Trị phối hợp với Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 27) đánh địch nống ra ở khu vực Ba Lào, Tà Cơn, tiêu diệt 2 tiểu đoàn địch, diệt 30 xe tăng, xe bọc thép. Giữa tháng 3 năm 1971, bộ đội địa phương Quảng Trị phối hợp với các phân đội đặc công của Đoàn 1A Quân khu đánh chìm 4 tàu, làm dòng sông từ Đông Hà đến Cửa Việt bị tắc nghẽn giao thông hoàn toàn trong 7 ngày liền. Tuyến vận tải tiếp tế đường sông của quân ngụy do vậy cũng bị thiệt hại nặng nề. Là lực lượng chiến đấu chủ yếu của chiến trường khu vực phía đông, các đơn vị bộ đội địa phương, dân quân du kích và đồng bào yêu nước Quảng Trị tổ chức nhiều trận đánh mạnh vào các đường giao thông, tập kích sân bay, kho tàng, bến cảng, gây cho địch nhiều tổn thất về sinh lực và phương tiện, buộc chúng phải phân tán và buộc phải tăng thêm 2 lữ đoàn Mỹ, 3 tiểu đoàn pháo binh để giải tỏa.


Lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Trị tổ chức các hoạt động tác chiến ngăn chặn kịp thời các mũi tiến công, đánh địch rộng khắp trên toàn địa bàn chiến dịch, buộc địch phải phân tán lực lượng để đối phó, cả phía trước, phía sau, bên sườn; cùng với đó, nghi binh, lừa địch vào những khu vực ta lựa chọn và chuẩn bị sẵn, tạo điều kiện cho các đơn vị chủ lực thực hiện đánh những trận then chốt tiêu diệt, bẻ gãy từng mũi, từng cánh tiến đến đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công của chúng, giậnh thắng lợi hoàn toàn. Lực lượng vũ trang Quảng Trị hỗ trợ và cùng với các đơn vị chủ lực đánh trận then chốt thứ nhất từ ngày 20 đến ngày 25 tháng 2, trận then chốt thứ 2 từ ngày 26 tháng 2 đến ngày 3 tháng 3 và nhất là trận then chốt quyết định (từ ngày 12 đến ngày 23-3) tiêu diệt tập đoàn chiến dịch chủ yếu của địch co cụm ở Bản Đông. Trong trận đánh then chốt quyết định (Bản Đông), lực lượng vũ trang địa phương cùng các đơn vị tại chỗ của Đoàn 559 đảm nhiệm chiến đấu đạt hiệu suất rất cao, tổ chức đánh địch từ nhiều hướng, đánh phối kết hợp vận chuyển tiếp tế hậu cần, lương thực, đạn dược, hỗ trợ các trung đoàn 64, 36, 66... bao vây, tiêu diệt, buộc địch phải tháo chạy. Bộ đội địa phương tỉnh nắm chắc địa hình, cùng các đơn vị chủ lực nhanh chóng truy kích địch.


Sau thời gian chuẩn bị và chiến đấu liên tục, cuối tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đã giành thắng lợi hoàn toàn, đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ - ngụy. Lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Trị đã đạp bằng mọi gian khổ hy sinh, khắc phục mọi khó khăn, kiên cường, dũng cảm, mưu trí sáng tạo, đoàn kết hiệp đồng cùng bộ đội chủ lực và, lực lượng vũ trang nước bạn Lào vì thắng lợi chung của chiến dịch. Thực tiễn thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đã khẳng định vai trò và sự đóng góp hết sức to lớn của lực lượng vũ trang và nhân dân tỉnh Quảng Trị. Từ đó rút ra kinh nghiệm quý báu trong tổ chức, sử dụng và phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương là sự phối hợp sống còn, có tính tất yếu; có mối quan hệ tác động qua lại, dựa vào nhau, hỗ trợ và tạo điều kiện cho nhau để phát huy sức mạnh và khả năng tác chiến của mỗi bên. Sự phối hợp tác chiến chặt chẽ, hiệu quả giữa bộ đội địa phương và các đơn vị chủ lực trong quá trình tiến hành chiến dịch, giành thắng lợi, hoàn thành mục tiêu đề ra: làm thất bại cuộc tiến công quy mô lớn của địch, phát triển mạnh mẽ thế chiến lược tiến công không chỉ đối với cách mạng Việt Nam mà cả cách mạng ba nước Đông Dương, tạo thế và lực mới để tiếp tục mở những chiến dịch lớn hơn, có ý nghĩa to lớn trong tạo ra so sánh lực lượng và thế trận có lợi cho cuộc đấu tranh vũ trang tiến tới giải phóng Quảng Trị năm 1972.


Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang không ngừng chống phá cách mạng nước ta. Với chiến lược đánh đòn phủ đầu, bằng hỏa lực mạnh, độ chính xác cao, khi chiến tranh xâm lược xảy ra, địch sẽ mở các chiến dịch tiến công quy mô lớn, phạm vi rộng, thực hiện đánh ác liệt trong thời gian ngắn nhằm đạt được mục đích chính trị của cuộc chiến tranh. Do vậy, để đánh bại chiến lược chiến tranh mới, ngay trong thời bình chúng ta phải tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Một là: Đầu tư xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, trên từng địa bàn, từng hướng chiến lược. Đồng thời xây dựng nên quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc, sẵn sàng chuyển thành thế trận chiến tranh nhân dân phát triển, để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của các lực lượng, lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt đánh bại chiến dịch tiến công của chúng.

Hai là: Tiếp tục xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân vững mạnh, có cơ cấu cân đối, hợp lý; trong đó, tập trung xây dựng Quân đội nhân dân "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại". Chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang địa phương cấp xã, huyện, tỉnh vững mạnh làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc.

Ba là: Xây dựng cơ sở chính trị địa phương mạnh, phát huy vai trò của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và vai trò trách nhiệm của nhân dân trong xây dựng khu vực phòng thủ.

Bốn là: Đẩy mạnh nghiên cứu phát triển nền khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự hiện đại của chiến tranh nhân dân Việt Nam lên tầm cao mới.

Năm là: Tập trung tổ chức huấn luyện, coi trọng tiến hành diễn tập các cấp, nhất là trên các địa bàn chiến lược, khu vực phòng thủ, nhằm nâng cao khả năng hiệp đồng tác chiến giữa lực lượng vũ trang địa phương với các đơn vị bộ đội chủ lực trong các loại hình chiến dịch.


Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971 giành thắng lợi đã giáng cho Mỹ - ngụy một đòn thất bại nặng nề về cả quân sự và chính trị. Thắng lợi to lớn và toàn diện đó là biểu tượng sinh động của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, một lần nữa thể hiện một cách rõ nét và sinh động về sự hy sinh, lòng dũng cảm, ngoan cường của lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Trị đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Chiến thắng đó để lại nhiều kinh nghiệm quý báu, làm phong phú thêm nghệ thuật quân sự Việt Nam, góp phần thiết thực vào việc chỉ đạo xây dựng huấn luyện và tác chiến, trong xây dựng khu vực phòng thủ địa phương vững chắc, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #98 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2025, 07:43:48 pm »

TUYẾN VẬN TẢI CHIẾN LƯỢC TRƯỜNG SƠN - ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH VỚI CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO

Thiếu tướng LƯƠNG SỸ NHUNG
Tư lệnh Binh đoàn 12


Sau những thất bại lớn trong năm 1970, Tổng thống Mỹ Níchxơn vẫn cho rằng chương trình "Bình định" ở miền Nam Việt Nam đã có kết quả, quân đội Sài Gòn được xây dựng mạnh lên, do vậy cần tranh thủ hành động gấp, thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh".


Đánh giá đúng bản chất hiếu chiến của Níchxơn và những âm mưu thủ đoạn mới của Mỹ - ngụy, Bộ Chính trị nhận định trong mùa khô 1970 - 1971, địch có thể mở cuộc tiến công quy mô vừa và lớn bằng lực lượng quân đội Sài Gòn là chủ yếu, có một bộ phận quân Mỹ hỗ trợ. Mục tiêu của chúng là đánh vào Trung - Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia nhằm phá cơ sở cách mạng của Lào, Campuchia; phá cơ sở hậu cần và cắt đứt tuyến hành lang vận tải chiến lược của ta, cô lập chiến trường miền Nam, tiếp tục thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", giành thế mạnh trong đàm phán.


Trước tình hình trên, tháng 9 năm 1970, tại một địa điểm thuộc nam Quảng Bình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân ủy Trung ương - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Tổng tham mưu trưởng, Trung tướng Song Hào - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Trung tướng Đinh Đức Thiện - Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần trực tiếp kiểm tra và giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Sau khi phân tích tình hình và nhận định của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về âm mưu, thủ đoạn, khả năng của địch, Đại tướng đặc biệt lưu ý: Tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn có lực lượng binh chủng hợp thành mạnh và có cơ sở dự trữ vật chất lớn, lại là lực lượng tại chỗ rất quen thuộc chiến trường, vì vậy phải là một trong những lực lượng tác chiến chủ yếu của chiến dịch, đồng thời là căn cứ hậu cần chiến dịch. Trong bất cứ tình huống nào, Bộ đội Trường Sơn củng phải thực hiện sự chi viện lớn hơn, sâu hơn, xa hơn, bảo đảm được các yêu cầu trước mắt, đồng thời có một phần dự trữ cho các chiến trường. Do vậy, Bộ đội Trường Sơn phải có phương án vừa chuẩn bị cho nhiệm vụ chi viện chiến lược, vừa chuẩn bị cho tác chiến tiêu diệt cuộc hành quân bằng bộ binh của địch.


Xác định nội dung nhiệm vụ của Bộ đội Trường Sơn, đồng chí Võ Nguyên Giáp nêu rõ:

- Tổ chức ngăn chặn tiêu hao sinh lực dịch, làm chậm bước tiến công của chúng ở hướng đông Đường 9, tạo điều kiện cho quân chủ lực của Bộ mở cuộc phản công đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân của địch.

- Tổ chức tác chiến đánh bại cánh quân ở hướng tây Đường 9, không cho chúng hợp điểm với cánh quân hướng đông.

- Chỉ huy các đơn vị tăng, pháo của Bộ vượt qua "túi lửa" ở các cửa khẩu để vào chiếm lĩnh trận địa trên các khu vực nam - bắc Đường 9.

- Tổ chức lưới lửa phòng không mạnh trên toàn địa bàn chiến dịch, đánh tiêu diệt trực thăng ở mọi quy mô.

- Tổ chức vận tải phục vụ chiến dịch, chiến đấu và bảo đảm hậu cần chiến dịch trên toàn mặt trận.

Thời điểm trước chiến dịch, quân số lên tối 7 vạn người (chưa kể lực lượng Bộ tăng cường và các đoàn thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến).

Từ nhiệm vụ mà Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng giao, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Trường Sơn quán triệt tình hình nhiệm vụ mới. Theo đó, một bộ phận lực lượng cơ giới đưa ra Bắc để củng cố, bổ sung phương tiện; tuyệt đại đa số ở lại chuẩn bị thế trận cho nhiệm vụ chi viện chiến lược và chuẩn bị chiến trường, sẵn sàng đối phó với các cuộc hành quân của địch; đồng thời tiếp tục củng cố xây dựng lực lượng, huấn luyện bộ đội. Trước mắt cần giữ vững và đẩy mạnh vận tải chiến lược, tranh thủ dồn nhanh hàng vào nam Đường 9, chủ động đối phó khi địch cắt đứt Đường 9. Chuẩn bị chiến trường, tổ chức vận chuyển chiến dịch đảm bảo hậu cần trực tiếp cho Mặt trận Đường 9 cả đông, tây Trường Sơn và Trị Thiên. Thống nhất chỉ huy các lực lượng tác chiến phía tây Trường Sơn thành một cánh của chiến dịch đặt dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh Chiêh dịch Đường 9. Phối hợp với bạn Lào tiêu diệt cánh quân ngụy Lào và Thái ở phía tây, đẩy chúng ra xa, đảm bảo an toàn tuyến vận chuyển chiến lược và không cho chúng hợp điểm với cuộc hành quân của Mỹ - ngụy từ hướng đông lên.


Được sự chỉ đạo sát sao của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã chủ động điều chỉnh lực lượng, chủ yếu là lực lượng cao xạ và công binh theo hướng phục vụ tác chiến chiến dịch. Bộ Tư lệnh họp với đại diện các quân, binh chủng Phòng không, Không quân, Pháo binh, Công binh... các sư đoàn 308, 304, 320 nhằm thống nhất kế hoạch hiệp đồng tác chiến.


Về xây dựng thế trận, Bộ Tư lệnh Trường Sơn chủ trương củng cố 4 cửa khẩu một cách vững chắc. Mỗi cửa khẩu có ít nhất 3 trục song song. Riêng cửa khẩu Chà Lỳ thuộc Binh trạm 27 ở hướng đông Trường Sơn phải mở 4 trục, bởi nó là cửa ngõ tiếp giáp với mặt trận phía đông Đường 9, giữ vai trò quan trọng trên hướng chủ yếu của chiến dịch. Xây dựng các kho dự trữ chiến dịch trên 2 khu vực nam, bắc Đường 9 để chủ động đảm bảo cơ sở vật chất phục vụ chiến dịch.


Về mạng đường phục vụ chiến dịch, đoạn từ Chà Lỳ vào đường số 9 đã thi công xong 2 trục dọc, 2 trục ngang. Các kho vật chất cho hướng Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã có 3.000 tấn hàng.

Về mặt tác chiến chiến dịch, Bộ Tư lệnh Trường Sơn chuyển hẳn một số binh trạm làm nhiệm vụ vận tải chiến lược sang nhiệm vụ vận tải phục vụ chiến dịch, kể cả nơi tiếp giáp Đường 9 và ở các hướng giao tranh giữa ta và dịch. Đồng thời "Bộ binh hóa" các lực lượng công binh và giữ kho ở những binh trạm trên hướng đó nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực dịch, làm chậm bước tiên quân của chúng cũng như bảo vệ tuyến vận tải chiến dịch và kho tàng của ta. Mặt khác tổ chức lưới lửa phòng không trên khu tam giác Bản Đông - La Hạp - Tha Mé, tăng cường các đơn vị phòng không cho các binh trạm đứng trên địa bàn chiến dịch.


Tính đến ngày 28 tháng 1 năm 1971, lực lượng phòng không của Bộ đội Trường Sơn được huy động tham gia Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào lên tới 5 trung đoàn (trong đó có 1 trung đoàn tên lửa và 1 trung đoàn cao xạ do Bộ phối thuộc); 15 tiểu đoàn pháo cao xạ 37mm và 57mm; 25 đại đội súng máy 12,7mm và 14,5mm. Tổng cộng có 326 nòng pháo cao xạ và 360 khẩu súng máy bố trí thành 8 cụm tạo thành lưới lửa liên hoàn nhiều tầng, nhiều lớp đủ khả năng tiêu diệt trực thăng của địch khi chúng đổ quân.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #99 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2025, 07:44:48 pm »

Về tổ chức mặt trận phía tây Đường 9, Bộ Tổng tư lệnh giao cho Đại tá Đồng Sĩ Nguyên, Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương ở mặt trận phía tây do Bộ Tư lệnh Trường Sơn phụ trách cùng với lực lượng thuộc quyền gồm Sư đoàn bộ binh 968 Sư đoàn bộ binh 2, Trung đoàn bộ binh 29 và 48 cùng các tiểu đoàn pháo binh, pháo mặt đất và xe tăng, có nhiệm vụ phối hợp tác chiến ở phía tây Trung - Hạ Lào, tiêu diệt trực thăng đổ quân xuống các cao điểm, diệt gọn cánh quân Lào, Thái, đập tan âm mưu chốt chặn tuyến chi viện chiến lược ở hướng tây, bảo vệ an toàn khu vực Sê Pôn - Tha Mé - La Hạp.


Riêng về nhiệm vụ vận chuyển chiến lược, Bộ Tư lệnh Trường Sơn chủ trương bằng bất cứ giá nào cũng phải giữ cho được hai trục đường 128 và 22, kiên quyết đánh địch bảo vệ cầu đường và đội hình xe, thực hành chiến dịch vận tải quy mô lớn với từng đợt tổng công kích dù trường hợp xảy ra chiến sự trên khu vực Đường 9.


Như vậy, những yêu cầu Bộ giao chuẩn bị cho Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã cơ bản hoàn thành và sẵn sàng trong tư thế tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Ngày 8 tháng 2 năm 1971, dưới sự yểm trợ của quân Mỹ, 7 trung đoàn, lữ đoàn bộ binh, dù, thiết giáp quân đội Sài Gòn chia thành 3 cánh vượt qua biên giới Việt - Lào. Cánh quân chủ yếu tiến theo Đường 9 qua Lao Bảo. Hai cánh quân khác chuẩn bị đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống một số điểm cao ở bắc và nam Đường 9 để bảo vệ sườn cho cánh quân chủ yếu.


Nắm chắc tình hình dịch, Bộ Tư lệnh Trường Sơn hạ lệnh: Đây là thời cơ diệt địch lập công, hãy nhử trực thăng địch vào sâu hơn nữa, kiên quyết tiêu diệt địch, cất vó một trận để cho chúng biết thế nào là lực lượng phòng không Đường Hồ Chí Minh.

Do chuẩn bị sẵn chiến trường và phán đoán chính xác về hướng tiến quân cũng như các vị trí đổ quân của địch, lực lượng phòng không đã tránh được các đòn oanh kích dọn đường của máy bay chiến lược B-52 và các loại máy bay cường kích, chủ động nổ súng tiêu diệt các tốp trực thăng. Từ 8 giờ ngày 8 đến ngày 10 tháng 2 năm 1971, được yểm trợ hỏa lực của các tốp trực thăng, địch ồ ạt đổ quân xuống các điểm cao nam - bắc Bản Đông. Các cỡ súng cao xạ, súng bộ binh của ta tung lên lưới lửa dày đặc, bắn rơi hàng loạt máy bay khi chúng chưa kịp đổ quân. Mặc dù bị máy bay cường kích đánh phá quyết liệt vào trận địa, nhiều chiến sĩ bị hy sinh, các tiểu đoàn vẫn ngoan cường chiến đấu bắn rơi thêm nhiều máy bay. Các lực lượng phòng không của Bộ đội Trường Sơn đã bắn rơi 33 máy bay; bẻ gãy 10 đợt tiến công của đơn vị biệt động Sài Gòn, phá hủy một xe bọc thép, diệt 100 tên địch, trong đó có 4 tên Mỹ, làm chậm bước tiến của Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 3 quân đội Sài Gòn đang tiến quân trên đường B70.


21 giờ ngày 10 tháng 2, đài phát thanh BBC của Anh đưa tin: Quân đội cộng hòa miền Nam tiến quân lên đường mòn Hồ Chí Minh đã vấp phải lưới lửa phòng không dày đặc chưa từng thấy của Bắc Việt; 50 máy bay lên thẳng bị bắn hạ. Như vậy là trúng kế "điệu hổ ly sơn" của họ.


Từ ngày 11 đến ngày 28 tháng 2, các lực lượng cao xạ, bộ binh của Bộ đội Trường Sơn đánh lui hàng chục đợt tiến công của địch, tiêu diệt và bắt hơn 600 tên, xóa sổ 1 tiểu đoàn địch, bắn rơi 68 máy bay. Như vậy, ngay từ những ngày đầu địch đổ quân xuống các cao điểm ở nam và bắc Đường 9 đã bị lực lượng phòng không, công binh, bộ binh của Bộ đội Trường Sơn đánh đòn rất đau, bị bắn rơi 118 máy bay lên thẳng, phá hủy hơn 20 xe tăng, thiết giáp và nhiều bộ binh địch. Bị tổn thất nặng nề, đội hình địch rối loạn, tinh thần hoang mang, tốc độ tiến quân chậm lại, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực từ xa kịp cơ động triển khai đội hình, chuẩn bị đánh những trận tập trung lớn.


Trong những ngày đầu tiến quân lên Bản Đông, địch đánh dọn đường rất mạnh. Các địa bàn ngoại vi khu vực địch định đổ quân đều bị đánh nát. Các cửa khẩu trên đường 16, đường 18 đã trở thành túi lửa. Chỉ trong vòng 10 ngày từ 30 tháng 1 đến ngày 10 tháng 2 năm 1971, địch đã sử dụng 400 lần máy bay chiến lược B-52 và 2.246 lần chiếc máy bay cường kích giội bom rải thảm xuống các khu vực này cùng một số điểm cao ở nam - bắc Đường 9 nhằm cản phá các đơn vị, binh khí kỹ thuật của ta tiến vào trận địa. Tuy nhiên, do các binh trạm của Bộ đội Trường Sơn chuẩn bị thế vượt khẩu vững chắc, đồng thời tổ chức chiến đấu hiệp đồng binh chủng tốt nên trong 3 ngày đêm đã đảm bảo cho 8 trung đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn xe tăng, 3 trung đoàn cao xạ và nhiều phương tiện khác vượt khẩu đến vị trí tập kết an toàn.


Đến ngày 11 tháng 2, lực lượng của ta tham gia chiến dịch lên đến 6 vạn quân, hàng nghìn xe, pháo và các loại vũ khí hạng nặng khác. Nhu cầu đảm bảo lương thực, đạn dược, thuốc men... cho chiến dịch tăng vọt với khối lượng lớn và đòi hỏi thời gian cấp bách. Mặc dù bị không quân địch khống chế, đánh phá ngăn chặn dữ dội, nhưng Bộ đội Trường Sơn đã vượt qua mọi hy sinh, vận chuyển, đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất cho các lực lượng tác chiến và thắng lớn trên chiến trường.


Từ ngày 20 đến 25 tháng 2, lực lượng công binh và pháo cao xạ của Bộ đội Trường Sơn đã yểm trợ cho Trung đoàn 64 Sư đoàn 320 phối hợp với xe tăng vây lấn cao điểm "Không tên", tiêu diệt Tiểu đoàn 3 dù, tiểu đoàn pháo binh và sở chỉ huy Lữ đoàn 3 dù, bắt sống đại tá Nguyễn Văn Thọ, chỉ huy trưởng lữ đoàn và toàn bộ ban tham mưu của chúng.


Trong 3 ngày 27, 28 tháng 2 và ngày 5 tháng 3, tại khu vực nam Đường 9, địch đổ quân xuống dãy điểm cao 639, 229 liền bị Bộ đội Trường Sơn bắn rơi 40 máy bay lên thẳng, diệt gọn 8 đại đội, khiến chúng không thể đổ quân đánh chiếm khu vực này.

Ngày 11 tháng 3, Tư lệnh chiến dịch Lê Trọng Tấn trực tiếp giao nhiệm vụ cho Binh trạm 27: Ngày 12 tháng 3, trước giờ nổ súng 30 phút, Binh trạm 27 phải đảm bảo cho hướng tiến công chủ yếu 2.000 quả đạn pháo 130mm. Tiếp đó mỗi ngày phải đảm bảo 200 tấn đạn và lương thực. Tư lệnh Lê Trọng Tấn kết luận: Quyết tâm tác chiến của đòn tiến công quyết định này đã được xác định, nhưng mở màn được hay không là do vận chuyển bảo đảm cơ sở vật chất quyết định. Binh trạm 27 cần phải hoàn thành cho được nhiệm vụ này. Cùng ngày, Đại tướng Tổng Tư lệnh và Thượng tướng Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp chỉ đạo qua điện thoại cho Đại tá Đồng Sĩ Nguyên, Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn, yêu cầu phải bảo đảm đầy đủ vũ khí, đạn dược, lương thực cho các hướng chiến dịch.


Chấp hành mệnh lệnh của trên, sáng ngày 12 tháng 3, 150 xe chở đạn của Binh trạm 27 dàn đội hình tiếp cận trọng điểm. Đến 3 giờ sáng, sau các loạt bom B-52, đội hình xuất kích theo phương án xác định, lợi dụng sương mù, Bộ đội Trường Sơn đã vận chuyển cả ngày và đêm đưa hàng tới tận chiến hào và các trận địa pháo, đảm bảo kịp thời vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men cho các đơn vị, đồng thời chở thương binh về phía sau. Kế hoạch vận chuyển chiến dịch đảm bảo cho đợt tiến công mới do Bộ Tư lệnh chiến dịch giao, Bộ đội Trường Sơn đã hoàn thành trọn vẹn. Tư lệnh Mặt trận phía đông Cao Văn Khánh gọi điện nhiệt liệt biểu dương và cảm ơn Bộ đội Trường Sơn.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM