Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:44:08 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử  (Đọc 29222 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #160 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2026, 08:51:04 pm »

CHIẾN THẮNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO PHÁ TAN KỲ VỌNG CỦA MỸ VỀ XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI THIỆN CHIẾN CHO VIỆT NAM CỘNG HÒA

PGS, TS LÊ VĂN YÊN
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Đại úy, ThS LÊ QÚY THI
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Đầu năm 1971, đế quốc Mỹ quyết định mở ba cuộc tiến công cùng một lúc trên các khu vực hành lang chiến lược ở Đông Dương: cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra Đường 9 - Nam Lào, cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" đánh lên Côngpông Chàm - Kra Chiê (Đông - Bắc Campuchia) và cuộc hành quân "Quang Trung 4" đánh ra vùng ba biên giới (Tây Nguyên), trong đó cuộc hành quân "Lam Sơn 719" là cuộc hành quân lớn nhất. Mỹ cho rằng, Đường 9 - Nam Lào là mục tiêu chiến lược hết sức quan trọng, đánh vào đây, chúng có thể nhanh chóng phá vỡ trung tâm hậu cần và cắt đứt hệ thống vận tải chiến lược, làm cho cách mạng ba nước Đông Dương khó khăn.


Mục tiêu của chiến dịch là: Một mặt, làm cho đối phương thiếu thốn trầm trọng về hậu cần và vũ khí trong vòng từ 12 đến 18 tháng; đồng thời có thể trì hoãn cuộc tấn công lớn của đối phương trong vòng một năm, thậm chí có thể hai năm. Mặt khác, làm một cuộc kiểm nghiệm về khả năng độc lập tác chiến của quân đội Sài Gòn và năng lực hoạt động độc lập của chính quyền Sài Gòn khi Mỹ rút dần ra khỏi miền Nam. Kế hoạch tác chiến của cuộc hành quận "Lam Sơn 719" là nhanh chóng đánh chiếm Sê Pôn chiếm Đường 9 - đoạn từ Lao Bảo đến Sê Pôn, lập thành tuyến ngăn chặn, "cắt đôi" Đông Dương, lùng sục đánh phá kho tàng trên phạm vi rộng xuống tận A Sầu, A Lưới phía Tây - Nam Thừa Thiên. Chiến thuật cơ bản là "đánh nhanh và rút nhanh" với sự yểm trợ của không quân và khá năng di chuyển bằng máy bay Mỹ. Chúng dự tính sẽ kết thúc "thắng lợi" vào trước mùa mưa năm 1971. Đây là cuộc hành quân có quy mô lớn nhất với sự phối hợp cao nhất, đánh dấu sự cố gắng cao nhất của Mỹ để giành thang lợi có ý nghĩa quyết định ở cả chiến trường miền Nam và chiến trường Đông Dương. Để thực hiện chiến dịch này, Mỹ và Việt Nam Cộng hòa huy động một lực lượng lớn gồm 55.000 quân (quân đội Sài Gòn là 40.000 quân Mỹ là 15.000), trong đó, có toàn bộ lực lượng cơ động chiến lược của quân đội Sài Gòn với sự hỗ trợ của pháo binh và không quân Mỹ. Ngoài ra, chúng còn "sử dụng 6 tiểu đoàn quân đội phái hữu Lào mở cuộc hành quân phối hợp đánh ra phía Tây Đường 9.


Để dọn đường cho chiến dịch, ngày 27 tháng 1 năm 1971 trên hướng Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, địch tung nhiều toán biệt kích, thám báo ra khu vực ven Đường 9 thăm dò lực lượng của ta; đồng thời, chúng tổ chức các hoạt động nghi binh vào khu vực Nam Quân khu 4. Ngay sau khi địch triển khai lực lượng, Bộ Tư lệnh Mặt trân Đường 9 - Bắc Quảng Trị đã khẩn trương cơ động lực lượng đánh địch, nhằm làm chậm bước tiến của chúng tiêu hao một phần sinh lực, phương tiện để tạo điều kiện cho các đơn vị chủ lực của ta triển khai đánh địch trên các hướng. Sau khi dịch đánh phá ác liệt vào các mục tiêu ven Đường 9 và sâu vào các tuyến vận tải của ta ở phía Tây Bắc Đường 9 lên giáp biên giới Việt - Lào, ngày 30 tháng 1 năm 1971, Trung đoàn hỗn hợp của Sư đoàn bộ binh số 9 mở trận càn dọc Đường 9 nhằm chiếm khu vực Khe Sanh để làm bàn đạp và nghi binh cho quân đội Sài Gòn mở cuộc hành quân đánh sang khu vực Nam Lào.


Ngay khi cuộc hành quân của địch mới bắt đâu, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta và Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lào quyết định mở chiến dịch phản công lớn đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch và chỉ thị cho Quân ủy Trung ương nhất thiết phải đánh thắng trận này. Đồng thời, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (mật danh là Bộ Tư lệnh 702) do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy, Đại tá Cao Văn Khánh làm Phó Tư lệnh, Đại tá Hoàng Phương làm Phó Chính ủy mặt trận. Chấp hành Chỉ thị của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã tập trung lực lượng lớn cho chiến dịch gồm 5 sư đoàn bộ binh, 26 trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng và hàng chục trung đoàn, tiểu đoàn tại chỗ thuộc Đoàn 559, Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5), Quân khu Trị - Thiên (134)... cùng phối hợp với lực lượng vũ trang Lào tác chiến.


Sau các đợt bắn phá dữ dội của hàng trăm khẩu pháo 105 và 175mm dọc biên giới Việt - Lào và các phi vụ ném bom của B-52 dọc hai bên Đường 9 nhằm dọn đường cho mở màn chiến dịch, ngày 8 tháng 2 năm 1971, từ khu vực Khe Sanh, nơi triển khai chiếm lĩnh trận địa xuất phát, được sự yểm trợ của không quân và hoả lực Mỹ, 6 trung đoàn (lữ đoàn) địch theo Đường 9, kết hợp đổ bộ bằng máy bay lên thẳng với tiến quân bằng cơ giới, hình thành ba cánh quân ồ ạt vượt biên giới Việt - Lào tiến công sang Nam Lào. Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" bắt đầu bằng 4.000 quân thuộc Lữ đoàn 3 thiết giáp và các tiểu đoàn 1 và 8 dù tiến theo Đường 9 về Bản Đông. Để bảo vệ hai bên sườn, Tiểu đoàn 39 biệt động quân được không vận đến các điểm cao ở phía Bắc Đường 9, còn Tiểu đoàn 21 biệt động quân được không vận đến các điểm cao ở phía Nam Đường 9. Tiểu đoàn 2 dù đổ xuống Cứ điểm 30, còn sở chỉ huy Lữ đoàn 3 dù cùng Tiểu đoàn 3 dù đổ xuống Cứ điểm 31. Đồng thời, các đơn vị của Sư đoàn 1 bộ binh đánh chiếm các cứ điểm che chắn sườn phía Nam của đội hình chính. Đội hình chính của địch tiến dọc thung lũng Sê Pôn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #161 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2026, 08:51:50 pm »

Trước diễn biến của tình hình chiến trường, tiếp theo Bức điện số 331, ngày 9 tháng 2 năm 1971, Bộ Chính trị lại gửi Trung ương Cục miền Nam bức điện, trong đó quán triệt:

"1. Đây là một cuộc hành quân lớn có ý nghĩa chiến lược quan trọng thu hút một khối lượng và phương tiện lớn của Mỹ - ngụy, trong đó có phần lớn các đơn vị cơ động chiến lược. Đối với ta trận này là một trong những trận 785 316, 305 758, 942 quan trọng vì vậy Bộ Chính trị quyết định tập trung 302 778, 323 777, tập trung 113, phối hợp chặt chẽ và mạnh mẽ với các chiến trường, 325 747 383 597 cuộc phiêu lưu quân sự của địch, 914 Đường 990 HCM


2. Đối với các chiến trường đặc biệt là 222, tình hình hiện nay đã tạo nên một cơ hội thuận lợi để đẩy mạnh hoạt động mọi mặt thực hiện nhiệm vụ trung tâm đã đề ra, nhằm đập tan âm mưu Việt Nam hóa chiến tranh của địch (...). Chỉ có nắm vững chiến trường chính hơn nữa, nắm vững nhiệm vụ trung tâm hơn nữa đi đôi với việc tiêu diệt địch và giữ vững hậu phương và hành lang chiến lược ở 045 thì mới tạo được điều kiện gây chuyển biến trong cục diện quân sự và chính trị, giành được thắng lợi lớn"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng toàn tập, t.32, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 266 - 267).


Quán triệt tinh thần chỉ thị của Bộ Chính trị, ngay khi địch vừa tiến công, quân ta đã dự đoán được các hướng tiến công của địch, nên đã chủ động thực hiện phòng ngự - phản công. Dựa vào thế trận bố trí sẵn, quân ta nổ súng đánh chặn hướng tiến quân của bộ binh địch, diệt hàng trăm tên, phá hủy hàng chục xe tăng, xe bọc thép, bắn rơi nhiều máy bay địch. Lưới lửa phòng không của Đoàn 559 chặn đánh máy bay địch, pháo kích dữ dội vào đội hình và cắt đường tiếp tế vận tải của chúng, bắn rơi 50 máy bay lên thẳng trong những ngày đầu địch hành quân. Sáng ngày 9 tháng 2, Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 tăng cường cho Sư đoàn 308 liên tiếp đánh bại 5 đợt tiến công của Chiến đoàn đặc nhiệm dù tại chốt 351 cầu Cha Ky, diệt 2 đại đội địch. Cùng ngày, Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 88 Sư đoàn 308 đánh thiệt hại nặng Đại đội 2 thuộc Tiểu đoàn 21 biệt động quân bảo vệ trận địa pháo làng Sen. Đêm 11 tháng 2, Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 88 và Tiểu đoàn 7 Trưng đoàn 64 Sư đoàn 320 tập kích Tiểu đoàn 2 dù ở bắc Sô Num... Quân ta đã đánh đòn phủ đầu quân địch, làm chậm bước tiến, buộc chúng phải đối phó cả phía trước và phía sau, tạo điều kiện cho lực lượng cơ động từ xa vận động đến kịp triển khai đội hình đánh những đòn tiêu diệt.


Chủ trương của ta là chặn đứng quân địch ở Bản Đông, bẻ gãy từng cánh quân, tạo thời cơ đánh trận quyết định vào tập đoàn chính của địch, đánh bại cuộc hành quân của chúng. Thực hiện quyết tâm trên, từ ngày 1.2 tháng 2 đến ngày 3 tháng 3 năm 1971, quân ta tấn công mạnh ở Bắc Đường 9, diệt gọn những cụm cứ điểm then chốt trên các điểm cao 500, 543, đập tan cuộc phản kích lớn bằng xe tăng của địch, tiêu diệt Tiểu đoàn 3 dù và Thiết đoàn 17, bắt đại tá Nguyễn Văn Thọ và toàn bộ Ban Tham mưu Lữ đoàn dù, đánh thiệt hại nặng Liên đoàn 1 Biệt động quân đội Sài Gòn. Như vậy, sườn phía Bắc của địch đã bị bẻ gãy, trực tiếp uy hiếp tập đoàn chủ yếu của địch tại Bản Đông. Cùng thời gian này, ở sườn phía Nam Đường 9, quân ta kiềm chế mạnh, chuyển từ chốt chặt sang tiến công, đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn của Sư đoàn 1 bộ binh và Sư đoàn thủy quân lục chiến quân đội Sài Gòn, phá tan các đợt "nhảy cóc" lùng sục đánh phá kho tàng và hậu cần của ta. Ở phía Tây, quân ta phối hợp với quân giải phóng Lào đánh thiệt hại 2 trung đoàn cơ động (GM) quân đội phái hữu Lào ở Pha Đô Tuya, Pha Lan buộc chúng phải tháo chạy.


Bị đánh thiệt hại nặng ngay từ đầu, quân địch hoang mang, lúng túng. Chúng buộc phải đưa lực lượng dự bị vào tham chiến để nhanh chóng đánh chiếm Sê Pôn. Phát huy thế chiến thắng, quân ta vừa kiên quyết chặn địch không cho chúng đánh chiếm Sê Pôn, vừa tích cực bao vây chia cắt địch dọc Đường 9, tạo điều kiện để đánh đòn quyết định tiêu diệt lực lượng chủ yếu của địch ở Bản Đông. Các chiến thắng của ta đã phá tung cánh cung phía Bắc và phía Nam Đường 9, tạo điều kiện cho quân ta triển khai lực lượng tiến công vào đội hình cơ bản của quân Sài Gòn. Ngày 2 tháng 3, Quân ủy Trung ương đã chỉ thị cho Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận 702 tập trung tiêu diệt địch trong khu vực Bản Đông với thời gian càng nhanh càng tốt. Sư đoàn 308 và các Trung đoàn 64 Sư đoàn 320, Trung đoàn 66 Sư đoàn 304 được lệnh bao vây tiến công tập đoàn cứ điểm Bản Đông. Sư đoàn 2 Quân khu 5 hoạt động ở hướng Nam, bao vây, kìm chân hai trung đoàn của Sư đoàn 1 bộ binh, không cho chúng chi viện Bản Đông. Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 và một số tiểu đoàn của Mặt trận chốt giữ Đường 9 (giữa Bản Đông và Lao Bảo), quyết chặn không cho quân địch rút chạy. Bị bất ngờ trước những đòn tiến công quyết liệt của chủ lực ta và bị thiệt hại nặng về quân số và vũ khí, địch phải đưa Sư đoàn 1 vào hỗ trợ để tiếp tục tiến vào khu vực Sê Pôn, nhưng bị Sư đoàn 2 của ta chặn đánh phải co cụm lại ở điểm cao 723 và núi Phù Rệt phía Nam Đường 9. Để tăng cường, hai tiểu đoàn bộ binh của Trung đoàn 2 quân đội Sài Gòn được trực thăng Mỹ thả xuống phía Tây nhà thờ Sê Pôn, nhưng bị pháo cao xạ của ta bắn dữ dội, chúng vội vã tháo chạy.


Ngày 8 tháng 3 năm 1971, Đảng ủy Mặt trận kêu gọi: Thời cơ chuyển sang tấn công trên toàn mặt trận đã đến, đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch, bảo vệ con đường hậu cần huyết mạch. Theo đó, trên Đường 9, đoạn từ Lao Bảo đến Bản Đông, các trung đoàn 2, 24, 102 được lệnh của Bộ chỉ huy Mặt trận chốt chặn, cắt đường rút lui của địch. Sư đoàn 2 vây đánh lực lượng thủy quân lục chiến ở phía Nam Đương 9. Xung quanh Bản Đông ta càng ngày càng xiết chặt vòng vây, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Trên đà thắng lợi, từ ngày 12 đến ngày 17 tháng 3, Trung đoàn 36 Sư đoàn 308, Trung đoàn 64 Sư đoàn 320, Trung đoàn 66 Sư đoàn 304 và các đơn vị hỏa lực xe tăng, pháo binh, cao xạ của ta đã bao vây và tiến công dồn dập tập đoàn cứ điểm Bản Đông - điểm mấu chốt của chiến dịch. Trận đánh còn được gọi là "Đại phá Bản Đông".


Trước nguy cơ bị tiêu diệt, ngày 18 tháng 3 năm 1971, quân địch buộc phải rút khỏi Bản Đông. Nắm thời cơ, quân ta lập tức công kích khu vực Bản Đông. Cuộc rút quân nhanh chóng biến thành cuộc tháo chạy hỗn loạn. Hầu như toàn bộ binh sĩ địch vứt bỏ súng đạn, chạy cắt rừng hòng thoát thân, nhưng phần lớn bị ta tiêu diệt hoặc bắt làm tù binh. Ngày 20 tháng 3 năm 1971, ta làm chủ khu vực Bản Đông và tiếp tục truy kích quân địch rút chạy. Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc toàn thắng.


Với chiến thắng Đường 9 - Nam Lào, quân và dân ta đã đánh thắng một bước rất cơ bản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ, góp phần làm thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đây là một điển hình thành công về một chiến dịch phản công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn nhất của quân chủ lực cơ động của ta đánh bại quân chủ lực Sài Gòn - những đơn vị dự bị chiến lược tinh nhuệ với sự chi viện hỏa lực ưu thế của không quân và pháo binh Mỹ. Chiến thắng còn đánh dấu bước trưởng thành của quân đội ta trong tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Lần đầu tiên quân đội ta tiến hành phản công lớn bằng bộ binh với sự yểm trợ của thiết giáp và pháo binh để tiêu diệt địch, bảo vệ được hệ thống tiếp tế và hậu cần chiến lược, mở ra điều kiện thuân lợi để quân và dân ta tiến hành cuộc tiến công chiến lược Xuân - Hè 1972.


Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" là thất bại nặng nề đối với Mỹ và quân đội Sài Gòn; buộc chúng phải chuyển dần vào thế phòng ngự theo khu vực. Kỳ vọng về việc xây dựng một quân đội thiện chiến cho chính quyền Sài Gòn nhằm thay thế quân chiến đấu Mỹ trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ cũng tiêu tan.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #162 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2026, 09:00:05 pm »

NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO

Đại tá, TS ĐỖ NGỌC TUYÊN
Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự


Công tác đảng - công tác chính trị (CTĐ - CTCT) là "linh hồn", "mạch sống" của quân đội ta, góp phần quan trọng vào thắng lợi của mỗi trận đánh, của từng chiến dịch. Như thế, thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 đã chứng tỏ thành công của CTĐ - CTCT, đồng thời thể hiện rõ vị trí, vai trò của mặt công tác này đối với quá trình tổ chức và thực hành chiến dịch. Với ý nghĩa như vậy và thông qua diễn biến sinh động, phong phú của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, chúng ta có thể đúc rút những bài học kinh nghiệm có giá trị trong giáo dục, bồi dưỡng, phát huy nhân tố chính trị - tinh thần của bộ đội, đặc biệt là việc thực hiện CTĐ - CTCT trong quân đội ta hiện nay.


Bài học kinh nghiệm công tác đảng - công tác chính trị đầu tiên rút ra từ Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào là phải coi trọng và tiến hành sớm, thường xuyên công tác tổ chức, cán bộ, kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, liên tục, xuyên suốt, hiệu quả đối với quá trình chuẩn bị và tác chiến chiến dịch.


Ngày 31 tháng 12 năm 1970, sau khi nắm bắt được ý đồ của địch, được sự đồng ý của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã ra Quyết định số 078/NQ thành lập Đảng ủy Bộ Tư lệnh 70 để sẵn sàng đánh bại cuộc hành quân quy mô lớn của địch. Tiếp đó, ngày 6 tháng 2 năm 1971, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào kiêm Bộ Tư lệnh 701 (Theo Quyết nghị số 04/QUTW, Đảng ủy Mặt trận 702 gồm 8 đồng chí do đồng chí Lê Quang Đạo làm Bí thư, đồng chí Hoàng Phương là Phó Bí thư đồng chí Lê Trọng Tấn là Ủy viên Thường vụ. Còn theo Quyết định 51/QĐ-QP của Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Mặt trận 702 (mật danh "Bộ Tư lệnh 702") kiêm Bộ Tư lệnh 70 gồm 6 đồng chí do đồng chí Lê Trọng Tấn, Tổng Tham mưu phó làm Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Dạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy. Đồng chí Văn Tiến Dùng, Tổng Tham mưu trưởng là đại diện của Thường vụ Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng bên cạnh Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào) đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về mọi mặt. Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào được trao đầy đủ khả năng và quyền hạn để lãnh đạo, chỉ huy tất cả các lực lượng tham gia Chiến dịch và tổ chức hiệp đồng với các chiến trường, lực lượng liên quan như Quân khu Trị - Thiên, Mặt trận Bắc Quảng Trị (B5), Đoàn 559, liên quân Việt - Lào ở Nam Lào.


Dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận, công tác tổ chức, cán bộ đã nhanh chóng đi vào bổ sung, kiện toàn tổ chức lãnh đạo, chỉ huy và các tổ chức quần chúng của các đơn vị tham gia chiến dịch. Trong đó, các đơn vị tập trung điều chỉnh, bổ sung cán bộ và xây dựng kế hoạch bảo đảm lượng dự trữ cán bộ cho chiến đấu liên tục dài ngày, khẩn trương, ác liệt, nhất là ở các bộ phận làm nhiệm vụ tiến công trên các mũi, hướng chủ yếu; vào những thời điểm gay go, quyết liệt. Đồng thời, lãnh đạo, chỉ đạo nắm chắc tình hình đội ngũ cán bộ, đảng viên và tư tưởng bộ đội; chú ý bố trí cán bộ, đảng viên có khả năng và kinh nghiệm chiến đấu cho bộ phận làm nhiệm vụ quan trọng, trọng yêu; bố trí xen kẽ cán bộ, đảng viên đã qua chiến đấu với số mới được bổ sung; kết hợp chặt chẽ giữa điều chỉnh, sắp xếp, kiện toàn tổ chức với công tác giáo dục, động viên tư tưởng để định hướng cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức đúng tình hình, đoàn kết, thông suốt với nhiệm vụ, giữ vững quyết tâm chiến đấu, biết vận dụng các thủ đoạn chiến đấu để kiên quyết tiến công, tiến công liên tục tiêu diệt địch, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Chỉ đạo chặt chẽ công tác xây dựng Đảng, Đoàn, phát huy vai trò xung kích của Đoàn trong giáo dục, xây dựng, củng cố quyết tâm chiến đấu, động viên đoàn viên, thanh niên thi đua vận chuyển, giết giặc lập công. Khen thưởng kịp thời những đơn vị, cá nhân có thành tích và xử lý nghiêm minh những trường hợp thoái thác nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật chiến trường... Chủ động phòng ngừa và đấu tranh với tư tưởng chủ quan, đơn giản, mọi biểu hiện thụ động, dựa dẫm, ỷ lại vào cấp trên hoặc vin vào hoàn cảnh thực hiện nhiệm vụ khó khăn, gây ảnh hưởng xấu tới việc hoàn thành nhiệm vụ của từng đơn vị.


Bên cạnh đó, công tác tổ chức chiến dịch còn tập trung vào việc lãnh đạo, chỉ đạo bảo đảm hậu cần cho chiến dịch. Ngay từ tháng 6 năm 1970, Bộ Chính trị đã quyết định thành lập Hội đồng chi viện tiền tuyến do Phó Thủ tướng Chính phủ Đỗ Mười làm Chủ tịch để huy động và động viên sức mạnh của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến. Tiếp đó, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã tổ chức lại Đoàn 559 thành Bộ Tư lệnh Trường Sơn và bổ sung thêm cho đơn vị hơn 20 ngàn cán bộ, chiến sĩ và hàng ngàn phương tiện vận tải, hỏa lực. Thành lập Đoàn hậu cứ tại Nam Quảng Bình để thu dung điều trị thương bệnh binh...


Tuy chiến dịch diễn ra rất khẩn trương nhưng các đơn vị đều được bổ sung kiện toàn thường xuyên, bảo đảm đủ số lượng và chất lượng. Tỷ lệ lãnh đạo ở tất cả các loại hình chi bộ được bảo đảm từ 15% đến 45% quân số là đảng viên, duy trì được sự lãnh đạo dài ngày, liên tục.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #163 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2026, 09:01:03 pm »

Cùng với việc tiến hành thường xuyên, chặt chẽ công tác tổ chức, cán bộ, công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch đã đặt lên hàng đầu việc quán triệt sâu sắc đường lối kháng chiến của Đảng để tiến hành công tác chính trị tư tưởng tạo cơ sở chính trị - tinh thần vững chắc cho xây dựng ý chí quyết tâm, năng cao sức mạnh chiến đấu của các đơn vị.


Chiến đấu là sự thử thách cao nhất, quyết liệt nhất giữa ta và địch. Chính sự quyết liệt, đòi hỏi hy sinh ấy đã tác động rất lớn đến tư tưởng, tình cảm, tâm lý, ý chí, quyết tâm của cán bộ, chiến sĩ. Vì vậy, việc xây dựng ý chí quyết tâm cao, bền vững của cán bộ, chiến sĩ và lòng tin vào thắng lợi để nâng cao sức mạnh chiến đấu của các đơn vị luôn là nhân tố cơ bản, quan trọng hàng đầu tạo nên sức mạnh tổng hợp cho đơn vị; là động lực thúc đẩy hành động của mọi cán bộ, chiến sĩ, bảo đảm cho họ chiến đấu và chiến thắng.


Nhận thức rõ điều đó, trong suốt quá trình chuẩn bị và tác chiến chiến dịch, Quân ủy Trung ương, Tổng cục Chính trị Đảng ủy và Bộ chỉ huy Chiến dịch cũng như cấp ủy, chỉ huy các đơn vị đã chú trọng quán triệt sâu sắc đường lối, quyết tâm kháng chiến của Đảng để lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, liên tục, sát sao, cụ thể và kịp thời công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Qua đó, làm cho mọi cán bộ chiến sĩ tham gia chiến dịch nhận thức đầy đủ việc đế quốc Mỹ và bè 10 tay sai mở cuộc hành quân "Lam Sơn - 719" là một sai lầm lớn trong thế bị động chiến lược của chúng và đây là cơ hội rất thuận lợi cho ta tiêu diệt chúng; thấy được thắng lợi có ý nghĩa quyết định về chiến lược của chiến dịch không những giữ vững tuyến vận chuyển chiến lược mà còn tiêu diệt một phần lớn lực lượng dự bị chiến lược của địch, góp phần đánh bại một bước quan trọng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của chúng.


Dù là một chiến dịch phản công, nhưng mọi cán bộ, chiến sĩ đều được giáo dục, quán triệt để nắm vững tư tưởng tích cực, chủ động tiến công địch của Đảng ta; những thuận lợi, khó khăn về địa hình, thời tiết, con người; sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, con người, trang bị; hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn, lực lượng, phương tiện và cách đánh của địch, nhất là đối tượng tác chiến bộ binh, bộ binh cơ giới của địch được yểm trợ hỏa lực mạnh đang chiếm giữ những điểm cao và địa hình có lợi, trong thế liên hoàn. Đồng thời, nắm vững mục tiêu, nhiệm vụ của chiến dịch và của từng binh chủng, đơn vị trong từng giai đoạn; kế hoạch, phương án, cách đánh của ta; các yêu cầu, quy định về kỷ luật chiến trường, về phòng gian giữ bí mật, về hiệp đồng, bảo đảm và các chính sách trong chiến đấu, chính sách đối với tù, hàng binh... Từ đó, đánh giá đúng kẻ thù, so sánh lực lượng ta - địch; tạo sự thống nhất trong nhận định, tác động về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật của chiến dịch, nâng cao ý thức triệt để chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy, có lòng tin vào khả năng hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị và bản thân, có tinh thần chủ động, liên tục tiến công, biết đánh và biết đánh thắng địch trong mọi tình huống.


Cấp ủy, chỉ huy cơ quan, đơn vị tham gia chiến dịch cũng thường xuyên chú trọng việc tìm hiểu, nắm bắt, phân tích và giải quyết đúng tình hình tư tưởng, nhận thức và thái độ, hành vi của bộ đội; tình hình kỷ luật, tác phong, lối sống, suy nghĩ của từng con người. Gặp gỡ, động viên cán bộ, chiến sĩ ở các đơn vị và bộ phận làm nhiệm vụ quan trọng, khó khăn. Phát động phong trào thi đua giết giặc lập công, phát huy tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống của đơn vị... Trước mỗi thắng lợi của ta hay sự xuyên tạc của địch thì từ Bộ Tư lệnh Chiến dịch tới các đơn vị đã rất chú trọng công tác cổ động chiến trường, nhanh chóng thông tin cho cán bộ chiến sĩ tình hình để định hướng tư tưởng, hành động. Mỗi đơn vị lập chiến công đều được Bộ Tư lệnh Mặt trận gửi điện khen ngợi. Tận dụng ưu thế chiến dịch mở ra gần với hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương đã sát cánh cùng tiền phương không chỉ bằng sự chi viện sức người, sức của mà còn bằng cả việc tuyên truyền nhanh chóng, kịp thời về chiến dịch trên sóng phát thanh gửi hàng vạn lá thư thăm hỏi, cổ vũ, động viên cán bộ chiến sĩ ta... Tất cả đã góp phần hun đúc ý chí quyết tâm phẩm cách cao thượng, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của cán bộ, chiến sĩ, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các đơn vị để làm nên thắng lợi của chiến dịch.


Cũng trong chiến dịch này, một bài học kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị nữa được rút ra là để có được ý chí quyết tâm cao, dám đánh và biết đánh một cách sáng tạo thì cần phải khơi dậy và phát huy tinh thần dân chủ của cán bộ, chiến sĩ trong chuẩn bị và tác chiến.


Cùng với việc quán triệt, giáo dục để cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ về tình hình, nhiệm vụ, chỗ mạnh chỗ yếu của địch, những thuận lợi, khó khăn, hạn chế của ta và của địa bàn tác chiến trực tiếp; về phát huy sức mạnh tổng hợp... cấp ủy, chỉ huy các đơn vị đã tổ chức các cuộc hội nghị, sinh hoạt quân sự chính trị, phổ biến kinh nghiệm đã rút ra từ các giai đoạn trước và phát động thi đua, động viên cán bộ, chiến sĩ, nhất là số những đồng chí đã kinh qua thực tiễn chiến đấu hiến kế, tìm tòi sáng tạo cách đánh để sao cho có hiệu suất cao nhất mà vẫn hạn chế được thương vong, bảo toàn lực lượng của ta...


Thông qua dân chủ thảo luận, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị đã chỉ ra rằng, địch có ít thuận lợi hơn ta vì chúng tác chiến xa căn cứ hậu phương chiến lược. Còn ta, đây là chiến trường hoạt động quen thuộc của nhiều sư đoàn chủ lực của ta nối liền với hậu phương rất thuận lợi cho phát huy sức mạnh của hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến, cho tập trung nhiều lực lượng, phương tiện để tác chiến hiệp đồng binh chủng. Song để tiêu diệt được địch có ưu thế về quân số, trang bị, sử dụng chiến thuật tiến công có lực lượng Mỹ đứng đằng sau yểm trợ hỏa lực tối đa (theo công thức chủ lực quân ngụy + hỏa lực yểm trợ tối đa của Mỹ) thì về phía ta phải kết hợp sáng tạo hai phương thức tiến hành chiến tranh của chiến tranh nhân dân; kết hợp giữa đánh rộng khắp với tập trung, giữa đánh nhỏ, đánh vừa với đánh lớn để tiêu hao và tiêu diệt địch; kết hợp tốt các hình thức, biện pháp tác chiến chiến dịch với các hình thức chiến thuật... Đồng thời, phải chủ động, kiên quyết, liên tục tiến công địch đổ chúng bộc lộ sơ hở cho ta tận dụng. Phải biết tạo thế và lực, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp và sử dụng nhiều cách đánh cả phía trước và phía sau, bên sườn... Đặc biệt, phải xây dựng trận địa vững chắc; bảo đảm đầy đủ vũ khí, đạn dược các loại; nắm chắc ý đồ và hoạt động của chúng; bao vây địch thật chặt; kiên quyết chặn đứng sự tiếp tế, chi viện đường không của địch bằng bố trí và sử dụng nhiều tầng hỏa lực của vũ khí bộ binh, cao xạ, đánh khi máy bay địch trên đường tới mục tiêu, khi chúng đổ quân, thu quân... Đối với từng đơn vị, lực lượng đảm bảo, chiến đấu cụ thể thì phải căn cứ vào từng hình thức chiến thuật mà địch sử dụng để lựa chọn cách vận chuyển binh khí kỹ thuật, cách đánh thích hợp khi chúng sử dụng máy bay, xe tăng thiết giáp trong co cụm, chi viện, đột kích, hình thành các cụm phòng ngự hoặc hộ tống khi rút chạy...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #164 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2026, 09:02:33 pm »

Bài học thứ tư là, chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức tốt việc phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các đơn vị tham gia chiến dịch và giữa quân đội, nhân dân ta với quân đội và nhân dân Lào anh em tạo sự đoàn kết, thống nhất và sức mạnh tổng hợp cho chiến thắng


Đoàn kết phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các đơn vị, lực lượng tham gia Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào là đòi hỏi tất yếu của hoạt động quân sự, đặc biệt khi Chiến dịch phát triển về quy mô, đòi hỏi cao về mục tiêu yêu cầu, có sự tham gia của nhiều đơn vị binh chủng và lượng binh khí kỹ thuật, hậu cần bảo đảm cho chiến dịch là rất lớn1 (Chúng ta đã huy động vào chiến dịch một số đơn vị thuộc các sư đoàn bộ binh 2, 304, 308, 320 và 324 với 88 xe tăng T-34, T-54, PT-76; một số tiểu đoàn đặc công; ba trung đoàn pháo binh cơ giới 368, 38, 45; Trung đoàn pháo mang vác 84; 3 trung đoàn pháo phòng không 230, 241, 591; 3 trung đoàn công binh 219, 83, 7. Bảo vệ hậu phương chiến lược, trực tiếp của chiến dịch là một bộ phận của Sư đoàn phòng không 367 gồm 3 trung đoàn pháo phòng không 282, 284, 224 và hai trung đoàn tên lửa 238, 237. Ngoài ra, còn có sự tham gia của lực lượng vũ trang tại chỗ được hình thành từ các đơn vị kho trạm, giao liên, vận tải, công binh, cảnh vệ... trên tuyến vận tải chiến lược. Về cơ sở vật chất, kỹ thuật, ta đã chuẩn bị 6.000 tấn vật chất - kỹ thuật bảo đảm cho 5 đến 6 vạn quân chiến đấu trong thời gian từ 4 đến 5 tháng. Hệ thống bệnh viện, bệnh xá, trạm phẫu thuật phục vụ cáp cứu thương binh, điều trị và nuôi dưỡng được hình thành trên cơ sở quân y khu vực của Đoàn 559, Mặt trận B5, Quân khu Trị - Thiên và Cục Quân y tăng cường).


Thông qua công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Chiến dịch, lãnh đạo và chỉ huy các đơn vị đã làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ nắm và hiểu rõ về yêu cầu, nhiệm vụ chung của chiến dịch và nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị, từng mũi, từng hướng của chiến dịch. Chủ động phối hợp chặt chẽ với cấp trên, đơn vị bạn, lực lượng tại chỗ trong khu vực tác chiến để nắm địch, đảm bảo thông tin liên lạc, ngụy trang, nghi binh, giữ bí mật, cơ động, phối hợp hiệp đồng trong chiến đấu, bảo đảm hậu cần và thực hiện các chính sách. Xây dựng tinh thần đoàn kết, hiệp đồng, lập công tập thể, tin tưởng lẫn nhau trong cán bộ, chiến sĩ. Xây dựng và hoàn thiện các phương án, kế hoạch tác chiến chiến dịch và ở từng trận đánh với những quy định cụ thể về thời gian, dịa diểm, nội dung, biện pháp phối hợp hiệp đồng giữa các lực lượng phía trước với phía sau, giữa các binh chủng, đơn vị với nhau, giữa các lực lượng chiến đấu với bảo đảm và duy trì nghiêm việc giáo dục, tổ chức cho bộ đội chấp hành đúng những quy định đó. Khắc phục những biểu hiện xem nhẹ, hạ thấp vai trò của đơn vị bạn, hoặc ỷ lại trên, thiếu sự phối hợp tác chiến, tranh công đổ lỗi giữa các lực lượng làm ảnh hưởng đến hiệu suất chiến đấu của cả chiến dịch và trong từng trận đánh.


Là lực lượng chủ yếu bảo đảm hậu cần cho chiến dịch, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị thuộc quyền vượt qua khó khăn gian khổ của địa hình, thời tiết, sự đánh phá ác liệt của địch để làm tốt việc xây dựng thế trận vận chuyển chiến lược kết hợp với thế trận tác chiến, vừa vận chuyển, vừa tác chiến; mở thêm nhiều tuyến đường vận tải, hướng vượt khẩu, bến vượt, cầu nổi, các tuyến đường ống xăng dầu, mạng thông tin mới và nâng cấp, sửa chữa cầu đường; chủ động điều chỉnh lực lượng theo hướng tác chiến chiến dịch. Đồng thời, hiệp đồng với các đơn vị để vận chuyển, tiếp nhận vũ khí, đạn dược, lương thực...


Đặc biệt, nắm chắc tư tưởng "Đông Dương là một chiến trường thống nhất" trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị đã giáo dục sâu rộng trong cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch hiểu rõ tư tưởng của Đảng để tôn trọng pháp luật, đường lối, chính sách, phong tục, tập quán, tín ngưỡng của Đảng và nhân dân các bộ tộc Lào. Bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân Lào. Tổ chức các lực lượng thường xuyên phối hợp với bộ đội Lào nắm địch và đẩy mạnh các hoạt động sau lưng địch để vừa phá bước chuẩn bị chiến trường của chúng, vừa triển khai thế trận, bố trí sẵn lực lượng ở các khu vực được phân công theo phương án tác chiến chung của chiến dịch, chủ động đánh địch ngay từ đầu và phối hợp với bộ đội bạn tiến công quyết liệt vào các binh đoàn (GM) 30, 33 của quân ngụy Lào. Do vậy sức mạnh tổng hợp của con người, vũ khí được nhân lên gấp bội góp phần làm nên thắng lợi có ý nghĩa chiến lược làm thay đổi quan trọng cục diện chiến tranh có lợi cho ta.


Ngày nay, tình hình thế giới và khu vực đang biến động nhanh chóng, phức tạp khó lường. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dù đang đứng trước những cơ hội lớn nhưng vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Thực tiễn các cuộc chiến tranh do Mỹ và NATO tiến hành vài năm trở lại dây, đặc biệt là từ đầu năm 2011 tới nay cho thấy một khi có chiến tranh xâm lược xảy ra đối với nước ta, thì đó sẽ là những chiến dịch tiến công xâm lược có quy mô, phạm vi rộng và có sức hủy diệt lớn... Trong bối cảnh đó, để giành thắng lợi, thì ngay từ bây giờ Đảng Nhà nước, nhân dân và quân đội ta cần phải chủ động, tích cực chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt.


Vận dụng những bài học kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào cũng như của các chiến dịch khác vào thời kỳ mới chính là một trong những việc làm cho sự chuẩn bị ấy. Nó đòi hỏi chúng ta phải hết sức coi trọng việc tiếp tục nghiên cứu tổng kết thực tiễn chiến tranh, chiến dịch để rút ra những bài học cho vận dụng sáng tạo, phù hợp với hiện tại, nhất là khi theo thời gian những chứng nhân của thời kỳ chiến tranh, chiến dịch đã qua sẽ ngày càng ít dần đi. Đặc biệt, chúng ta cần nghiên cứu để làm rõ những âm mưu, thủ đoạn và những phát triển về nội dung, hình thức tác chiến của địch; những phát triển trong chức năng, nhiệm vụ của quân đội; các nội dung, hình thức quân đội tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Đồng thời, đổi mới nội dung, hình thức tiến hành công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách trong các loại hình đơn vị quân đội, ở các hình thái chiến tranh, loại hình chiến dịch mới; trong bảo vệ Tổ quốc từ xa, ở bên ngoài đất nước hay trong tác chiến phi quân sự chống bạo loạn chính trị lật đổ chính quyền dưới các dạng thức phi vũ trang. Đổi mới nội dung, hình thức quân đội tham gia xây dựng Đảng và xây dựng chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội; trong vận động người dân Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài, nhân dân các nước; trong làm nhiệm vụ giúp cách mạng Lào, Campuchia và trong hợp tác quân sự với các nước theo khuôn khổ luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #165 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2026, 08:30:35 pm »

CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971, MỘT ĐÒN CHÍ MẠNG ĐỐI VỚI QUÂN ĐỘI VIỆT NAM CỘNG HÒA

Trung tá PHÙNG THỊ HOAN
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Năm 1971 là năm của những thắng lợi quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; là năm quân ta đã tiến hành phản công thắng lợi, giành quyền chủ động trên các chiến trường, trong đó, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào chiếm vị trí rất quan trọng: là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân và dân hai nước Việt Nam - Lào, đồng thời đó là một đòn chí mạng đối với quân đội Sài Gòn và cũng là một thất bại nặng nề của Mỹ trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh".

1. Ý đồ của địch và quyết tâm của ta.

Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh sang khu vực Đường 9 - Nam Lào quy mô lớn nhằm kiểm nghiệm khả năng tác chiến độc lập của quân đội Sài Gòn và qua đó cũng kiểm nghiệm kết quả của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" sau hơn hai năm triển khai thực hiện... Theo tính toán của Mỹ, Đường 9 - Nam Lào là nơi ta tập trung nhiều kho tàng dự trữ chiến lược, là "cuống họng" của đường Hồ Chí Minh, là "huyết mạch" đặc biệt quan trọng để "nuôi sống" cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam Việt Nam và cách mạng Lào, Campuchia. Việc cắt đứt và tiến tới phá hủy hoàn toàn tuyến vận tải và cơ sơ hậu cần chiến lược ở khu vực Đường 9 - Nam Lào sẽ chặn đứng và triệt bỏ được nguồn tiếp tế từ gốc khiến lực lượng vũ trang ta, mà trước hết là bộ đội chủ lực ở miền Nam không thể đánh lớn được trong mùa khô 1971-1972, buộc phải quay về hoạt động nhỏ lẻ, phân tán trong khuôn khổ một cuộc chiến tranh du kích. Điều này sẽ làm cho cách mạng miền Nam phải bị "tàn lụi" và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" có thêm điều kiện để thực hiện thành công; đồng thời quân đội Việt Nam Cộng hòa qua các hoạt động quy mô lớn và qua việc giành chiến thắng sẽ có thêm cơ sở để mạnh lên đủ sức thay thế vai trò của quân Mỹ trên chiến trường và là lực lượng nòng cốt cho quân đội tay sai Mỹ ở các nước Đông Dương.


Nhằm đạt được mục tiêu đầy tham vọng trên, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã huy động tới 42.000 quân, trong đó có 33.000 quân Việt Nam Cộng hòa, 9.000 quân Mỹ tham gia chiến dịch này. Toàn bộ lực lượng trên gồm 11 trung đoàn bộ binh, trong đó có 10 trung đoàn quân đội Việt Nam Cộng hòa, một trung đoàn bộ binh Mỹ, hai thiết đoàn thiết giáp với 464 xe tăng xe bọc thép, 16 tiểu đoàn pháo với 250 khẩu... Trong quá trình diễn ra chiến dịch, lúc cao nhất, địch đã huy động tới 55.000 quân, gồm 15 trung đoàn bộ binh, ba thiết đoàn thiết giáp với 587 xe, 21 tiểu đoàn pháo binh với 318 khẩu)1 (Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập VI, thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 250). Hầu hết các lực lượng tham gia đều là những đơn vị thiện chiến, thuộc lực lượng dự bị chiến lược và lực lượng chủ lực cơ động của Quân khu 1 (Vùng 1 chiến thuật). Đảm bảo cho tiếp tế hậu cần, chi viện hỏa lực cho các đơn bị tham gia chiến dịch là lực lượng tiếp vận trung ương, không quân và pháo binh Mỹ. Hỗ trợ cho hướng tiến công chính còn có một bộ phận lực lượng bộ binh và thiết giáp Mỹ phối hợp ở phía sau. Ở hướng Tây Đường 9, quân đội phái hữu Lào bao gồm chín tiểu đoàn thuộc hai binh đoàn (GM30 và GM33) ở Sê Nô, Đồng Hến tiến hành đánh ra khu vực Sê Săng Soi, Sê Ta Mộc và dự kiến sẽ hội quân với các đơn vị quân đội Việt Nam Cộng hòa ở Pha Lan, Mường Phin.


Như vậy, với một kế hoạch được nghiên cứu và thảo ra tỉ mỉ, với lực lượng quân sự vừa đông, vừa mạnh; với những biện pháp chuẩn bị chu đáo, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tin tưởng quân đội Việt Nam Cộng hòa "có đủ khả năng, đủ niềm tin và sức mạnh" để giành thế chủ động tiến công và đạt được thắng lợi trước khi chủ lực miền Bắc kịp thời cơ động tới chiến trường tham chiến. Phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa càng chắc tin vào việc cùng một lúc mở ba cuộc hành quân ra ba điểm quan trọng ở Sê Pôn, Ngã Ba biên giới Tây Nguyên và Đông Bắc Campuchia sẽ gây bất ngờ lớn cho đối phương, tạo ra tuyến chia cắt nhiều tầng, chặn đứng hoàn toàn hướng tiếp tế từ miền Bắc qua đường Hồ Chí Minh và cảng Côngpông Xom (Campuchia), lập tuyến ngăn chặn cắt đôi Đông Dương, cô lập cách mạng miền Nam, uy hiếp miền Bắc, hỗ trợ cho chiến tranh đặc biệt ở Lào và xâm chiếm toàn bộ Campuchia.


Về phía ta, ngay từ giữa năm 1970, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã lường tính được khả năng địch có thể mở cuộc tiến công quy mô lớn trong mùa khô 1970 - 1971 ra các vùng Trung, Hạ Lào, Đông Bắc Campuchia. Chính vì thế, ngay từ mùa Hè 1970, Bộ Tổng Tham mưu đã xúc tiến việc chuẩn bị kế hoạch tác chiến, chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị lực lượng và công tác đảm bảo để sẵn sàng và chủ động ứng phó với tình huống này. Bộ Chính trị chỉ thị cho Quân ủy Trung ương nhất thiết phải đánh thắng trận này vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Chiến thắng trận này ta sẽ tiêu diệt được một bộ phận lớn sinh lực tinh nhuệ của quân đội Việt Nam Cộng hòa và phá hủy một mảng phương tiện chiến tranh của chúng. Ta đã huy động một lực lượng lớn tham gia chiến dịch với quyết tâm giành thắng lợi hoàn toàn, bẻ gãy xương sống chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Toàn bộ lực lượng tham gia chiến dịch gồm 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324, 2); 4 tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp (177, 297, 397, 198); 4 trung đoàn phòng không (230, 237, 241, 491); 3 trung đoàn công binh (7, 83, 219) và một số tiểu đoàn đặc công của Bộ. Ngoài ra, lực lượng tham gia chiến dịch còn có một số đơn vị chiến đấu tại chỗ của Đoàn 559, Mặt trận B4, Mặt trận B5.


Ngày 9 tháng 9 năm 1971, một ngày sau khi quân đội Việt Nam Cộng hòa ồ ạt đánh sang Đường 9 - Nam Lào, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị: "Kiên quyết đập tan bước phiêu lưu quân sự mới của đế quốc Mỹ và tay sai, giành toàn thắng cho Chiến dịch X" (Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào). Sau khi chỉ rõ tầm quan trọng của chiến dịch có ý nghĩa quyết định về chiến lược, bản chỉ thị xác định: "Thắng lợi của chiến dịch không những bảo đảm cho sự chi viện của hậu phương đối với tiền tuyến mà còn tiêu diệt một lực lượng dự bị chiến lược quan trọng của quân ngụy trên chiến trường miền Nam và một bộ phận quan trọng của quân Mỹ, đánh một đòn chí mạng vào ý chí xâm lược của Mỹ - ngụy"1 (Chỉ thị 009/QƯTW, hồ sơ 594 - Cục Lưu trữ Bộ Quốc phòng); đồng thời kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ "tập trung cao nhất tinh thần và sức lực dũng mãnh tiến công tiêu diệt thật nhiều lực lượng tinh nhuệ của địch, quyết tâm bảo vệ con đường Hồ Chí Minh, xốc tới giành thắng lợi cao nhất trong chiến dịch quan trọng này"2 (Chỉ thị 009/QƯTW, hồ sơ 594 - Cục Lưu trữ Bộ Quốc phòng).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #166 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2026, 08:32:15 pm »

2. Đập tan đạo quân chủ lực tinh nhuệ của Quân đội Việt Nam Cộng hòa - lực lượng nòng cốt thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh"

Từ ngày 30 tháng 1 năm 1971, bằng đường không và đường bộ, quân đội Việt Nam Cộng hòa được sự hỗ trợ của quân đội Mỹ đã vận chuyển 22 tiểu đoàn lính dù, lính thủy đánh bộ và 7 tiểu đoàn pháo từ Sài Gòn, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Thừa Thiên ra khu vực Đông Hà, Ái Tử, Khe Sanh. Để nghi binh, ngày 2 tháng 2, địch cho Lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ diễn tập thực binh trên sông Hiếu cách phía Đông thị trấn Đông Hà 1km và cho Lữ đoàn 258 lính thủy đánh bộ từ La Vang (Quảng Trị) vào cửa biển Thuận An (Huế) xuống tàu thủy đi lên hướng Bắc Cửa Tùng. Từ biển Đông, Hạm đội 7 Mỹ cho một số tàu khu trục tiến vào uy hiếp biển phía Nam Quảng Bình tham gia nghi binh hòng thu hút sự chú ý của ta.


Sau gần 10 ngày nghi binh một cách có dụng ý, ngày 8 tháng 2 năm 1971, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" bắt đầu khi trời chưa sáng hẳn. Với sự chi viện tối đa về hỏa lực và được sự yểm trợ của Lữ đoàn 1 bộ binh cơ giới Mỹ, 47 tiểu đoàn bộ binh, gần 9 tiểu đoàn cơ giới (khoảng 600 xe tăng, thiết giáp) và 21 tiểu đoàn pháo binh (khoảng 300 khẩu) cùng các loại binh chủng đảm bảo khác của quân đội Việt Nam Cộng hòa chia làm ba cánh vượt biên giới Việt - Lào. Cánh quân trên hướng tiến công chủ yếu - chiến đoàn đặc nhiệm do Phan Hòa Hiệp chỉ huy gồm Lữ đoàn 1 dù, hai thiết đoàn (11, 17) là lực lượng đột kích tiến đánh Đường 9 và chiếm Bản Đông (cách Lao Bảo 18km về phía Tây). Cánh quân bảo vệ sườn bắc cơ động bằng máy bay lên thẳng, để xuống chiếm các điểm cao và thiết lập các căn cứ hỏa lực ở các điểm cao 500, 316, 655, 543, 532, 546... Cánh quân phía Nam là Sư đoàn 1 bộ binh do Phạm Văn Phú chỉ huy, chiếm khu vực Kubốc và các cao điểm 619, 550, 532, 540. Lính Việt Nam Cộng hòa tỏ ra yên tâm vì họ được biết ở phía sau, dọc Đương 9, những khẩu canông tầm xa 175mm "vua chiến trường" của quân Mỹ đã triển khai trận địa kéo dài từ Lao Bảo sang hướng Tây, sẵn sàng yểm trợ hỏa lực cho phía trước.


Với số lượng quân đông, trang bị vũ khí mạnh và một kế hoạch tiến công có vẻ rất hoàn hảo, quân đội Việt Nam Cộng hòa trù tính cuộc hành binh sẽ diễn ra ba bước. Bước thứ nhất, nhanh chóng chiếm cho được Bản Đông, cắt đối phương ra làm đôi để họ không kịp điều động lực lượng đối phó và phân tán kho tàng. Bước thứ hai, mục tiêu là Sê Pôn với việc phải phá cho được hệ thống chân hàng của Bắc Việt Nam ở đây, sau đó dừng lại ba tháng, một khoảng thời gian cần và đủ để làm tê liệt đường tiếp tế của đối phương. Bước thứ ba, khi mùa mưa tới cũng là lúc rút quân. Theo chủ quan của địch, lúc này đối phương cũng đành bó tay vì mưa đã trở thành "người thay thế" để vô hiệu hóá con đường vận chuyển chiến lược của Bắc Việt Nam.


Thực tế đã trái ngược với những gì quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã trù tính. Trong một vài ngày đầu của cuộc hành quân, tốc độ tiến quân của địch khá nhanh. Quân đội Việt Nam Cộng hòa chiếm lĩnh hầu hết các dãy điểm cao hai bên Nam - Bắc Đường 9, thiết lập bình phong bảo vệ đội hình hành quân chủ yếu ở Bản Đông. Nhưng đến đây, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã bị quân và dân Mặt trận Đường 9 - Nam Lào chặn đánh quyết liệt. Và đội quân thiện chiến nhất của quân đội Việt Nam Cộng hòa trong cuộc hành quân này - chiến đoàn đặc nhiệm của Đại tá Phan Hoà Hiệp, hay còn gọi là "mũi lao thép" cũng chỉ dừng đến Bản Đông. Mặc dù chiếm được Bản Đông, nhưng chiến đoàn đặc nhiệm phải trả một cái giá khá đắt với hơn 300 lính chết, 18 xe tăng bị diệt, 20 trực thăng bị rơi... Sê Pôn - mục tiêu chính của bước thứ hai chỉ cách đó 20km nhưng xa vời vợi.


Ngày 11 tháng 2, quân đội Việt Nam Cộng hòa vội vã xốc lại tổ chức của chiến đoàn đặc nhiệm, chuẩn bị cho "mũi lao thép" tiến thẳng đến Sê Pôn. Nhưng điều mà tướng tá Thiệu và các cố vấn của họ không lường được là yếu tố bất ngờ đã không còn. Trái ngược với điều mong đợi của họ, quân ta đã kịp điều động binh lực lớn đến nơi. Các đợt đột phá của quân đội Việt Nam Cộng hòa lần lượt bị đẩy lùi. "Mũi lao thép" buộc phải co về Bản Đông. Như thế, trên hướng chính, mũi đột kích chủ yếu của quân đội Việt Nam Cộng hòa đã bị bẻ gãy và trên các hướng khác cũng phải chịu chung số phận là điều không thể tránh khỏi.


Ở cánh Bắc, như trên đã nói trong vài ngày đầu tình hình diễn biến có vẻ thuận lợi vì chưa gặp đối phương. Trên 300 lần chiếc trực thăng, gồm cả "cần cẩu bay" CH.54 bay kín bầu trời, ồ ạt đổ Lữ đoàn 3 dù và Liên đoàn 21 biệt động quân xuống cùng với pháo, xe ủi đất chiếm lĩnh hết điểm cao này đến điểm cao khác... nhưng rồi quân đội nhân dân Việt Nam xuất hiện sớm hơn so với dự kiến. Toàn bộ trận địa lâm thời phòng ngự của quân đội Việt Nam Cộng hòa bị vây hãm từ ngày 10 tháng 2, tức là chỉ 2 ngày sau khi đổ quân. Mười ngày sau, tiểu đoàn biệt động quân đầu tiên bị diệt, tiếp đó là Lữ đoàn 3 dù bị xóa sổ. Đại tá Lữ đoàn trưởng Nguyễn Văn Thọ bị bắt. Cánh Bắc bị bẻ gãy.


Trên hướng Nam, Chuẩn tướng Phạm Văn Phú, Sư trưởng Sư đoàn 1 hy vọng đơn vị mình đảm nhiệm hướng thứ yếu thì tình hình sẽ đỡ căng thẳng hơn. Nhưng ngay từ ngày đầu, khi mới đổ Trung đoàn 3 xuống mà hàng chục trực thăng đã bị hạ. Phải mất 7 giờ, trung đoàn này mới đổ quân xong. Hai trung đoàn 1 và 2 cũng không gặp may mắn hơn. Ngày 1 tháng 3, Tiểu đoàn 3 đổ xuống Đông Nam Sê Pôn với một giá quá đắt: 14 máy bay lên thẳng bị hạ, cả Ban chỉ huy tiểu đoàn thiệt mạng. Cánh Nam ngày càng ở vào thế bất lợi sau 12 ngày đọ sức với đối phương.


Tháng 2 đã trôi qua, trên cả ba hướng tiến công của quân đội Việt Nam Cộng hòa đều bị quân và dân Mặt trận Đường 9 - Nam Lào bẻ gãy. Mục tiêu cuối cùng là Sê Pôn vẫn còn xa lắc. Mặc dù lâm vào thế bất lợi như vậy, nhưng Bộ chỉ huy hành quân địch vẫn quyết định tung lực lượng dự bị chiến dịch và cũng là lực lượng dự bị chiến lược của quân lực Việt Nam Cộng hòa, bao gồm Lữ đoàn 2 dù, hai thiết đoàn (1.1 và 17), hai lữ đoàn lính thủy đánh bộ (147 và 258) cùng với hai trung đoàn còn lại của Sư đoàn 1 vào cuộc chiến. Ngày 5 và 6 tháng 3, quân đội Việt Nam Cộng hòa dốc sức lần cuối để tiến công Sê Pôn và chuyển cánh quân phía Nam của Phạm Văn Phú thành hướng chủ yếu vì "mũi lao thép" trên hướng chính đã bị đánh bại. Sư đoàn 1 cùng các lực lượng lính thủy đánh bộ, lính dù sử dụng máy bay lên thẳng và xe thiết giáp để cơ động lực lượng nhanh chóng đánh chiếm Sê Pôn. Nỗ lực mới này của quân đội Việt Nam Cộng hòa đã vấp phải sự chặn đánh quyết liệt của các sư đoàn 2, 324, 304 và các lực lượng binh chủng kỹ thuật tăng cường. Tại khu vực cách Đông Bắc Sê Pôn khoảng 2km, chiến sự giưa ta và địch diễn ra giằng co, quyết liệt trong suốt một tuần. Địch sử dụng nhiều trực thăng, nhiều tốp máy bay ném bom chi viện nhưng bị lưới lửa phòng không của ta ở Đường 9 Nam Lào làm cho khiếp sợ. Ở Nam Đường 9, đoạn từ Bản Đông đi Sê Pôn, Sư đoàn 304 chặn đánh quyết liệt số quân địch đến giải tỏa, diệt 300 lính Việt Nam Cộng hòa phá hủy 16 xe thiết giáp, bắn rơi 15 máy bay. Ở hướng Đông Sê Pôn, Sư đoàn 2 diệt 200 địch, bắn rơi 8 máy bay. Quân địch chốt giữ Bản Đông ngày càng bị vây chặt. Do đường bộ bị cắt đứt và đường không bị khống chế, nên hơn 30.000 binh sĩ quân đội Việt Nam Cộng hòa đang đứng chân ở khu vực từ Lao Bảo đến giáp Sê Pôn rơi vào tình thế khốn quẫn và phải đối mặt với nguy cơ bị tiêu diệt từng bộ phận.


Những giờ phút bi thảm nhất của đạo quân chủ lực tinh nhuệ Việt Nam Cộng hòa đã diễn ra. Trên Đường 9 - Nam Lào, đoạn từ Bản Đông về Lao Bảo, hơn 100 xe tăng, thiết giáp bị ta chặn đánh. Hàng trăm binh sĩ Việt Nam Cộng hòa vứt bỏ súng đạn, chạy tắt rừng hòng thoát thân đã bị bắt. Ngày 20 tháng 3, tại khu vực Bản Đông - nơi được chọn làm khu vực đánh trận then chốt đã hoàn toàn giải phóng. Trong trận then chốt quyết định này, bộ đội ta đã diệt và bắt hơn 1.800 dịch, thu và phá hủy 113 xe tăng, xe bọc thép, 24 khẩu pháo, bắn rơi 52 máy bay. Ở các hướng phản công khác, bộ đội ta cũng giành thắng lợi giòn rã.


Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Qua gần 50 ngày đêm liên tục phản công, tiến công địch, quân và dân Mặt trận Đường 9 - Nam Lào đã đánh cho quân đội Việt Nam Cộng hòa - lực lượng nòng cốt thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh một đòn chí mạng. Trên hai vạn tên gồm 6 trung đoàn, lữ đoàn, 13 tiểu đoàn bộ binh, pháo binh bị loại khỏi chiến đấu; hai sư đoàn dự bị chiến lược gồm sư đoàn dù, sư đoàn lính thủy đánh bộ bị đánh thiệt hại nặng. Ngoài ra, lực lượng không quân, lực lượng tăng thiết giáp quân Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa cũng bị tổn thất lớn. Một số lực lượng lớn đáng kể vũ khí đạn dược, quân trang, quân dụng của địch bị phá hủy hoặc lọt vào tay đối phương1 (Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập VI, Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương... Sđd tr. 976 972)... Như thế, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đã "chuyển thành một thất bại khổng lồ cho ý đồ của chính quyền Mỹ và cho các kế hoạch họ đã vạch ra cho Việt Nam Cộng hòa"2 (Gabriel Kolko, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr.430).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #167 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2026, 08:34:00 pm »

3. Cuộc tháo chạy hoảng loạn và những tác động đối với tinh thần chiến đấu của quân đội Việt Nam Cộng hòa.

Trong những ngày cuối cùng của cuộc hành quân, mặc dù mục tiêu đánh chiếm Sê Pôn không thực hiện được nhưng bộ máy tuyên truyền của Sài Gòn vẫn tổ chức quay phim chụp ảnh, đưa tin rùm beng: Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã đặt chân vào Sê Pôn! Nhưng các ký giả Anh, Mỹ bám sát mặt trận đã nói lên sự thật về thất bại của quân đội Việt Nam Cộng hòa, một thất bại mở đầu cho cuộc chạy hoảng loạn "vô kế hoạch" về bên này biên giới bởi quân chết quá nhiều mà trực thăng cứu trợ của Mỹ bị bắn rơi cũng lắm. Chính Nguyễn Văn Thiệu đã phải thừa nhận: "Người Mỹ đã có quá nhiều thương vong trong số máy bay lên thẳng đến nỗi họ giảm cả máy bay tải thương. Đây là lý do tại sao binh sĩ Việt Nam đã không thể tiến quân nhanh hơn. Điều này đem lại thuận lợi cho quân đội Bắc Việt Nam phản công Ngươi Mỹ đã không chấp thuận trả giá cao bằng cả máy bay lên thẳng lẫn phi công"3 (Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập VI, Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương... Sđd tr. 976 972). Ngày 15 tháng 3, tờ "Tuần tin tức (Mỹ) viết: Chỉ trong một cuộc trực thăng vận của Sư đoàn 1 (cánh Nam), 38 trong số 60 máy bay lên thẳng đã bị bắn rơi.


Hơn 40 ngày đã qua, cái đích cuối cùng của cuộc hành quân đã không thể chạm tới được dù địch bằng trực thăng, cơ giới. Quân đội Việt Nam Cộng hòa đứng nhìn Sê Pôn từ xa để rồi phải ngậm ngùi quay gót trở lại hướng Đông. Cuộc lui quân của địch bắt đầu từ ngày 18 tháng 3 năm 1971 khiến người ta nhớ lại những con số, những lời tuyên bố được đưa ra khi bắt đầu xuất quân: hơn 2.000 máy bay các loại được điều động cho cuộc hành quân; tính từ ngày 8 tháng 2 đến ngày 7 tháng 3 đã có tới 26.000 lần chiếc trực thăng dùng vào việc đổ quân và chi viện hỏa lực cho bộ binh; B-52 đã ném tới 36.000 tấn bom, trung bình 1.500 tấn/ngày... Tướng Uâyen cũng đã tuyên bố rằng, cuộc tiến quân sang Lào là trận đánh lớn nhất trong toàn cuộc chiến tranh Đông Dương. Và giờ đây, mục tiêu của cuộc hành quân Sê Pôn chưa đạt được nhưng cuộc "lui quân" đã diễn ra. Thực chất đây là một cuộc "tháo chạy", hay nói chính xác hơn là một cuộc "tháo chạy trong hoảng loạn" - như báo chí Mỹ và phưưng Tây đã miêu tả: "Nhờ phi công Mỹ lái máy bay lên thẳng suốt ngày này sang ngày khác, vượt qua lửa đạn mới cứu nổi một số quân đang bị bao vây. Số quân tinh nhuệ Sài Gòn quá tuyệt vọng không còn cách nào khác là liều mạng bám vào càng máy bay lên thẳng để rời khỏi trận địa. Nhiều nhân viên phi hành Mỹ phải lấy dây cột chặt người vào ghế để khỏi bị đẩy ra khỏi máy bay. Một số phi công khác phải mang theo dùi cui để hễ tên lính Sài Gòn nào trèo lên máy bay thì quật liền..."1 (Roitơ, ngày 28 tháng 3 năm 1973). Và đây là cảnh tượng kinh hoàng của những người lính thất trận trong quá trình tháo chạy: "Quân lính Nam Việt Nam khiếp sợ, phải đánh lẫn nhau giành chỗ khi máy bay đáp xuống để nhặt bọn bị thương"1 (Tin Mỹ và thế giới, ngày 5 tháng 4 năm 1971). Hoặc ở trên hướng Nam, người ta được biêt rằng, khi Sư đoàn 1 đang ở vào thế tiên thoái lưỡng nan vì bị bao vây chặt thì Lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ (mệnh danh là Cọp biển) được điều gấp sang ứng cứu. Nhưng rồi đến lượt chính lữ đoàn bất hạnh này cũng bị vây đánh và nó vội lo mở đường máu thao chạy thoát thân... Kết quả là, "nhóm 2.000 người cuối cùng của Lữ đoàn Cọp biển lên rừng này suýt nữa thì không chạy được về bên này biên giới, dù đường biên chỉ còn cách đó 6 dặm dù họ đã phải bỏ lại cả xe pháo, bỏ cả đồng bọn bị thương, bị chết. Đám tàn quân này, lấm láp như vừa được moi từ dưới đất lên, cố chạy thục mạng về bên này biên giới vì quân cộng sản ngồi trên xe tăng Nga và cả M.41 của Mỹ mà họ tịch thu được, đuổi đánh tơi bời. Cuối cùng chỉ còn sống sót chừng 1.000 người đặt chân được về phần đất Việt Nam..."2 (Thời báo (Mỹ), ngày 5 tháng 4 năm 1971).


Sau cuộc ra quân rồi tháo chạy thảm hại này, Bộ Tổng Tham mưu quân đội Việt Nam Cộng hòa cũng như Tổng hành dinh của tướng Abram chưa làm báo cáo tổng kết để trình Tổng thống - Tổng tư lệnh R. Níchxơn về kết quả "trận đánh lớn nhất" này thì chính báo chí phương Tây đã lần lượt lên tiếng giúp họ!


Hãng tin AFP ngày 25 tháng 3 năm 1971 đã đưa ra một ví dụ rất điển hình về sự thảm bại của các đơn vị chủ lực tinh nhuệ quân lực Việt Nam Cộng hòa như sau: "Sư đoàn 1 xuất quân thấm thoát đã 5 tuần. Cũng ra đi còn có những đơn vị được coi là thiện chiến nhất như biệt động  quân, thủy quân lục chiến, quân dù... Cái tên "mũi lao thép" được gán cho giờ đây chỉ còn là một cái bóng. Một tiểu đoàn trưởng lên đường với 400 quân trong tay, nay trở về với 83 tàn binh, 210 chiến xe tăng gầm rú hùng hổ lên đường, để rồi chỉ còn 71 chiếc thoát chết trở về...". Còn tờ Thời báo (Mỹ) ngày 5 tháng 4 năm 1971 đã ngay lập tức đưa tin: "Thiệt hại thật khủng khiếp. Phía Mỹ và Nam Việt Nam ước tính thương vong gần 50% tổng số lực lượng tham gia cuộc hành quân". Hãng tin UPI ngày 30 tháng 3 năm 1973 cũng phải thừa nhận: "Sự kiện (Lam Sơn 719) này đã làm cho chính quyền (thân Mỹ) ở Phnôm Pênh và Viêng Chăn bị ảnh hương rất lớn về mặt chính trị, không kém gì Sài Gòn. Người ta thấy không quân Mỹ đã mất hết phép mầu nhiệm. Trái lại, người ta cũng thấy quân cộng sản trên khắp chiến trường Đông Dương được sự cổ vũ tinh thần rất mạnh mẽ, khiến họ hết sức phấn khởi... Chẳng thế mà các quan chức trong chính quyền (Oasinhtơn) không còn dám lên tiếng tô vẽ cho cuộc hành quân sang Lào nữa. Điều mà họ thừa nhận là: cuộc hành quân mang dáng dấp một thảm họa hơn là một chiến thắng".


Thất bại của cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đã tác động nặng nề đến quân đội Việt Nam Cộng hòa. Bị thua đau với con số thương vong cao đã là đòn nặng giáng vào quân đội Việt Nam Cộng hòa, nó "phá hủy mất phần tinh nhuệ nhất" của đội quân này. Những người lính quân đội Việt Nam Cộng hòa giờ đây chỉ nghĩ đến chạy trốn khỏi chiến trường trong nỗi kinh hoàng, mong thoát thân bằng mọi giá, kể cả giẫm đạp, chém giết lẫn nhau. Điều đó không bao giờ có thể "hâm nóng" được tinh thần chiến đấu và chiến thắng của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Thảm bại ở Nam Lào đã làm cho lực lượng tổng dự bị chiến lược của quân đội Việt Nam Cộng hòa suy yếu một bước nghiêm trọng, tổ chức bị xộc xệch, tinh thần quân sĩ ngày càng suy sụp nặng nề. Một số quan chức của quân đội Việt Nam Cộng hòa đã phải thừa nhận: phục hồi về quân số có lẽ làm được, nhưng về hiệu quả và tinh thần thì không thể lấy lại được. Những cảnh tượng quân đội Việt Nam Cộng hòa vứt cả súng đạn, quăng cả xe pháo,... để chạy tháo thân đã chứng tỏ rằng, Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa không thiếu súng, nhưng thiếu tinh thần. Họ không có "chất keo" nào kết dính giữa súng và người cho có hiệu lực. Chính Níchxơn cũng phải thừa nhận, đây là "một thất bại về tâm lý cả ở Nam Việt Nam, nơi mà tinh thần đã bị tan rã do tin tức báo chí về cuộc rút lui, lẫn ở Mỹ là nơi mà những nghi ngờ về khả năng leo thang đã được dấy lên với những hình ảnh, tin tức đã làm giảm lòng tin vào thắng lợi của Việt Nam hóa và tricn vọng chấm dứt chiến tranh"1 (Giôdép A. Amtơ, Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr. 325).


Cuộc hành quân đã tắt ngấm nhưng vẫn tác động mạnh mẽ đến tinh thần và tâm lý cả bộ máy chính quyền cũng như quân đội Nam Việt Nam. Đêm đêm, trong các phòng trà vẫn vang lên những khúc ca ai oán của các ca sĩ Khánh Ly, Duy Khánh về số phận của những người lính đã chết "cong queo, chết vội vàng, chết không manh áo..." ở A Sầu, Ai Lao.


Và, người ta có cảm tưởng, cuộc tháo chạy hoảng loạn cùng với sự sa sút nghiêm trọng về tinh thần của binh lính quân đội Sài Gòn ở "Lam Sơn 719" là bước khởi đầu cho cuộc rút lui chiến lược mùa Xuân 1975 của quân đội này, đưa tới sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ Việt Nam Cộng hòa và chấm dứt cuộc chiến 21 năm giữa đế quốc Mỹ với nhân dân Việt Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #168 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2026, 08:35:58 pm »

PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG ANH DŨNG, KIÊN CƯỜNG CỦA QUÂN VÀ DÂN QUẢNG TRỊ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC, QUYẾT TÂM XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG NGÀY CÀNG GIÀU ĐẸP

THÁI VĨNH LIỆU
Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy Quảng Trị


Cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc thắng lợi bằng việc ký kết Hiệp định Giơnevơ, nền độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và Lào, Campuchia đã được công nhận. Đó là kết quả của tinh thần đoàn kết, nhất trí, anh dũng chiến đấu của nhân dân và quân đội ta dưới sự lãnh đạo của Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng do những toan tính thâm hiểm của đế quốc Mỹ, nên đất nước ta bị chia cắt, vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải - Quảng Trị) làm ranh giới. Miền Bắc hoàn toàn độc lập, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn miền Nam lại chịu ách thông trị của chủ nghĩa thực dân mới, phải tiếp bước cuộc đấu tranh dân tộc dân chủ lâu dài và gian khổ.


Chính từ mốc lịch sử này, Việt Nam trở thành nơi thử thách sức mạnh và uy tín của đế quốc Mỹ như chính giới cầm quyền Nhà Trắng đã xác nhận: Chiến tranh xâm lược Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Bằng tiềm lực siêu cường về quân sự và kinh tế, chúng tin tưởng rằng có thể khuất phục Việt Nam, từ đó đè bẹp phong trào giải phóng dân tộc và chặn đứng bước tiến của chủ nghĩa xã hội ở các nơi trên thế giới. Vì lẽ đó, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam là một cuộc đọ sức điển hình, là tiêu điểm của cuộc đấu tranh vô cùng quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng trên thế giới, là cuộc chiến tranh giải phóng mang tính chất thời đại sâu sắc. Trong bối cảnh đó, Quảng Trị - điểm chia cắt hai miền đất nước, nơi hội tụ của khát vọng và đau thương, đã trở thành chiến trường của cuộc đọ sức giữa hai lực lượng, hai chế độ.


Quảng Trị là đầu cầu giới tuyến, tiếp giáp với miền Bắc xã hội chủ nghĩa - hậu phương lớn của tiền tuyến miền Nam; vì vậy, ngay sau khi ký kết Hiệp định Giơnevơ, chính quyền Ngô Đình Diệm được dựng lên, đế quốc Mỹ đã tập trung lực lượng đánh phá Quảng Trị vô cùng khốc liệt, nhằm biến vùng đất này thành vành đai trắng, xây dựng một phòng tuyến chống cộng vững chắc, khống chế Đường 9, cắt đứt hoàn toàn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam làm cho cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam "tàn lụi" và khi đó, Mỹ có điều kiện mở cuộc chiến tranh xâm lược ra miền Bắc.


Theo đuổi âm mưu này, sau khi hai bên đã hoàn thành việc chuyển quân tập kết, lợi dụng việc ta chấp hành và thực hiện các điều khoản của Hiệp định Giơnevơ, tranh thủ thời cơ đấu tranh thống nhất nước nhà bằng con đường hòa bình; Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã sử dụng nhiều biện pháp, thủ đoạn hết sức xảo quyệt nhằm tàn sát cán bộ, đảng viên và quần chúng yêu nước. Cũng như các địa phương trên toàn miền Nam, lực lượng cách mạng Quảng Trị bị tổn thất nghiêm trọng chưa từng có. Sự hy sinh của hàng nghìn cán bộ, đảng viên, quần chúng yêu nước khắc sâu thêm lòng căm thù, tiếp thêm ý chí cho Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị phát huy truyền thống anh hùng, bất khuất, dũng cảm, sáng tạo, từng bước xây dựng thực lực cách mạng, vừa tìm tòi phương pháp đấu tranh. Trong những tháng năm thử thách đầy cam go đó, Đảng bộ, quân và dân khu vực Vĩnh Linh với tình cảm ruột thịt, đã vượt qua nhiều gian khổ, hy sinh, mở lối, xoi đường, âm thầm chi viện cho Quảng Trị. Quân và dân Quảng Trị vừa xây dựng cơ sở cách mạng vùng đồng bằng, đô thị vừa xây dựng và giữ vững căn cứ địa miền núi, đảm bảo cho con đường chi viện Bắc - Nam thông suốt, giúp đỡ Đảng Nhân dân cách mạng Lào củng cố lực lượng, nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ các tỉnh miền Nam trên đường ra Bắc.


Bằng ý chí can trường, gan góc, quân và dân Quảng Trị đã vượt qua thời kỳ khó khăn nhất, đưa phong trào đấu tranh toàn tỉnh tiến lên hoà nhịp với phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam. Lực lượng cách mạng Quảng Trị không ngừng phát triển, đánh địch mạnh mẽ trên 3 vùng chiến lược, tạo ra những điều kiện cơ bản để Trung ương mở Mặt trận Đường 9.


Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng trên toàn miền Nam gắn liền với quá trình mở rộng và phát triển tuyến hành lang chi viện Bắc - Nam mà Quảng Trị là một cửa ngõ hết sức quan trọng. Chính vì vậy mà Vĩnh Linh, vùng khu phi quân sự, vùng miền núi phía Tây, dọc hai bên Đường 9 và vùng giáp ranh đồng bằng trở thành những nơi quân Mỹ và quân đội Sài Gòn dùng bom đạn, chất độc hóa học hủy diệt. Xây dựng hàng rào điện tử Mắc Namara, Mỹ đã biến Quảng Trị thành nơi thử nghiệm những vũ khí tối tân nhất mà khoa học quân sự Mỹ mới phát minh. Chiến trường Quảng Trị ác liệt, nóng bỏng hơn bao giờ hết. Dưới mưa bom, bão đạn, quân và dân toàn tỉnh đoàn kết một lòng, nêu cao quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, tích cực phối hợp với bộ đội chủ lực đánh địch giành nhiều thắng lợi giòn giã. Khí phách anh hùng, lòng dũng cảm và trí thông minh của quân và dân Quảng Trị đã chiến thắng vũ khí tối tân của Mỹ, hàng rào điện tử Mắc Namara - niềm tự hào của các nhà khoa học quân sự Mỹ nhanh chóng mất tác dụng. Đồng bào Quảng Trị ở trong khu tập trung đấu tranh quyết liệt với địch để sản xuất, bảo vệ sản xuất, cung cấp lương thực, thực phẩm nuôi dưỡng hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ các sư đoàn, trung đoàn đứng chân trên địa bàn, tạo điều kiện vững chắc cho bộ đội triển khai chiến dịch. Quân và dân Vĩnh Linh kiên cường chiến đấu bảo vệ quê hương, vượt qua lưới lửa dày đặc của địch, vận chuyển lương thực, vũ khí, các nhu yếu phẩm thiết yếu vào chiến trường, cùng với quân và dân Quảng Trị đảm bảo cho con đường chi viện Bắc - Nam luôn thông suốt. Ý chí kiên cường, bất khuất của quân và dân Quảng Trị đã góp phần to lớn vào chiến thắng Mậu Thân (1968), giải phóng hoàn toàn quận lỵ Khe Sanh - Hướng Hóa, mở ra một thời kỳ phát triển cao hơn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #169 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2026, 08:37:01 pm »

Việc thay thế chiến lược "chiến tranh cục bộ" bằng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" là bước xuống thang của đế quốc Mỹ. Nhưng với tiềm lực quân sự mạnh, Mỹ ra sức củng cố, trang bị vũ khí hiện đại cho quân đội Sài Gòn, để thay thế quân Mỹ mở các chiến dịch hành quân càn quét, bình định lớn trên khắp chiến trường miền Nam. Tại Quảng Trị, Mỹ - ngụy tập trung lực lượng lớn mở các cuộc hành quân đánh phá, càn quét, bình định, thanh lọc địa bàn, bốc hót dân vào các khu tập trung kết hợp với các thủ đoạn chiêu hồi, chiêu hàng cán bộ, đảng viên cách mạng. Ở nhiều vùng, địch dùng bom đạn, chất độc hoá học, phi pháo đốt trụi xóm làng, phát quang các vùng trọng điểm ở rừng núi, bến sông, ngăn chặn ta hoạt động. Cuộc đấu tranh chống bình định, lấn chiếm, giữ đất, giành dân, bảo vệ vững chắc tuyến hành lang vận chuyển Bắc - Nam của quân và dân Quảng Trị diễn ra dai dẳng, quyết liệt. Quân và dân toàn tỉnh nêu cao truyền thống anh hùng, bất khuất, kiên cường đánh địch, đẩy mạnh đấu tranh chính trị, binh vận, tiếp tục xây dựng và củng cố lực lượng, ra sức sản xuất lương thực, thực phẩm, giành những thắng lợi quan trọng, góp phần tạo ra "nhân tố mới và triển vọng mới" cho cuộc chiến đấu chống chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Trên tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, lực lượng dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong của tỉnh tích cực tham gia mở đường, vận chuyển hàng hóa, bảo vệ các kho, trạm hậu cần chiến lược.


Hòng tìm kiếm một chiến thắng quân sự mang tính chiến lược, giới chức quân sự hiếu chiến Lầu Năm Góc khẳng định: phải đánh phá việc bảo đảm hậu cần của Nam Việt Nam ngay từ gốc (Bắc Việt Nam). Vì lẽ đó, cuối năm 1970, Mỹ đã chủ trương mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh vào Đường 9 - Nam Lào, cắt tuyến vận chuyển chiến lược của ta, làm cho lực lượng vũ trang ta ở miền Nam suy yếu, không thể đánh tập trung quy mô lớn trong mùa khô 1971, 1972 để Mỹ dễ dàng thực hiện âm mưu "Việt Nam hóa chiến tranh" giành lại thế chủ động trên chiến trường.


Đối với ta, ngay từ giữa năm 1970, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã lường tính khả năng địch có thể mở cuộc tiến công quy mô lớn trong mùa khô 1970-1971 ra các vùng Trung, Hạ Lào, Đông Bắc Campuchia. Vì thế, từ mùa hè năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu đã xúc tiến kế hoạch tác chiến, chuẩn bị chiến trường, lực lượng sẵn sàng ứng phó với tình huống này. Với quyết tâm "nhất thiết phải đánh thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào", Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, bảo vệ bằng được đường Hồ Chí Minh, sẵn sàng ứng phó khi địch có những hành động phiêu lưu quân sự khác.


Quân và dân Quảng Trị nhận lệnh của Trung ương với tinh thần và quyết tâm cao nhất: tham gia đánh bại quân địch ở Đường 9 - Nam Lào; giữ vững giáp ranh, đẩy mạnh phong trào đồng bằng; bảo vệ căn cứ địa miền Tây và tăng cường sản xuất tự túc.

Để thu hút và giam chân lực lượng địch tạo điều kiện cho các đơn vị bạn chuẩn bị chiến trường, những tháng cuối năm 1970, lực lượng vũ trang Quảng Trị phối hợp với liên quân chiến đấu Việt - Lào liên tục mở các đợt tiến công vào lực lượng cơ động quân đội Sài Gòn; đánh phá giao thông và các mục tiêu nằm sâu trong hậu phương địch. Ba tháng cuối năm 1970, quân và dân Quảng Trị và bộ đội chủ lực đánh hơn 500 trận lớn, nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên địch, bắn rơi 50 máy bay, phá hủy nhiều xe quân sự, 12 tàu, xuồng vận tải và nhiều phương tiện chiến tranh của địch; ghìm chân toàn bộ lực lượng của Sư đoàn 3 quân Sài Gòn, phá vỡ kế hoạch vận chuyển hàng hóa quân sự ra Ái Tử, Đông Hà của địch. Hai tháng cuối năm 1970 và tháng 1 năm 1971, quân và dân hai huyện Gio Linh, Cam Lộ 7 lần đánh bại các cuộc hành quân nống lấn của địch hòng đánh phá các bàn đạp của ta ở hai xã Trung Giang, Gio An (Gio Linh) và bốn xã phía Bắc huyện Cam Lộ. Quân và dân Hướng Hóa phối hợp với bộ đôi chủ lực đánh bại cuộc càn của một bộ phận quân Mỹ đánh ra Đường 9, hòng chiếm lại khu vực Khe Sanh đê làm bàn đạp xuất phát tiến công sang Đường 9 - Nam Lào. Phối hợp với Mặt trận Đường 9 - Nam Lào, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, bộ đội, du kích tổ chức nhiều trận đánh trên các trục đường giao thông, pháo kích vào căn cứ địch. Quân và dân Hướng Hóa tập trung làm nhiệm vụ phục vụ và tham gia chiến đấu ở cánh Nam mặt trận. Khi Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào mở màn, lực lượng vũ trang đứng chân trên địa bàn tỉnh tấn công địch càng dồn dập, tiêu biểu là những trận pháo kích vào các căn cứ quan trọng, sân bay, kho tàng, bến bãi của địch trên trục Đương 9 và trung tâm đầu não, đốt cháy kho xăng Ái Tử, diệt hàng trăm tên địch ở cứ điểm Tà Cơn; làm tắc nghẽn giao thông vận chuyển tiếp tế của địch trên sông Hiếu; buộc địch phải điều thêm quân đến Quảng Trị, góp phần quan trọng để bộ đội chủ lực chiến thắng oanh liệt trên Mặt trận Đường 9 - Nam Lào.


Hơn 40 ngày đêm chiến đấu kiên cường, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào của quân và dân hai nước Việt - Lào kết thúc thắng lợi. Để góp phần làm nên chiến tích anh hùng đó, lớp lớp những người con ưu tú của Quảng Trị xung phong kế tiếp nhau lên đường, bất chấp gian khổ, hy sinh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chuẩn bị, phối hợp chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Có thể khẳng định rằng: chiến thắng Đường 9 - Nam Lào là dấu ấn quan trọng trong tiến trình kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, là bản anh hùng ca về truyền thống anh hùng, bất khuất của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Với chiến thắng oanh liệt này, quân và dân Quảng Trị mãi mãi tự hào vì đã góp phần xứng đáng, cùng quân và dân hai nước Việt - Lào ghi thêm một mốc son chói lọi trong trang sử vàng của mối quan hệ hữu nghị đặc biệt trên con đường đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc của mỗi nước.


Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào có ý nghĩa cực kỳ to lớn, tạo ra bước ngoặt mới cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của quân và dân Quảng Trị. Tinh thần đấu tranh cách mạng của toàn quân, toàn dân ta càng lên cao, tư tưởng dao động, chán nản chiến tranh trong binh lính ngụy quyền càng lan rộng. Quân và dân Quảng Trị có điều kiện thuận lợi mới để đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận, phát huy thế chủ động, phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công của bộ đội chủ lực giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trong năm 1972, giải phóng quê hương, tạo thế và lực mới cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam vào mùa xuân 1975.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM