Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:10:53 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử  (Đọc 29256 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #150 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2026, 08:26:26 pm »

PHẦN IV
TẦM VÓC, Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ VẬN DỤNG TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

CHIẾN THẮNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971 THÀNH QUẢ CỦA Ý CHÍ QUYẾT TÂM, TƯ DUY MƯU LƯỢC, LINH HOẠT VÀ SÁNG TẠO CỦA QUÂN VÀ DÂN TA

Thiếu tướng, PGS, TS vũ QUANG ĐẠO
Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Cách đây 40 năm, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, quân và dân ta phối hợp với quân và dân Lào tiến hành cuộc phản công chiến lược, đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" - cuộc hành quân lớn nhất, điển hình nhất của Mỹ và quân đội Sài Gòn trong giai đoạn "Việt Nam hóa chiến tranh", loại khỏi vòng chiến đấu một bộ phận lớn sinh lực địch, thu và phá hủy hàng vạn tấn vũ khí, phương tiện chiến tranh.


Thắng lợi của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào là thành quả của nhiều nhân tố. Trước hết, đó là thắng lợi của đường lối chính trị, quân sự đúng đắn và sáng tạo của Đảng, sự chỉ đạo tập trung, kiên quyết và chính xác của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương. Đó còn là thắng lợi của ý chí quyết tâm, tư duy mưu lược, cách đánh linh hoạt và sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ Việt Nam và các lực lượng vũ trang Pathét Lào.


1. Nắm chắc địch, quyết tâm cao, giữ thế chủ động chiến lược và chiến dịch.

Sau thắng lợi của ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ - ngụy bị phá sản. Với âm mưu tiếp tục cuộc chiến tranh thực dân kiểu mới ở miền Nam Việt Nam, Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", một mặt tập trung xây dựng quân đội Sài Gòn thành một quân đội hiện đại, đủ sức thay thế quân Mỹ khi chúng rút về nước, mặt khác ráo riết thực hiện chương trình "bình định cấp tốc", "bình định đặc biệt" tại miền Nam Việt Nam, đồng thời, mở rộng chiến tranh sang Lào và Campuchia nhằm tiêu diệt lực lượng của ta trong vùng; cắt đứt tuyến chi viện chiến lược từ miền Bắc.


Thực hiện tham vọng đó, đầu năm 1971, địch đã huy động 88 trong tổng số 214 tiểu đoàn bộ binh, 15 thiết đoàn mở cuộc tiến công quy mô lớn trên ba hướng, với ba cuộc hành quân mang mật danh: "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào; "Toàn thắng 1-71" đánh lên vùng Kông Pông Chàm, Kra Chiê (Đông Bắc Campuchia) và cuộc hành quân quy mô 1 sư đoàn, từ Tây Nguyên đánh ra vùng ngã ba biên giới (vùng A Tô Pơ của Lào).


Theo đánh giá của Mỹ, khu vực Đường 9 - Nam Lào có vị trí hết sức quan trọng, bởi đó là vùng đối phương tập trung nhiều kho tàng dự trữ chiến lược, là "cuống họng" của tuyến chi viện chiến lược 559, là huyết mạch đặc biệt quan trọng để nuôi sống cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam Việt Nam và cách mạng Lào, Campuchia. Với cuộc hành quân "Lam Sơn 719", Mỹ và quân đội Sài Gòn đặt ra mục tiêu: cắt đứt, tiến tới phá hủy hoàn toàn tuyến vận tải và cơ sở hậu cần chiến lược ở khu vực Đường 9 - Nam Lào, chặn đứng và triệt bỏ tận gốc nguồn tiếp tế, khiến lực lượng vũ trang ta, mà trước hết là bộ đội chủ lực ở miền Nam không thể đánh lớn được trong mùa khô 1971-1972, buộc phải quay về hoạt động nhỏ lẻ, phân tán trong khuôn khổ một cuộc chiến tranh du kích; làm cho cách mạng miền Nam, Lào, Campuchia "lụi tàn"; đồng thời để kiểm chứng sức mạnh và khả năng tác chiến của quân đội Sài Gòn "công cụ" chủ yếu để thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Ngoài các mục tiêu trên, cả Mỹ và chính quyền Sài Gòn còn muốn thông qua chiến thắng của chiến dịch này để làm "yên lòng" nhân dân Mỹ, rằng: quân đội Sài Gòn đủ sức đảm đương cuộc chiến tại Việt Nam và Đông Dương. Đó là điều kiện căn bản để Mỹ có thể rút quân khỏi miền Nam Việt Nam trên thế mạnh. Riêng với Tổng thống Níchxơn, ông hy vọng rằng, thắng lợi của cuộc hành quân này sẽ cho ông thêm cơ hội trúng cử trong cuộc tranh cử Tổng thống diễn ra vào năm 1972.


Thực hiện mưu đồ đó, từ đầu năm 1971, địch bắt đầu có những hành động nghi binh, chúng chuyển sở chỉ huy Vùng 1 chiến thuật (Quân đoàn 1) từ Đà Nẵng tới Đông Hà, sau đó chuyển về đặt tại Khe Sanh; đưa một lực lượng lớn quân Mỹ và quân đội Sài Gòn ra Quảng Trị, đồng thời còn tung tin sẽ mở các cuộc tiến công sang bên kia vĩ tuyến 17, đánh vào Nam Quân khu 4.


Hiểu rõ âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương nhận định: mọi hoạt động của quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa tại vùng giáp ranh vĩ tuyến 17 chỉ là hoạt động nghi binh. Mục tiêu chính của chúng là sẽ thực hiện cuộc hành quân tiến công chia cắt chiến lược trên ba hướng, trong đó hướng Đường 9 - Bản Đông - Sê Pôn là hướng chủ yếu. Không những phán đoán đúng âm mưu, ý đồ của địch, ta còn nắm vững quy luật hoạt động của chúng. Bộ Tổng Tư lệnh xác định: địch có thể huy động 30 - 35 tiểu đoàn bộ binh, phối hợp với hoả lực không quân và pháo binh mở cuộc tiến công thọc sau trên mũi đột kích chính; dùng máy bay lên thẳng để đổ quân đánh chiếm các điểm cao. Tại khu vực Đường 9 Nam Lào, chúng sẽ lấy Đông Hà làm hậu cứ, Khe Sanh - Lao Bảo làm tuyến triển khai lực lượng và Đường 9 sẽ là trục tiến công chủ yếu.


Do nhận định và phán đoán đúng tình hình, ngay từ khi cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đang trong giai đoạn chuẩn bị, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta đã bàn bạc, thống nhất với Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào quyết tâm mở chiến dịch phản công lớn, đập tan âm mưu của chúng, đồng thời chỉ thị cho Quân ủy Trung ương: "Nhất thiết phải đánh thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào, vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược... Thắng lợi của trận phản công này sẽ ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ba nước Đông Dương''1 (Bộ Quốc phòng, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, Viện Khoa học Quân sự, Hà Nội, 1976, tr.25). Trên tinh thần đó, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị và kêu gọi: ... Tập trung cao nhất tinh thần và sức lực, dũng mãnh tiến công, liên tục tiến công tiêu diệt thật nhiều lực lượng tinh nhuệ của địch, quyết bảo vệ con đường Hồ Chí Minh, xốc tới giành thắng lợi cao nhất trong chiến dịch quan trọng này"1 (Chỉ thị 009/QUTYV do Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp ký ngày 9 tháng 2 năm 1971, hồ sơ 594 - Cục Lưu trữ Bộ Quốc phòng).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #151 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2026, 08:28:28 pm »

2. Tập trung binh lực, chỉ đạo kiên quyết, chủ động phản công

Tháng 10 năm 1970, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Bộ Tư lệnh 70 (B70) có quyền hạn tương đương Bộ Tư lệnh Quân khu (với lực lượng bao gồm các sư đoàn bộ binh 304, 308, 320, Trung đoàn pháo binh 45, Trung đoàn cao xạ 241, Trung đoàn công binh 219, một số đơn vị binh chủng khác). Việc thành lập Bộ Tư lệnh 70 không chỉ đáp ứng cho chiến dịch trước mắt mà còn là bước thử nghiệm cho sự ra đời của Bộ Tư lệnh các quân đoàn chủ lực sau này. Sau khi thành lập, Bộ Tổng Tham mưu cùng Bộ Tư lệnh 70 khẩn trương hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến.


Trên cơ sở kế hoạch tác chiến đã đề ra, đầu tháng 2 năm 1971, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (gọi tắt Bộ Tư lệnh 702) chính thức được thành lập, do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu phó phụ trách tác chiến làm Tư lệnh; Thiếu tướng Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy chiến dịch. Giúp việc trực tiếp cho Tư lệnh trong cơ quan tham mưu chiến dịch có các đồng chí Tư lệnh Binh chủng Pháo binh, Tư lệnh Binh chủng Tăng - thiết giáp, Tư lệnh Binh chủng Đặc công, đại diện các quân chủng Phòng không, Không quân, Thông tin liên lạc, Công binh, cùng nhiều cán bộ chỉ huy - tham mưu tác chiến dày dạn kinh nghiệm trận mạc. Bộ Tư lệnh 702 thực sự là một tổ chức mạnh, có đủ quyền hạn, khả năng lãnh đạo và chỉ huy tất cả các lực lượng ta và bạn ở khu vực Đường 9 và Nam Lào, đồng thời được xem như là cơ quan tiền phương của Bộ có thể quyết định những vấn đề quan trọng, kịp thời, nhất là về chỉ đạo tác chiến chiến dịch để giành thắng lợi trong mọi tình huống.


Cùng với việc tổ chức Bộ Tham mưu chiến dịch mưu lược, ta còn tích cực triển khai công tác chuẩn bị chiến trường. Trước đó, từ tháng 6 năm 1970, Bộ đã tăng cường tổ chức cán bô vào cùng các đơn vị tại chỗ nghiên cứu địa hình, chuẩn bị kế hoạch tác chiến ở chiến trường Lào, đồng thời hướng dẫn các đơn vị diễn tập phương án tác chiến đã được dự kiến. Lực lượng thanh niên xung phong, Đoàn 559 được lệnh làm thêm đường 10, củng cố đường 16B, chuẩn bị khai thông đường 16D, củng cố tuyến đường B70. Binh đoàn B70 được lệnh chuẩn bị các điều kiện tác chiến cho từng trung đoàn, tiểu đoàn. Lực lượng tại chỗ cũng được lệnh sẵn sàng chiến đấu... Ta cũng đã chuẩn bị được 6.000 tấn vật chất, đảm bảo cho từ 5 đến 6 vạn quân tác chiến trong thời gian từ 4 đến 5 tháng. Ngoài ra, để đề phòng tình huống địch mở rộng tiến công ra Nam Khu 4, Bộ đã tăng cường 10 tiểu đoàn pháo cao xạ từ phía Bắc vào Nam Khu 4 nhằm bảo vệ giao thông và những vùng yếu địa; tăng cường cho các huyện ven biển từ Nam Hà đến Thanh Hóa 10 đại đội bộ binh sẵn sàng đánh địch nếu chúng liều lĩnh tập kích bằng đường biển.


3. Kiên quyết tiến công, tác chiến linh hoạt, mưu trí, sáng tạo

Đúng như dự kiến, ngày 8 tháng 2 năm 1971, quân đội Sài Gòn được sự yểm trợ của quân Mỹ, chia làm 3 cánh vượt qua biên giới Việt - Lào. Cánh quân chủ yếu tiến theo Đường 9, phối hợp với lực lượng đổ bộ đường không đánh chiếm Bản Đông, làm bàn đạp để tiến lên Sê Pôn; cánh quân thứ hai và thứ ba đánh chiếm hai bên Đường 9.


Ngay sau khi phát hiện địch đánh ra khu vực Đường 9, Bộ Tư lệnh Mặt trận nhanh chóng điều lực lượng chặn đánh địch trên Đường 9, đồng thời, ra lệnh cho lực lượng vũ trang Mặt trận B5 tiến hành tập kích, pháo kích vào các căn cứ quân sự của Mỹ; phục kích trên các đường giao thông. Trên hướng chủ yếu, nhờ nắm chắc tình hình, bộ đội ta đã bình tĩnh, chủ động đón đánh từng cánh quân của địch, kết hợp với lưới lửa phòng không được bố trí sẵn, bắn rơi nhiều máy bay lên thẳng. Trong các ngày từ ngày 12 tháng 2 đến ngày 3 tháng 3 năm 1971, các lực lượng chủ lực của ta tổ chức hiệp đồng tác chiến, tiến công dồn dập, bẻ gãy cánh quân chủ lực của địch ở phía Bắc Đường 9, tiêu diệt các cụm cứ điểm then chốt ở điểm cao 500, 543; tiêu diệt Trung đoàn thiết giáp số 17 và Lữ đoàn dù 3, bắt đại tá Nguyễn Văn Thọ và toàn bộ Ban tham mưu lữ đoàn.


Trước đòn phản công mạnh của quân ta, địch điều lực lượng lớn từ Bản Đông lên phản kích hòng chiếm lại điểm cao 543. Suốt 6 ngày liền, Trung đoàn bộ binh 36 Sư đoàn 308 và một bộ phận Trung đoàn bộ binh 64, có hai đại đội xe tăng phối hợp và pháo binh mặt trận chi viện hỏa lực, đã đập tan cánh quân phản kích của địch, uy hiếp mạnh căn cứ Bản Đông. Ở phía Bắc Bản Đông, lực lượng Đoàn 70 phối hợp với lực lượng tại chỗ, tiến công tiêu diệt Lữ đoàn dù 1, đánh thiệt hại nặng Liên đoàn biệt động số 1, khiến thế trận địch rơi vào rối loạn, ở phía Nam, lực lượng tại chỗ Đoàn 559 tích cực đánh tiêu hao, ngăn chặn địch, tạo điều kiện cho bộ đội cơ động đánh tiêu diệt hai tiểu đoàn và hai đại đội chủ lực quân đội Sài Gòn. Ở phía Tây Sư đoàn 2 Quân khu 5 và Sư đoàn 320 phối hợp với bộ đội Pathét Lào đánh thiệt hại nặng GM30, GM33 quân đội chính phủ phái hữu Lào ở Pha Đô Tuya, Pha Lan, mở thông đường 16B.


Trong lúc ở Nam Lào, địch bị ta đánh thiệt hại nặng, thì ở Đường 9 (Quảng Trị), pháo binh ta bắn phá căn cứ Khe Sanh, Sa Mưu, Đông Hà, Ái Tử, gây thiệt hại nặng cho hậu phương chiến dịch của địch. Bị bất ngờ vì chủ lực ta xuất hiện sớm, lưới lửa phòng không dày đặc, thế trận cuộc hành quân của địch bị phá vỡ hoàn toàn, khiến lực lượng địch mất thế chủ động, tinh thần chiến đấu sa sút nghiêm trọng, đội hình chiến đấu của từng đơn vị rối loạn.


Trên đà thắng lợi và với thế tiến công áp đảo quân địch, ngày 2 tháng 3 năm 1971, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị, trong đó nêu rõ: Tuy địch đã thất bại bước đầu ngoài dự tính, nhưng với bản chất ngoan cố và còn lực lượng, nên qua mấy ngày lúng túng, chúng đang điều động thêm lực lượng với ý đồ củng cố trận địa Bản Đông thành một bàn đạp tương đối vững, đồng thời dùng lực lượng mới, thay đổi thủ đoạn tác chiến, cố gắng tiếp tục cuộc hành quân, hòng vớt vát về chính trị... Tình huống cơ bản là cuộc chiến đấu có thể sẽ diễn ra quyết liệt trong một thời gian tương đối dài; chúng ta phải sẵn sàng đánh địch và thắng địch; đồng thời sẵn sàng tiêu diệt địch trong trường hợp chúng buộc phải rút sớm trước những thất bại mới1 (Chỉ thị số 012/QU-TƯ/A ngày 2 tháng 3 năm 1971, lưu K4 Hộ Quốc phòng, phông QUTƯ, hồ sơ 714)... Trên cơ sở nhận định đúng tình hình, Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch đã nhanh chóng quán triệt tinh thần cơ bản Chỉ thị của Quân ủy Trung ương đến các hướng, các đơn vị; động viên các đơn vị trên hướng Nam Sê Pôn nâng cao quyết tâm vừa diệt địch, vừa bảo vệ kho tàng, bảo vệ vững chắc tuyến vận tải chiến lược; đồng thời kiên quyết tiêu diệt địch nếu chúng liều lĩnh tiến đến Sê Pôn. Ở các hướng khác, tiếp tục động viên tinh thần tiến công liên tục, kiên quyết cắt đứt Đường 9, chuẩn bị tư tưởng đánh dài ngày với địch và sẵn sàng nắm vững thời cơ đánh địch nếu chúng rút chạy.


Chiến sự diễn ra nhanh chóng và quyết liệt. Bằng các trận đánh tiêu diệt lớn khi địch đổ quân xuống các điểm cao, vây ép chúng tại các điểm cao 748, 723, 550, 532 ở cánh Nam Sê Pôn; các trận tập kích tiêu hao, tiêu diệt địch ở khu vực Bản Đông; ngăn chặn giữ vững các điểm tựa trên Đường 9, ta đã chia cắt, cô lập địch trên từng khu vực. Bị đánh thiệt hại nặng trên tất cả các hướng, cả phía trước và phía sau, trước nguy cơ bị bao vây và có thể bị tiêu diệt trên từng khu vực, địch buộc phải rút chạy từng bộ phận.


Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch hạ quyết tâm: không cho quân địch rút nhanh, rút có tổ chức; nhanh chóng chuyển sang tiến công, tập trung lực lượng đánh trận then chốt quyết định. Ngày 14 tháng 3, Bộ Tư lệnh phát lệnh động viên tới các đơn vị trên toàn mặt trận: "Thời cơ tiêu diệt lớn quân địch và giành toàn thắng cho chiến dịch đã đến". Lệnh động viên đã có tác động cổ vũ sâu rộng và mạnh mẽ tinh thần quyết chiến, quyết thắng của bộ đội. Trên khắp các mặt trận, phong trào thi đua lập công diễn ra sôi nổi giữa các đơn vị, các hướng. Cán bộ, chiến sĩ bước vào giai đoạn cuối chiến dịch với khí thế quyết tâm cao, nắm chắc thời cơ tiêu diệt địch, với một nguyện vọng mong muốn lập công, góp phần xứng đáng vào thắng lợi. Trên các hướng, các đơn vị đều nỗ lực chiến đấu và giành thắng lợi.


Đầu tháng 3, mặc dầu lâm vào tình thế bất lợi, địch vẫn quyết định tung lực lượng dự bị chiến dịch vào cuộc chiến, chuyển cánh quân phía Nam thành hướng tiến công chủ yếu và tiếp tục thực hiện kế hoạch đánh lên Sê Pôn. Trước thủ đoạn mới của địch, ta chủ trương một mặt kiên quyết ngăn chặn địch, không cho chúng đến Sê Pôn, mặt khác khẩn trương cơ động lực lượng tổ chức bao vây chia cắt tạo điều kiện, thời cơ đánh trận tiêu diệt quyết định. Đến ngày 11 tháng 3, ta đã chặn đứng được các mũi tiến công của địch, hệ thống kho tàng, hành lang vận chuyển chiến lược được giữ vững. Từ ngày 12 tháng 3 năm 1971, toàn bộ lực lượng tham gia chiến dịch của ta được lệnh gấp rút chuyển từ phản công sang tiến công. Quân địch ở Đường 9, Bản Đông không chịu được sức ép buộc phải dồn lại, dựa lưng vào nhau để chống trả. Càng chống trả điên cuồng, thì dự trữ đạn dược càng chóng cạn; trong khi đó, nguồn tiếp tế chủ yếu bằng máy bay, nhưng máy bay lên thẳng cũng như máy bay vận tải C130 không thể cất cánh do bị lưới lửa phòng không nhiều tầng, nhiều lớp của ta khống chế1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 275). Trước nguy cơ bị tiêu diệt, quân địch phải tháo chạy khỏi Bản Đông, bị bộ đội ta truy kích, diệt và bắt sống nhiều tên địch, bắn cháy nhiều xe tăng, xe bọc thép, phá hủy nhiều máy bay của chúng. Cùng thời gian này quân ta còn giành thắng lợi lớn ở điểm cao 660, 550.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #152 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2026, 08:29:19 pm »

4. Thắng lợi vẻ vang, trưởng thành vượt bậc

Sau hơn một tháng chiến đấu kiên cường, sáng tạo ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Quân giải phóng miền Nam và các lực lượng vũ trang Pathét Lào đã tiêu diệt 2 lữ đoàn, 1 trung đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pháo binh, 4 thiết đoàn xe tăng, thiết giáp, đánh thiệt hại nặng một số lữ đoàn, trung đoàn khác, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 21.000 địch (bắt 1.142), bắn rơi và phá hủy 556 máy bay, 528 xe tăng, xe bọc thép, 112 khẩu pháo, cối, thu 2 máy bay trực thăng, 24 xe quân sự, 78 khẩu pháo, cối, hơn 2.000 súng bộ binh...


Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào có ý nghĩa chiến lược, tác động mạnh đến cục diện toàn chiến trường, giáng một đòn mạnh vào chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ1 (Bộ Quốc phòng - Trung tâm Từ điển Bách khoa Quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004). Cùng với việc đánh bại hai cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" và "Quang Trung 4", chiến thắng Đường 9 - Nam Lào đã đánh dấu chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ đang đứng trước nguy cơ bị phá sản hoàn toàn, không thể cứu vãn được. Ông Kítxinhgơ, người thay mặt Chính phủ Mỹ đang đàm phán với Việt Nam tại Pari đã thú nhận: Cuộc tiến công mùa khô 1971 là một cái mốc đánh dấu cuộc hành quân cuối cùng mà quân đội Mỹ còn tham chiến ở Đông Dương, kể cả trong vai trò hỗ trợ. Cuộc tiến công vào Sê Pôn không cắt đứt được việc xây dựng hậu cần của Bắc Việt Nam, không đủ để ngăn chặn cuộc tiến công của Hà Nội năm 1972.


Riêng về mặt quân sự, thắng lợi của chiến dịch không chỉ khẳng định sức mạnh to lớn, sự trưởng thành vượt bậc của quân đội ta trong tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng, mà còn đánh dấu bước phát triển cao của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam nói chung và nghệ thuật chiến dịch phản công nói riêng, góp phần làm phong phú thêm lý luận về nghệ thuật chiến dịch Việt Nam.


Với một ý chí quyết tâm cao, một Bộ chỉ huy mưu lược, sáng tạo, trong quá trình thực hành chiến dịch, các lực lượng vũ trang Quân giải phóng miền Nam đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang Pathét Lào vận dụng cách đánh linh hoạt, sáng tạo, nắm vững quyền và thế chủ động chiến lược, chiến dịch; các lực lượng vũ trang ta đã chuyển hóa mau lẹ thế trận, bố trí một thế trận sâu kín, vững chắc vừa bảo đảm thế chặn, thế kìm, thế bao vây tiến công địch, vừa bảo đảm thế đuổi địch khi thời cơ đến. Đó là một thế trận chuyển hóa linh hoạt, phá vỡ thế trận của địch, phát triển thế trận của ta từ ngăn chặn tiến công đến truy kích địch tháo chạy. Thế trận đó bảo đảm cho các đơn vị, binh chủng trên chiến trường hợp đồng chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau kịp thời trong các tình huống. Một nhân tố khác vô cùng quan trọng tạo nên chiến thắng của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đó là tinh thần chiến đấu dũng cảm vô song, mưu trí, linh hoạt, sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ Quân giải phóng miền Nam và các lực lượng vũ trang Pathét Lào.


Tất cả những yếu tố trên, cùng với sức mạnh chiến tranh nhân dân và sự chi viện kịp thời, hiệu quả của hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã tạo thành sức mạnh tổng hợp, lắp nên chiến công vang dội. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào có ý nghĩa to lớn về mặt chiến lược, đánh bại một bước chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", tạo cục diện mới cho cách mạng Việt Nam và ba nước Đông Dương, mở ra một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #153 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2026, 08:30:40 pm »

ĐÁNH BẠI CUỘC HÀNH BINH "LAM SƠN 719", LÀM PHÁ SẢN CĂN BẢN CHIẾN LƯỢC "VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH" VÀ "HỌC THUYẾT NÍCHXƠN"

Đại tá NGUYỄN VĂN MINH
Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Mỹ -
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


1. Nắm quyền chủ động, điều địch vào phương án đã chọn

Trước khi luận bàn về cuộc hành binh "Lam Sơn 719", chúng ta điểm qua đôi nét về "Học thuyết Níchxơn" và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" để thấy rõ kỳ vọng to lớn của Oasinhtơn và Sài Gòn trong cuộc hành quân này.

Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Mỹ có bước suy yếu mới như Kítxinhgơ nhận xét: Năm 1969, Mỹ không còn ở vào cái thế có thể thực hiện được những chương trình toàn cầu của mình, không còn có thể gán ghép cho các nước khác những giải pháp mà Mỹ ưa chuộng. Níchxơn bước vào Nhà Trắng làm Tổng thống nước Mỹ giữa lúc thế giới đã đổi thay, chiến lược "Phản ứng linh hoạt" không chống đỡ nổi với các cuộc tiến công cách mạng trên thế giới, mà tiêu biểu là ở Việt Nam. Mỹ thấy không còn khả năng làm sen đầm tràn lan như trước đây, nhưng vẫn khẳng định vị thế lãnh đạo thế giới tự do. So sánh lực lượng, tiềm lực, khả năng của Mỹ trước măt cũng như tương lai, Níchxơn công bố chính sách mới thích hợp với hoàn cảnh mang tên "Học thuyết Níchxơn" và chiến lược quân sự toàn cầu "Răn đe thực tế". Nội dung "Học thuyết Níchxơn" là: Ra sức phá hoại phe xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản quốc tế; tìm cách đàn áp phong trào giải phóng dân tộc; duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới, giữ vững địa vị lãnh đạo của Mỹ đối với thế giới tự do. Đối với phe xã hội chủ nghĩa, "Học thuyết Níchxơn" chủ trương đẩy mạnh tuyên truyền chiêu bài "thương lượng", "hòa hoãn Đông - Tây", thực hiện âm mưu chia rẽ, kiềm chế và đẩy lùi. Đối với các dân tộc đang đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, "Học thuyết Níchxơn" tìm cách hạn chế việc sử dụng quân Mỹ ở nước ngoài, ra sức thực hiện "liên minh khu vực" "dùng người địa phương đánh người địa phương". "Việt Nam hóa chiến tranh" là sự ứng dụng "Học thuyết Níchxơn" vào Việt Nam mà nội dung chính là tăng cường quân đội Việt Nam Cộng hòa về số lượng, trang bị kỹ thuật và chất lượng chiến đấu cao, đồng thời mở rộng chương trình bình định, làm cho chính quyền Sài Gòn kiêm soát được toàn bộ Nam Việt Nam; đánh bật lực lượng vũ trang giải phóng ra khỏi nông thôn, thành thị; tiêu diệt hạ tầng cơ sở của Việt cộng... Trong hai năm 1969 - 1970, Mỹ và chính quyền Sài Gòn ráo riết thực hiện chương trình "bình định cấp tốc" rồi "bình định đặc biệt", đồng thời đem quân chủ lực đánh sang Campuchia, coi đó là màn dạo đầu chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Mặc dù thời gian này quân chủ lực Việt Nam Cộng hòa đã tăng lên 1.100.000 tên, được trang bị hiện đại hơn trước, nhưng liên tiếp thua trận, đẩy chương trình "bình định cấp tốc", "bình định đặc biệt" đến bờ vực phá sản. Bộ chỉ huy Mỹ ở Nam Việt Nam cho rằng không ngăn chặn được đường tiếp tế của Bắc Việt Nam cho "Việt cộng", thì chính quyền, quân đội Việt Nam Cộng hòa khó đứng vững và tồn tại. Thời W.Oetmolen còn làm Tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam, viên tướng này đã mơ tưởng đến một cuộc tiến công quy mô lớn sang đất Lào để cắt đứt đường Hồ Chí Minh, mà điểm nút là Sê Pôn. W.Oetmolen đã chỉ thị cho các cố vấn, chuyên gia trong Bộ Tư lệnh viện trơ quân sự Mỹ (MACV) soạn thảo kế hoạch sử dụng lực lượng Mỹ cấp quân đoàn mở cuộc hành quân sang Lào. Nhưng thời thế đã đổi thay, sau "cơn địa chấn" Tết Mậu Thân (1968), Oétmolen thôi giữ chức Tư lệnh MACV, Mỹ bổ chiến lược "tìm diệt", ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra, nhận đàm phán với ta. Tiếp theo, là sự thất bại nặng nề của hai cuộc hành quân hỗn hợp của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn vào vùng "Lưỡi Câu", "Mỏ Vẹt" của Campuchia, khiến cho Quốc hội Mỹ phản ứng gay gắt, hủy bỏ Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ và cấm Tổng thống Mỹ đưa quân ra nước ngoài khi không được Quốc hội cho phép. Vì vậy, Níchxơn đồng ý với "sáng kiến" của Bộ Tư lệnh Mỹ ở miền Nam do A. Bram cầm đầu là sử dụng quân tinh nhuệ Sài Gòn đánh sang Lào có Mỹ hỗ trợ, tiện thể tạo điểm nhấn, làm nổi bật vai trò của quân đội Việt Nam Cộng hòa trong thực hiện chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh". Đây là đòn thử thách sức mạnh cuối cùng của quân đội Việt Nam Cộng hòa trước khi quân Mỹ tiếp tục rút đại bộ phận lực lượng ra khỏi miền Nam Việt Nam. Thắng hay thua trong cuộc hành quân này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự tồn vong của "Học thuyết Níchxơn" và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, và tên tuổi, uy tín của Níchxơn. Cho nên cả Mỹ lẫn chính quyền Sài Gòn đều dốc sức vào cuộc hành quân này với tinh thần lạc quan: "Quân đội Việt Nam Cộng hòa sẽ chiếm Sê Pôn 4 hoặc 5 ngày sau giờ H". v.v... Ngày 3 tháng 2 năm 1971, Níchxơn quyết định phê chuẩn kế hoạch đánh sang Lào và cam kết với Thiệu sẽ dùng không quân, pháo binh yểm trợ tối đa cho quân Việt Nam Cộng hòa thực hành tấn công.


Tất cả tình hình và kế hoạch cuộc hành quân "Lam Sơn 719" trên đây, được tình báo ta báo cáo về Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đầy đủ và cụ thể về lực lượng, thời gian, quy mô cuộc hành quân. Do nắm chắc tình hình, âm mưu địch, nên trước khi địch khai triển cuộc hành quân "Lam Sơn 719", đầu tháng 12 năm 1970 Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp vào thăm Bộ đội Trường Sơn - Đoàn 559. Sau khi nghe Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên báo cáo tình hình đường sá và lực lượng Đoàn 559 Đại tướng nói: sắp đến, Mỹ và quân đội Sài gòn sẽ mở cuộc hành quân đánh sang Đường 9 - Nam Lào quy mô lớn, ý định của Bộ là sẽ đưa tiếp hai sư đoàn cơ động vào chiến trường này. Cuối tháng 12, Đại tướng Võ Nguyên Giáp lại vào Đường 9 lần thứ hai. Lần này Đại tướng giao nhiệm vụ cụ thể cho Bộ đội Trường Sơn đảm nhiệm tác chiến khu vực phía Tây. Đại tướng nói đây là thời cơ cho ta diệt địch các lực lượng ở Đoàn 559 không được bộc lộ, phải tuyệt đối giữ bí mật cho đến phút cuối, cần phải làm cho địch lầm tưởng lực lượng ta yếu để chúng đưa quân lên càng nhiều càng tốt. Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn dặn lực lượng phòng không Đường 9 mạnh, nhưng chỉ được nổ súng khi máy bay trực thăng của địch bay từ 50 chiếc trở lên. Phải cho chúng nếm đòn đau bất ngờ bay lên nhiều mà không về được. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chủ trương mở chiến dịch phản công lần này là nhằm đánh bại ý đồ của địch, buộc chúng phải vĩnh viễn chấm dứt âm mưu ngăn chặn đường vận tải chiến lược Trường Sơn của ta. Đại tướng dặn thêm: việc chuẩn bị cho bước phát triển mới làm xoay chuyển chiến lược, ta sẽ hoàn toàn chủ động cả về chiến đấu và chi viện; cần khẩn trương, quyết liệt, không được chậm trễ. Khi quân Mỹ chiếm Khe Sanh chuẩn bị bàn đạp cho quân Sài Gòn mở cuộc hành quân, ta thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào mang mật danh Bộ Tư lệnh 702. Lực lượng ta tham gia chiến dịch có 5 sư đoàn bộ binh và hàng chục trung đoàn, tiểu đoàn pháo binh, cao xạ, tăng thiết giáp, công binh, thông tin, đặc công, cùng lực lượng Bộ đội Trường Sơn, các mặt trận B4, 135 được bố trí trên các khu vực dự kiến sẽ diễn ra cuộc hành binh của địch. Khi quân Mỹ chiếm Kho Sanh làm bàn đạp yểm trợ cho quân Nam Việt Nam chuẩn bị triển khai cuộc hành quân đánh sang Lào cũng là lúc thế trận chiến dịch phản công của ta đã hình thành. Bộ đội ta đã ém sẵn ở những vị trí được lựa chọn, bí mật xây dựng trận địa, sẵn sàng hành động.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #154 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2026, 08:31:25 pm »

Phản công, trên một ý nghĩa nào đó là ở thế bị động chống đỡ cuộc tiến công của đối phương. Nhưng tại Đường 9 - Nam Lào, thì ngược lại, ta hoàn toàn chủ động chuẩn bị trước một chiến dịch phản công quy mô lớn. Xét trên bình diện chiến lược, sau năm 1968, Đảng ta đã dự đoán thế nào quân Mỹ, quân đội Sài Gòn cũng đánh sang Lào và Campuchia để cắt đứt tuyến vận tải chiến lược của ta và phá căn cứ cách mạng miền Nam trên đất bạn. Qua cuộc đảo chính Xihanúc và cuộc tiến công của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn vào vùng "Lưỡi Câu", "Mỏ Vẹt" của Campuchia những tháng đầu của năm 1970 thì trên thực tế ý đồ của địch đã lộ rõ, làm sáng tỏ thêm nhận định của Đảng ta. Bới vậy, ngay từ tháng 10 năm 1970, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thành lập Binh đoàn 70 gồm ba sư đoàn bộ binh 320, 308, 304 để sẵn sàng đối phó với tình huống địch liều lĩnh đánh sang Lào hoặc Nam Khu 4. Đó là biểu hiện cụ thể của thế chủ động về chiến lược của Đảng ta. Mặt khác, địch sử dụng lực lượng lớn quân đội Việt Nam Cộng hòa đánh sang Nam Lào trong tình hình kế hoạch "Việt Nam hóa" của địch bị quân và dân miền Nam đánh bại một bước nghiêm trọng, chương trình bình định cấp tốc, bình định đặc biệt của chúng bị phá sản; quân Mỹ đang rút khỏi Việt Nam, làm tác động mạnh đến tinh thần ý chí chiến đấu của quân đội Sài Gòn. Bây giờ một mình quân đội Sài Gòn mở cuộc hành binh đánh sang Lào, mặc dù có quân Mỹ yểm trợ bằng hỏa lực ở phía sau, nhưng chúng vẫn cảm thấy "trống lưng hở sườn" chẳng khác nào "Mỹ đem con bỏ chợ". Mất lòng tin vào quân Mỹ, nên tinh thần sĩ quan, binh lính Việt Nam Cộng hòa càng hoang mang dao động. Trong khi đó, Quân đội nhân dân Việt Nam ở thế chủ động, được trang bị mạnh, đồng bộ, bừng bừng khí thế chiến thắng, sẵn sàng xung trân, quyết tiêu diệt thật nhiều địch để làm xoay chuyển chiến lược có lợi cho cách mạng, ở cái thế "đứng trên đầu thù" thì sức mạnh một sẽ hóa thành mười, thành trăm; khi xung trận, cán bộ, chiến sĩ đủ bản lĩnh bình tĩnh, vận dụng sáng tạo các cách đánh giặc truyền thống kết hợp với hiện đại, đạt hiệu suất chiến đấu cao. Như vậy, về mặt chiến lược, Mỹ và quân đội Sài Gòn hoàn toàn bị động và ở thế yếu hơn đối phương. Kế hoạch hành binh bị lộ trước khi khai triển. Trong tác chiến chiến lược, chiến dịch, chiến đấu, yếu tố bí mật được đặt lên hàng đầu; bên nào giữ được bí mật ý định, kế hoạch, bên đó sẽ chiến thắng. Ta nắm chắc toàn bộ âm mưu, kế hoạch hành binh đánh ra Đường 9 - Nam Lào của địch ngay từ đầu, nên đã chủ động chuẩn bị và điều dịch vào phương án chọn sẵn. Về chiến dịch ta cũng hoàn toàn chủ động. Chiến trường rừng núi hạn chế các binh chủng kỹ thuật như tăng, thiết giáp, không quân, pháo binh phát huy sức mạnh chi viện cho bộ binh. Ta đã triển khai các hoạt động nghi binh chiến dịch khiến địch lầm tưởng lực lượng đối phương yếu và vì thế chúng đã đưa nhiều đơn vị binh chủng kỹ thuật vào cuộc hành quân hòng tiêu diệt nhanh gọn lực lượng ta, chiếm giữ Sê Pôn dài ngày. Thật vậy, trong cuộc nghi binh chiến dịch này, ta đã "bỏ ngỏ" khu vực Khe Sanh để quân Mỹ tiến chiếm dễ dàng không bị một cản trở nào. Viên tướng Mỹ Suthơlan cho rằng chúng đã thắng quân Bắc Việt Nam trong cuộc chạy đua vào Khe Sanh! Gặp thuận lợi đầu tiên trong bước một cuộc hành binh là điều động binh lực, triển khai lực lượng, binh khí kỹ thuật, chiếm bàn đạp phía Nam Đường 9 (từ Khe Sanh đến Lao Bảo), nên cả Bộ chỉ huy Mỹ và Việt Nam Cộng hòa thúc quân đội Sài Gòn dấn sâu vào chiến trường rừng núi Nam Lào. Chúng đã đưa vào đây 578 xe tăng, thiết giáp, 318 khẩu đại bác từ 105mm trở lên cùng ba sư đoàn bộ binh, dù, thủy quân lục chiến, một tiểu đoàn biệt động quân, điều đó có nghĩa là, toàn bộ lực lượng tinh nhuệ tổng trù bị chiến lược quân Nam Việt Nam được tung vào "canh bạc" này. Bộ chỉ huy Mỹ và Sài Gòn không ngờ rằng lúc chúng đang triển khai quân thì Bộ chỉ huy chiến dịch của ta cũng đã cài xong thế trận phản công, các đơn vị chủ lực của ta đang xây dựng trận địa chốt, chặn ở Cô Rốc, điểm cao 660, 723 phía Bắc và Đông Nam Bản Đông và khu vực Cha Ky..., sẵn sàng nổ súng. Lực lượng phòng không của ta ở mặt trận này rất mạnh đã ngụy trang kỹ, đánh lừa địch. Máy bay trinh sát, trực thăng địch bay lượn thám thính, thăm dò, nhưng ta không bắn, địch không phát hiện được gì và điều đó càng khiến chúng lầm tưởng lực lượng phòng không Đường 9 - Nam Lào của đối phương mỏng yếu. Chúng đã ném vào chiến trường này hơn 700 máy bay các loại và hai tiểu đoàn hàng không chiến đấu Mỹ 223, 158 chở quân đội Sài Gòn đổ xuống phía Nam và Bắc Đường 9 - Nam Lào. Quá trình bố trí lực lượng và tạo thế, ta giữ được bí mật mọi ý định và chặt chẽ mọi hành động. Ta đã kết hợp chặt chẽ giữa nghi binh và kế hoạch tác chiến chiến dịch, nên thế trận của ta càng kín và vững chắc. Thế trận đó cho phép đánh vào toàn bộ đội hình hành quân tiến công của địch bằng việc sử dụng lực lượng, binh chủng thích hợp, đồng thời bảo đảm cho việc tập trung lực lượng mạnh đánh những trận then chốt quyết định, những khu vực, mục tiêu trọng điểm của chiến dịch. Đó là một thế trận hiểm và kín có khả năng phá thế của địch, điều khiển địch theo ý định của mình. Thế trận của ta ở Đường 9 - Nam Lào là một thế trận hoàn chỉnh, tạo điều kiện phối hợp tác chiến giữa các binh chủng, luôn luôn chuyển hóa theo sự phát triển của chiến dịch, do đó, ta luôn nắm quyền chủ động chiến trường, chủ động trong chiến đấu. Trong tác chiến chiến lược, chiến dịch, chiến đấu, bên nào nắm quyền chủ động bên đó nắm chắc phần thắng. Nhờ nắm quyền chủ động bộ đội ta đã bình tĩnh tìm mọi cách phát huy các cách đánh của mình, buộc địch phải đánh theo cách đánh của ta và ta đã điều địch vào khu vực Bản Đông, đánh trân then chốt quyết định của chiến dịch, tiêu diệt Lữ đoàn dù 3, bắt lữ đoàn trưởng Nguyễn Văn Thọ. Đó là kết quả của việc giữ vững quyền chủ động chiến trường, chủ động chiến lược và chiến dịch của ta trong chiến tranh. Lúc quân đội Sài Gòn đánh sang Nam Lào, Hoàng thân Xihanúc, Quốc trưởng Vương quốc Campuchia đang ở thăm Hà Nội, đến chào Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông Xihanúc nói đại ý: Chắc Đại tướng đang bận chỉ đạo cuộc chiến ở Nam Lào, tôi đến thăm e chưa phải lúc. Nguyễn Văn Thiệu vừa tuyên bố trên đài, quân của chúng sẽ ở lại Sê Pôn đến tháng 9. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trả lời: Ngài không phải bận tâm, việc đó đã có các đồng chí của tôi lo rồi. Tôi bảo đảm với Ngài rằng "cùng lắm cuối tháng 3, chúng tôi sẽ đuổi hết địch khỏi Nam Lào". Quả nhiên, đúng ngày 23 tháng 3 năm 1.971, toàn bộ đội quân Sài Gòn bỏ cả xe, pháo, tháo chạy khỏi Đường 9 - Nam Lào. Sau này, Hoàng thân Xihanúc nói với nhà báo Bớc Sét: Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một nhà chiến lược thiên tài không chỉ ở thời đại chúng ta, mà ở mọi thời đại (Hồi ký của Bớc Sét). Câu chuyện trên đây càng tỏ rõ ta hoàn toàn chủ động cả về chiến lược, chiến dịch, cả về xây dựng thế trận và điều khiển địch vào phương án đã chọn. Không nắm quyền chủ động, không bố trí được thế trận tốt thì không thể biết trước kết quả thắng lợi của chiến dịch phản công như tiên đoán của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #155 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2026, 08:32:25 pm »

2. Sự chuyển hóa về thế trận, tạo cho ta sức mạnh giải quyết kịp thời và hiệu quả các tình huống đánh ngăn chặn, phản công và tiến công, truy kích địch

Sau khi thiết lập được căn cứ bàn đạp ở Khe Sanh, Đường 9, ngày 8 tháng 2, pháo binh Mỹ bắn hàng trăm quả đạn, yểm trợ cho quân Việt Nam Cộng hòa mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Địch dùng 6 trung đoàn, lữ đoàn thuộc Sư đoàn bộ binh 1 và Sư đoàn dù, chia làm 3 cánh vượt biên giới đánh sang Nam Lào. Cánh quân chủ yếu do Lữ đoàn dù 3 và hai thiết đoàn 11, 17 theo Đường 9, kết hợp với đổ quân bằng máy bay trực thăng đánh chiếm Bản Đông, làm bàn đạp đổ tiến lên Sê Pôn. Hai cánh quân khác đổ bộ bằng máy bay lên thẳng chiếm hai bên Đường 9. Lữ đoàn dù 1 và Liên đoàn biệt động quân đánh chiếm các điểm cao 500, 316, 655, 543, 456 phía Bắc Đường 9; Sư đoàn bộ binh 1 chiếm khu vực Cô Bốc, các điểm cao 619, 550, 532, 540... phía Nam Đường 9, bảo vệ hai bên sườn cho đội hình tiến công của hướng chủ yếu. Thế trận tiến công của địch như vậy là tương đối kín và chặt chẽ. Song, địch không ngờ những khu vực địch đổ quân và đánh chiếm là những trận địa chuẩn bị sẵn của bộ đội ta. Cuộc ra quân của địch ngay từ ngày đầu đã bị ta đón đánh quyết liệt: chỉ trong hai ngày 8 và 9 tháng 2, quân ta đã bắn rơi 50 máy bay trực thăng, diệt hàng trăm tên và nhiều xe tăng, xe bọc thép. Quân ta kiên quyết ngăn chặn địch ở Bản Đông và cơ động lực lượng đến đánh gãy cánh quân phía Bắc của địch, đồng thời tăng cường lực lượng cho phía Nam đánh chặn địch ở Đường 9, không cho chúng tiến xuống Sa Đi, Mường Noòng. Ngày 10 tháng 2, cánh quân trung tâm địch dù chiếm được Bản Đông nhưng bị ta bao vây chặt, không phát triển được lên Sê Pôn theo ý định. Đồng thời với việc bao vây, tiến công cụm quân địch ở Bản Đông, trong hai ngày 11 và 12, tại khu vực cầu Cha Ky, ta bắn rơi thêm 30 máy bay lên thẳng. Quân ta cắt Đường 9 đoạn phía Đông Bản Đông, tiêu diệt một tiểu đoàn dù, một đại đội công binh, phá hủy, phá hỏng 22 xe quân sự. Binh lính, sĩ quan địch hốt hoảng lo co cụm chống đỡ với các cuộc tiến công của ta. Thế trận của chúng bắt đầu rối loạn. Mặc dù trong thời gian cuộc hành quân của quân đội Sài Gòn, quân Mỹ đã bắn sang Nam Lào 210.000 quả đạn đại bác, máy bay B-52 ném 32.000 tấn bom; không quân chiến thuật Mỹ ném xuống Nam Lào 14.000 tấn bom..., nhưng chúng không ngăn được cuộc phản công và tiến công của quân ta. Thừa thắng, Binh đoàn 70 cơ động sang phía Bắc Bản Đông phối hợp với lực hại nặng Liên đoàn biệt động 1 quân, đập tan các cụm quân bảo vệ sườn phía Bắc của cánh quân chủ yếu. Ở phía Nam Bản Đông, lực lượng tại chỗ Đoàn 559 tích cực đánh tiêu hao, ngăn chặn địch, tạo điều kiện cho bộ đội cơ động đánh diệt hai tiểu đoàn, hai đại đội chủ lực quân Sài Gòn. Ở phía Tây, Sư đoàn 2 Quân khu 5 phối hợp với bộ đội Pathét Lào đánh thiệt hại nặng GM30, GM33 quân đội chính phủ phái hữu Lào ở Pha Đô Tuya, Pha Lan, mở thông đường 16B. Trong lúc ở Nam Lào, địch bị ta đánh thiệt hại, bao vây lực lượng còn lại ở Bản Đông, thì ở Đường 9 (Quảng Trị), pháo binh ta bắn phá căn cứ Khe Sanh, Sa Mưu, Đông Hà, Ái Tử, gây thiệt hại nặng cho hậu phương chiến dịch của địch. Bị bất ngờ vì chủ lực ta xuất hiện sớm, lưới lửa phòng không dày đặc, thế trận cuộc hành quân của địch bị phá vỡ hoàn toàn, khiến lực lượng địch mất thế chủ động, tinh thần chiến đấu sa sút nghiêm trọng, đội hình chiến đấu của từng đơn vị rối loạn. Trong tình thế ấy, địch tung lực lượng dự bị chiến dịch vào vòng chiến, đổ thêm hai tiểu đoàn xuống Đông Bắc Sê Pôn và chuyển cánh quân phía Nam do Sư đoàn bộ binh 1 đảm trách thành hướng chủ yếu. Địch dùng máy bay lên thẳng chở Sư đoàn 1 đổ xuống các điểm cao phía Nam Sê Pôn. Thế trận của ta từ phòng ngự đánh ngăn chặn địch nhanh chóng chuyển hóa thành thế trận tiến công và truy kích địch trên toàn tuyến chiến dịch. Chiến sự diễn ra quyết liệt suốt trong tháng 2 và đầu tháng 3. Quân ta diệt thêm 8 đại đội địch, bắn rơi 40 máy bay, phá hủy nhiều xe tăng và thiết giáp, cắt đứt đường bộ, không chế đường không, làm cho 50.000 quân Sài Gòn rơi vào cảnh khốn đốn trăm bề. Ngày 12 tháng 3, quân ta chuyển sang tiến công, đánh thiệt hại nhiều trung đoàn bộ binh địch và đột phá Bản Đông. Ngày 18 tháng 3, địch ở Bản Đông tháo chạy tán loạn. Nắm vững thời cơ, quân ta tiến công tiêu diệt Lữ đoàn 3 dù. Một bộ phận sống sót cố chạy về hướng Quảng Trị kéo theo 17 xe tăng và thiết giáp đến phía Đông A Lưới thì bị ta tiến công diệt gần hết. Sư đoàn 1 lên cách Sê Pôn khoảng 1km phải vội vã tháo lui. Từ bên kia đại dương, W.Oetmolen theo dõi cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của quân đội Sài Gòn đã nhận xét: "Quân Bắc Việt Nam bắt đầu phản công, sức ép của họ hết sức nặng nề, hỏa lực bắn máy bay của họ hết sức ác liệt đến mức trong một số trường hợp không thể tiếp tế được mà việc dùng máy bay trở thành phương tiện duy nhất còn lại. Thế rồi bắt đầu việc làm khó khăn nhất trong tất cả các hoạt động quân sự, rút lui trước cuộc tiến công mãnh liệt của địch"1 (Westmoreland, Tường trình của một quân nhân (Edition Doubleday Incorporation Garden City, New York, 1976), Nxb Trẻ ấn hành bản tiếng Việt (do Phòng Khoa học Quân khu 9 biên dịch), Thành phố Hồ Chí Minh 1988 tr. 97). Cùng với việc tiêu diệt Lữ đoàn 3 dù ở Bản Đông, quân ta tiến công tiêu diệt địch ở các điểm cao xung quanh Bản Đông và Sê Pôn, đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến ở điểm cao 500. Ngày 23 tháng 3, quân ta quét sạch dịch ở Đường 9 - Nam Lào, kết thúc thắng lợi Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, đánh thiệt hại nặng Sư đoàn dù, Sư đoàn 1 bộ binh và Sư đoàn thủy quân lục chiến quân đội Sài Gòn, bắn rơi 505 máy bay lên thẳng phá hỏng, phá hủy 528 xe tăng và bọc thép... Theo J.Pimlott trong "Việt Nam những trận đánh quyết định" thì toàn chiến dịch có 1.529 binh sĩ ngụy chết, 5.483 bị thương; phía Mỹ có 219 chết, 1.149 bị thương cùng 107 máy bay trực thăng bị phá hủy, 618 chiếc khác bị thương. Cùng với cuộc hành binh "Lam Sơn 719", Mỹ hỗ trợ cho quân ngụy miền Nam mở đồng thời hai cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" đánh sang Campuchia và cuộc hành quân "Quang Trung 4" đánh ra vùng ba biên giới ở Tây Nguyên. Cả hai cuộc hành quân này cũng cùng chung số phận thất bại với "Lam Sơn 719". Theo Kítxinhgơ thì: Cuộc tiến công mùa khô 1971 là một cái mốc đánh dấu cuộc hành quân cối cùng mà quân đội Mỹ còn tham chiến ở Đông Dương kể cả trong vai trò hỗ trợ. Cuộc tiến công vào Sê Pôn không cắt đứt được việc xây dựng hậu cần của Bắc Việt Nam, không đủ để ngăn chặn cuộc tiến công của Hà Nội năm 1972. Đây là lời thú nhận thất bại của Kítxinhgơ, người thay mặt Chính phủ Mỹ đang đàm phán với Việt Nam tại Pari.


Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" là cố gắng cao nhất cũng là cuối cùng của Mỹ và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu trong nỗ lực thực hiện kế hoạch "Việt Nam hóa" chiến tranh. Chúng đã ném vào "canh bạc" này toàn bộ lực lượng tinh nhuệ, tổng trù bị chiến lược của Nam Việt Nam cùng hàng chục vạn tấn phương tiện kỹ thuật quân sự hiện đại của Mỹ để mong chiếm được Sê Pôn, cắt đứt được tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh. Cố gắng càng cao thì thất bại càng nặng, không chỉ thất bại về quân sự, mà cả thất bại về chính trị, kinh tế. Vì vậy thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào của ta là vô cùng to lớn và toàn diện. Cùng với việc đánh bại hai cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" và "Quang Trung 4", chiến thắng Đường 9 - Nam Lào của quân và dân hai nước Việt Nam - Lào, về cơ bản đã làm thất bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và "Học thuyết Níchxơn" ở Việt Nam, Đông Dương; chiến thắng đó là mốc đánh dấu chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ từ đây sẽ bị phá sản hoàn toàn, kẻ địch không có cách gì cứu vãn được. Trên ý nghĩa đó, có thể khẳng định, chiến thắng Đường 9 - Nam Lào mang tầm vóc mà còn có ý nghĩa thắng lợi về mặt chiến lược, tạo ra tiền đề cho những thắng lợi to lớn trong năm 1972.


Nguyên nhân thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, trước hết là thắng lợi của sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng Tư lệnh trong việc quyết định mở chiến dịch phản công kịp thời và sử dụng lực lượng binh chủng hợp thành hợp lý; nắm vững quyền và thế chủ động chiến lược, chiến dịch; bố trí một thế trận sâu kín, vững chắc vừa bảo đảm thế chặn, thế kìm, thế bao vây, tiến công địch, vừa bảo đảm thế đuổi địch khi thời cơ đến. Đó là một thế trận chuyển hóa linh hoạt, phá vỡ thế trận của địch, phát triển thế trận của ta từ ngăn chặn tiến công đến truy kích địch tháo chạy, thế trận đó bảo đảm cho các đơn vị, binh chủng trên chiến trường hợp đồng chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau kịp thời trong các tình huống tác chiến. Nguyên nhân thắng lợi thứ hai vô cùng quan trọng là tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí của cán bộ, chiến sĩ các đơn vị binh chủng tham gia chiến dịch, khó khăn không nản ác liệt không sờn, kiên cường trong đánh chặn, dũng mãnh trong tiến công và truy kích địch, luôn luôn chủ động và sáng tạo giải quyết đúng, kịp thời các tình huống nảy sinh trong chiến đấu, chiến dịch. Nguyên nhân thắng lợi thứ ba là sức mạnh của chiến tranh nhân dân, miền Bắc cung cấp kịp thời, đầy đủ nhân tài, vật lực cho chiến dịch bảo đảm cho bộ đội ăn no đánh thắng, động viên, khích lệ bộ đội kịp thời, nhân dân địa bàn chiến dịch trực tiếp đưa đón dẫn đường cho bộ đội, giữ bí mật chiến dịch và cùng chiến đấu với bộ đội. Tất cả những nguyên nhân trên tạo thành sức mạnh tổng hợp chiến thắng quân thù trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào lịch sử.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #156 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2026, 08:44:39 pm »

CUỘC HÀNH QUÂN "LAM SƠN 719" - SỰ THẤT BẠI
 CỦA "HỌC THUYẾT NÍCHXƠN" Ở LÀO VÀ ĐÔNG DƯƠNG

Đại tá VIÊNGSAY SỔMVICHÍT
Phó Cục trưởng Cục Khoa học - Lịch Sử quân sự -
Bộ Quốc phòng Lào


Mùa khô 1970-1971, nhằm đập tan kế hoạch của đế quốc Mỹ và tay sai trong chiến lược "Chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" ở miền Nam Việt Nam, dưới sự chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Lào, thực hiện phương châm chỉ đạo tác chiến trên hai chiến trường Lào - Việt Nam của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam thống nhất với Bộ Tổng Tham mưu Quân giải phóng nhân dân Lào1 (Nay là Quân đội nhân dân Lào), quân đội và nhân dân hai nước chúng ta đã tăng cường đoàn kết, liên minh chiến đấu đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" trên địa bàn chiến lược Đường 9 - Nam Lào, một trong những cuộc hành quân chiến lược quy mô lớn, điển hình theo "Học thuyết Níchxơn" trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của đế quốc Mỹ.


Cuộc hành quân "Lam Sơn 719", là một trong những cuộc hành quân lớn nhất, khốc liệt nhất của đế quốc Mỹ mà trước đó chúng chưa hề tiến hành trên chiến trường nước nào trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương.

Sau những thất bại nặng nổ, liên tiếp trên các mặt trận, trên chiến trường các nước Đông Dương trong những năm 1968-1969, đế quốc Mỹ và tay sai đang lâm vào tình thế bất lợi mà không có lôi thoát. Vì vậy, đô thoát khỏi tình thế bất lợi, thất bại nặng nề, chúng buộc phải tiến hành cuộc hành quân "Lam Sơn 719" nhăm xoay chuyên cục diện, hình thái chiến tranh trên chiến trường ba nước Đông Dương. Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và tay sai nhằm theo đuổi mục đích, cô lập phong trào cách mạng ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia nói chung; chia cắt, cô lập cách mạng Lào trên hai miền Bắc Lào và Nam Lào nói riêng... Đế quốc Mỹ và tay sai mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" với quy mô lớn nhất, với trọng điểm đánh vào khu vực vĩ tuyến 17° Bắc, theo con Đường 9 chạy ngang tỉnh Xa Van Na Khẹt trên địa bàn chiến lược miền Trung nước Lào. Đây là bước phiêu lưu mạo hiểm về quân sự của đế quốc Mỹ và tay sai trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Đế quốc Mỹ đã huy động vào cuộc hành quân một binh lực khổng lồ, gồm cố vấn quân sự Mỹ và quân ngụy Sài Gòn (kể cả quân ngụy đang tham chiến ở miền Trung Việt Nam), đưa tổng quân số lên đến hơn 45.000 tên, kết hợp với lực lượng quân ngụy Lào có 2 GM (Binh đoàn cơ động), quân đặc biệt Vàng Pao, lính đánh thuê Thái Lan; hơn 2.000 máy bay các loại, 800 xe tăng và xe bọc thép các loại, hơn 320 khẩu pháo... Đế quốc Mỹ và tay sai đã tiến hành cuộc hành quân "Lam Sơn 719" trong thời gian hơn 50 ngày đêm, nhưng chúng đã bị Quân đội nhân dân Việt Nam, Quân đội nhân dân Lao và nhân dân hai nước đánh cho thất bại thảm hại. Kết cục đế quốc Mỹ và tay sai đã không đạt được mục đích của cuộc hành quân, không làm xoay chuyển được cục diện, hình thái chiến tranh, không giải thoát được tình thế bất lợi và những thất bại nặng nề trên các chiến trường ba nước Đông Dương.


Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, chiến trường Lào có vị trí quan trọng trên bán đảo Đông Dương. Đặc biệt trong đó, địa bàn Nam Lào nổi lên là một chiến trường nối liền với chiến trường Nam Trung Bộ Việt Nam và chiến trường Đông Bắc Campuchia, là một địa bàn tranh chấp giành giật quyết liệt giữa ta và địch.


Chính vì thế, trong các bước leo thang chiến tranh xâm lược, đế quốc Mỹ và tay sai luôn tìm mọi phương sách để chiếm đóng và giữ thế chủ động chiến trường trên mọi miền của đất nước Lào. Liên tiếp trong các mùa khô ở Lào từ năm 1968 đến năm 1971, mặc dù đế quốc Mỹ và tay sai đã và đang ở thế yếu, bị động, thất bại, nhưng chúng vẫn rất ngoan cố, vẫn tăng cường leo thang chiến tranh xâm lược chủ yếu bằng hành động quân sự. Đế quốc Mỹ và tay sai ra sức củng cố, phát triển binh lực, tổ chức chiến trường mang tính chất phòng ngự cố thủ, đề phòng bị tiến công. Mặt khác, chúng vẫn sử dụng lực lượng quy mô lớn mở các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của Mặt trận Lào yêu nước (Neo Lào Hắcxạt), càn quét, đàn áp nhân dân các bộ tộc các vùng sâu, vùng xa rất tàn khốc.


Thực hiện liên minh chiến đấu, Quân giải phóng nhân dân Lào cùng với các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam và nhân dân các bộ tộc Lào trên mọi miền đất nước đã thắt chặt tình đoàn kết, phối hợp chiến đấu anh dũng, đánh bại các âm mưu thủ đoạn, kế hoạch, chiến lược chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai, góp phần từng bước làm phá sản "Học thuyết Níchxơn" ở Lào và ở Đông Dương, góp phần xứng đáng vào cuộc đấu tranh vì hòa bình ổn định trên bán đảo Đông Dương và trên thế giới. Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, liên minh chiến đấu giữa Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào ngày càng tăng cường bền chặt và trở thành một trong những nhân tố quan trọng đem lại những thắng lợi to lớn của cách mạng hai nước nói chung, của cách mạng Lào nói riêng.


Những thắng lợi quân sự của quân và dân Lào cùng với quân và dân Việt Nam anh em giành được trong các mùa khô từ năm 1968 đến năm 1971 qua các chiến dịch, đợt hoạt động quân sự tiêu biểu trên các chiến trường, mặt trận và các địa phương khắp cả nước có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng. Đó là, các đợt hoạt động quân sự ở Nam Lào (cuối năm 1968 đầu năm 1969); Chiến dịch 139 ở địa bàn Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (đầu năm 1970); cuộc tiến công lực lượng "đặc biệt" tại A Tô Pơ (4-1970), tại Xa Ra Van (6-1970); đợt hoạt động quân sự giải phóng cao nguyên Bô Lô Ven lần thứ hai (cuối năm 1970 đầu năm 1971); Chiến dịch phản công "Đường 9 - Nam Lào" đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và tay sai (nửa cuối mùa khô 1970-1971)... Những thắng lợi trên các chiến trường tại miền Nam Lào đã góp phần tạo điều kiện cho chúng ta mở đợt tiến công địch, giải phóng thị trấn Không Sê Đôn (Xa Ra Van). Những thắng lợi quân sự to lớn đó đã góp phần quan trọng làm cho "Học thuyết Níchxơn" ngay từ đầu đã đứng trước nguy cơ phá sản.


Thắng lợi to lớn trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, giải phóng nhân dân của quân và dân các tính Nam Lào trong những năm 1968-1971 đã góp phần tạo nên bước phát triển nhảy vọt của cách mạng Lào, đã góp phần tăng cường hơn nữa tình đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương cùng chống kẻ thù chung. Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương (4-1970) một lần nữa khẳng định tình đoàn kết chiến đấu kiên cường bền bỉ của nhân dân ba nước Lào, Việt Nam và Campuchia quyết tâm đánh bại chính sách "dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương" của đế quốc Mỹ. Nhân dân ba nước Đông Dương thống nhất trong mặt trận chung, thắt chặt hơn bao giờ hết tinh đoàn kết trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược và các bè lũ tay sai bán nước. Nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, nhân dân tiến bộ Mỹ ủng hộ mạnh mẽ nhân dân ba nước Đông Dương chống đế quốc Mỹ xâm lược. Nước Mỹ bị chia rẽ sâu sắc bởi cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Đông đảo các tầng lớp nhân dân Mỹ xuống đường dấy lên phong trào phản đối chiến tranh. Giới cầm quyền Mỹ mâu thuẫn, bộc lộ chính kiến khác nhau về cuộc chiến tranh Đông Dương.


Đế quốc Mỹ đang sa lầy trong cuộc chiến tranh xâm lược ba nước Đông Dương, nhưng chúng vẫn ngoan cố tìm kiếm chiến thắng để làm xoay chuyển cục diện cuộc chiến. Năm 1972, đế quốc Mỹ và tay sai tiếp tục huy động lực lượng lớn bao gồm nhiều thành phần các quân binh chủng lục quân, không quân, hải quân, pháo binh... mở các chiến dịch quy mô lớn trên chiến trường hai nước Lào và Việt Nam. Nhưng mọi nỗ lực bằng hành động quân sự của đế quốc Mỹ và tay sai đều bị quân và dân hai nước Việt Nam và Lào đánh bại.


Chiến thắng của quân và dân hai nước Lào - Việt Nam trên chiến trường Lào trong những năm 1968-1971 mang ý nghĩa to lớn. Đó là thắng lợi của nghệ thuật chỉ đạo của hai Trung ương Đảng, của Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ chỉ huy tối cao hai quân đội Việt Nam - Lào, là thắng lợi của tình đoàn kết, liên minh chiến đấu đặc biệt giữa quân và dân hai nước trong cuộc chiến đấu chống chiến lược "chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào, chống chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", chống "Học thuyết Níchxơn" ở Đông Dương của đế quốc Mỹ.


Đặc biệt, sự thất bại của cuộc hành quân "Lam Sơn 719" tại Trung - Nam Lào năm 1971 cũng đồng nghĩa với sự thất bại của "Học thuyết Níchxơn", một học thuyết từng được đế quốc Mỹ cho rằng: "Không ai có thể phá vỡ được", đồng nghĩa với bước phá sản đầu tiên của học thuyết đó ở Lào và ở Đông Dương.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #157 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2026, 08:47:19 pm »

CUỘC HÀNH QUÂN "LAM SƠN 719" - MỘT THẤT BẠI QUAN TRỌNG CỦA MỸ TRONG CHIẾN LƯỢC "VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH"

PGS, NGND LÊ MẬU HÃN
Đại học quốc gia Hà Nội
Trung úy, ThS TRẦN HỮU HUY
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Trong lịch sử chiến tranh xâm lược Đông Dương (1954-1975), cuộc hành quân "Lam Sơn 719" năm 1971 đánh vào khu vực Đường 9 - Nam Lào là một trong những cuộc hành quân "mang nhiều tham vọng nhất" của Mỹ - quân đội Sài Gòn với hai mục đích cơ bản là cắt đứt tuyến chi viện chiến lược của đối phương (đường Trường Sơn) và thử nghiệm công thức điển hình của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" (quân đội Sài Gòn + cố vấn Mỹ + hỏa lực và hậu cần Mỹ), qua đó, giành thắng lợi có tính bước ngoặt1 (Trong hồi ký của mình, Tổng thống Mỹ R.Níchxơn (Richard Nixon) cho biết: "Ngày 18 tháng giêng, trong một cuộc họp có Lai, Rôgơ, Hem, Kítxinhgơ và Đô đốc Thomát Mo, Tham mưu trưởng liên binh chủng, tôi cho phép nghiên cứu một cuộc hành quân ưu tiên để cắt đường mòn Hồ Chí Minh để đánh kẻ thù trên đất Lào. Vì công luận ở Mỹ và vì Nam Việt Nam muốn chứng minh sự thành công của công cuộc Việt Nam hóa, chúng tôi quyết định cuộc hành quân này sẽ là công việc của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Hoa Kỳ chỉ đảm bảo không phận và pháo binh trợ chiến. Trách nhiệm chính của Mỹ sẽ vận chuyển người và vũ khí bằng trực thăng, trợ chiến bằng pháo binh và máy bay ném bom B-52. Tên của chiến dịch bằng tiếng Việt: Lam Sơn 719". Xem Hồi ký Richard Nixon, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 600). Tuy nhiên, mục tiêu cơ bản đề ra đã không thực hiện được, trái lại, đối phương lại mở cuộc phản công quy mô lớn giáng cho Mỹ - quân đội Sài Gòn những đòn nặng nề, đưa chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Níchxơn đến thất bại to lớn.


Thứ nhất, sự phá sản công thức điển hình của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh".

Đầu năm 1969, khi bước vào Nhà Trắng, Níchxơn đề ra học thuyết mới mang tên mình - "Học thuyết Níchxơn"1 (Học thuyết chỉ đạo chính sách của Mỹ trong những năm 70, được Níchxơn công bố tại Guam (25-7-1969) và trước Quốc hội Mỹ (18-2-1970), thay cho chiến lược "phản ứng linh hoạt" không còn phù hợp. Nội dung chính: lấy việc tăng cường sức mạnh, nhất là "sức mạnh quan sự làm chỗ dựa cơ bản" trên cơ sở đồng minh "cùng chia sẽ trách nhiệm" làm chỗ dựa trung tâm, đồng thời sử dụng thương lượng làm biện pháp chiến lược quan trọng để giải quyết các vấn đề quốc tế nhằm thay đổi tương quan lực lượng, ngăn chặn Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, ngăn chặn, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc. Xem thêm Bộ Quốc phòng - Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Num, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.487), lấy Đông Dương làm nơi thí điểm cho học thuyết mới, đề ra chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", "Lào hóa chiến tranh", "Khơme hóa chiến tranh", trong đó trọng tâm là chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh".


Níchxơn lên làm Tổng thống Mỹ trong điều kiện quân viễn chinh Mỹ và quân một số nước đồng minh của Mỹ phải rút dần về nước. Do đó, để tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh xâm lược, Níchxơn buộc phải lấy quân đội Sài Gòn làm nòng cốt, vẫn duy trì sự hỗ trợ của hỏa lực và hậu cần Mỹ. "Việt Nam hóa chiến tranh" thực chất là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của Mỹ được tiến hành bằng quân đội tay sai là chủ yếu, có sự phối hợp của một bộ phận đáng kể lực lượng chiến đấu Mỹ, vẫn do Mỹ chỉ huy thông qua hệ thống cố vấn quân sự, cung cấp tiền bạc, vũ khí kỹ thuật, phương tiện chiến tranh nhằm chống lại các lực lượng cách mạng và nhân dân miền Nam. Công thức điển hình để giành chiến thắng trong chiến lược này của Níchxơn là: quân đội Sài Gòn + cố vấn Mỹ + hỏa lực và hậu cần Mỹ1 (Trong hồi ký, Níchxơn đã giải thích thêm cho chiến lược mới của mình: "Trong quá khứ, chính sách của chúng tôi là cung cấp vũ khí và vật chất để giúp đỡ các nước tự bảo vệ, chống lại mọi sự tấn công. Việc này đã được chúng tôi thực hiện ở Triều Tiên và bây giờ là Việt Nam. Nhưng từ nay, tôi nói, chúng tôi chỉ cung cấp vật chất và giúp đỡ kinh tế, quân sự, còn các nước phải tự chịu trách nhiệm tự cung tự cấp người để tự bảo vệ mình. Chỉ có một loại trừ; đó là trường hợp một lực lượng hạt nhân mạnh đánh một nước đồng minh hay một nước bạn bè nào đó của chúng tôi, chúng tôi sẽ dùng vũ khí hạt nhân". Xem Hồi ký Richard Nixon, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 469).


Trong hai năm 1969-1970, để triển khai chiến lược mới, Mỹ tăng cường bắt lính đẩy mạnh xây dựng lực lượng quân đội Sài Gòn cả về số lượng và trang bị, tiến hành các cuộc hành quân bình định, lấn chiếm và đạt được một số kết quả nhất định, đẩy cách mạng miền Nam vào tình trạng rất khó khăn2 (Phản ánh sự khó khăn của cách mạng miền Nam từ giữa năm 1968 đến đầu năm 1970, Đại tướng Văn Tiến Dũng cho biết: cách mạng bị mất đất, mất dân, thế và lực tiến công suy giảm. Đây là một trong hai thời kỳ khó khăn nhất, tổn thất lớn nhất (cùng với giai đoạn 1954-1958). Địch đã đóng thêm 4.270 đồn bốt trên toàn miền Nam, chiếm lại phần lớn vùng nông thôn rộng lớn, kể cả vùng cách mạng mới giải phóng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dạy Tết Mậu Thân 1968... Số lượng thương vong riêng ở Nam Bộ trong hai năm 1968-1969 đã lớn gấp 2 lần số thương vong trong 7 năm trước đó (1961-1967). Hầu hết các đơn vị chủ lực của ta hoặc phải kéo ra miền Bắc để củng cố hoặc chuyển sang bên kia biên giới, một vài đơn vị giải thể. Đại tướng Văn Tiến Dũng, Về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân. Hà Nội, 2005, tr.270). Tuy nhiên, trong các cuộc hành quân lớn, quân Mỹ vẫn tham gia trực tiếp cùng quân đội Sài Gòn và đóng một vai trò quan trọng. Đến đầu năm 1971, do sự phản đối dữ dội từ dư luận trong nước, từ Quốc hội3 (Quốc hội Mỹ đã thông qua Đạo luật bổ sung Cupơ Sớtsơ hạn chế hoạt động của quân viễn chinh Mỹ tại chiến trường Đông Dương, trong đó cấm đưa lục quân Mỹ hoạt động ngoài biên giới Nam Việt Nam), Níchxơn buộc phải đẩy nhanh tiến độ bàn giao nhiệm vụ chính cho quân đội Sài Gòn trong các cuộc hành quân ngoài biên giới Nam Việt Nam. Cả Mỹ và chính quyền Sài Gòn đều chủ quan cho rằng quân lực Việt Nam Cộng hòa đã đủ sức đương đầu với chủ lực của đối phương (cả Quân giải phóng miền Nam Việt Nam và chủ lực Bắc Việt Nam)1 (Vào thời điểm cuối năm 1970, quân đội Sài Gòn đã đạt 700.000 quân. Các quân binh chủng được Mỹ trang bị vũ khí, kỹ thuật hiện đại. Quân chủng Không quân thành lập thêm một sư đoàn không quân, được trang bị máy bay F5, C119, C130 và 1.500 máy bay trực thăng các loại. Hải quân được trang bị 1.600 tàu chiến và tuần dương hạm DE. Mỹ cũng chuyến giao cho chủ lực quân đội Sài Gòn 700.000 súng M16 (loại súng trường cực nhanh và hiện đại nhất của quân Mỹ lúc đó), 30.000 súng phóng lựu, 10.000 súng máy. Về thiết giáp Mỹ đưa sang Nam Việt Nam thêm 200 xe tăng M41, M48, 1.000 xe bọc thép nâng tổng số xe tăng, xe thiết giáp quân đội Sài Gòn lên 1.897 chiếc. Về pháo binh, quân đội Sài Gòn lập thêm 20 tiểu đoàn pháo, trang bị thêm 600 đại bác từ 105mm đến 175mm, đưa tổng số đại bác lên 1.300 khẩu và 10.000 súng cối các loại. Ngoài ra, Mỹ còn trang bị thêm 20.000 máy thông tin, 24.000 xe vận tải phục vụ tác chiến. Số liệu dẫn theo Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) - Tập 6 - Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.39-40). Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu khẳng định: trong điều kiện hỗ trợ to lớn của cố vấn, hỏa lực và hậu cần Mỹ, quân lực Việt Nam Cộng hòa sẵn sàng gánh vác trọng trách do quân viễn chinh Mỹ để lại. Để thí điểm sự thành công công thức chiến thắng của chiến lược mới, Mỹ - chính quyền Sài Gòn quyết định mở ba cuộc hành quân lớn đánh vào tuyến vận tải chiến lược của đối phương ở bên kia biên giới Việt Nam - Lào: cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào; cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" với quy mô trên 30 tiểu đoàn từ Tây Ninh và Lộc Ninh đánh lên vùng Kông Pông Chàm và Kra Chiê (Đông Bắc Campuchia); cuộc hành quân với quy mô khoảng 1 sư đoàn đánh ra vùng ngã ba biên giới (vùng Tạt Xẻng, Pa Kha, Sô Sụ) thuộc A Tô Pơ, Nam Lào. Trong ba cuộc hành quân trên, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Nam Lào có quy mô lớn nhất. Mỹ - chính quyền Sài Gòn đã tung vào cuộc hành quân này những đơn vị thiện chiến thuộc lực lượng dự bị chiến lược (Sư đoàn dù, Sư đoàn thủy quân lục chiến) và chủ lực cơ động của Quân khu 1 - Vùng 1 chiến thuật, bao gồm 42.000 quân, trong đó có 33.000 quân Sài Gòn, 9.000 quân viễn chinh Mỹ. Về hỏa lực, địch huy động tới 464 xe tăng, xe bọc thép, 16 tiểu đoàn pháo với 250 khẩu1 (Lúc cao nhất (10-3-1971), Mỹ - chính quyền Sài Gòn đã huy động đến 55.000 quân gồm 15 trung đoàn bộ binh 3 thiết đoàn thiết giáp với 587 xe các loại, 21 tiểu đoàn pháo binh với 318 khẩu các loại. Dẫn theo Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Tập 6 - Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 250)... Quân viễn chinh Mỹ đảm bảo hậu cần, cơ động và hỏa lực hỗ trợ phía sau2 (Nhà sử học Mỹ Giôdép A. Amtơ cho rằng: Quân đội Sài Gòn không thể thực hiện được thắng lợi chiến lược Việt Nam chiến tranh, bởi họ không thể chiến đấu mà không có sự yểm trợ mạnh mẽ của Mỹ. Và đó là một sự phụ thuộc nặng nề không thể thay thế. Ngay cuộc hành quân "Lam Sơn 719" được xem là cuộc hành quân điển hình của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" cũng cho thấy rõ điều đó. Ông khẳng định: "Một lần nữa, như trong trường hợp của Campuchia, sự yểm trợ bằng không quân này là cần thiết bởi vì không có nó, nghĩa là không có máy bay Mỹ ném bom, bắn phá, chở quân Việt Nam Cộng hòa, chở pháo hạng nặng, chở quân nhu và thực phẩm, thì cuộc hành quân không thể tiến một bước qua biên giới". Xem Giôdep A. Amtơ, Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr. 322). Cuộc hành quân còn được sự tham gia phối hợp của quân đội phái hữu Lào (9 tiểu đoàn của hai binh đoàn cơ động GM 30 và GM 33) ở phía Tây Đường 9, dự tính sẽ cùng với quân đội Sài Gòn "mừng công" ở Pha Lan, Mường Phìn. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ M.R.Lai đã cho rằng: "Một cuộc hành quân tiến công lớn đầu tiên của quân đội Nam Việt Nam mà không hề có bất kỳ sự hỗ trợ nào trên bộ của Mỹ sẽ là một bằng chứng rõ ràng về thắng lợi của Việt Nam hóa"1 (Dẫn theo Henry Kissinger, Những năm ở Nhà Trắng (1968-1973) Trung tâm thông tin khoa học quân sự - Bộ Quốc phòng sao lục, 1981 Ký hiệu kho VI-485, tr.213). Như vậy, trong toan tính của Mỹ - chính quyền Sài Gòn, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" là cuộc hành quân điển hình theo công thức Việt Nam hóa và Đông Dương hóa chiến tranh. Khu vực Đường 9 - Nam Lào sẽ là nơi chứng minh rõ rệt cho công thức chiến thắng ấy của Mỹ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #158 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2026, 08:48:15 pm »

Thực tế diễn biến của cuộc hành quân "Lam Sơn 719" lại đi ngược lại những kỳ vọng của cả Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Từ ngày 30 đến ngày 7 tháng 2 năm 1971, quân đội Sài Gòn được sự giúp đỡ, hỗ trợ đắc lực của quân Mỹ đã dần tập kết, chuyển quân lên Quân khu 1 - Vùng 1 chiến thuật, chiếm lĩnh nhiều căn cứ làm bàn đạp xuất phát (Đông Hà, Ái Tử, Khe Sanh, Lao Bảo...). Từ ngày 8 tháng 2 năm 1971, dưới sự chi viện hỏa lực dữ dội, quân đội Sài Gòn bắt đầu mở cuộc tiến công vào khu vực Đường 9 - Nam Lào ở bên kia biên giới. Tuy nhiên, cuộc hành quân vấp phải sự chống trả quyết liệt của đối phương. Các cánh quân trên các hướng tiến công lần lượt bị chặn lại. Từ ngày 8 tháng 3 năm 1971, quân đội Sài Gòn lâm dần vào bị động, lúng túng do đối phương mở cuộc phản công bao vây, cắt nguồn hậu cần tiếp tế. Từ ngày 13 tháng 3 năm 1971, đối phương mở cuộc tiến công trên toàn tuyến. Quân đội Sài Gòn ở khu vực Đường 9 - Nam Lào rơi vào trạng thái hỗn loạn, hoảng loạn bỏ các vị trí then chốt tháo chạy, được các sử gia phương Tây gọi là "cuộc hỗn loạn Lam Sơn 719". Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" bị thất bại nặng nề. Quân đội Sài Gòn bị tổn thất 21.102 lính, trong đó có 19.960 bị giết và bị thương, 556 máy bay bị bắn rơi và phá hủy, hàng ngàn xe cơ giới các loại, hàng trăm khẩu pháo và súng cối hạng nặng cùng nhiều phương tiện chiến tranh khác bị phá hủy và thu giữ1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phản công Dương sô 9 - Nam Lào năm 1971, Hà Nội, 1987, tr.61-62. Về phía ta bộ đội ta cũng chịu những hy sinh và tổn thất lớn: 2.163 cán bộ, chiến sĩ hy sinh 6.176 người bị thương trong chiến đấu. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Tập 6 - Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 276).


Như vậy, Mỹ đã thất bại trong âm mưu sử dụng lực lượng quân đội Sài Gòn như một lực lượng xung kích, nòng cốt, gánh vác vai trò, nhiệm vụ chiến đấu thay cho quân viễn chinh Mỹ đang rút dần về nước. Hay nói một cách khác, Mỹ đã thất bại trong việc xây dựng công thức chiến thắng cho chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Ngay cả một người luôn tự tin vào thắng lợi của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" như H. Kítxinhgơ cũng phải đặt câu hỏi nghi ngờ: "Về phần Nam Việt Nam, cuộc hành quân ở Lào đã để lộ rất nhiều chỗ yếu kéo dài của họ. Việc vạch kế hoạch của họ trở nên trừu tượng. Họ rập khuôn một cách hình thức điều được dạy ở các trường chỉ huy và tổng tham mưu của chúng ta, mà không vận dụng với những điều kiện của địa phương. Trái lại, tôi đã đi đến nghi ngờ rằng liệu Nam Việt Nam có thực sự hiểu cái mà chúng ta đang cố gắng giành lấy không?"2 (Henry Kissinger, Những năm ở Nhà nắng (1968-1973), Trung tâm thông tin khoa học quân sự - Bộ Quốc phòng sao lục, 1981. Kí hiệu kho VL-485, tr.241-242. Sau này, so sánh cuộc hành quân vào Campuchia năm 1970 và cuộc hành quân "Lam Sơn 719" vào khu vực Đường 9 - Nam Lào, tài liệu tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ thừa nhận: "Những tổn hại về chính trị của cuộc hành quân muộn màng vào Campuchia và Lào, cuộc tiến công bất ngờ vào Campuchia trì hoàn được ít nhiều thời gian, nhưng cuộc hành quân "Lam Sơn 719" thể hiện sự kém cỏi trong cả việc vạch kế hoạch và thực hiện. Cuộc hành quân này phơi bày rõ ràng những điểm yếu nghiêm trọng của các lực lượng vũ trang Việt Nam Cộng hòa, những hành động chiến lược đó đã làm tăng sức ép của công chúng và sự kiềm chế của Quốc hội đối với chính quyền". Tóm tắt Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ, Tập 6 (Tiến hành chiến tranh), Viện Lịch sử quân sự Việt Nam dịch, 1982, tr. 9). Thất bại của quân đội Sài Gòn trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719" không chỉ là nỗi ám ảnh to lớn đối với chính bản thân họ mà còn là nỗi ám ảnh thực sự đối với cả những người đang "giúp đỡ" họ, đúng như nhà sử học Mỹ Giôdép A. Amtơ đã viết: "Mặc dù có sự yểm trợ mạnh của không quân Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã thất bại thảm hại. Cuộc xâm chiếm là một thất bại và cuộc rút lui của quân đội Việt Nam Cộng hòa là một cuộc tháo chạy... Điều nhục nhã này đã được hàng triệu người Mỹ xem trên màn ảnh truyền hình. Dù với sự yểm trợ ào ạt của không quân và sự chỉ huy của Lầu Năm Góc, đội quân đó đã thất bại thảm hại"1 (Giôdép A. Amtơ, Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr. 323-324).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #159 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2026, 08:49:44 pm »

Thứ hai, Mỹ đã thất bại trong nỗ lực lớn nhất nhằm ngăn chặn tuyến chi viện chiến lược của đối phương.

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ đã tìm mọi cách để ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam và cho rằng việc ngăn chặn thành công sự chi viện đó có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của cuộc chiến. Tuyến đường vận tải chiến lược Trường Sơn trở thành một trong những mục tiêu đánh phá dữ dội nhất trong lịch sử chiến tranh2 (Trong 16 năm (1959-1975), Mỹ đã thực hiện hơn 150.000 trận đánh phá bằng không quân, ném xuống tuyến đường Trường Sơn hơn 4 triệu tấn bom đạn, tiến hành hàng ngàn cuộc hành quân đánh phá bằng bộ binh. Dẫn theo Lịch sử Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh, Nxb Quan đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 658-659).


Đề ra chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", Níchxơn cũng đưa mục tiêu phải ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam là ưu tiên hàng đầu. Để thực hiện âm mưu để ra, bất chấp sự phản đối của dư luận trong nước và quốc tế, từ tháng 3 năm 1969, Níchxơn đã cho phép không quân Mỹ tiến hành các hoạt động ném bom ác liệt vào lãnh thổ Campuchia ở khu vực gần biên giới Việt Nam. Tháng 3 năm 1970, Mỹ chỉ đạo các thế lực tay sai tiến hành đảo chính, xóa bỏ nền trung lập, đưa Campuchia vào quỹ đạo cuộc chiến tranh xâm lược ở Đông Dương. Ngày 30 tháng 4 năm 1970, Mỹ huy động 10 vạn quân Mỹ và quân đội Sài Gòn mở cuộc tiến công vượt biên giới vào lãnh thổ Campuchia. Tất cả những hành động đó của Mỹ đều nhằm một mục tiêu cơ bản là đánh phá cơ sở hậu cần, cắt đứt sự chi viện từ bên ngoài vào miền Nam qua lãnh thổ Campuchia (cảng Xihanúcvin và tuyến đường Trường Sơn).


Tuy đã đạt được một số kết quả nhất định, nhưng tuyến chi viện chiến lược của đối phương vẫn chưa bị ngăn chặn hoàn toàn. Theo Níchxơn: "Khi chúng tôi chặn được con đường này (qua lãnh thổ Campuchia - tác giả), tất cả những thứ đó (hàng chi viện - tác giả) đều đi qua Lào bằng đường mòn Hồ Chí Minh. Giữa tháng chạp năm 1970, nước Lào bị tràn ngập người và vũ khí mà phần lớn sẽ được chuyến qua Campuchia để chuẩn bị cho cuộc tiến công đầu Xuân 1971"1 (Hồi ký Richard Nixon, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 600). Do đó, đầu năm 1971, Mỹ quyết định mở ba cuộc hành quân lớn nhằm chặn cắt hoàn toàn đường Trường Sơn.


Vấn để đặt ra chọn vị trí khu vực nào làm trọng điểm tiến công? Vào cuối năm 1970, Nhà Trắng cử Tướng A.Haig và một nhóm nhân viên Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ sang Nam Việt Nam nghiên cứu kế hoạch đó. Theo hồi ký Kítxinhgơ: "Haig trở về với bản báo cáo là Bâncơ, Abram và Thiệu nghĩ rằng một cuộc tiến công mùa khô là cấp bách. Tuy nhiên, họ đề đạt một ý kiến còn táo bạo hơn nhiều ý kiến của tôi. Họ đề nghị xử lý với việc xây dựng hậu cần của địch bằng một cuộc đột kích ác liệt thông qua việc cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh ở Lào gần khu phi quân sự"1 (Henry Kissinger. Những năm ở Nhà Trắng (1968-1973), Trung tâm thông tin khoa học quân sự - Bộ Quốc phòng sao lục, 1981. Ký hiệu kho VL- 185. tr. 208-209). Và khu vực Đường 9 - Nam Lào đã được chọn để mở cuộc hành quân quy mô lớn nhất. Tướng Abram - Tư lệnh Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam (MACV) khẳng định tầm quan trọng của cuộc hành quân lớn này về Oasinhtơn: "nếu cộng sản không còn đường mòn Hồ Chí Minh, hoặc bị gián đoạn chỉ trong một mùa khô thôi, khả năng mở các cuộc tiến công lớn của Hà Nội ở miền Nam (và Campuchia) sẽ giảm đi một cách đáng kể nếu không phải là bị loại trừ trong một tương lai vô hạn định"2 (Henry Kissinger. Những năm ở Nhà Trắng (1968-1973), Trung tâm thông tin khoa học quân sự - Bộ Quốc phòng sao lục, 1981. Ký hiệu kho VL- 185. tr. 208-209).


Việc chọn khu vực Đường 9 - Nam Lào thực sự còn là một quyết định táo bạo của Mỹ. Bởi ngay trong thời kỳ tiến hành chiến lược "chiến tranh cục bộ" (1965-1968), khi quân viễn chinh Mỹ và quân một số nước đồng minh của Mỹ có mặt ở Nam Việt Nam hơn nửa triệu quân, chưa kể lực lượng hải, lục, không quân ở các căn cứ Đông Nam Á cộng với hơn nửa triệu chủ lực quân đội Sài Gòn tướng Oétmolen, Tư lệnh Bộ chỉ huy viện trợ Mỹ ở miền Nam Việt Nam (MACV) lúc đó cũng không mở cuộc hành quân bộ binh quy mô lớn nhằm chặn cắt tuyến đường Trường Sơn của đối phương. Tại khu vực Đường 9 (đặc biệt là Khe Sanh), Oétmolen cũng chỉ xây dựng một hệ thống phòng thủ và việc mở cuộc hành quân bộ binh lớn cũng chỉ nằm trong dự kiến1 (Trong hồi ký của mình, Tướng Oétmolen viết: "Ngoài việc được dùng làm căn cứ tuần tiễu bình thường nhằm ngăn chặn sự thâm nhập của địch từ Lào sang theo Đường 9, Khe Sanh còn là một căn cứ cho nhiều hoạt động của SOG ở Lào và sân bay của nó là nơi cất cánh của các máy bay trinh sát Tiger Hound. Ngoài ra, tôi vẫn hy vọng đến một ngày nào đó được phép mở cuộc tấn công lớn vào Lào để cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh, trong trường hợp đó tôi sẽ cần đến Khe   Sanh làm căn cứ mở cuộc hành quân". General William C. Westmoreland: A soldier reports, Doubleday and Company Inc Garden City. Nưw York, 1976, page. 198).


Tuy nhiên, cuộc hành quân này không những không chặn cắt được đường Trường Sơn mà trái lại, sau cuộc hành quân này, tuyến đường chiến lược lại được củng cố thêm một bước vững chắc, tiếp tục vận chuyển hàng hóa chi viện cho chiến trường miền Nam. Những diễn biến tình hình chiến trường trong những tháng còn lại của năm 1971 và năm 1972 đã phản ánh rõ thực tế đó. Thất bại này cũng là một minh chứng khẳng định rằng: "Mỹ không thể chặn đứng được luồng tiếp tế hậu cần trên đường mòn Hồ Chí Minh. Đường mòn là một sản phẩm kỳ diệu của tài năng, sự kiên nhẫn và sự hy sinh không bờ bến của con người"2 (Gabriel Kolko, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr.211).


Rõ ràng, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" là một trong những thất bại quan trọng của Mỹ trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Còn về phía đối phương, đó thật sự là một thắng lợi to lớn, mang tính bước ngoặt, đúng như Đại tướng Văn Tiến Dũng đã khẳng định: "Chiến thắng của quân và dân Đường 9 - Nam Lào có ý nghĩa chiến lược to lớn về quân sự và chính trị. Ảnh hưởng của chiến dịch lịch sử này vượt xa phạm vi của bản thân nó cả về không gian và thời gian. Nó tác động mạnh mẽ đến cục diện chung của cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương"1 (Đại tướng Văn Tiến Dũng, Về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.303).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM