Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:41:45 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử  (Đọc 29266 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #120 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2026, 08:44:46 am »

Ngay khi địch triển khai kế hoạch "Lam Sơn 719", Bộ Chính trị họp, quyết định mở chiến dịch tiêu diệt lớn quân địch ở khu vực Đường 9 - Nam Lào và chỉ thị cho Quân ủy Trung ương nhất thiết phải đánh thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Sau cuộc họp, Bộ Chính trị gửi Điện số 332 về cuộc tấn công lớn của địch vào đường hành lang của ta và nhiệm vụ của các chiến trường, trong đó chỉ đạo các chiến trường đẩy mạnh hoạt động phối hợp với chiến trường chính.


Ngày 6 tháng 2 năm 1971, Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5) ra chỉ thị cho các đơn vị và các địa phương trên địa bàn "phát huy cao nhất mọi khả năng của hai lực lượng, ba thứ quân, đánh mạnh vào các hậu cứ, kho tàng, chân hàng, cơ quan đầu não, căn cứ hành quân, các phương tiện giao thông, ngăn chặn tiếp tế đường bộ, đường sông, hạn chế tiếp tế đường không của địch"1 (Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lịch sử Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (1966 - 1973), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 209).


Thực hiện chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Mặt trận, du kích Hướng Hóa đã nhanh chóng sơ tán những người già, phụ nữ có con nhỏ và tre em ra xa vùng chiến sự dọc hai bên Đường 9, chỉ để lại những người mạnh khỏe được huy động chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Trước, trong và ngay sau chiến dịch, toàn vùng Nam Hướng Hóa đã bổ sung 47 tân binh cho bộ đội địa phương, trong đó nhiều nhất là xã Thanh có 13 người, xã A Vao có 7 người và xã Thuận có 5 người. Để phục vụ tải đạn, tải lương và tải thương, trong tháng 3 năm 1971, huyện Nam Hướng Hóa huy động 217 người ở các xã Thanh, Thuận, A Cha, Xi, A Dơi, Pa Tàng. Mỗi người tham gia phục vụ từ 15 ngày đến 1 tháng.


Về lương thực, tuy sản xuất cuối năm 1970 chưa phục hồi và sự tàn phá của bom đạn trong suốt diễn biến chiến dịch nhưng với ý thức trách nhiệm của người dân đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân huyện Hướng Hóa đã hăng hái đóng góp lúa gạo nuôi quân. Toàn huyện đã động viên được 2.388 thùng gạo (so với yêu cầu đặt ra lúc đầu thì không đạt nhưng thực tế đã nói lên nhiệt tình đóng góp của nhân dân) trong đó 2 xã Thanh, Thuận đạt cao nhất (trên dưới 600 thùng mỗi xã). Ngoài lúa gạo, nhân dân còn góp được 1.900 thùng bắp hạt, hơn 424 thùng lúa ba trăng, 500 xấp thuốc lá, 75 cây rựa và 474.280 gốc sắn1 (Huyện ủy Nam Hướng Hóa, Báo cáo tổng kết phong trào thi đua yêu nước trong năm 1971 số 01/TĐ, ngày 20-3-1972, tr. 7-8. Tài liệu lưu tại Phòng Lưu trữ, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Trị), trong đó A Vao góp 70.000 gốc, Kỳ Nơi 15.000 gốc, Tuồi Muồi 2.000 gốc, A Cha 10.000 gốc...


Về đánh địch, được sự hỗ trợ của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích các xã tích cực bám địch, chủ động đánh địch ngay khi chúng đổ quân xuống địa bàn. Du kích xã A Bung bắn rơi 8 máy bay tại chỗ và bắn bị thương 3 chiếc; xã A Túc bắn rơi 5 chiếc và bắn bị thương 1 chiếc đánh biệt kích diệt 10 tên và làm bị thương 6 tên; xã A Vao bắn rơi 4 chiếc máy bay, bắn bị thương 1 chiếc, đánh biệt kích diệt 5 tên địch và làm bị thương 1 tên; xã Tà Rụt bắn rơi 3 máy bay; xã Hải Phúc bắn rơi 1 máy bay; xã A Xốc bắn rơi 2 máy bay, diệt 14 tên biệt kích, làm bị thương 1 tên khác. Những xã trước đây chưa bắn được máy bay hoặc ít có kết quả nhưng nay cũng hạ được máy bay địch như A Cha, Xi, Thuận, Húc Nghi, Hải Phúc.


Bộ đội địa phương huyện bắn rơi 7 máy bay, bắn bị thương 3 chiếc, đánh bộ binh 5 trận, diệt 70 tên địch, làm bị thương 6 tên2 (Huyện ủy Nam Hướng Hóa, Báo cáo tổng kết phong trào thi đua yêu nước trong năm 1971, Tldd, tr. 6, 8, 9).

Tổng cộng, trong toàn bộ chiến dịch, quân dân Hướng Hóa đã đánh 14 trận (gồm cả độc lập tác chiến và phối hợp với chủ lực), giết và làm bị thương 428 tên, bắt sống 4 tên tàn binh; bắn rơi 38 máy bay, có cả phản lực, khu trục AĐ6 và bắn bị thương 15 chiếc khác; thu 47 súng, 160 lựu đạn, 10 máy thông tin, 2 ông nhòm, 2 máy ảnh và nhiều đồ quân trang, quân dụng khác1 (Huyện ủy Nam Hướng Hóa, Báo cáo tổng kết phong trào thi đua yêu nước trong năm 1971, Tlđd, tr. 6, 8, 9).


Trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, nổi lên là nhiều cá nhân tiêu biểu. Chị Y Tùng (thôn A Xau, xã Kỳ Nơi), tuy gia đình neo dơn, chồng và các con lớn đều đi công tác xa nhà, một mình chị ở nuôi mẹ chồng, một con nhỏ và còn nuôi thêm một cháu bé mồ côi nhưng đã đóng góp 8 thùng gạo, 11 thùng ngô, 1.900 gốc sắn. Anh Cồn Năng (Xã đội phó A Túc) đã chỉ huy du kích đánh 3 trận, diệt 40 tên, chỉ huy khẩu đội 12,7mm bắn rơi 3 máy bay địch. Đội sản xuất của đồng chí góp được 100 gùi rau bí, 8 gùi sắn cho bộ đội. Đồng chí Thung (Xã đội trưởng, Bí thư xã đoàn thanh niên A Vao) trong suốt chiến dịch đã liên tục bám trụ trận địa pháo 12,7mm, dùng AK hạ được 1 trực thăng, chỉ huy đồng đội cứu 1 khẩu 12,7mm khi bị địch tập kích. Đồng chí Nam (Trung đội trưởng du kích xã A Bung), tham gia tất cả các trận đánh với du kích và bắn rơi 3 máy bay địch. Đặc biệt tại cao điểm 60, sau khi địch ném bom dọn bãi để đổ quân, trong 16 ngày đêm liên tục, đồng chí bám sát địch động viên anh em dũng cảm bắn máy bay, không cho chúng đổ quân.


Kết thúc chiến dịch, quân dân Hướng Hóa được tặng thưởng 24 huân chương Chiến công hạng Ba cho cá nhân và đơn vị, hàng chục Bằng khen và Giấy khen cho lực lượng vũ trang, bán vũ trang.

Những kết quả đạt được trên đây của quân và dân Hướng Hóa đối với toàn bộ diễn biến Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào là không lớn nhưng đặt trong bối cảnh cụ thể của địa phương lúc bấy giờ thì đó là thành tích có ý nghía rất lớn. Bởi lẽ là địa phương miền núi, dân số Hướng Hóa chủ yếu là các dân tộc Tà Ôi, Vân Kiểu, Pahy, Pakô, sống phân tán vì chiến tranh, rồi khi ta mở các đường nhánh, nhân dân sơ tán ra xa để tránh bom đạn nên mật độ dân rất thấp.


Trong tình hình đó, việc huy động được một lực lượng đáng kể thanh niên, du kích tham gia đánh địch, nuôi quân là bước tiến vượt bậc đối với nhân dân các dân tộc ít người huyện Hướng Hóa. Mặt khác, bộ đội địa phương và du kích Hướng Hóa từ tâm lý sợ hãi máy bay đến tham gia bắn trả, bắn rơi máy bay địch không chỉ là sự trưởng thành về nhận thức mà còn "chứng tỏ một dân tộc tuy còn lạc hậu về trình độ kinh tế kỹ thuật, nhưng được sự tổ chức và lãnh đạo của Đảng, đánh giá đúng chỗ mạnh chỗ yếu của địch, biết phát huy truyền thống kiên cường, bất khuất của dân tộc mình, lại đang ở trong thế thắng, thế tấn công, thế đi lên chung của cách mạng thì với súng trường có thể bắn rơi những máy bay phản lực hiện đại của địch, với chông tre, vũ khí thô sơ tự tạo có thể đánh thắng được quân Mỹ - ngụy trang bị hiện đại từ chân đến đầu. Rõ ràng, nhân dân miền núi chúng ta không phải đánh thắng giặc Mỹ bằng vũ khí hiện đại mà bằng lòng căm thù địch sâu sắc, lòng yêu nước nồng nàn và bằng tư thế của người dân đã làm chủ vùng giải phóng đang trong thế đứng trên đầu thù mà xốc tới"1 (Huyện ủy Nam Hướng Hóa, Báo cáo tổng kết phong trào thi đua yêu nước trong năm 1971, Tldd, tr. 5).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #121 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2026, 08:57:51 am »

THANH NIÊN XUNG PHONG TRÊN CHIẾN TRƯỜNG QUẢNG TRỊ NHỮNG NĂM 1970 - 1971

Trung tá, TS TRƯƠNG MAI HƯƠNG
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt là từ năm 1965, miền Bắc vừa là hậu phương lớn chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, vừa phải đương đầu với cuộc "chiến tranh phá hoại" bằng không quân và hải quân hết sức ác liệt của đế quốc Mỹ. Nhằm đáp ứng nhiệm vụ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên cả hai miền Nam - Bắc, từ tháng 6 năm 1965, theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, các Đội thanh niên xung phong lần lượt được thành lập, thực hiện nhiệm vụ bảo đảm giao thông, phục vụ chiến đấu ở các trọng điểm địch đánh phá ác liệt: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, khu vực Vĩnh Linh... Trong phạm vi bài viết, chúng tôi muốn đề cập đến lực lượng thanh niên xung phong trên chiến trường Quảng Trị những năm 1970 - 1971.


Từ đầu năm 1970, sau thất bại của chiến lược "chiến tranh cục bộ" và "chiến tranh đặc biệt", đế quốc Mỹ thực hiện "Việt Nam hóa chiến tranh". Bản chất của chiến lược này là dùng quân đội Sài Gòn dần thay thế quân đội Mỹ và chư hầu trên chiến trường miền Nam Việt Nam. Trong đó, Mỹ vẫn chỉ huy thông qua hệ thống cố vấn và viện trợ. Muốn thực hiện được điều đó, đế quốc Mỹ chủ trương cắt đứt sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam trên tuyến đường Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh đó, Quảng Trị - điểm chia cắt tạm thời hai miền đất nước, nơi có Đường 9 đi qua có vị trí chiến lược quan trọng.


Trước âm mưu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, tháng 5 năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu đã có công điện, chỉ thị cho Quân khu 4 và các lực lượng chiến đấu tại Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị sẵn sàng chiến đấu trước những hoạt động biệt kích, tập kích của địch và yêu cầu: "đánh mạnh vào các bàn đạp dùng để tấn công ra Mường Phìn - Sê Pôn và lợi dụng sơ hở của địch đưa lực lượng sang Lào, đẩy mạnh hoạt động sau lưng địch, đánh vào các hậu cứ địch1 (Điện số 188 TM, ngày 23 tháng 5 năm 1970, TL lưu Văn phòng Bộ Tổng tham mưu).


Tiếp đó, tháng 6 năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu lập kế hoạch tác chiến, điều động lực lượng và chỉ đạo các đơn vị chuẩn bị chiến trường và thành lập Hội đồng chi viện tiền tuyến Trung ương nhằm động viên hơn nữa nỗ lực của quân và dân miền Bắc phát huy sức mạnh của hậu phương lớn phục vụ các chiến trường. Hội nghị Quân ủy Trung ương họp tháng 6 năm 1970 cũng đề nghị những biện pháp cấp bách nhằm phát triển lực lượng, củng cố tuyến vận tải chiến lược, kết hợp các phương thức vận tải đường bộ, đường sông, đường ống, kết hợp đánh địch với nghi binh phòng tránh... để tăng cường khả năng vận chuyển.


Thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, cùng với các lực lượng chiến đấu và phục vụ chiến đấu, Trung ương Đoàn đề ra nhiệm vụ cụ thể cho Thanh niên xung phong năm 1970, trong đó nhấn mạnh đến lực lượng thanh niên xung phong thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến đấu trên chiến trường Trị - Thiên là: Trong điều kiện địch đánh phá dữ dội, đặc biệt là trên chiến trường Trị-Thiên, thanh niên xung phong phải đẩy mạnh phong trào cải tiến và sử dụng công cụ mới, cùng với việc hợp lý hóa tổ chức các đội để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao"1 (Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Văn kiện Đoàn (1961-1968), Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1969, tr.166).


Về tổ chức, biên chế của các đội thanh niên xung phong thời gian này không có gì thay đổi, số lượng thanh niên xung phong chỉ còn trên 6 vạn (tập trung chủ yếu trên tuyến đường Trường Sơn), giảm hơn 4 vạn so với giai đoạn trước năm 1970. Tổng số thanh niên xung phong phục vụ tại chiến trường Quảng Trị, Quảng Bình là hơn 1 vạn2 (Báo cáo tổng kết hoạt động của TNXP nhiệm kỳ II (1969-1972), Tài liệu lưu Văn phòng Trung ương Đoàn TNCSHCM). Trong đó, có một số đội do Đoàn 559 (Bộ Quốc phòng) và Ban 1367 (Bộ Giao thông Vận tải) quản lý, một số đội do tỉnh Quảng Trị phụ trách, về phương thức hoạt động theo ngành, sử dụng lực lượng thanh niên xung phong lo toàn bộ về kỹ thuật và mọi chế độ, chính sách. Ban Thanh niên xung phong Trung ương Đoàn phụ trách chung về chính trị, tư tưởng.


Về nhiệm vụ của thanh niên xung phong rất đa dạng, phong phú: vận chuyển hàng hóa, thuốc men, lương thực, đạn dược bằng xe đạp thồ, khênh vác, đi bộ, vừa làm đường, đảm bảo giao thông các tuyến đường 16, 18, 12 do Đoàn 559 quản lý. Do tính chất khẩn trương, cấp bách và khác nhau của công việc nên các đội thường phân chia theo các tiểu đội, đại đội trực tiếp chịu sự quản lý của các binh trạm hoặc các Cục, Tổng cục Vận tải, Quân y, Hậu cần... Đặc biệt, Quảng Trị là vùng giáp ranh với địch nên một số tiểu đội thanh niên xung phong sang vùng địch tạm chiếm làm nhiệm vụ trinh sát, làm đường, làm kho trong đêm, sau lại rút về hậu cứ an toàn.


Triển khai nhiệm vụ được giao, để bảo vệ hàng quân sự và hệ thống kho tàng, thanh niên xung phong đã phải vô hiệu hóa những vũ khí tối tân (bom từ trường, bom phá, bom bi), thành quả của nền khoa học Hoa Kỳ và họ đã chiến thắng trong cuộc đấu trí, đấu lực đó. Từ trong gian khổ, ác liệt của chiến tranh, nhiều tập thể và cá nhân điển hình đã xuất hiện. Với sức chịu đựng dẻo dai, kiên cường, thanh niên xung phong đã bám sát cầu đường, trụ bám ở những trọng điểm, lao động và chiến đấu hết mình với nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, khắc phục khó khăn, tìm cách thông đường nhanh nhất.


Từ cuối năm 1970, cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam của đế quốc Mỹ ngày càng thất bại, sa lầy trên các chiến trường. Chúng dùng tất cả các thủ đoạn ngăn chặn bằng không quân, chất độc hóa học, hàng rào điện tử, biệt kích, thám báo, v.v. trên tuyến vận chuyển chiến lược đều thất bại. Ở miền Nam, ta càng đánh càng thắng. Thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", đế quốc Mỹ đã thúc ép quân đội Việt Nam cộng hòa mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra Đường 9 - Nam Lào, phối hợp với quân đội phái hữu Lào ở phía Tây, hòng cắt đứt hoàn toàn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam. Mỹ và quân đội Sài Gòn đã huy động lực lượng lớn gồm 16 lữ đoàn bộ binh, hàng chục tiểu đoàn pháo binh và thiết giáp, xe tăng yểm trợ cùng với một lực lượng không quân lớn của Mỹ tham chiến.


Trước những diễn biến khẩn trương của chiến dịch, ngày 9 tháng 2 năm 1971, Trung ương Đảng ra lời kêu gọi cán bộ, chiến sĩ, các lực lượng tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu thuộc Mặt trận Đường 9 - Nam Lào. Chỉ thị nêu rõ: "Toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên hãy ra sức thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính mến và quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng... Tập trung tất cả tinh thần và sức lực dũng mãnh tiến công, liên tục tiến công tiêu diệt thật nhiều lực lượng tinh nhuệ của địch, quyết bảo vệ con đường Hồ Chí Minh. Xốc tới giành thắng lợi cao nhất trong chiến dịch quan trọng này"1 (Chỉ thị số 009/QUTW do Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp ký ngày 9 tháng 2 năm 1971, Mồ sơ 594, Cục Lưu trữ Bộ Quốc phòng).


Ngày 8 tháng 2 năm 1971, quân địch bắt đầu tiến công, kết hợp tiến quân theo đường bộ với đổ bộ đường không, dựa vào ưu thế binh hỏa lực chiếm Bản Đông và một số điểm cao ở nam bắc Đường 9.

Lực lượng của ta, dưới sự chỉ huy của Bộ Tổng Tư lệnh đã phán đoán đúng âm mưu của địch và đã có sự chuẩn bị sớm. Tháng 10 năm 1970, ta thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch hiệp đồng tác chiến giữa các sư đoàn bộ binh với các lực lượng khác như: bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, thanh niên xung phong... làm tốt công tác chuẩn bị đường sá, hậu cần chu đáo.


Thanh niên xung phong phối hợp với các lực lượng khác làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông trên Đường 9 và quốc lộ 1A. Tại đây, địch ngăn chặn quyết liệt, chúng chọn những đoạn độc đạo, hiểm yếu, không có chỗ tránh như một bên là vực sâu, một bên là vách đá dựng đứng, đánh bom khó trúng đường. Đồng thời chúng sử dụng tên lửa phóng vào vách núi làm sụt đá, gây tắc đường, sau đó rải mìn vướng, bom nổ chậm hòng hủy diệt con đường tiếp tế của ta. Không quản nguy hiểm, 4 trung đội vận tải thanh niên xung phong của tỉnh phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương ứng trực đảm bảo giao thông liên tục 24/24 giờ dưới bom đạn Mỹ.


Đại đội 202 - N241 thanh niên xung phong Nghệ An được điều vào chiến trường Quảng Trị trong những ngày quyết liệt, chi viện cho Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào với nhiệm vụ phá bom nổ chậm. Bằng sự sáng tạo và dũng cảm, nữ đội viên Nguyễn Thị Hiến đã nghiên cứu tìm cách tháo ngòi nổ của quả bom trên mặt đường, giải phóng đường cho xe chở hàng và người trước khi trời sáng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #122 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2026, 08:58:51 am »

Trước yêu cầu ngày càng cao của chiến dịch, đại đội thành lập tổ cảm tử phá bom gồm 8 người do đội viên Nguyễn Thị Hiền làm đội trưởng. Trước khi nhận nhiệm vụ, tổ cảm tử làm lễ truy điệu sống. Hàng đêm, toàn đội thận trọng tiếp cận trận địa, phát hiện vị trí từng quả bom, mìn, gỡ dây, nhặt lựu đạn, sau đó cắm cọc tiêu an toàn. Sau hơn 6 giờ làm việc, tổ cảm tử đã hoàn thành nhiệm vụ mở đường vào trận địa an toàn, giúp Quân giải phóng thực hiện tác chiến trong chiến dịch thuận lợi hơn.


Đại đội 356 - N35 (Thanh niên xung phong Hà Nam) làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực, phương tiện, công cụ, mở đường và bảo đảm giao thông trên đoạn đường 20/7 từ Nông trường cao su Quyết Thắng - Quảng Bình nối với Đường 9. Trên quãng đường hơn 80km, hàng hóa được thanh niên xung phong đưa từ Trạm trung chuyển vào Km0 của tuyến đường 20/7. Nhiều trận đánh quyết liệt với địch đã diễn ra, nhiều đội viên đã chiến đấu và anh dũng hy sinh nhưng quyết tâm không để kho, hàng bị phá hủy.


Với tinh thần "Sống bám cầu, bám đường, chết kiên cường, dũng cảm", thanh niên xung phong đã đoàn kết, phối hợp hiệp đồng với các lực lượng bảo đảm giao thông tiến hành công việc giải tỏa trọng điểm tích cực, đồng bộ. Nhờ vậy, mặc dù đế quốc Mỹ đã trút nhiều loại bom đạn xuống các tuyến đường, đặc biệt là quốc lộ 1A và Đường 9, song vẫn không thể ngăn cản được các đoàn xe vận tải của ta tranh thủ từng giờ, từng phút vượt qua trọng điểm đến nơi tập kết hàng hóa an toàn.


Cũng trong chiến dịch này, phương thức vận chuyển thô sơ, các cung chặng vận chuyển được rút ngắn. Địch đánh ban ngày, ta tổ chức vận chuyển ban đêm. Các cầu gỗ hỏng sau từng trận oanh kích, được sửa chữa gấp, có thể chưa đủ sức chịu tải xe ô tô, nhưng xe thồ, xe ba gác, người gánh bộ có thể qua lại dễ dàng. Một chiếc thuyền nan mười chiếc thuyền nan có thể thay thế cho một chiếc cầu bị đánh sập, trong một thời gian ngắn chưa sửa kịp thời. Bởi thuyền tuy nhỏ, lượng hàng chở được ít, nhưng dễ luồn lách trên các sông đào, kênh hẹp... hạn chế tầm kiểm soát, khống chế của máy bay địch.


Đội vận tải bằng thuyền gỗ của thanh niên xung phong xã Gio Việt, thuộc Liên đội thanh niên xung phong giải phóng Quảng Trị làm nhiệm vụ thu chiến lợi phẩm của địch bỏ lại sau các cuộc giao tranh, chở những chiến sĩ quân giải phóng vào bờ nam Cửa Việt và chở thương binh ngược ra bờ bắc Cửa Việt. Trên quãng đường dài 20km máy bay địch quần đảo suốt ngày đêm, dọc bờ biển tàu dịch tuần tra gắt gao, các tàu chiến Hạm đội 7 của Mỹ bao vây, sục sạo khắp tuyến đường biển và các cửa sông của ta. Các đội viên phải đi từ sông Bến Hải, qua Cánh Hòm đến Gio Mai rồi mới vào đến Cửa Việt. Tuyến sông dài gần gấp đôi so với tuyến đường biển, nhưng là tuyến chính yếu mà Đội vận tải sử dụng vì chỉ có đi thoo con đường đó mới đảm bảo an toàn. Không kể ngày đêm, thanh niên xung phong luôn túc trực để làm nhiệm vụ vận chuyển hàng va cáng tải thương binh bằng thuyền gỗ bé nhỏ.


Cùng thời gian này, nơi đóng quân của Trạm 7, Trạm 8 thuộc phía Nam Đường 9, địch không chỉ dùng bom phá bom bi với khối lượng lớn làm sụt lở hàng nghìn mét khối đất đá gây tắc nghẽn giao thông, chúng còn sử dụng bom từ trường, bom nổ chậm, mìn lá, mìn vướng để ngăn chặn và sát thương các lực lượng khắc phục hậu quả. Ở đó, nổi bật sự dẻo dai và táo bạo là Trung đội nữ B30-VK2 Quảng Trị, tuổi đời rất trẻ, từ 18 - 24 tuổi nhưng họ đã bình tĩnh gan góc, dũng cảm chống trả máy bay địch, bảo vệ từng đoạn đường, từng chiếc cầu và cất giấu hàng hóa an toàn trong những tháng ngày địch bắn phá dữ dội nhất.


Đại đội 104 thanh niên xung phong Quảng Trị phục vụ chiến dịch, bị bom đạn địch bắn phá ác liệt, cả đoạn đường sụt lở, không còn biết đâu là mặt đường. Đại đội đã phải thức nhiều đêm phá bom nổ chậm còn sót lại trên mặt đường, nhiều đội viên đã ngã xuống. Đội viên Đoàn Viết Náo (Quảng Bình) bị chấn thương nặng, được đồng đội đưa về hậu cứ an toàn. Ngay sau đó, toàn đội xốc lại đội hình, tiếp tục phá bom nổ chậm, ứng cứu mặt đường, đảm bảo cho xe qua an toàn.


Đại đội 771 thanh niên xung phong Quảng Trị bị địch bắn phá ngăn chặn quyết liệt trong quá trình bảo đảm giao thông, nhiều đội viên phải chống trả trực tiếp với địch để bảo vệ các kho hàng quân sự của ta an toàn. Trong báo cáo của đại đội ghi rõ: "Trong quá trình phục vụ Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, máy bay trực thăng và pháo kích của địch bắn phá liên tục. Đại đội chủ trương rút ra ngoài, chỉ để lại 11 đồng chí chiến đấu quyết liệt bảo vệ kho tàng, đạn dược, thuốc men. Bất chấp sự án ngữ của kẻ thù, chúng tôi vẫn chiến đấu kiên trung, giữ vững kho tàng"1 (Báo cáo về tình hình hoạt động của các đội TNXP phục vụ các chiến dịch tại Quảng Bình, Quảng Trị năm 1971, Tư liệu lưu Văn phòng Trung ương Đoàn TNCSHCM).


Phối hợp với các mũi tấn công địch ở Tà Cơn, thanh niên xung phong tại khu vực Bắc Quảng Trị tập kích sân bay, kho tàng, cảng Cửa Việt, buộc Mỹ phải tăng thêm hai lữ đoàn Mỹ và ba tiểu đoàn pháo binh quân đội Sài Gòn đến giải tỏa. Giữa tháng 3 năm 1971, thanh niên xung phong phục vụ bộ đội đặc công của Quân khu Trị - Thiên đánh chìm tàu vận tải của Mỹ, làm cho giao thông đường thủy của Mỹ (đoạn Cửa Việt - Đông Hà) bị tắc nghẽn một thời gian. Sau một thời gian chiến đấu kiên cường, liên tục từ ngày 8 tháng 2 đến ngày 23 tháng 3 năm 1971, Quân giải phóng miền Nam và lực lượng vũ trang Nam Lào đã giành thắng lợi hoàn toàn, đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ và quân đội Sài Gòn.


Như vậy, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt trong những năm 1970-1971, Quảng Trị trở thành tâm điểm cuộc đọ sức quyết liệt giữa bản lĩnh, ý chí, mưu lược của người Việt Nam với các thủ đoạn đánh phá, ngăn chặn và nhiều loại khí tài, bom đạn tối tân của đế quốc Mỹ. Trong những năm tháng đó, để chiến thắng các chiến dịch có quy mô lớn của Mỹ và quân đội Sài Gòn, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Trung ương Đảng, Chính phủ, trên chiến trường Quảng Trị đã giải quyết thành công nhiều vấn đề cơ bản trong công tác đảm bảo giao thông vận tải. Một trong những biện pháp độc đáo, hiệu quả, thể hiện lòng quả cảm và sức sáng tạo của con người trên mảnh đất kiên cường này là đã huy động, sử dụng tối đa khả năng, lực lượng vận tải, bảo đảm vận chuyển trong và ngoài quân đội bao gồm cả dân quân, du kích, thanh niên xung phong...


Lực lượng thanh niên xung phong đã kịp thời giải quyết những khó khăn nhất về nhân lực đảm bảo giao thông vận tải phục vụ các chiến dịch tại chiến trường Quảng Trị. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, thanh niên xung phong không bị phụ thuộc bởi một loại đường nào, không có sự đe dọa nào về trục trặc kỹ thuật, họ đã tham gia vận chuyển hàng chiến lược bằng các phương tiện thô sơ như: gùi thồ, xe kéo, thuyền gỗ qua sông trong điều kiện chiến tranh ác liệt, đó chính là sức vóc và ý chí con người. Điều đó khẳng định, trong thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, lực lượng thanh niên xung phong đã đóng góp một vai trò trực tiếp và rất quan trọng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #123 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2026, 09:00:41 am »

NGHỆ THUẬT PHỐI HỢP GIỮA BỘ ĐỘI CHỦ LỰC CƠ ĐỘNG VỚI LỰC LƯỢNG TẠI CHỖ TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971

Thiếu tướng TRẦN VIỆT THẮNG
Phó Chính ủy Tổng cục II - Bộ Quốc phòng


Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971, với nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa lực lượng chủ lực cơ động với lực lượng tại chỗ đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, giành thắng lợi to lớn, làm thay đổi cục diện chiến trường, góp phần quan trọng làm phá sản chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ. Cụ thể:


Thứ nhất, tạo thế trận vững chắc, hiểm hóc, đón đánh địch rộng khắp trên toàn địa bàn chiến dịch.

Sau nhiều năm liên tục sử dụng không quân đánh phá quyết liệt, nhưng đế quốc Mỹ vẫn không ngăn chặn được tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn của ta. Vì vậy, năm 1970, Mỹ quyết định dùng lực lượng chiến đấu trên bộ đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào, hòng bịt đầu các con đường hành lang chiến lược Trường Sơn, cắt đứt "mạch máu chủ", chặn đường tiếp tế của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam; đồng thời còn để thăm dò khả năng quân sự của miền Bắc; để thử nghiệm khả năng tác chiến của quân đội Sài Gòn và xây dựng chúng thành chỗ dựa cho quân ngụy Lon Non và quân ngụy Lào.


Để thăm dò lực lượng ta, ngày 30 tháng 1 năm 1971, một bộ phận quân Mỹ mở trận càn mang tên "Dewey Cayon" dọc Đường 9, phía nam khu phi quân sự, chiếm lại khu vực Khe Sanh để làm bàn đạp cho cuộc hành quân sang Lào của quân đội Sài Gòn và nghi binh cho việc triển khai lực lượng. Từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1971, bằng đường không và đường bộ, Mỹ và quân đội Sài Gòn đã chuyển 22 tiểu đoàn bộ binh, 7 tiểu đoàn pháo binh từ Sài Gòn, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Thừa Thiên ra Đông Hà, Ái Tử, Khe Sanh, cho Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến tập vượt sông tại phía nam cầu Đông Hà 1km và điều Lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến từ La Vang cơ động ra Thuận An, lên tàu thủy tiến về phía bắc, thực hiện kế hoạch nghi binh đánh ra phía bắc khu phi quân sự; đồng thời, sử dụng một số tàu chiến thuộc Hạm đội 7 của Mỹ tiến vào vùng biển nam Quảng Bình để uy hiếp ta.


Nắm được ý định của địch, Bộ Tổng Tư lệnh đã khẩn trương tổ chức triển khai kế hoạch tác chiến, thiết bị chiến trường, chuẩn bị cơ sở hậu cần, cơ động lực lượng, dự kiến các tình huống và phương án tác chiến đánh địch trên chiến trường Đường 9 - Nam Lào.    Địa bàn chiến dịch nằm trong vùng rừng núi thưa dân thuộc hai tỉnh Quảng Trị và Xa Van Na Khẹt (Lào). Đường 9 chạy từ thị xã Đông Hà (Quảng Trị) đến Sê Pôn (Xa Van Na Khẹt) dài 90km, là con đường chiến lược nối liền hai 2 nước Việt - Lào và là đường độc đạo từ Đông Hà đi Bản Đông và Sê Pôn. Dọc Đường 9, từ biên giới Việt - Lào ra biển là khu vực phòng thủ kiên cố, gồm nhiều cụm cứ điểm vững chắc của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn. Phía tây có đường vận tải và hệ thống bảo đảm hậu cần chiến lược thuộc Đoàn 559. Đường 16 qua Làng Ho đến Bản Đông nối với đường 22 đi Mường Noòng. Đường 18 qua Thà Khống đến Mường Noòng là những đường vận tải chiến lược của ta qua khu vực này. Sông Sê Pôn chảy từ đông sang tây, chạy song song với Đường 9, rộng từ 150 đến 200m.


Bộ Tư lệnh chiến dịch xác định: Khu vực tác chiến chủ yếu từ Bản Đông đến Lao Bảo; khu vực ngăn chặn dịch ở tây bắc Bản Đông - Cha Ky; khu vực đánh giao thông kìm chân dịch ở đông Lao Bảo, Sa Mưu, Đông Hà, Cửa Việt. Hướng phản công chủ yếu từ phía bắc vào khu vực các điểm cao 316, 553, 543, Bản Đông, Lao Bảo. Hướng phản công thứ yếu từ phía nam vào khu vực dãy Phu Rệp, các điểm cao 550, 537.


Để tạo thế vững, lực mạnh, cả lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ, ta đã bố trí theo một kế hoạch thống nhất của chiến dịch, hình thành thế trận vững chắc, hiểm hóc, cơ động để thực hiện tốt cách đánh của chiến dịch. Tại khu vực Đường 9, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã chỉ đạo bộ đội Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, Quân khu Trị - Thiên và Đoàn 559 khẩn trương điều chỉnh lực lượng, tổ chức thế trận thiết bị chiến trường, sẵn sàng cùng lực lượng chủ lực cơ động đánh địch. Một số sư đoàn cơ động của Binh đoàn 70 được Bộ Tư lệnh chiến dịch bố trí ở bắc vĩ tuyến 17 để sẵn sàng cơ động vào triển khai tác chiến, đồng thời sẵn sàng đánh địch khi chúng liều lĩnh tiến công ra Nam Quân khu 4. Cụ thể: Sư đoàn 308 ở Hà Tĩnh, Sư đoàn 304 ở Quảng Bình, Trung đoàn 48 của Sư đoàn 320 ở Mường Phin, Pha Lan; điều Trung đoàn 64 của Sư đoàn 320 đang trên đường vào Tây Nguyên về khu vực Cha Ky và điều chỉnh thế trận Sư đoàn 2 thuộc Quân khu 5, Sư đoàn 324 thuộc Quân khu Trị - Thiên sẵn sàng đánh địch theo kế hoạch tác chiến của chiến dịch. Tuy nhiên, ta đã phát hiện ngày càng rõ, Nam Quân khu 4 chỉ là hướng địch nghi binh nên đã kịp thời điều chỉnh lại thế trận, chuyển trọng tâm thế trận vào hướng Đường 9 - Nam Lào, vì vậy đã kịp thời cơ động các lực lượng chủ lực đang bố trí ở Nam Quân khu 4 vào bố trí ở các khủ vực trong địa bàn chiến dịch cùng các lực lượng tại chỗ hình thành thế trận sẵn sàng đánh địch.


Theo kế hoạch, Trung đoàn 24 của Sư đoàn 304 đã cài sẵn thế trận tại khu vực Đường 9, tạo chốt chặn chiến dịch ở khu vực cầu Cha Ky và điểm cao 351, đồng thời phối hợp cùng lực lượng tại chỗ sẵn sàng chặn địch tiến công, tạo thế, tạo thời cơ cho lực lượng chủ lực cơ động ở phía sau sẵn sàng vào tác chiến thuận lợi.


Đối với lực lượng tại chỗ chủ yếu là bộ đại địa phương và dân quân các huyện đang chiến đấu trên quê hương mình và các đơn vị chủ lực bố trí cài sẵn ở khu vực địa bàn dự kiến của chiến dịch như Trung đoàn bộ binh 24 Sư đoàn 304 và một số đơn vị Đoàn 559, giữ các điểm cao khống chế, chốt chặn địch, sẵn sàng đánh địch đổ bộ đường không, chặn đường tiến công trên bộ để tạo thế có lợi cho lực lượng chủ lực cơ động tiến công tiêu diệt quân địch trên hướng chủ yếu.


Các lực lượng vũ trang ta khẩn trương hoàn thành tốt công tác chuẩn bị mọi mặt, thiết bị chiến trường, sẵn sàng đánh địch, bảo vệ đường vận chuyển và hệ thống kho tàng. Các lực lượng tại chỗ của ta được bố trí thế trận xen cài trong địa bàn chiến dịch. Các đơn vị cơ động chiến lược kịp thời cơ động vào vị trí tập kết làm công tác chuẩn bị tiến công địch. Trong thế trận đã được chuẩn bị trước, các lực lượng cơ động phối hợp với lực lượng tại chỗ của ta đã sẵn sàng ngăn chặn đón đánh địch. Vì vậy, ngay từ đầu cuộc hành quân "Lam Sơn 719", quân Mỹ và quân đội Sài Gòn đã phải bị động, bất ngờ đối phó với ta ở khắp nơi, cả phía trước, phía sau, bên sườn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #124 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2026, 09:02:08 am »

Thứ hai, nghệ thuật tổ chức sử dụng lực lượng hợp lý trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã tạo ra sức mạnh tổng hợp giành thắng lợi.

Để thực hiện chiến dịch phản công, tháng 10 năm 1970, Bộ Tổng tư lệnh quyết định thành lập Binh đoàn 70, gồm các sư đoàn 308, 320, 304 và các trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng chiến đấu và bảo đảm. Lần đầu tiên, quân đội ta có một Binh đoàn cơ động chiến lược hoàn chỉnh (tương đương 1 quân đoàn mạnh), có đủ các binh chủng chiến đấu và bảo đảm có thể độc lập tác chiến trên một hướng chiến lược với sự chỉ huy thống nhất. Ngay sau khi được thành lập Binh đoàn 70 đã nhanh chóng xây dựng kế hoạch tác chiến chiến dịch Xuân 1971 ở Đường 9 - Nam Lào.


Dự đoán được ý đồ chiến lược của địch sẽ mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định sử dụng lực lượng Binh đoàn 70 và các sư đoàn 324, 2, các lực lượng tại chỗ của Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị; của Quân khu Trị - Thiên; của Đoàn 559 và một số tiểu đoàn đặc công, tiểu đoàn xe tăng, xe thiết giáp 297, 397, 198; các trung đoàn pháo binh cơ giới 368, 8, 45 và 1 tiểu đoàn pháo binh mang vác; các trung đoàn pháo phòng không 230 237, 291 và nhiều tiểu đoàn, đại đội phòng không tại chỗ của Đoàn 559; các trung đoàn công binh 7, 83, 219 và nhiều phân đội công binh của Đoàn 559.


Phát hiện địch mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719", Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương tăng cường thêm lực lượng cho Binh đoàn 70, để mở chiến dịch phản công tiêu diệt lực lượng địch. Lúc này, lực lượng tham gia chiến dịch gồm 5 sư đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp, 4 trung đoàn pháo binh, 4 trung đoàn cao xạ, 3 trung đoàn công binh và một số tiểu đoàn đặc công của Bộ, lực lượng tác chiến tại chỗ của Đoàn 559, của tỉnh Quảng Trị và các mặt trận 134 135 chốt chặn dọc Đường 9 để đánh địch ngay khi địch bắt đầu tiến công, tạo thế trận và thời cơ cho lực lượng chủ lực cơ động đánh các trận then chốt chiến dịch.


Các lực lượng quần chúng địa phương đã phối hợp với các lực lượng trên địa bàn chiến dịch vận chuyển lương thực, đạn dược, chuyển thương binh, giúp bộ đội làm đường cơ động, giúp phương tiện vượt sông tham gia phá đường, cầu cống, làm các loại vật cản làm chậm bước tiến công của địch; ngoài ra còn giúp bộ đội nắm địch, nuôi dưỡng thương binh, chôn cất tử sĩ. Nhờ huy động được sức mạnh của quần chúng nhân dân, chiến dịch đã khắc phục được nhiều khó khăn trong bảo đảm tiếp tế, bảo đảm cơ động, vận chuyển thương binh, động viên bộ đội đã tạo ra sức mạnh tổng hợp đánh địch.


Thứ ba, phối hợp chặt chẽ lực lượng cơ động với lực lượng tại chỗ thực hành đánh địch liên tục, rộng khắp, buộc địch từ chủ động tiến công sang bị động phòng ngự và rút chạy.

Để thực hiện cuộc hành quân ra Đường 9 - Nam Lào, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã sử dụng tất cả các lực lượng dự bị chiến lược, với sự chi viện cao hoả lực không quân, pháo binh của Mỹ và một bộ phận bộ binh, thiết giáp Mỹ phối hợp tác chiến ở phía sau. về bộ binh, gồm 4 sư đoàn, 1 liên đoàn biệt động quân, tổng số khoảng 15 trung, lữ đoàn bộ binh (12 trung đoàn quân đội Sài Gòn, 3 lữ đoàn Mỹ) với tổng số 47 tiểu đoàn (40 tiểu đoàn quân Sài Gòn, 7 tiểu đoàn quân Mỹ); lực lượng tăng, thiết giáp gồm 2 lữ đoàn tăng cường (4 thiết đoàn quân đội Sài Gòn, 5 tiểu đoàn Mỹ với 578 xe các loại); lực lượng pháo binh gồm 21 tiểu đoàn (có 8 tiểu đoàn Mỹ, 318 khẩu từ 105mm trở lên); trên 1.000 máy bay các loại, riêng máy bay ném bom chiến lược B-52 tới 40 lần chiếc. Ngoài ra, còn có 2 binh đoàn (30 và 33) cùng với 9 tiểu đoàn bộ binh của quân đội chính phủ phái hữu Lào phối hợp hoạt động ở phía tây Đường 9 và Mường Noòng.


Ngày 7 tháng 2, địch triển khai chiếm lĩnh khu vực tập kết phía trước là đội hình các đơn vị quân đội Sài Gòn, phía sau từ Hướng Hoá về Tân Lâm, Gio Linh (Quảng Trị) là các đơn vị quân Mỹ và lực lượng chiến lược của Mỹ. Sau khi tập kết xong lực lượng, ngày 8 tháng 2, được chi viện trực tiếp của hoả lực Mỹ, 7 trung đoàn bộ binh, lính dù và thiết giáp của quân đội Sài Gòn, chia thành 3 cánh quân, chính thức tiến quân vượt biên giới Việt - Lào. Cánh quân chủ yếu gồm các đơn vị cơ giới và xe tăng, xe thiết giáp theo Đường 9 qua Lao Bảo cùng với 1 tiểu đoàn dù đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống các khu vực ở Bản Đông. Ngày 10 tháng 2, cánh quân này đến Bản Đông. Hai cánh quân khác đổ bộ bằng máy bay lên thẳng chiếm một loạt điểm cao ở nam bắc Đường 9, lập căn cứ bảo vệ sườn cho cánh quân chủ yếu. Trong hai ngày đầu, địch tiên quân nhanh. Trên khu vực phía nam, Sư đoàn 1 bộ binh (thiếu) của địch chiếm các khu vực Cô Bốc và các điểm cao 619, 537, 550, 532, 540. Ở phía tây Đường 9, quân phái hữu Lào đưa hai binh đoàn (GM30 và GM33) gồm 9 tiểu đoàn đánh ra khu vực Mường Pha Lan và Phu Đô Tuya để phối hợp với quân đội Sài Gòn.


Ngay sau khi địch tổ chức các đợt tiến công, Đoàn 559 đã tổ chức các chốt ngăn chặn ở Cô Bốc, Cô Rốc, các điểm cao 660, 723; Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 tổ chức chốt ở điểm cao 351, cầu Cha Ky; Sư đoàn 308 tổ chức chốt ở điểm cao 311; lực lượng của Mặt trận B5 và lực lượng đặc công hải quân đánh chìm 9 tàu chở vũ khí của địch ở Xuân Khánh, Vinh Quang, phục kích địch ở Bông Kho, Đầu Mầu, tập kích địch ở Kế Sóc, Ba Lào... Những hoạt động trên của lực lượng tại chỗ buộc địch phải đối phó từ phía trước, bên sườn, phía sau và phải co cụm vào các vị trí vừa chiếm được.


Trên hướng chủ yếu của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (khu vực bắc Đường 9) từ 12 tháng 2 đến đầu tháng 3, đã diễn ra nhiều trận đánh ác liệt giữa các đơn vị thuộc Binh đoàn 70 với Lữ đoàn 3 dù và Liên đoàn 1 biệt động quân đội Sài Gòn. Chủ lực ta phối hợp với lực lượng tại chỗ tiến công vào các cứ điểm vòng ngoài của địch. Trung đoàn 88 của Sư đoàn 308 tập kích Tiểu đoàn 21 biệt động quân ở điểm cao 316. Trung đoàn 64 của Sư đoàn 320 tiến công tiêu diệt Tiểu đoàn 6 dù ở điểm cao 456. Trung đoàn 102 của Sư đoàn 308 tiến công tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 39 biệt động quân ở điểm cao 500. Các đợt tiến công của các lực lượng ta đã làm cho hệ thống phòng ngự vòng ngoài của địch bị phá vỡ. Từ ngày 20 đến 25 tháng 2, Trung đoàn bộ binh 64 của Sư đoàn 320 phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn chiến dịch, được tăng cường xe tăng, pháo binh đã vây lấn đánh địch ở điểm cao 543, tiêu diệt Tiểu đoàn 3 dù, tiểu đoàn pháo binh và sở chỉ huy lữ đoàn dù, bắt đại tá chỉ huy lữ đoàn Nguyễn Văn Thọ và toàn bộ cơ quan tham mưu của lữ đoàn địch. Đây là trận then chốt thứ nhất của chiến dịch phản công giành thắng lợi.


Khi các căn cứ trên bị tiêu diệt, địch điều Thiết đoàn số 17 và Tiểu đoàn 8 dù từ Bản Đông ra phản kích chiếm lại điểm cao để khôi phục lại thế trận của cánh quân bảo vệ sườn phía bắc. Trong 6 ngày liên tục (26.2 - 3.3), Trung đoàn 36 thuộc Sư đoàn 308 cùng một bộ phận Trung đoàn 64 của Sư đoàn 320, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương và các lực lượng khác trên địa bàn chiến dịch, được chi viện của xe tăng, pháo binh đã liên tục bám đánh địch và đánh tan cánh quân ra phản kích, thực hiện thắng lợi trận then chốt thứ hai của chiến dịch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #125 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2026, 09:02:50 am »

Như vậy, tính đến ngày 3 tháng 3 năm 1971, nhờ phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng chủ lực cơ động với lực lượng vũ trang địa phương và các lực lượng khác; sự chỉ huy, điều hành thống nhất của Bộ Tư lệnh chiến dịch, quân và dân ta đã hoàn toàn bẻ gãy cánh quân bảo vệ sườn phía bắc của địch, tiêu diệt gần hết Lữ đoàn 3 dù, Thiết đoàn số 17 và đánh thiệt hại nặng Liên đoàn 1 biệt động quân. Ta đã thành công trong việc đánh bại từng cánh quân của địch trong chiến dịch phản công, tạo áp lực mạnh từ phía bắc, uy hiếp trực tiếp tập đoàn chủ yếu của địch ở Bản Đông.


Ở khu vực phía nam, các chốt, điểm tựa phòng ngự trên các điểm cao của lực lượng tại chỗ của Đoàn 559 và lực lượng vũ trang địa phương đã tích cực, chủ động đánh địch, bắn rơi nhiều máy bay lên thẳng, phối hợp cùng Trung đoàn 24 thuộc Sư đoàn 304 tiến công tiêu diệt Tiểu đoàn 2, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 3 thuộc Lữ đoàn 3 của Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn. Mặt khác, do lực lượng tại chỗ tích cực bám đánh, ngăn chặn địch, tạo điều kiện cho lực lượng chủ lực cơ động tập trung lực lượng đẩy lùi mũi tiến công và đánh thiệt hại cánh quân bảo vệ sườn phía nam, hạn chế địch lùng sục, phá hoại hành lang vận chuyển và kho tàng của ta.


Phối hợp với hướng phản công chủ yếu, ở khu vực phía đông, các lực lượng Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, gồm lực lượng chủ lực phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương và du kích, bằng nhiều trận phục kích địch trên bộ, trên sông, bằng pháo kích và tập kích vào các căn cứ hậu cần, sở chỉ huy của địch ở Kho Sanh, Sa Mưu, Đông Hà, Ái Tử, Cửa Việt... gây thiệt hại nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ và quân đội Sài Gòn. Cùng thời điểm này, tại phía tây, lực lượng cơ động và tại chỗ của ta và bạn Lào đã phối hợp chặt chẽ, lần lượt đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn thuộc GM30 ở Phu Đô Tuya và GM33 ở Mường Pha Lan, buộc chúng phải rút chạy về Xa Ra Van và Đồng Hến.


Bị lực lượng ta chặn đánh cả phía trước, hai bên sườn, phía sau và bất ngờ vì lực lượng chủ lực ta xuất hiện sớm, đặc biệt do lực lượng tại chỗ của ta bắn rơi nhiều máy bay lên thẳng chở quân, tiếp tế, đã gây cho địch thiệt hại rất nặng nề, làm cho địch hoang mang, lúng túng. Khi kế hoạch tiến công bị đảo lộn, địch buộc phải thay đổi quyết tâm và điều chỉnh lại lực lượng: Đưa Thê đội 2 chiến dịch vào chiến đấu, chuyển cánh quân phía nam Đường 9 thành cánh quân chủ yếu tiến lên Sê Pôn. Ngày 4 tháng 3, Sư đoàn 1 địch đổ quân xuống chiếm các điểm cao 660, 723 478 làm bàn đạp, tiếp đó đổ 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 2 xuống chiếm đông bắc Sê Pôn, định bí mật luồn vào Sê Pôn. Phán đoán được ý đồ của địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã sử dụng các lực lượng cơ động và tại chỗ ngăn chặn, buộc chúng phải vội vã rút lui và vượt qua sông Sê Pôn nhập với lực lượng đang chốt trên điểm cao 748. Một cánh quân khác cũng từ Bản Đông theo Đường 9 cơ động lên Sê Pôn để phối hợp với lực lượng trên, nhưng cũng bị lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ của ta ngăn chặn không lên được. Trên Đường 9, lực lượng chủ lực cơ động của ta phối hợp nhịp nhàng với lực lượng tại chỗ tiếp tục vận động tiến công, kết hợp chốt chặn tiêu diệt hàng trăm quân, phá hủy nhiều xe tăng, thiết giáp của địch. Tại Bản Đông, ta tiếp tục bao vây, áp sát, tập kích tiêu hao, tiêu diệt nhiều địch và phương tiện chiến tranh.


Mặc dù đưa Thê đội 2 vào tác chiến, nhưng địch không xoay chuyển được tình thế, buộc phải dừng cuộc tiến công, chuyển dần vào phòng ngự ở Bản Đông, tập trung lực lượng nhằm khai thông, giải toả Đường 9 (đoạn từ Lao Bảo đến Bản Đông), trong thế bị các lực lượng của ta chia cắt, bao vây, cô lập. Ta vẫn giữ được đường vận chuyển chiến lược, hình thành thế trận có lợi để chuyển sang tiến công lớn, tiêu diệt lực lượng chiến dịch của địch.


Sau những thất bại liên tiếp, từ giữa tháng 3, dịch ngừng tiến công, co cụm và tìm đường rút chạy. Chớp thời cơ có lợi, Bộ Tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm: Kiên quyết chặn đường rút chạy của địch, không cho chúng rút nhanh, rút có tổ chức. Các lực lượng của ta chuyển sang tiến công trên toàn mặt trận, đẩy mạnh tác chiến hiệp đồng binh chủng, đánh nhiều trận đạt hiệu suất chiến đấu cao. Các trung đoàn bộ binh 36, 64, 66 được xe tăng, pháo binh chi viện đã bao vây tiến công liên tục các lữ đoàn 1, 2 dù và 2 trung đoàn thiết giáp địch phòng ngự ở khu vực Bản Đông.


Trước nguy cơ bị tiêu diệt, ngày 18 tháng 3, địch bỏ Bản Đông, bỏ lại xe cơ giới, pháo hạng nặng, bí mật luồn rừng tháo chạy. Đoán được ý định tháo chạy của địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã sử dụng các lực lượng tại chỗ đón đánh, ngăn chặn các ngả đường rút chạy của chúng. Các lực lượng chủ lực cơ động truy kích, tiêu diệt bộ phận lớn sinh lực địch, phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh của chúng. Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc toàn thắng.


Thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào cùng với các chiến dịch khác trong Xuân - Hè 1971, đã góp phần quan trọng làm thay đổi cục diện chiền trường, thay đổi so sánh tương quan lực lượng có lợi cho ta.

Thắng lợi Đường 9 - Nam Lào đã đánh dấu một bước phát triển mới của nghệ thuật phối hợp nhiều thành phần lực lượng, trong đó bộ đội chủ lực là lực lượng trụ cột, cơ động, đảm nhận nhiệm vụ tác chiến trên từng mục tiêu trọng yếu, đánh những đòn quyết định thực hiện các trận đánh then chốt của chiến dịch. Bộ đội địa phương và dân quân du kích, các đơn vị làm nhiệm vụ tại chỗ đánh địch rộng khắp, bao vây ngăn chặn và phối hợp chiến đấu với bộ đội chủ lực đã tạo được sức mạnh tổng hợp cho chiến dịch đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ và quân đội Sài Gòn. Đây là chiến dịch mở đầu thời kỳ quân ta mở chiến dịch tập trung, hiệp đồng binh chủng quy mô lớn..., đồng thời cũng là thời kỳ phát triển phong phú các hình thức, thủ đoạn, các biện pháp tác chiến, các hình thức chiến thuật của các lực lượng vũ trang ta trong điều kiện tác chiến mới.


Ảnh hưởng của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã vượt xa phạm vi của bản thân nó cả về không gian và thời gian; tác động mạnh mẽ đến cục diện chung của cuộc kháng chiến, không chỉ của nhân dân Việt Nam mà cả nhân dân ba nước Đông Dương.

Trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào với nghệ thuật phối hợp các thành phần lực lượng chiến dịch tham gia tạo sức mạnh tổng hợp đánh địch vẫn còn nguyên giá trị. Để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, chống đế quốc và các thế lực thù địch gây chiến tranh xâm lược trong điều kiện đất nước ta còn nghèo, trang bị vũ khí, kỹ thuật cho quân đội còn hạn chế, muốn đánh thắng địch khi chúng liều lĩnh mở cuộc tiến công xâm lược Việt Nam, chúng ta không những phối hợp chặt chẽ sức mạnh của các thành phần lực lượng vũ trang, mà cần phối hợp sức mạnh của cả dân tộc, kết hợp với sức mạnh của thời đại để đánh địch giành thắng lợi.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #126 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2026, 09:04:32 pm »

CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO, BƯỚC PHÁT TRIỂN CAO CỦA NGHỆ THUẬT CHIẾN DỊCH VIỆT NAM

Đại tá PHẠM HỮU THẮNG
Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Nghệ thuật quân sự -
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Thượng tá VŨ VĂN CÔNG
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Thực hiện kế hoạch chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", ngày 30 tháng 1 năm 1971, Mỹ và quân đội Sài Gòn bắt đầu mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra Đường 9 - Nam Lào, nhằm đánh chiếm Sê Pôn, chiếm giữ Đường số 9, đoạn Bản Đông - Sê Pôn, lập thành tuyến ngăn chặn cắt đôi Đông Dương, đe doạ miền Bắc Việt Nam, uy hiếp cách mạng Lào, phá hủy kho tàng trên tuyến hành lang chiến lược Tây Trường Sơn và bịt "con đường sống" của ta vào chiến trường miền Nam. Chúng đã huy động vào cuộc hành quân một lực lượng khổng lồ, gồm hơn 40.000 quân Sài Gòn, trên 6.000 quân Mỹ, 2 binh đoàn quân đội chính phủ phái hữu Lào, cùng một lực lượng lớn không quân, xe tăng, thiết giáp, pháo binh Mỹ yểm trợ1 (Lực lượng địch trên địa bàn chiến dịch lúc cao nhất 55.000 quân gồm 15 trung đoàn bộ binh, 3 thiết đoàn thiết giáp, 578 xe tăng, xe bọc thép 318 pháo, 700 máy bay các loại).


Sau khi triển khai chiếm lĩnh xong khu vực tập kết, ngày 8 tháng 2, được sự yểm trợ của hoả lực Mỹ, 7 trung đoàn bộ binh, dù và thiết giáp của quân đội Sài Gòn, hình thành 3 cánh quân: cánh chủ yếu tiến theo Đường 9 lên Bản Đông, hai cánh quân khác đổ bộ bằng máy bay lên thẳng chiếm một loạt các điểm cao ở nam, bắc Đường 9, lập các căn cứ, trận địa hoả lực bảo vệ sườn cho cánh quân chủ yếu. Trên khu vực phía bắc Đường 9, tuy bị lực lượng tại chỗ, nhất là phòng không của ta đánh trả quyết liệt nhưng Lữ đoàn 3 dù và Liên đoàn 2 biệt động quân vẫn đổ được quân xuống các điểm cao 500, 316, 655, 543, 456 lập các căn cứ dã chiến. Trên khu vực phía nam, Sư đoàn 1 bộ binh (thiếu) địch chiếm khu vực Cô Bốc và các điểm cao 619, 537, 550, 532, 540. Quân phái hữu Lào phối hợp hoạt động ở tây Đường 9, đưa 2 Binh đoàn (GM 30 và GM 339 gồm 9 tiểu đoàn) đánh ra khu vực Mường Pha Lan.


Do có sự chuẩn bị từ trước, các đơn vị tham gia chiến dịch của ta đã chủ động đón đánh địch, từng bước tiêu hao, ngăn chặn các cánh quân địch. Đoàn 559 tổ chức các chốt ngăn chặn ở Cô Bốc, Cô Rốc, các điểm cao 660, 723; Trung đoàn 24 tổ chức chốt ở điểm cao 351, cầu Cha Ky; Sư đoàn 308 tổ chức chốt ở điểm cao 311; lực lượng của B5 và đặc công hải quân đánh chìm 9 tàu chở vũ khí của địch ở Xuân Khánh, Vinh Quang, phục kích địch ở Bông Kho, Đầu Mầu, tập kích địch ở Kế Sóc, Ba Lào...


Trên hướng phản công chủ yếu, ta sử dụng một số đơn vị tiến công vào các cứ điểm vòng ngoài của địch. Trung đoàn 88 (Sư đoàn 308) tập kích tiêu hao Tiểu đoàn 21 biệt động quân ở điểm cao 316. Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) tiến công Tiểu đoàn 6 dù ở điểm cao 456. Trung đoàn 102 (Sư đoàn 308) tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 39 biệt đông quân ở điểm cao 500... Sau khi phá võ hệ thống phòng ngự vòng ngoài ở phía bắc của địch, ngày 17 tháng 2, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng Trung đoàn bộ binh 64 cùng Trung đoàn pháo binh 45, 1 đại đội xe tăng thực hiện trận then chốt, tiêu diệt căn cứ 31 của địch ở điểm cao 543.


Từ ngày 18 tháng 2, được sự chi viện của pháo binh chiến dịch, Trung đoàn 64 triển khai xây dựng trận địa vây lấn tiến công căn cứ địch ở khu vực điểm cao 543. Sau một thời gian liên tục vây ép địch, ngày 25 tháng 2, Trung đoàn 64 được pháo binh, xe tăng chi viện, tiến công dứt điểm, xoá sổ Lữ đoàn 3 dù, bắt sống đại tá Nguyễn Văn Thọ - lữ đoàn trưởng và ban tham mưu lữ đoàn, góp phần bẻ gãy hoàn toàn cánh quân phía bắc Đường 9 của địch, tạo điều kiện cho các hướng khác của chiến dịch kìm chân dịch bảo vệ được hành lang vận chuyển chiến lược.


Bị chặn đánh cả ở phía trước, phía sau và hai bên sườn, cánh quân phía bắc Đường 9 bị tiêu diệt, địch đưa Thê đội 2 vào chiến đấu và chuyển cánh quân phía nam Đường 9 thành cánh quân chủ yếu tiến lên Sê Pôn. Ngày 4 tháng 3, Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn đổ quân xuống chiếm các cao điểm 660 723, 748 làm bàn đạp chiếm Sê Pôn. Trong đó, Trung đoàn 1 ở điểm cao 723, Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 ở các điểm cao 660, 462 và 651.


Quyết tâm bẻ gãy cánh quân phía nam, từ đêm 8 đến 17 tháng 3 năm 1971, Sư đoàn 2 liên tục tiến công, chia cắt tiêu diệt từng cụm quân địch, tiến tới tiêu diệt toàn bộ Trung đoàn 1 dịch, kết thúc thắng lợi trận then chốt ở khu vực điểm cao 723.

Trong lúc Sư đoàn 2 và Sư đoàn 324 đang bao vây, tiến công cánh phía nam Đường 9 của địch, trên cơ sở thế trận bao vây chiến dịch đã hình thành, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định tập trung 3 trung đoàn bộ binh (Trung đoàn 36 Sư đoàn 308, Trung đoàn 64 Sư đoàn 320 và Trung đoàn 66 Sư đoàn 304), 2 trung đoàn pháo binh (368 và 45), 5 đại đội xe tăng, được lực lượng phòng không của chiến dịch chi viện tiến hành vây lấn tiến công, tiêu diệt tập đoàn chủ yếu trong cuộc hành quân của địch ở Bản Đông1 (Lực lượng địch ở Bản Đông có Lữ đoàn dù 1 (gồm 3 tiểu đoàn 7, 8, 9), Lữ đoàn dù 2 (thiếu 1 tiểu đoàn), 2 thiết đoàn thiết giáp (7 và 11) một bộ phận còn lại của Thiết đoàn 17, 2 tiểu đoàn pháo binh. Địch bố trí đội hình thành 3 cụm phòng ngự, có công sự trận địa vững chắc. Xung quanh căn cứ Bản Đông, địch rải hàng rào dây thép gai bao quanh, có nơi đến 6 lớp rào đặc biệt chúng còn bố trí các bãi mìn dày đặc (trong đó có cả các bãi mìn của ta do các đơn vị bao vây trước đó để lại)).


Từ ngày 13 đến ngày 18 tháng 3 năm 1971, quân ta thực hành vây lấn tiến công vào căn cứ Bản Đông. Trước sức ép ngày càng mạnh của ta, để tránh nguy cơ bị tiêu diệt cận kề, ngày 18 tháng 3, địch bắt đầu rút khỏi Bản Đông. Bộ Tư lệnh Chiến dịch lệnh cho các đơn vị tiến công Bản Đông. Ngày 20 tháng 3, khi quân ta phát triển vào bên trong căn cứ thì một phần lớn quân địch đã tháo chạy. Các đơn vị nhanh chóng chuyển sang truy kích, tiêu diệt một bộ phận quân địch, thu nhiều vũ khí trang bị.


Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Kết quả, ta tiêu diệt và làm bị thương 19.960 ten, bắt 1.142 tù binh, bắn rơi, phá hủy 556 máy bay, 1.138 xe quân sự, 112 khẩu pháo cối, thu 2 máy bay trực thăng và nhiều vũ khí, phương tiện quân sự.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #127 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2026, 09:06:39 pm »

Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào toàn thắng. Lực lượng chủ lực và dự bị chiến lược của quân đội Sài Gòn đã bị tiêu diệt một bộ phận quan trọng, gây chấn động mạnh đối với binh sĩ dịch trên khắp chiến trường. Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào thể hiện sức mạnh vượt bậc của bộ đội chủ lực Việt Nam, đánh dấu bước phát triển cao của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam, thể hiện ở các nội dung chủ yếu sau:


1. Phán đoán đúng âm mưu của địch, tổ chức chuẩn bị chu đáo, tạo được thế trận có lợi để đánh bại cuộc hành quân của địch.

Ngay từ đầu năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu đã dự kiến dịch sẽ tiến công chia cắt chiến lược trên ba hướng: một là Đường 9 - Nam Lào, cắt đoạn Bản Đông - Sê Pôn; hai là, phản công ra vùng Ngã ba biên giới và Hạ Lào; ba là, phản công sang Campuchia. Trong đó, Đường 9 - Bản Đông - Sê Pôn là hướng chủ yếu. Từ nhận định trên, Bộ Chính trị và Thường trực Quân ủy Trung ương xác định: hướng Đường 9 - Nam Lào là địa bàn gần miền Bắc, có nhiều kho dự trữ chiến lược, ta có điều kiện phát huy sức mạnh của các đơn vị chủ lực, tập dượt chiến đấu hiệp đồng binh chủng, và giao cho Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp chỉ huy, điều hành chiến dịch phản công với lực lượng binh chủng hợp thành lớn để đánh bại bước đầu chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ. Quân ủy Trung ương nhấn mạnh: Đây là chiến dịch có ý nghĩa quyết định về chiến lược và do Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp tổ chức và chỉ huy đầu tiên trên chiến trường miền Nam, nên nhất định phải đánh thắng; phải nhân cơ hội này mà rèn luyện bộ đội chủ lực trưởng thành lên một bước mới trong tác chiến tập trung đánh lớn, hiệp đồng binh chủng.


Ngay từ tháng 3 năm 1970, Cục Tác chiến đã bắt tay vào chuẩn bị kế hoạch chiến dịch, chủ yếu là nhận định tình hình, dự kiến sử dụng lực lượng trên các hướng, chuẩn bị hậu cần, kỹ thuật. Tiếp đó, Bộ đã cử đoàn cán bộ có các đồng chí Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và đồng chí Hoàng Nghĩa Khánh - Cục phó Cục Tác chiến vào Bộ Tư lệnh 559 và một số đơn vị phía nam để phổ biến ý định của Quân ủy Trung ương và triển khai việc chuẩn bị chiến trường trên tuyến vận tải chiến lược 559, đồng thời trực tiếp thu thập các ý kiến từ chiến trường. Tháng 11 năm 1970, kế hoạch chiến dịch được Quân ủy Trung ương thông qua lần đầu, sau đó bổ sung và thông qua chính thức vào tháng 12 năm 1970.


Trong kế hoạch, Bộ Tổng Tham mưu tổ chức bố trí lực lượng đảm bảo có thể đánh địch ở cả phía bắc, phía nam, phía tây, phía đông và ở khu vực phía sau vào các căn cứ hậu cần, kỹ thuật của địch; cụ thể: Lực lượng ngăn chặn, tạo thế gồm Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 và các đơn vị tại chỗ của Đoàn 559; cụm lực lượng trên hướng chủ yếu phía bắc, gồm Binh đoàn 70 (thiếu) và phần lớn xe tăng, pháo binh chiến dịch; cụm lực lượng trên hướng thứ yếu phía nam, gồm Sư đoàn 324 (thiếu), Sư đoàn 2 và một bộ phận pháo binh, xe tăng, phòng không chiến dịch; lực lượng đánh địch ở phía sau, gồm lực lượng tại chỗ của B5, một số tiểu đoàn đặc công Bộ, Trung đoàn pháo binh 84 và Trung đoàn 2 Sư đoàn 324; lực lượng đánh địch trên hướng phối hợp ở phía tây có Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 và lực lượng tại chỗ.


Cho đến trước ngày địch mở cuộc hành quân lớn, mọi công tác chuẩn bị của ta từ cấp chiến lược đến các đơn vị đã cơ bản hoàn thành. Trên địa bàn bắc, nam Đường 9, Bộ đội 559 đã tổ chức 7 khu vực tác chiến tại chỗ; huy động tham gia chiến dịch 1 sư đoàn và 5 trung đoàn phòng không (có một trung đoàn tên lửa của Bộ), 10 tiểu đoàn pháo cao xạ, 25 đại đội và 33 trung đội súng máy cao xạ, bố trí thành 8 cụm trên tâm điểm là tam giác Bản Đông - Tha Mé - La Hạp, hình thành lưới lửa phòng không nhiều tầng, nhiều vòng sẵn sàng đánh địch. Các mạng đường chiến dịch đã được hoàn chỉnh thêm. Các kho vật chất ở khu vực Đường 9 có hơn 3.000 tấn. Hàng dự trữ chiến lược trên tuyến có hơn 3.000 tấn. Các lực lượng tham gia chiến dịch đã sẵn sàng chờ lệnh nổ súng của Bộ Tư lệnh chiến dịch.


2. Tổ chức, điều hành thành công chiến dịch phản công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, đánh tiêu diệt quân địch.

Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào là chiến dịch phản công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn đầu tiên của quân đội ta trong kháng chiến chống Mỹ. Trong chiến dịch, ta đã sử dụng khoảng 60.000 quân (cả chiến đấu và phục vụ chiến đấu), gồm: 5 sư đoàn bộ binh; 4 tiểu đoàn xe tăng, xe thiết giáp; 4 trung đoàn pháo binh; 4 trung đoàn phòng không, 3 trung đoàn công binh, một số tiểu đoàn đặc công và lực lượng chiến đấu tại chỗ của Mặt trận B4 và B5, Đoàn 559, các đơn vị bộ đội tình nguyện và bộ đội Trung - Hạ Lào.


Trong tổ chức điều hành chiến dịch, từ tháng 10 năm 1970, Bộ đã tổ chức Binh đoàn chiến dịch 70 (B70), gồm các sư đoàn 308, 304, 320 và một số đơn vị binh chủng, đứng chân ở nam Khu 4, sẵn sàng tham gia chiến dịch (đây là lần đầu tiên ta hình thành tổ chức binh đoàn chiến dịch, tương đương quân đoàn). Tiếp đó, Quân ủy quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Chiến dịch do đồng chí Tổng Tham mưu phó Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Lê Quang Đạo làm Chính ủy, đồng chí Cao Văn Khánh làm Phó Tư lệnh Chiến dịch, chỉ huy Binh đoàn 70. Bên cạnh Bộ Tư lệnh Chiến dịch còn có đại diện của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh (đồng chí Văn Tiến Dũng).


Với một tổ chức chặt chẽ và đủ thẩm quyền chỉ huy mọi lực lượng trong khu vực, Bộ chỉ huy đã điều hành chiến dịch một cách chặt chẽ, chủ động và kịp thời, phát huy cao độ sức mạnh của các lực lượng tham gia chiến dịch, tạo ra sức mạnh hiệp đồng binh chủng lớn đánh bại cuộc hành quân quy mô lớn của địch. Đặc biệt, trong các trận then chốt chiến dịch, cơ quan và người chỉ huy đã nắm chắc tình hình địch, xử lý đúng các tình huống chiến dịch và chiến thuật, nắm chắc thời cơ, sử dụng hơn một trung đoàn đến hơn một sư đoàn bộ binh, được tăng cường binh khí kỹ thuật, tổ chức hiệp đồng chặt chẽ, đánh tiêu diệt các tiểu đoàn, trung đoàn địch, giành thắng lợi lớn.


Có thể nói, tác chiến tập trung, hiệp đồng binh chủng lớn, đánh tiêu diệt quân địch là thành công nổi bật nhất của bộ đội ta trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Thành công này thực sự là nội dung quan trọng đánh dấu bước phát triển cao của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam nói chung, nghệ thuật chiến dịch phản công nói riêng; đồng thời, đánh dấu bước trưởng thành quân trọng của bộ đội ta trong tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, có ý nghĩa chiến lược.


3. Vận dụng sáng tao cách đánh chiến dịch phản công, phát huy mọi lực lượng trong địa bàn chiến dịch, đánh địch ở cả phía trước, bên sườn và phía sau, từng bước ngăn chặn địch, tạo thời cơ tập trung lực lượng tiến công vào bên sườn, bẻ gãy từng cảnh quân, tiến tới đánh bại cuộc hành quân của địch.

Cách đánh chung trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào là: Phát huy thế trận đã chuẩn bị trước, ngăn chặn địch từng bước, tập trung lực lượng bẻ gãy cánh quân phía bắc, đánh thiệt hại nặng cánh quân phía nam, rồi chuyển sang tiến công vào toàn bộ đội hình địch và đánh địch rút chạy. Trong giai đoạn đầu của chiến dịch, phần lớn quân địch đều phải dừng lại vì bị ta liên tục chặn đánh cả ở phía trước, bên sườn và phía sau đội hình hành quân. Ta đã dựa vào thế trận chiến dịch và thế trận chiến tranh nhân dân để căng kéo, không chế địch, phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ, trong đó chú trọng phát huy cao độ sức mạnh của lực lượng tại chỗ để ngăn chặn địch. Đặc biệt, ta đã tổ chức được lực lượng phòng không tầm thấp (của Đoàn 559) đánh máy bay trực thăng rất hiệu quả, kết hợp với các trận đánh vừa và nhỏ ở khắp địa bàn chiến dịch và ở phía sau đội hình hành quân của địch.


Hoạt động rộng khắp của ta đã buộc địch phải dừng lại ở những khu vực dự kiến và chúng phải đối phó cả ở phía trước, phía sau và bên sườn. Trên cơ sở lực lượng chủ lực cơ động được bố trí hợp lý, ta đã tập trung lực lượng Binh đoàn 70 bẻ gãy cánh quân phía bắc. Tiếp đó, khi địch đưa Thê đội 2 vào chiến đấu, chuyển cánh quân phía nam Đường 9 thành cánh quân chủ yếu, tiến lên Sê Pôn, ta đã tập trung lực lượng vào cánh nam (Sư đoàn 2 và Sư đoàn 324) đánh quỵ Sư đoàn 1 của địch, bẻ gãy cánh quân phía nam; đồng thời tập trung 3 trung đoàn bộ binh cùng một bộ phận lớn lực lượng pháo binh, xe tăng vây lấn tiến công, tiêu diệt lực lượng chủ yếu trong cuộc hành quân của chúng ở Bản Đông.


Có thể nói, cách đánh trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào là sự kế thừa sáng tạo cách đánh trong các chiến dịch phản công trước đó. Đây là bước phát triển mới, góp phần quan trọng đưa nghệ thuật chiến dịch phản công trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lên bước phát triển cao1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong 30 năm chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ (1945- 1975), Tập 2 (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr.164).


Ngoài các nội dung chủ yếu trên, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào còn có những thành công về nghệ thuật lập thế ta, phá thế địch; nghệ thuật kết hợp lực lượng chủ lực cơ động với lực lượng tại chỗ ở địa bàn rừng núi; nghệ thuật phát huy sức mạnh của mọi lực lượng (cả lực lượng vũ trang của bạn Lào) trên địa bàn chiến dịch...


"Lam Sơn 719" là cuộc hành quân lớn nhất và điển hình theo công thức "Lục quân ngụy + Hoả lực Mỹ" trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ. Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã huy động phần lớn lực lượng dự bị chiến lược cùng lực lượng cơ động của Vùng chiến thuật 1, các lực lượng tiếp vận của quân đội Sài Gòn, với sự chi viện tối đa của hỏa lực, hậu cần kỹ thuật và một bộ phận quân Mỹ yểm trợ ở phía sau, hòng nhanh chóng làm chủ và biến Đường 9 thành "lưỡi dao" cắt ngang tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh của ta, song chúng đã thất bại.


Thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào mang lại ý nghĩa chiến lược to lớn, tác động mạnh mẽ đến cục diện chung của cuộc kháng chiến của quân và dân ba nước Đông Dương anh em. Riêng về quân sự, thắng lợi của chiến dịch không chỉ khẳng định sức mạnh to lớn, sự trưởng thành của quân đội ta trong tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng, mà còn đánh dấu bước phát triển cao của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam nói chung và nghệ thuật chiến dịch phản công nói riêng, góp phần xây dựng lý luận nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #128 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2026, 09:08:37 pm »

ĐÁNH GIÁ ĐÚNG TÌNH HÌNH,
TẠO LẬP THẾ TRẬN VỮNG CHẮC - YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO

Đại tá NGUYỄN TRƯỜNG GIANG
Trưởng phòng Tổng kết chiến tranh -
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Ngày 30 tháng 1 năm 1971, địch tập trung một lực lượng lớn1 (Lực lượng địch sử dụng trong hành quân lúc cao nhất lên tới 55.000 tên, gồm 40.000 quân nguỵ và 15.000 quân Mỹ, trong đó, quân nguỵ làm nhiệm vụ tiến công, quân Mỹ yếm trợ phía sau và chi viện hoả lực. Các đơn vị đảm nhiệm tiến công: Quân ngụy Sài Gòn có 4 sư đoàn (1, 2 dù, thủy quân lục chiến), 1 liên đoàn biệt động quân, 2 lữ đoàn tăng thiết giáp (578 xe), 21 tiểu đoàn pháo binh (318 khẩu các loại), 1.000 máy bay các loại. Quân nguỵ Lào có 2GM (30, 33). Dẫn theo tài liệu Cách đánh của địch trong hành quân "Lam Sơn 719" của Cục Nghiên cứu - Bộ Tổng Tham mưu) mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào. Sau khi triển khai xong ở khu vực tập kết, ngày 8 tháng 2, được sự yểm trợ của quân Mỹ, 7 trung đoàn bộ binh, dù, biệt động quân và các đơn vị thiết giáp quân đội Sài Gòn hình thành 3 cánh quân vượt biên giới Việt - Lào đánh chiếm khu vực Bản Đông - Sê Pôn. Cánh quân chủ yếu tiến theo Đường 9 lên Bản Đông. Hai cánh quân khác cơ động bằng máy bay lên thẳng đổ bộ xuống chiếm một loạt các điểm cao khống chế ở các khu vực nam - bắc Đường 9. Tiến hành cuộc hành quân này, Mỹ và quân đội Sài Gòn hy vọng sẽ cắt đứt tuyến chi viện chiến lược của ta, qua đó làm suy yếu cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ba nước Đông Dương, tạo nên thế mạnh trên chiến trường, hòng ép ta nhân nhượng trong đàm phán ở Pari, xoay chuyển cục diện chiến tranh có lợi cho chúng. Đây là cố gắng quân sự lớn nhất của Mỹ trong thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh".


Nhưng cuộc hành quân có quy mô lớn nhất với nhiều tham vọng của Mỹ và quân đội Sài Gòn đã nằm trong dự kiến trước của ta và nhanh chóng bị quân dân ta đánh bại. Từ ngày 30 tháng 1 đến 23 tháng 3 năm 1971, ta đã tổ chức thành công chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch, tiêu diệt 2 lữ đoàn, 1 trung đoàn, 5 tiểu đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pháo binh, 4 thiết đoàn xe tăng, xe thiết giáp, đánh thiệt hại 1 lữ đoàn, 2 trung đoàn, 1 liên đoàn và 3 tiểu đoàn khác, diệt và làm bị thương 19.960 tên địch, bắt 1.142 tên; bắn rơi và phá hủy 556 máy bay các loại, 1.138 xe tăng thiết giáp, 112 khẩu pháo cối; thu 24 xe ô tô, 78 khẩu pháo, cối, 2.268 súng bộ binh, 274 máy vô tuyến điện.


Thắng lợi của chiến dịch phản công hiệp đồng quân binh chủng với quy mô lớn có ý nghĩa chiến lược ở Đường 9 - Nam Lào phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan, khách quan. Nhưng điều quan trọng có tính quyết định nhất là ta đã dự doán đúng âm mưu chiến lược của địch, đánh giá chính xác tình hình dịch - ta, nắm chắc địa hình thời tiết, chủ động chuẩn bị, tạo lập một thế trận vững chắc để từ đó sử dụng lực lượng và xác định cách đánh thích hợp, phát huy thế mạnh của ta, hạn chế chỗ mạnh của địch, lần lượt bẻ gãy từng mũi, từng cánh quân tiến đến bẻ gãy hoàn toàn cuộc hành quân của chúng.


Từ cuối năm 1969 đến năm 1970, quân và dân ta trên chiến trường đã vượt qua muôn vàn khó khăn, chịu nhiều hy sinh gian khổ, kiên trì bám trụ đánh địch. Từ hậu phương miền Bắc, ta không ngừng chi viện sức người, sức của cho các chiến trường. Với sự nỗ lực rất lớn của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, thế và lực của ta trên chiến trường từng bước được khôi phục và phát triển. Ngay từ khi quân ta phối hợp với lực lượng cách mạng Campuchia đánh bại cuộc tiến công xâm lược của địch sang Đông Bắc Campuchia (29.4 - 30.6.1970), Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã dự kiến trong mùa khô 1970 - 1971 có thể địch sẽ tiến công vào hành lang vận chuyển chiến lược của ta ở Trung - Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Ta cũng dự kiến và chuẩn bị đối phó với khả năng chúng có thể đánh ra Nam Khu 4.


Từ những phán đoán và dự kiến đúng đắn, chính xác nói trên, ngay từ tháng 5 năm 1970, ta đã tiến hành các công tác chuẩn bị. Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị cho Đoàn 559 làm thêm đường 10, củng cố đường 16B, chuẩn bị khai thông đường 16D, củng cố tuyến đường B70. Tháng 9 năm 1970, cơ quan Bộ lại hướng dẫn Đoàn 559 và các mặt trận B4, B5 tiến hành chuẩn bị thêm một bước cụ thể tại chiến trường. Tháng 10 năm 1970, ta thành lập Binh đoàn B701 (Binh đoàn B70 gồm 3 sư đoàn (308, 304, 320) và các trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng do Đại tá Cao Văn Khánh làm Tư lệnh, Đại tá Hoàng Phương làm Chính ủy. Trước chiến dịch, Sư đoàn 308 ở Nghệ An - Hà Tình, Sư đoàn 304 (thiếu) ở Quảng Bình, Trung đoàn 24 (thiếu) ở Làng Ho. Sư đoàn 320 (thiếu) bố trí Trung đoàn 48 ở Mương Phin, Pha Lan; Trung đoàn 64 đang trên đường hành quân vào B3 được lệnh quay lại khu vực Cha Ky. Các đơn vị binh chủng bố trí ở Nam Khu 4), bố trí ở nam Quân khu 4 sẵn sàng phối hợp với lực lượng tại chỗ2 (Lực lượng tại chỗ gồm các đơn vị của Quân khu 4, Mặt trận B4, B5, Đoàn 559. Ngoài ra còn có Sư đoàn 2 (thiếu) là chủ lực của Quân khu 5 đang củng cố huấn luyện ở khu vực Đường 9) đối phó với mọi tình huống xảy ra.


Các đơn vị đứng chân sẵn trên từng khu vực cũng được lệnh tích cực chuẩn bị sẵn sàng phối hợp với chủ lực. Binh đoàn B70 đã tổ chức chuẩn bị các điều kiện tác chiến cho từng trung đoàn, tiểu đoàn...; dự kiến các khu vực chốt chặn; sử dụng công binh cấu trúc sở chỉ huy, kho tàng trạm phẫu...; điều Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 24) vào chốt trước tại chiến trường1 (Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 24) bố trí phòng ngự ở điểm cao 351, cầu Cha Ky) cùng lực lượng tại chỗ. Tháng 1 năm 1971, ta triển khai xong sở chỉ huy nhẹ để kịp thời chỉ huy các lực lượng đánh địch; chuẩn bị 6.000 tấn vật chất trên các hướng đảm bảo cho 5 đến 6 vạn quân tác chiến trong thời gian từ 4 đến 5 tháng. Ngoài ra, trên tuyến vận tải chiến lược 559 ta còn dự trữ hơn 3.000 tấn vật chất, khi cần có thể cung cấp ngay cho các lực lượng tác chiến chiến dịch. Đề phòng tình huống địch mở rộng tiến công ra Nam Khu 4, Bộ đã tăng cường 10 tiểu đoàn pháo cao xạ từ phía Bắc vào Nam Khu 4 để bảo vệ giao thông và yếu địa; tăng cường cho các huyện ven biển từ Nam Hà đến Thanh Hoá 10 đại đội bộ binh sẵn sàng đánh địch nếu chúng liều lĩnh tập kích bằng đường biển.


Sau khi phát hiện chính xác địch tiến công ra Đường 9 - Nam Lào, ngày 4 tháng 2 năm 1971, Bộ Tổng Tư lệnh ra Quyết định số 51/QĐ-QP thành lập Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (Mặt trận 702) do đồng chí Lê Trọng Tấn, Tổng tham mưu phó làm Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy. Nhiều đồng chí cán bộ phụ trách các tổng cục, các quân binh chủng được tăng cường cho cơ quan chiến dịch. Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng được cử làm đại diện của Bộ bên cạnh Bộ Tư lệnh chiến dịch. Đây là một cơ quan chỉ huy mạnh có đủ thẩm quyền chỉ huy các lực lượng tham gia chiến dịch và tổ chức hiệp đồng với các chiến trường liên quan như các Bộ Tư lệnh B4, B5, Quân khu 4, Đoàn 559 và lực lượng vũ trang cách mạng Lào. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm có 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324, 2), 4 tiểu đoàn tăng thiết giáp (177, 297, 397, 198), 4 trung đoàn pháo binh (368, 38, 45, 84), 4 trung đoàn cao xạ (230, 237, 241, 491), 3 trung đoàn công binh (7, 83, 219), Đoàn 126 đặc công Hải quân và một số tiểu đoàn đặc công của Bộ. Lực lượng tại chỗ gồm lực lượng của Đoàn 559 và các mặt trận B4, B5, lực lượng vũ trang cách mạng Lào. Đây là chiến dịch tập trung các đơn vị binh chủng hợp thành đông nhất, mạnh nhất của quân đội ta từ trước đến lúc đó.


Khi giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Chiến dịch, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp nhận định: Sử dụng một lực lượng lớn đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào, sức tiến công của địch rất mạnh, quân địch chủ yếu sẽ cơ động vận chuyển tiếp tế theo Đường 9 và bằng đường không. Cảng Cửa Việt sẽ là nơi tiếp nhận phần lớn vật chất của địch, từ đó chúng ngược sông Hiếu chuyển lên Đông Hà. Tuy nhiên, đánh ra Đường 9 - Nam Lào vào thời điểm này là thất sách lớn của chúng, chứng tỏ chúng không am hiểu địa hình thời tiết. Khu vực này từ sáng đến trưa sương mù thường dày đặc sẽ là một bất lợi đối với không quân, thiết giáp của địch. Từ những nhận định trên và từ cách đánh của chiến dịch phản công, sau khi giao nhiệm vụ cho các đơn vị, đồng chí Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ cho Hải quân phải bằng mọi cách chọc thủng "cái dạ dày" của địch ở Cửa Việt. Đoàn 559 có nhiệm vụ bảo vệ hành lang vận chuyển, kho tàng, tổ chức thêm các cụm chiến đấu, các khu chốt (ở các điểm cao trên dãy Phu Rệp, Sê Pôn; khu vực Cô Bốc, Cô Rốc...).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #129 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2026, 09:09:57 pm »

Thực hiện mệnh lệnh tác chiến của Bộ, Binh đoàn 70 bí mật cơ động bằng ô tô vượt qua chặng đường 500km vào tập kết ở bắc Đường 9. Sư đoàn 324 hành quân cấp tốc từ Mặt trận 134 lên tập kết ở nam Đường 9. Sư đoàn 2 tập kết ở phía tây Bản Đông. Lực lượng tại chỗ của các Mặt trân B4, B5, Đoàn 559 gồm các đơn vị bộ binh, đặc công công binh, phòng không và Trung đoàn 24 (Sư đoàn 304) tổ chức các trận địa chốt trên các điểm cao ở bắc, nam và dọc theo Đường 9. Đồng chí Đinh Đức Thiện - Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần quyết định xuất kho, cấp phát trực tiếp 300 khẩu súng máy 12,7mm cho Đoàn 559 (là số vũ khí đang trên đường chuyển vào chiến trường Nam Bộ theo mênh lệnh của Bộ Tổng Tham mưu) để các đơn vị kịp thời sử dụng bắn máy bay bay thấp của địch. Đến đầu tháng 2 năm 1971, các công tác chuẩn bị của ta đã cơ bản hoàn thành. Các lực lượng tại chỗ cả của ta và bạn Lào cùng với khối chủ lực cơ động đã hình thành nên một thế trận vững chắc, có chiều sâu trên địa bàn chiến dịch.


Tiến hành cuộc hành quân "Lam Sơn 719" địch tin rằng với một lực lượng hùng hậu, nhất là ưu thế về xe tăng, thiết giáp và không quân, được đảm bảo tiếp tế đầy đủ; trong khi lực lượng của ta trên địa bàn tác chiến không đủ sức mạnh và cũng không thể kịp thời cơ động từ nơi khác đến trước khi chúng tiến công, chắc chắn cuộc tiến công sẽ giành thắng lợi. Trong cuộc tiến công này, địch đã sử dụng gần 700 máy bay lên thẳng, với 40 000 lần chiếc hoạt động trong một tháng, ngày cao nhất đến 4.000 lần chiếc. Số lượng lớn máy bay lên thẳng đó lại được sự hỗ trợ của hàng trăm máy bay cường kích phản lực các loại, kể cả B-52. Địch cho rằng sự kết hợp chặt chẽ giữa hoả lực và khả năng cơ động bằng máy bay lên thẳng sẽ cho phép 40.000 quân địch đảm nhiệm những nhiệm vụ lẽ ra phải cần đến từ 8 đến 10 vạn quân. Đó là chưa kể đến số lượng lớn xe tăng, xe thiết giáp. Với gần 600 xe tăng, xe thiết giáp, chúng sẽ tạo được sức đột kích mạnh và kịp thời để áp đảo đối phương. Địch còn thiết lập các "căn cứ hỏa lực" gồm hơn 300 khẩu pháo các loại để yểm trợ cho bộ binh, xe tăng, xe thiết giáp tiến công.


Dựa vào thế trận đã chuẩn bị cùng với thế hiểm của địa hình, thời tiết, lực lượng vũ trang ba thứ quân của ta đã lần lượt đánh bại các cánh quân của địch tiến tới bẻ gãy hoàn toàn cuộc hành quân với những thủ đoạn tác chiến hiện đại của chúng. Mỹ và quân đội Sài Gòn sử dụng nhiều máy bay lên thẳng, xe tăng, thiết giáp và pháo binh nhưng sức mạnh của chúng bị hạn chế bởi địa hình rừng núi thời tiết sương mù, đường độc đạo... và thế trận đã chuẩn bị sẵn của ta. Ngay từ lúc địch vượt biên giới, lực lượng phòng không của ta, đặc biệt là loại súng 12,7mm bố trí ở các điểm cao đã bắn rơi 50 máy bay địch khi chúng đang đổ quân. Các chốt của ta đã phá hủy hàng chục xe tăng thiết giáp, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch. Lực lượng pháo binh của ta kìm chặt các căn cứ hỏa lực của địch. Cách đánh sáng tạo, rộng khắp của lực lượng tại chỗ đã tạo thế cho chủ lực đánh những đòn quyết định. Không quân của địch, nhất là máy bay lên thẳng hoạt động hạn chế bởi thời tiết xấu, buộc phải bay thấp đó là cơ hội tốt cho lực lượng phòng không của ta, đặc biệt là loại súng máy cao xạ 12,7mm tiêu diệt. Ta tận dụng thời cơ có lợi đánh máy bay địch khi vận chuyển, đổ quân tiến công và cả lúc chúng rút chạy, tính trung bình mỗi ngày bắn rơi hàng chục máy bay, ngày cao nhất bắn rơi 42 chiếc. Đặc biệt, trong hai trận then chốt ở dãy Phu Rệp và Bản Đông, ta đã bắn rơi và phá hỏng 170 chiếc. Đây là chiến dịch ta bắn rơi và phá hủy nhiều máy bay lên thẳng nhất của địch. Xe tăng, thiết giáp của địch cũng không phát huy được thế mạnh ở khu vực rừng núi. Khi bị ta tiến công, đội hình xe tăng, xe thiết giáp của địch dễ bị chia cắt, hiệp đồng giữa bộ binh, thiết giáp và không quân của chúng dễ bị phá vỡ, chỉ huy rối loạn... làm "mồi" cho các hoả lực chống tăng của ta. Trong trận then chốt tiêu diệt căn cứ 543 và đánh địch phản kích, ta đã tiêu diệt toàn bộ Tiểu đoàn 8 dù và Thiết đoàn 17 gồm 120 xe tăng, xe thiết giáp của địch. Mỹ và quân đội Sài Gòn lập các căn cứ hỏa lực chi viện cho bộ binh, xe tăng, xe thiết giáp. Nhưng các căn cứ hoả lực này bị ta bao vây, kìm chặt, chia cắt chúng với nhau, chia cắt với không quân, nên khả năng chi viện bị hạn chế và lần lượt bị ta tiêu diệt.


Cùng với các lực lượng tác chiến ở phía trước, trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, bộ đội Đoàn 126 đặc công Hải quân đã chấp hành nghiêm chỉ thị "đánh theo mệnh lệnh, đánh theo yêu cầu của Mặt trận" của Đại tướng Tổng Tư lệnh. Đơn vị đã vượt qua nhiều hy sinh khó khăn thử thách, chốt giữ, bám trận địa dài ngày chiến đấu ngoan cường, hiệp đồng chặt chẽ, đánh liên tục, đã đánh chìm 43 tàu vận tải và tàu chiến của địch, diệt hàng trăm tên, phá hủy hàng chục ngàn tấn vật chất, phương tiện chiến tranh của địch khiến quân cảng Cửa Việt của địch thường xuyên bị tê liệt, có thời gian bị tắc nghẽn liên tục 31 ngày đêm1 (Lịch sử Đoàn đặc công Hài quân 126 (1966 - 2006), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr.185). Có thể khẳng định, trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, Bộ đội Hải quân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ "chọc thủng dạ dày Cửa Việt" của địch mà đồng chí Đại tướng Tổng Tư lệnh đã giao phó.


Trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, do nắm chắc tình hình, đánh giá chính xác những điểm mạnh, điểm yếu của địch, nắm chắc địa hình thời tiết, ta đã phát huy cao độ thế mạnh của ta, hạn chế những mặt mạnh của địch, chủ động xây dựng kế hoạch tác chiến, chuẩn bị lực lượng, thiết bị chiến trường... Khi phát hiện chính xác hành động của địch, ta đã kịp thời cơ động, điều chỉnh, bố trí và sử dụng lực lượng, tạo nên một thế trận vững chắc, rộng khắp có chiều sâu (mặc dù trong điều kiện ở khu vực tác chiến rất ít dân). Trên cơ sở đó, cùng với phương pháp tác chiến chiến dịch và vận dụng chiến thuật phù hợp, ta đã đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" - nỗ lực lớn nhất về quân sự trong chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của địch. Thắng lợi của ta trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào có ý nghĩa hết sức to lớn, nó tác động mạnh mẽ đến cục diện chung của chiến trường ba nước Đông Dương; đánh dấu bước thất bại quan trọng của chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" ở Việt Nam nói riêng và chiến lược "Đông Dương hoá chiến tranh" của Mỹ nói chung. Thắng lợi của chiến dịch đã khẳng định bước trưởng thành vượt bậc của quân đội ta về tổ chức xây dựng lực lượng và trình độ tác chiến hiệp đồng quân binh chủng. Chiến dịch diễn ra cách đây đã 40 năm, nhưng những bài học của nó nhất là bài học về nắm chắc, phân tích đánh giá chính xác tình hình địch; đánh giá đúng những yếu tố thuận lợi, khó khăn của địa hình, thời tiết... triệt để tận dụng để sử dụng lực lượng phù hợp, tạo lập thế trận tác chiến vững chắc rộng khắp, có chiều sâu là những bài học quý cho quân và dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM