Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 09:36:22 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử  (Đọc 29421 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #180 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2026, 09:43:33 pm »

Nỗi khiếp sợ và thất vọng.

Một cố vấn Mỹ công tác ở một đơn vị lính nhảy dù Việt Nam Cộng hòa nói: Đây là một cuộc chiến tranh bằng máy bay. Máy bay lên thẳng là phương tiện duy nhất để chở người và đồ tiếp tế. "Không có cách gì khác, quân đội Việt Nam Cộng hòa không thể sống còn được ở Lào nếu không cơ động, không có sân bay nữa, và địch kiểm soát mặt đất". "Ngoài công việc cố hữu là chở xạ thủ, nhân viên quan sát, quân lính và hàng tiếp tế, các máy bay lên thẳng trong chiến dịch ở Lào này còn chở các cố vấn Mỹ" bay lượn trên không để làm nhiệm vụ và chỉ huy chiến đấu qua máy vô tuyến điện vì họ bị cấm đặt chân xuống đất Lào1 (AP ngày 8 tháng 3 năm 1971).


Ở quãng cuối đường Hồ Chí Minh, súng phòng không 12,7mm và 37mm dàn thành một lưới lửa dày đặc, làm cho trực thăng Mỹ "rụng như sung". Ít nhất mỗi ngày cũng có một đại đội trực thăng bị trúng đạn. Các phi công quan sát và xạ thủ ước tính trung bình mỗi ngày có 4 máy bay lên thẳng bị bắn rơi và bị hỏng nặng, vì hỏa lực của súng phòng không, như vậy tổng số máy bay bị mất trong 5 tuần là 140 chiếc2 (AP ngày 8 tháng 3 năm 1971). Trong vài ngày, 40 máy bay lên thẳng bị bắn rơi trong khi cố gắng di tản những người bị bao vây. Một phi công Mỹ kể rằng sự hoảng sợ trong vị trí đã đến mức mà dưới làn đạn súng cối của đối phương, những chùm người bâu vào càng của máy bay lên thẳng để chuồn cho nhanh3 (Le G. Quang, La Guerrc Americaine à Indochine 1964-1975 (Cuộc chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương), Paris Press Universitaire, 1973 p.171).


Máy bay lên thẳng bị bắn rơi ở Lào và biên giới phía Bắc của Nam Việt Nam nhiều đến nỗi một số phi công cảm thấy họ đang trở thành "những phi công cảm tử" (liên tưởng tới Đội "Thần phong" của Nhật trong Đại chiến thế giới thứ hai) mới trong cuộc chiến tranh Đông Dương. Một tay súng ở cửa (máy bay lên thẳng) bay chuyến thứ ba ở Lào coi đó là một chuyến bay tự sát. Các phi công lâu năm của không quân đã lái những chiếc máy bay có cánh cố định trên đất Lào và Bắc Việt Nam so sánh hỏa lực mặt đất trên đường mòn Hồ Chí Minh như là hỏa lực ở Hà Nội và Hải Phòng1 (AP ngày 8 tháng 3 năm 1971)...


Chỉ gần một tháng sau khi bắt đầu chiến dịch, quân Sài Gòn rút lui, những đoàn xe thiết giáp Mỹ được gửi đến để ứng cứu bị chặn lại do những cuộc phục kích cách biên giới vài kilômét. Một vài đơn vị cho rằng họ bị gửi đến nơi để bị tàn sát và đã từ chối không đi xa hơn nữa.


Sự khiếp sợ và chán nản khiến việc đào ngũ càng tăng mạnh. Năm 1970 trong cuộc hành quân lần thứ nhất sang Campuchia, tỷ lệ đào ngũ từ mức bình thường là 8.000 trong một tháng tăng lên 12.000 sau cuộc hành quân sang Lào.


Sự phá sản của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh".

Cuộc hành quân sang Lào đánh dấu một bước được hay thua trong cuộc chiến tranh tàn ác vô tận ở Đông Dương. Nếu Nam Việt Nam không làm nổi việc ở Lào thì sự nhận định làm cơ sở cho canh bạc của Níchxơn tức là Nam Việt Nam có thể gánh vác toàn bộ nhiệm vụ chiến đấu trên mặt đất sẽ tỏ ra sai lầm. Một quan chức chính quyền Níchxơn đã cay đắng mà nói rằng: "Với các loại sức mạnh không quân và pháo yểm hộ họ ở Lào mà họ không làm nổi việc thì họ sẽ không bao giờ làm được cả, và thà chúng tôi biết được điều đó ngay bây giờ còn hơn sau này mới biết". Lúc đó Níchxơn thực sự không còn cách gì khác ngoài việc giảm bớt tổn thất và rút quân Mỹ về nước, với tốc độ nhanh nhất mà sự an toàn cho phép ra khỏi Nam Việt Nam1 (Time (Thời báo) số ra ngày 22 tháng 2 năm 1971).


Nhưng nếu như kết quả là Nam Việt Nam làm được việc tức là cắt đứt cái gọi là đường mòn Hồ Chí Minh ở Nam Lào trong mùa khô hiện thời, thì nó sẽ là "một cuộc chiến tranh khác". Với đường biển qua Sihanúcvin bị đóng cửa, việc đó sẽ có nghĩa là toàn bộ sự thâm nhập và hệ thống tiếp tế của Bắc Việt Nam rất cần thiết cho Bắc Việt Nam tiến hành chiến tranh sẽ bị phá hoại2 (Newsweek (Tin trong tuần) số ra ngày 22 tháng 2 năm 1971). Khoảng 10 vạn quân Bắc Việt Nam phụ thuộc vào hệ thống tiếp tế ỏ Lào sẽ đứng trước một thảm họa...


"Lam Sơn 719" là một thất bại lớn đầu tiên của Việt Nam hóa chiến tranh, như Tổng thống Níchxơn đã nêu ra. Nó cho thấy, nếu không có sự yểm trợ của không quân, quân đội Sài Gòn huấn luyện theo kiểu Mỹ, chỉ có thể chịu đựng những đòn của đối phương một cách khó khăn và đối với họ, lúc này chưa phải lúc tiến hành những chiến dịch lớn để tấn công những mục tiêu xa hậu phương của họ3 (Le G. Quang, La Guerre Américaine à Indochine 1964-1975 (Cuộc chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương), Paris Press Universitaire, 1973, p.171).


Cuộc tấn công Lào, nếu đo lường nó theo những tiêu chuẩn cổ điển cũng là một thất bại dễ thấy hơn. Không những chỉ những tiểu đoàn biệt động, không gì có thể thay thế được, đã bị tiêu diệt, mà toàn bộ lực lượng tinh nhuệ ấy đã bị đánh đuổi chạy toán loạn, đã chứng tỏ cho thế giới, và quan trọng hơn, cho các chính trị gia và dư luận công chúng Mỹ rằng, quân đội Nam Việt Nam thật quả không thể thay thế và sẵn sàng đảm nhiệm vai trò chiến đấu trên bộ do Mỹ trao lại... Một trong những điểm lý thú nhất của cuộc tấn công Lào, là sự bất lực của người Nam Việt Nam để tự giúp mình, thậm chí cả với một khối lượng trực thăng và yểm trợ không quân chưa từng thất1 (Peter Dale Scott, War conspiracy: the second road to the Indochina war, The Boobbs-Momll Company, New York, 1972, p.180)...


Cuộc hành binh sang Lào là một thất bại về quân sự theo các mục tiêu mà Bộ tư lệnh Mỹ đã đề ra cho nó. Nó cũng là một thất bại về chính trị nữa. Trong giai đoạn đầu của chiến dịch "Lam Sơn 719" Tổng thống Nichxơn nói rằng cuộc hành quân này, cũng như các chiến dịch hành quân trước đó sang Campuchia, là nhằm cứu tính mạng của quân đội Mỹ ở Việt Nam... "Lam Sơn 719" chỉ cho người Nam Việt Nam thấy rằng Việt Nam hóa có nghĩa là tăng thêm số người Việt Nam chết để theo đuổi mục tiêu của chính sách Mỹ, là rút quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam mà không cần có thương lượng hòa bình. Trong chiến dịch "Lam Sơn 719" người Mỹ đã thật sự liều, thì một cuộc thất bại của quân đội Việt Nam Cộng hòa để theo đuổi các mục tiêu trước mắt như vậy. Và mưu đồ của họ đã không thành1 (F. Fizgerald, Fire in the Lahe (Lửa trong hồ), Mc Milan, New York 1972 p.24).


Một viên chỉ huy Mỹ đã diễn tả: Cuộc tấn công Lào như một trận đánh lớn nhất của chiến tranh, một trận đánh mà kẻ địch chiến thắng được hết thảy. Những đơn vị tinh nhuệ hết sức cần thiết cho an ninh của Việt Nam cộng hòa nay bị đánh tan tác trong nhiệm vụ phòng ngự từ xa. Có thể trong một hai năm mới lại có thể xây dựng được các đơn vị đó, nếu như phần lớn các "con thỏ già" - sĩ quan chỉ huy có kinh nghiệm - không bị chết trận hoặc bị bắt sống2 (Franfuter Allgemeine Zeitung ngày 18 tháng 3 năm 1971).


Họ tự an ủi mình rằng: Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" cũng có phần nào tác dụng trong việc ngăn cản một chương trình tấn công lớn hoặc vào mùa Thu 1971 hoặc năm 1972 của Quân giải phóng.

Thất bại ở Lào ảnh hưởng sâu sắc đến tương lai của Việt Nam Cộng hòa. Một quan chức cao cấp trong chính quyền Nguyễn Văn Thiệu thổ lộ: "Chúng tôi ở trong một tình thế rất bất lợi. Hiện nay quân đội Bắc Việt Nam được trang bị tốt hơn quân đội chúng tôi, về tinh thần họ lại mạnh hơn. Nếu người Mỹ bỏ rơi chúng tôi, chúng tôi sẽ thất bại. Tôi chẳng muốn nghĩ đến chuyện ấy nhưng người Mỹ vẫn nghĩ đến chuyện ấy, một cách nghiêm chỉnh và người Bắc Việt Nam biết rõ điều ấy"3 (Van Geirt, La piste Ho Chi Minh (Đường mòn Hồ Chí Minh) Edilions Spéciales, Paris, 1971, p.319).


Trái với điều người ta hy vọng, cuộc tấn công vào Lào không củng cố thêm cơ sở của Việt Nam hóa và cũng không thể thuyết phục được Hà Nội về một giải pháp thỏa hiệp. "Thất bại ở Lào càng làm cho người ta nghi ngờ rằng, liệu quân đội Nam Việt Nam có làm được nhiệm vụ thực sự của họ là "bảo vệ đất nước" hay không?"1 (Franfuter Allgemeine Zeitung ngày 18 tháng 3 năm 1971).


Tháng 4 năm 1971, một sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng hòa công bố cho các nhà báo Sài Gòn: "Bắt đầu từ ngày hôm nay, không một đơn vị quân đội nào của Việt Nam Cộng hòa còn ở trên đất Lào. Những lực lượng địch đang đuổi họ về biên giới... Xin lỗi, tôi không muốn nói như vậy, họ (những người Bắc Việt Nam) đã theo gót quân đội ta về phía biên giới"2 (Van Geirt, La piste Ho Chi Minh (Đường mòn Hồ Chí Minh), Editions Spéciales, Paris. 1971, p.318). Bởi khi viên tướng Đỗ Cao Trí cùng với chiếc trực thăng chỉ huy của ông ta bị bắn rơi, thì cuộc hành quân này biến thành một cuộc rút chạy mất hết tinh thần...


Như vậy là, cuộc hành binh rầm rộ, với nhiều kỳ vọng, mang cái tên "Việt Nam hóa" - "Lam Sơn 719" đã thất bại - một thất bại biết trước. "Lam Sơn 719" bộc lộ sự bất lực của quân đội Việt Nam Cộng hòa trong việc phối hợp một chiến dịch lớn và trong việc sử dụng ưu thế hỏa lực một cách hợp lý. Các nhà báo luôn luôn lặp đi lặp lại lập luận rằng quân đội Việt Nam Cộng hòa không bao giờ thay thế, càng không thể tiên bộ hơn binh lính Mỹ"3 (Gabriel Kolko, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb Quân đội nhân dân. Hà Nội, 2003, tr. 439). Quả là, trong thế chiến lược bị động, quân Mỹ phải rút khỏi chiến trường miền Nam, quân đội Việt Nam cộng hòa "lại phải" mạnh lên để đảm đương nhiệm vụ của chính mình và của quân Mỹ để lại, thì rõ ràng, đó là một việc làm quá sức tưởng tượng ngay cả với những người lạc quan nhất. Thất bại của cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đã phơi tỏ nghịch lý vừa nêu ở trên.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #181 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2026, 09:49:27 pm »

CUỘC HÀNH QUÂN "LAM SƠN 719"
VÀ CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG SỐ 9 - NAM LÀO -
SỐ LIỆU VÀ SỰ KIỆN

Đại tá BÙI THU THỦY
Phó trưởng Phòng Thõng tin -
Tư liệu Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Trung tá ĐỖ ĐÌNH VY
Trợ lý Phòng Thông tin -
Tư liệu Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


I. CUỘC HÀNH QUÂN LAM SƠN 719:

1. Lực lượng địch tham gia cuộc hành quân "Lam Sơn 719"1 (Các số liệu trong phần này được trích từ cuốn "Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971" của Viện Khoa học quân sự xuất bản năm 1976 và tài liệu "Tổng kết cuộc hành quân Lam Sơn 719" của Cục Nghiên cứu - Bộ Tổng Tham mưu xuất bản năm 1974):


Địch đã tập trung một lực lượng lớn, bao gồm tất cả lực lượng dự bị chiến lược, cùng lực lượng cơ động của Quân khu 1 (Vùng chiến thuật 1), các lực lượng tiếp vận trung ương của quân Việt Nam Cộng hòa với sự chi viện cao của hoả lực và không quân Mỹ, một bộ phận bộ binh và thiết giáp Mỹ phối hợp tác chiến hỗ trợ ở phía sau. Cụ thể là:

+ Lực lượng lúc bắt đầu hành quân (8-2-1971):

Quân số: 42.000, trong đó:

- Quân Việt Nam Cộng hòa: 33.000, gồm:
Lực lượng trực tiếp tham chiến: 27.000 (vượt biên giới 20.000; dự bị: 7.000)
Lực lượng dự bị phía sau: 6.000

- Quân Mỹ: 9.000, gồm:
Lực lượng trực tiếp tham chiến: 6.000 (hỗ trợ)
Lực lượng dự bị phía sau: 3.000


Bộ binh: 34 tiểu đoàn, gồm:

- Quân Việt Nam Cộng hòa: 33 tiểu đoàn, trong đó:
Lực lượng trực tiếp tham chiến: 26 tiểu đoàn (vượt biên giới: 20 tiểu đoàn; dự bị: 6 tiểu đoàn)
Lực lượng dự bị phía sau: 7 tiểu đoàn

- Quân Mỹ: trực tiếp tham chiến 1 tiểu đoàn (hỗ trợ)


Thiết giáp: 7 tiểu đoàn (464 xe), trong đó:

- Quân Việt Nam Cộng hòa: trực tiếp tham chiến 3 tiểu đoàn vượt biên giới (174 xe)

- Quân Mỹ: trực tiếp tham chiến 4 tiểu đoàn hỗ trợ (290 xe)


Pháo binh: 16 tiểu đoàn (258 khẩu)

- Quân Việt Nam Cộng hòa trong đó: 11 tiểu đoàn (186 khẩu):
Lực lượng trực tiếp tham chiến: 8 tiểu đoàn (132 khẩu): vượt biên giới: 7 tiểu đoàn (114 khẩu), dự bị: 1 tiểu đoàn (18 khẩu)
Lực lượng dự bị phía sau: 3 tiểu đoàn (54 khẩu)

- Quân Mỹ: 5 tiểu đoàn (72 khẩu), trong đó:
Lực lượng trực tiếp tham chiến: 3 tiểu đoàn hỗ trợ (36 khẩu)
Lực lượng dự bị phía sau: 2 tiểu đoàn (36 khẩu)


Không quân: có 700 máy bay các loại (300 máy bay chiến đấu phản lực, 300 máy bay lên thẳng, 100 máy bay các loại khác).

+ Lực lượng tham gia lúc cao nhất (10-3-1971):
Quân số: 55.000, gồm:

- Quân Việt Nam Cộng hòa: 40.000, trong đó:
Lực lượng trực tiếp tham chiến: 34.000 (vượt biên giới: 30.000; dự bị: 4.000)
Lực lượng dự bị phía sau: 6.000

- Quân Mỹ: 15.000 trong đó:
Lực lượng trực tiếp tham chiến: 7.000 (hỗ trợ)
Lực lượng dự bị phía sau: 8.000


Bộ binh: 47 tiểu đoàn, gồm:

- Quân Việt Nam Cộng hòa: 40 tiểu đoàn, trong đó:
Lực lượng trực tiếp tham chiến: 35 tiểu đoàn (vượt biên giới: 31 tiểu đoàn; dự bị: 4 tiểu đoàn)
Lực lượng dự bị phía sau: 5 tiểu đoàn

- Quân Mỹ: 7 tiểu đoàn, trong đó:
Lực lượng trực tiếp tham chiến: 1 tiểu đoàn (hỗ trợ)
Lực lượng dự bị phía sau: 6 tiểu đoàn


Thiết giáp: 9 tiểu đoàn (587 xe)

- Quân Việt Nam Cộng hòa: trực tiếp tham chiến 4 tiểu đoàn vượt biên giới (237 xe)

- Quân Mỹ: trực tiếp tham chiến 5 tiểu đoàn hỗ trợ (350 xe)


Pháo binh: 21 tiểu đoàn (- 3 đại đội) (318 khẩu), gồm: 3 tiểu đoàn pháo 175 và 203, 4 tiểu đoàn pháo 155 (-1 đại đội), 14 tiểu đoàn pháo 105 (- 2 đại đội)

- Quân Việt Nam Cộng hòa: 13 tiểu đoàn (210 khẩu), trong đó:
Lực lượng trực tiếp tham chiến: 11 tiểu đoàn (174 khẩu): vượt biên giới: 10 tiểu đoàn (162 khẩu), dự bị: 1 tiểu đoàn (12 khẩu)
Lực lượng dự bị phía sau: 2 tiểu đoàn (36 khẩu)

- Quân Mỹ: 8 tiểu đoàn (108 khẩu), trong đó:
Lực lượng trực tiếp tham chiến: 4 tiểu đoàn hỗ trợ (48 khẩu)
Lực lượng dự bị phía sau: 4 tiểu đoàn (60 khẩu).


Không quân: có 1.000 chiếc các loại (450 chiếc lên thẳng vận tải, 150 chiếc lên thẳng vũ trang, 300 chiếc chiến đấu phản lực, 50 chiếc B-52, 50 chiếc C.130, C.123; quân Việt Nam Cộng hòa có 40 máy bay lên thẳng, còn quân Mỹ có 960 chiếc).

- Tính theo phần trăm, địch đã sử dụng:
- 100% lực lượng cơ động chiến lược quân Việt Nam Cộng hòa (2 sư đoàn 12 sư đoàn).
- 100% lực lượng cơ động Quân khu 1 quân đội Việt Nam Cộng hòa (22 tiểu đoàn/22 tiểu đoàn).
- 34% máy bay lên thẳng toàn miền Nam (600/2.500 chiếc).
- 47% không quân chiến thuật (300/700 chiếc).
- 66% máy bay B-52 (50/75 chiếc).


+ Quân ngụy Lào để phối hợp hoạt động ở phía Tây Đường 9 và phía Mường Noòng, địch sử dụng 26 tiểu đoàn bộ binh điều từ Bắc Xa Ra Van lên XaVan Na Khét. Thực tế chỉ có 9 tiểu đoàn thuộc 2 trung đoàn bộ binh cơ động là GM33 và GM30 tham gia tác chiến.


+ Phiên hiêu đơn vị địch trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719":

a- Quân Việt Nam Cộng hòa:
   Sư đoàn dù Việt Nam Cộng hòa gồm có:
   - Lữ đoàn 1 dù (Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 8, Tiểu đoàn 9)
   - Lữ đoàn 2 dù (Tiểu đoàn 5, Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 11)
   - Lữ đoàn 3 dù (Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 6)
   Sư đoàn thủy quân lục chiến Việt Nam Cộng hòa gồm:
   - Lữ đoàn 147 (Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 7)
   - Lữ đoàn 258 (Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn Cool
   - Lữ đoàn 369 (Tiểu đoàn 5, Tiểu đoàn 6, Tiểu đoàn 9).
   Sư đoàn bộ binh 1 Việt Nam Cộng hòa gồm:
   - Trung đoàn bộ binh 1 (Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 4)
   - Trung đoàn bộ binh 2 (Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 5)
   - Trung đoàn bộ binh 3 (Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 4)
    - Trung đoàn bộ binh 54 (Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 4)
   Sư đoàn 2 bộ binh Việt Nam Cộng hòa (thiếu) gồm:
   - Trung đoàn bộ binh 4 (Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3)
   - Trung đoàn bộ binh 5 (Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 3)
   Lữ đoàn 1 kỵ binh gồm:
   - Thiết đoàn 4 (thiếu)
   - Thiết đoàn 7 (thiếu)
   - Thiết đoàn 11
   - Thiết đoàn 17
   - Chi đoàn 1/1
   - Chi đoàn 1/8
   Liên đoàn 1 biệt động quân gồm: Tiểu đoàn 21, Tiểu đoàn 37, Tiểu đoàn 39, Tiểu đoàn 77BF

b- Quân Mỹ:
   - Lữ đoàn 11 bộ binh Mỹ (thiếu) gồm: Tiểu đoàn 4/3, Tiểu đoàn 1/1, Tiểu đoàn 2/1
   - 2 lữ đoàn thuộc Sư đoàn dù 101 Mỹ (thiếu) gồm: Tiểu đoàn 2/502, Tiểu đoàn 3/506, Tiểu đoàn 1/506, Tiểu đoàn 2/327.
   - Lữ đoàn 1 - Sư đoàn 5 cơ giới Mỹ gồm 5 tiểu đoàn (có 1 tiểu đoàn /Lữ đoàn 11)
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #182 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2026, 09:54:13 pm »

2. Kế hoạch tác chiến của địch.

Gồm 4 giai đoạn:
        - Giai đoạn 1 (từ ngày 30-1 đến ngày 7-2-1971): điều động lực lượng, chiếm lĩnh bàn đạp xuất phát tiến công.
   - Giai đoạn 2 (từ ngày 8 đến ngày 14-2-1971): tiến công chiếm các mục tiêu chiến dịch Bản Đông và Sê Pôn.
   - Giai đoạn 3 (từ ngày 15-2 đến ngày 12-3-1971): lùng sục, đánh phá kho tàng ở xung quanh Sê Pôn và Bản Đông.
   - Giai đoạn 4 (từ ngày 13-3 đến đầu tháng 5-1971): chuyển xuống đánh phá các kho tàng phía Nam từ Sa Đi, Mường Noọng đến A Túc, A Sầu, A Lưới (Trị - Thiên).


3. Tổ chức phân chia sử dụng lực lượng của quân Việt Nam Cộng hòa.

Đội hình chiến dịch tiến công của quân Việt Nam Cộng hòa vượt biên giới sang Lào chia thành ba cánh quân:
   - Cánh giữa đi dọc theo Đường 9 là cánh chủ yếu do 1 chiến đoàn đặc nhiệm phụ trách. Chiến đoàn đặc nhiệm này (do Đại tá Phan Hòa Hiệp chỉ huy), gồm có: Lữ đoàn 1 dù, 2 thiết đoàn 11 và 17 (sau tăng thêm Lữ đoàn 2 dù). Cánh chủ yếu này có nhiệm vụ đánh chiếm Bản Đông, Sê Pôn và khu vực Đông Bắc, Tây Nam Sê Pôn.
   - Cánh Bắc do Lữ đoàn 3 dù (do Đại tá Nguyễn Văn Thọ chỉ huy) và Liên đoàn 1 biệt động quân phụ trách, có nhiệm vụ bảo vệ sườn Bắc từ Ta-púc đến Tây Bắc điểm cao 530 (Đông Bắc Sê Pôn).
   - Cánh Nam do Sư đoàn 1 bộ binh (đủ 3 trung đoàn - do Chuẩn tướng Phạm Văn Phú chỉ huy), sau tăng cường 2 lữ đoàn thủy quân lục chiến (147 và 258) phụ trách, có nhiệm vụ bảo vệ sườn Nam từ Lao Bảo đến Nam Sê Pôn, chiếm lĩnh khu vực Sa Đi - Mường Noòng và các điểm cao 640, 550, 462, 723, 748.
   - Lực lượng dự bị phía sau có Lữ đoàn 369 thủy quân lục chiến và Trung đoàn 54 bộ binh thuộc Sư đoàn 1 bộ binh và trung đoàn 4, 5 thuộc Sư đoàn 2 làm dự bị chiến dịch, đồng thời bảo vệ vận chuyển trục đường từ Huê ra Quảng Trị.


4. Thiệt hại của địch trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719"1 (Các số liệu trong phần này được trích từ cuốn "Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971" của Viện Khoa học quân sự xuất bản năm 1976 và tài liệu "Tổng kết cuộc hành quân Lam Sơn 719" của Cục Nghiên cứu Bộ Tổng Tham mưu xuất bản năm 1974). (Chỉ tính: Thời gian từ 8-2-1971 đến 24-3-1971; Lực lượng tham chiến phía trước, không kể lực lượng phía sau):

Quân số:
   Tổng số bị diệt: 13.500/41.000, chiếm tỉ lệ 32%, trong đó:
   - Quân Việt Nam Cộng hòa: 12.000/34.000, chiếm tỉ lệ 35%
   - Quân Mỹ: 1.500/7.000, chiếm tỉ lệ 21%

Đơn vị (bộ binh và thiết giáp) bị tiêu diệt:
   - 4 trung đoàn/11 trung đoàn, chiếm tỉ lệ 37%:

Lữ đoàn 3 dù: 64% quân số bị diệt.

Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến: 52% quân số bị diệt

Trung đoàn bộ binh 1/ Sư đoàn 1: 56% quân số bị diệt

Lữ đoàn 1 kỵ binh: 55% quân số bị diệt

- 15 tiểu đoàn /39 tiểu đoàn, chiếm tỉ lệ 37%:
   Tiểu đoàn 8 Lữ dù: 65% quân số bị diệt
   Tiểu đoàn 2 Lữ 3 dù: 74% quân số bị diệt
   Tiểu đoàn 3 Lữ 3 dù: 70% quân số bị diệt
   Tiểu đoàn 6 Lữ 3 dù: 66% quân số bị diệt
   Tiểu đoàn 7 Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến: 62% quân số bị diệt
   Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 1 Sư đoàn 1: 55% quân số bị diệt
   Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 1 Sư đoàn 1: 74% quân số bị diệt
   Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 2 Sư đoàn 1: 68% quân số bị diệt
   Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 2 Sư đoàn 1: 68% quân số bị diệt
   Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 3 Sư đoàn 1: 65% quân số bị diệt
   Tiểu đoàn 39 Liên đoàn 1 biệt động quân; 91% quân số bị diệt
   Thiết đoàn 4 (thiếu) Lữ đoàn 1 kỵ binh: 54% quân số bị diệt
   Thiết đoàn 7 (thiếu) Lữ đoàn 1 kỵ binh: 53% quân số bị diệt
   Thiết đoàn 11 Lữ đoàn 1 kỵ binh: 64% quân số bị diệt
   Thiết đoàn 17 Lữ đoàn 1 kỵ binh: 69% quân số bị diệt

   + Bị thiệt hại nặng:
   - 2 sư đoàn/3 sư đoàn, chiếm tỉ lệ 66%:
   Sư đoàn dù: 35% quân số bị diệt
   Sư đoàn 1 bộ binh: 40% quân số bị diệt
   - 4 trung đoàn/11 trung đoàn, chiếm tỉ lệ 37%:
   Lữ đoàn 1 dù: 50% quân số bị diệt
   Trung đoàn 2 Sư đoàn 1: 37% quân số bị diệt
   Trung đoàn 3 Sư đoàn 1: 35% quân số bị diệt
   Liên đoàn 1 biệt động quân: 47% quân số bị diệt
   - 7 tiểu đoàn 39 tiểu đoàn: chiếm tỉ lệ 18%:
   Tiểu đoàn 1 Lữ đoàn 1 dù: 49% quân số bị diệt
   Tiểu đoàn 9 Lữ đoàn 1 dù: 49% quân số bị diệt
   Tiểu đoàn 2 Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến: 49% quân số bị diệt
   Tiểu đoàn 4 Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến: 47% quân số bị diệt
   Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 1 Sư đoàn 1: 48% quân số bị diệt
   Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 3 Sư đoàn 1: 39% quân số bị diệt
   Tiểu đoàn 21 Liên đoàn 1 biệt động quân: 49% quân số bị diệt

   Xe tăng thiết giáp: Bị diệt 4 thiết đoàn (4, 7, 11 17)
   Tổng số bị diệt: 220/587 chiếc, chiếm tỉ lệ 38%, trong đó:
   - Quân Việt Nam Cộng hòa: 170/237 chiếc, chiếm tỉ lệ 78%.
   - Quân Mỹ: 50/350 chiếc, chiếm tỉ lệ 14%.


Pháo: Bị diệt 8 tiểu đoàn pháo (3 tiểu đoàn Sư đoàn 1 2 tiểu đoàn sư đoàn dù, 1 tiểu đoàn Lữ đoàn 147, 1 tiểu đoàn Liên đoàn 1 biệt động quân, 1 tiểu đoàn Lữ kỵ binh) bị đánh thiệt hại nặng 5 tiểu đoàn.
   Tổng số bị diệt: 130/210 khẩu, chiếm tỉ lệ 66%, trong đó:
   - Quân Việt Nam Cộng hòa: 120/162 khẩu, chiếm tỉ lệ 74%.
   - Quân Mỹ: 10/48 khẩu, chiếm tỉ lệ 14%.


Máy bay lên thẳng:
   - Bị bắn rơi, bắn cháy: 120/600 chiếc, chiếm tỉ lệ 20%
   - Bị thương: 380/600 chiếc, chiếm tỉ lệ 63%.


Xe vận tải: bị hủy và bị tịch thu 300/1.700 chiếc, chiếm tỉ lệ 18%.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #183 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2026, 11:13:27 pm »

II- CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO

1. Lực lượng tham gia chiến dịch

Bộ quyết định huy động những lực lượng sau đây tham gia chiến dịch, lấy Binh đoàn 70 làm lực lượng nòng cốt:

- Về bộ binh: 5 sư đoàn (308, 324, 304, 320, 2), các lực lượng tại chỗ của B5, B4, Đoàn 559 và một số tiểu đoàn đặc công của Bộ.

- Về xe tăng, thiết giáp: 3 tiểu đoàn (297, 397, 198).

- Về pháo binh: 4 trung đoàn (3 trung đoàn pháo binh cơ giới là: 368, 38, 45 và Trung đoàn pháo 84 khiêng vác)

- Về phòng không: 4 trung đoàn (230, 237, 241, 491) và nhiều tiểu đoàn, đại đội độc lập của Đoàn 559.

- Về công binh: 3 trung đoàn (7, 83, 219) và nhiều phân đội công binh của Đoàn 559.

Quân số chiến đấu và phục vụ chiến đấu lên tới 60.000 cán bộ, chiến sĩ.


2. Diễn biến chiến dịch

Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 diễn ra trong hơn 50 ngày đêm (30-1-1971 - 23-3-1971), hình thành 3 đợt như sau:

Đợt 1 (từ ngày 30-1 đến ngày 7-2): Địch nghi binh, điều động triển khai lực lượng chuẩn bị khu xuất phát tiến công. Ta cơ động và triển khai lực lượng chiến dịch, tạo thế trận chuẩn bị đánh địch.

Đợt 2 (từ ngày 8-2 đến ngày 11-3): Địch tiến công đánh chiếm Bản Đông, tiếp tục kế hoạch phát triển lên Sê Pôn. Ta ngăn chặn địch từng bước, chặn đứng địch ở Bản Đông, phản đột kích bẻ gãy cánh Bắc, đánh thiệt hại cánh Nam, cơ động lực lượng phòng giữ Sê Pôn, tích cực chuẩn bị điều kiện để chuyển sang phản công lớn toàn mặt trận.


Đợt này có thể chia thành hai bước:

- Bước thứ nhất (từ ngày 8-2 đến ngày 3-3-1971): Địch tiến công chiếm được Bản Đông và hình thành được 2 cánh bảo vệ sườn Nam và sườn Bắc. Ta tập trung bẻ gãy cánh Bắc, kiềm chế cánh Nam, chặn đứng được cánh chủ yếu ở Bản Đông, hình thành thế bao vây chiến dịch.

- Bước thứ hai (từ ngày 4 đến ngày 11-3-1971): Địch củng cố phòng thủ ở Bản Đông, chúng sử dụng thê đội 2 chiến dịch tiếp tục kế hoạch tiến công Sê Pôn với mục tiêu hạn chế. Ta bảo vệ Sê Pôn, bảo đảm an toàn tuyến vận chuyển chiến lược, tích cực đánh địch, điều động lực lượng bao vây chia cắt địch, chuẩn bị điều kiện để thực hành phản đột kích lớn tiêu diệt lực lượng chiến dịch của địch.

Đợt 3 (từ ngày 12/3 đến ngày 23/3): Địch dừng lại và rút lui. Ta chuyển sang tiến công vào toàn bộ đội hình địch và đánh địch rút chạy.


3. Kết quả chiến dịch (Các số liệu trong phần này được trích từ cuốn "Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)". Tập 6, của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, cuồn "Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971" của Viện Lịch sừ quân sự Việt Nam xuất bản năm 1987 và cuốn "Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971" của Viện Khoa học quân sự xuất bản năm 1976).


Qua hơn 50 ngày đêm tiến hành chiến dịch (từ ngày 31-1 đến ngày 23-3-1971), ta đã thu được những kết quả to lớn sau:

- Về sinh lực: Loại khỏi vòng chiến đấu 21.102 tên địch, trong đó loại khỏi vòng chiến đấu 19.960 tên, bắt 1.142 tên.

- Về phương tiện chiến tranh: Bắn rơi và phá hủy 556 máy bay (trong đó có 505 máy bay lên thẳng); phá hủy và bắn chìm 43 tàu và xà lan; phá hủy 1.138 xe cơ giới (trong đó có 528 xe tăng và xe bọc thép), 112 khẩu pháo và súng cối hạng nặng (cỡ lớn), phá hủy, đốt 25 kho (chứa trên 2 triệu lít xăng và 1.000 tấn đạn dược).

- Ta thu được: 2 máy bay lên thẳng, 24 xe các loại (trong đó có 1 xe tăng M41, 5 xe bọc thép M113, 6 xe húc, 12 ô tô), 57 khẩu pháo và súng cối hạng nặng, 24 súng cối cỡ 81 và 60mm, 7 khẩu ĐKZ, 2.268 súng bắn thẳng các loại, 274 máy vô tuyến điện, trên 100 tấn đạn và quân dụng.

- Riêng lực lượng tại chỗ thuộc Đoàn 559 đã tiêu diệt 2.396 tên địch, bắn rơi, phá hủy 255 máy bay các loại, phá hủy 37 xe.

- Tuy nhiên, trong chiến dịch này, bộ đội ta cũng chịu tổn thất lớn: 2.163 cán bộ, chiến sĩ hy sinh và 6.176 bị thương trong chiến đấu.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #184 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2026, 11:16:34 pm »

* Công tác hậu cần chiến dịch1 (Các số liệu về công tác hậu cần chiến dịch được trích từ cuốn: "Công tác hậu cần Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào" của Tổng cục Hậu cần, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1987)

+ Công tác giao thông vận tải:

- Khối lượng hàng đã giao cho các hướng trên toàn mặt trận như sau;

Hướng B70: 4.393 tấn

Hướng Tây: 1.227 tấn

Hướng Nam: 1.057 tấn

Hướng Đông: 1.594 tấn

Cộng toàn mặt trận: 8.271 tấn

Khối lượng hàng trên đây (trừ hướng Đông) chiếm 21% khối lượng hàng vượt khẩu trong thời gian trên Tuyến 559.

Tuyến chiến lược cũng đã phục vụ chuyển quân với khoảng 1.217 chuyên xe chở 27.935 người vào chiến trường, bảo đảm cho 2 tiểu đoàn pháo binh Đ74, 2 trung đoàn cao xạ, 3 tiểu đoàn tăng vào vị trí tập kết; chuyển trên 3.000 thương bệnh binh và 1.100 tù hàng binh từ chiến trường về hậu phương.


Số xe sử dụng đảm bảo cho một sư đoàn tác chiến hiệp đồng binh chủng, mỗi đêm 10 xe (loại 4 tấn) chạy liên tục từ tuyến chiến lược đến tuyến chiến dịch.


+ Công tác bảo đảm vật chất:

a- Tổng số tiếp nhận: 8.271 tấn. Thống kê theo các mặt hàng và tỷ trọng so với tổng khối lượng hàng nhập là:

Đạn: 3.329 tấn, chiếm tỷ trọng 40,2%

Lương thực, thực phẩm: 4.196 tấn, chiếm tỷ trọng 50,7%

Xăng dầu1 (Không tính xăng dầu đã sử dụng của các binh trạm vận tài chiến lược phục vụ chiến dịch): 608 tấn, chiếm tỷ trọng 7%

Hàng quân y: 56,6 tấn, chiếm tỷ trọng 0,7%

Hàng khác: 81,4 tấn, chiếm tỷ trọng 0,9%.

b- Tổng số tiêu thụ: 5.580 tấn. Phân chia theo mặt hàng và tỷ trọng so với tổng số tiêu thụ là:

Đạn: 1.833 tấn, chiếm tỷ trọng 32%

Lương thực, thực phẩm: 3.171 tấn, chiếm tỷ trọng 57%

Xăng dầu2 (Xăng dầu của các binh trạm vận tải chiến lược phục vụ chiến dịch sử dụng không tính vào lượng tiêu thụ): 514 tấn, chiếm tỷ trọng 9,2%

Hàng khác: 61 tấn, chiếm tỷ trọng 1,1%.

+ Phân tích tiêu thụ đạn:

Đạn bộ binh: 108 tấn, chiếm 5,9% tổng số tiêu thụ

Cối, pháo, ĐKZ: 1.666 tấn, chiếm 90,8% tổng số tiêu thụ

Đạn cao xạ: 50 tấn, chiếm 2,6% tổng số tiêu thụ

Thuốc nổ, hỏa cụ: 8,7 tấn, chiếm 0,4% tổng số tiêu thụ

Tổng số đạn cối, pháo, ĐKZ (từ cối 60 trở lên) đã tiêu thụ là 68.235 quả bằng 1.666 tấn. Trong đó có 17,981 quả L122 và Đ74 bằng 1.258 tấn chiếm 68% lượng đạn, tiêu thụ và 75% lượng đạn lớn.

+ Phân tích tiêu thụ đạn Đ74 theo cơ số:

- Bình quân mỗi khẩu ở hướng B70 sử dụng 682 quả = 8,5 cơ số

- Ngày bắn nhiều nhất: 864 quả

- Ngày bắn ít nhất: 46 quả

- Khẩu bắn nhiều nhất: 800 quả = 10 cơ số

- Khẩu bắn ít nhất: 400 quả = 5 cơ số

- Các mục tiêu bắn nhiều nhất:

Cao điểm 500: 537 quả

Cao điểm 655: 609 quả

Lao Bảo, Tà Phúc, Tà Cơn, Cha Ky mỗi nơi: 700-800 quả

Cao điểm 456: 1.258 quả Bản Đông: 3.122 quả

+ Phân tích tiêu thụ lương thực thực phẩm (tính theo tỷ trọng % lượng tiêu thụ lương thực thực phẩm):

Gạo: 2.355 tấn, chiếm tỷ trọng 74,2%

Lương khô: 259 tấn, chiếm tỷ trọng 8,1%

Muối: 71 tấn, chiếm tỷ trọng 2,2%

Đường: 106,5 tấn, chiếm tỷ trọng 3,3%

Sữa: 50 tấn, chiếm tỷ trọng 1,3%

Thực phẩm: 330 tấn, chiếm tỷ trọng 10,3%.

c- Tổng số tổn thất: 600 tấn, chiếm tỷ lệ 11% so với tiêu thụ, trong đó:

Đạn: 370,2 tấn = 20% lượng tiêu thụ

Xăng dầu: 19,5 tấn = 3,7% lượng tiêu thụ

Lương thực thực phẩm: 210 tấn = 6,6% lượng tiêu thụ.


+ Công tác bảo đảm kỹ thuật:

a- Số lượng và chủng loại binh khí kỹ thuật sử dụng nhiều trong chiến dịch:

Súng bộ binh: 23.312 khẩu

Cối, pháo, ĐKZ: 770 khẩu

Súng, pháo cao xạ: 670 khẩu

Xe ô tô (không kể của các binh trạm chiến lược): 603 chiếc

Xe xích: 98 chiếc

Xe tăng: 88 chiếc

b- Lực lượng bảo đảm kỹ thuật sử dụng trong chiến dịch gồm:

Trạm sửa chữa xe đơn vị: 11 trạm

Trạm sửa chữa vũ khí đơn vị: 26 trạm

Các đội sửa chữa xe và vũ khí do Tổng cục tăng cường: 4 đội (1 đội tiểu tu ô tô: 30 người; 1 đội sửa chữa xe cơ động: 60 người; 1 đội sửa chữa tăng xích cơ động: 50 người; 1 đội sửa chữa pháo cơ động: 32 người).

c- Tình hình mất mát, hư hỏng:

Súng bộ binh: 1.738 khẩu = 7,4% số lượng trang bị

Cối, pháo, ĐKZ: 145 khẩu = 18,8% số lượng trang bị

Súng, pháo cao xạ: 96 khẩu = 14,3% số lượng trang bị

Xe ô tô: 284 chiếc = 47,08% số lượng trang bị

Xe xích: 68 chiếc = 69% số lượng trang bị

Xe tăng: 42 chiếc = 47,7% số lượng trang bị.

Trong số trang bị hư hỏng ở hướng B70, số còn có khả năng sửa chữa được có tỷ trọng:

Súng bộ binh: 23%

Súng, pháo cao xạ: 35%

Cối, pháo mặt đất: 60%

Trong số xe bị hỏng trên các hướng, số còn có khả năng sửa chữa được chiếm tỷ trọng:

Xe tăng: 52%

Xe hơi: 61%

Xe xích: 55%.

d- Kết quả sửa chữa trong thời gian chiến dịch:

Súng bộ binh: Đạt 2% số hư hỏng

Cối, pháo, ĐKZ: Đạt từ 5 đến 10% số hư hỏng

Súng cao xạ: Đạt từ 17 đến 37% số hư hỏng

Xe ô tô: 61% số hư hỏng

Xe xích: 63% số hư hỏng

Xe tăng: 50% số hư hỏng
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #185 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2026, 11:17:43 pm »

+ Công tác cấp cứu, điều trị thương binh và bệnh binh:

a- Lực lượng quân y chiến dịch:

Mặt trận đã sử dụng một lực lượng quân y rất lớn: 22 đại đội quân y trung đoàn, 3 tiểu đoàn quân y sư đoàn, 11 đội điều trị chiến dịch, 2 bệnh viện và 2 đội điều trị hậu phương, 6 trạm chuyển thương cơ giới, 1 khung hộ tống chuyển thương bộ, 11 xe chuyển thương chuyên dụng, 7 kho thuốc dã chiến. Ngoài ra, ở phía sau, lực lượng dự bị quân y chiến dịch còn có: 1 đội phẫu, 1 đội vệ sinh phòng dịch, 1 đội điều trị.

Các cơ sở điều trị trên có khả năng thu dung được 4.600 thương bệnh binh.

b- Số lượng thương binh:

- Tổng số thương vong: 8.339 người = 13,4% quân số

Trong đó:

Bị thương: 6.176 người = 9,9% quân số

Hy sinh: 2.163 người = 3,4% quân số

- Tỷ lệ giữa bị thương và hy sinh: cứ 28 người bị thương thì có 1 người hy sinh.

- Số thương vong ở hướng chủ yếu bằng 57,2% số thương vong toàn mặt trận.

- Số thương binh ở 3 SƯ đoàn cơ động (308, 324, 2) chiếm 56% tổng số thương binh toàn mặt trận.

- Số thương vong thấp nhất là ở hướng B5 (6,2% số quân).

- Tỷ lệ giữa thương binh và bệnh binh: 15 thương binh/1 bệnh binh (bình thường ở các chiến dịch khác tỷ lệ này là 1/1-1/2).

c- Phân loại thương binh: Nặng: 15%; vừa: 25%; nhẹ: 60%.

d- Cấp cứu, điều trị:

- Tỷ lệ điều trị khỏi trở về đơn vị trong chiến dịch từ 33 đến 38%.

- Riêng ở 3 sư đoàn cơ động: 308, 324 và 2, cho đến ngày 30 tháng 3 năm 1971 đã trả về được 1.097 thương binh, đạt tỷ lệ 30,7% tổng số thương binh của 3 sư đoàn.

- Đến ngày 30 tháng 4 năm 1971, toàn mặt trận đã trả về các đơn vị 2.779 thương binh, đạt tỷ lệ 44% tổng sô thương binh.

- Tỷ lệ chết tại các trạm quân y: 2,1%.

e- Chuyển thương cơ giới:

- Từ ngày 24 tháng 2 đến 30 tháng 4 năm 1971 đã chuyển về hậu phương 3.555 thương binh.

- Riêng ở hướng chủ yếu đã chuyển về hậu phương được 2.174 thương binh bằng 63% thương binh ở hướng này.


+ Một số tỷ lệ so sánh về bộ binh, pháo và xe tăng giữa ta và địch:

* Nhìn chung trong toàn chiến dịch, nếu so sánh về bộ binh thì lực lượng địch - ta xấp xỉ bằng nhau, nhưng trên hướng tác chiến chủ yếu ta tập trung lực lượng với tỷ số địch: 1 - ta: 1,6. Riêng trong một số trận chiến đấu, ta đánh địch theo tỷ lệ:

- Địch: 1 - ta: 1 trong trận đánh điểm cao 543.

- Địch: 1 - ta: 1,5 trong trận đánh điểm cao 660.

- Địch: 1 - ta: 2 trong trận đánh các điểm cao 550, 723.

- Địch: 1 - ta: 5 trong trận đánh điểm cao 500.

* Pháo binh của ta đã tiêu diệt và chế áp hoàn toàn các trận địa pháo binh địch với tỷ lệ so sánh lực lượng ta: 1 - địch: 8 trong toàn chiến dịch.

Ta đã vận dụng đến mức cao hoả lực để tạo được ưu thế thắng địch. Ví dụ:

- Trong trận tiêu diệt Tiểu đoàn 39 biệt động quân ở điểm cao 500, ta đã sử dụng tập trung 230 quả B40, B41; 2.964 quả cối 60, 82; 208 quả ĐKZ; 712 quả Đ74 và 9.988 viên 12,7mm.

- Trong trận tiến công Trung đoàn 1 bộ binh ngụy ở điểm cao 723, ngoài các loại đạn nói trên sử dụng rất tập trung, ta còn dùng thêm 369 quả đạn pháo 85.

- Trong trận tiến công Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến ở điểm cao 550 ta cũng dùng thêm 735 quả cối 120mm nữa.

Với số lượng đạn pháo như vậy, ta đã giảm được số lượng bộ binh mà vẫn tạo được ưu thế áp đảo địch.

- Trong cách đánh độc lập, pháo mặt đất đã diệt 4.118 tên địch, phá hủy 178 khẩu pháo và súng cối lớn, 88 máy bay 154 xe quân sự, 20 sở chỉ huy và khu trung tâm thông tin các cấp, 65 kho đạn và xăng dầu. Súng máy và pháo cao xạ đánh độc lập đã hạ phần lớn số máy bay lên thẳng trong chiến dịch.

Các số liệu thống kê cho thấy: Phần lớn xe tăng, thiết giáp địch đều bị tiêu diệt bởi các phân đội nhỏ ĐKZ và các chiến sĩ bắn B40, B41; 67% số máy bay lên thẳng bị bắn rơi do các phân đội nhỏ súng máy cao xạ 12,7mm, 14,5mm (tỷ số so sánh giữa súng máy và pháo cao xạ như sau: 1 khẩu 12,7mm hoặc một khẩu 14,5mm hạ được 1 máy bay địch tương đương với 4 khẩu pháo cao xạ 85, hoặc 8 khẩu 57, hoặc 2 khẩu 37). Điểm này có ý nghĩa quan trọng đối với ta để ta có thể đánh thắng địch trên chiến trường trong hoàn cảnh địch sử dụng nhiều máy bay lên thẳng vận tải và chiến đấu mà binh khí kỹ thuật nặng của ta có hạn.

* Xe tăng ta tham gia chiến dịch theo tỷ lệ so sánh ta: 1 - địch: 9, nhưng đã cùng bộ binh đánh thắng trong nhiều trận then chốt của chiến dịch, kể cả những trận đánh tiêu diệt các căn cứ lớn của địch có công sự tương đối vững chắc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #186 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2026, 11:19:20 pm »

III- NHỮNG SỰ KIỆN ĐÁNG GHI NHỚ:

+ Về phía địch:

- Tháng 11 năm 1970, Tổng thống Mỹ Níchxơn phê chuẩn đề nghị của Bâncơ - Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn và Abram - Tư lệnh quân Mỹ ở Nam Việt Nam đánh ra Đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và ngã ba biên giới.

- Tháng 12 năm 1970, Bộ tham mưu Mỹ - quân Việt Nam Cộng hòa đưa ra 10 phương án đem quân đánh sang đất Lào

- Ngày 2 tháng 2 năm 1971, Tổng thống Mỹ Níchxơn họp cùng Cố vấn Kítxinhgơ, Ngoại trưởng Râugiơ, Bộ trưởng Quốc phòng Leđơ và Tham mưu trưởng Liên quân Morơ thông qua kế hoạch ba cuộc hành quân mang các mật danh: "Lam Sơn 719", "Toàn thắng 1-71" và "Quang Trung 4".

- Ngày 3 tháng 2 năm 1971, Níchxơn ký lệnh bảo đảm với Nguyễn Văn Thiệu là Mỹ sẽ dùng không quân đến mức cao để yểm trợ cho quân Việt Nam Cộng hòa đánh lên Đường 9 - Nam Lào.

- Ngày 7 tháng 2 năm 1971, trước cuộc hành quân một ngày, Níchxơn họp với 30 thượng nghị sĩ Mỹ chính thức tuyên bố tiến quân sang Nam Lào.

- Ngày 8 tháng 2 năm 1971, Nguyễn Văn Thiệu cũng ra tuyên bố tiến quan sang Nam Lào.

Địch thực hiện một kế hoạch nghi binh quân sự lớn trước chiến dịch:

- Đầu tháng 1 năm 1971, địch tổ chức họp báo "công khai" tiến công cùng một lúc sang Đông Nam Campuchia, cao nguyên Bô Lô Ven (Lào), A Sầu, A Lưới (Thừá Thiên).

- Giữa tháng 1 năm 1971, địch tung tin sẽ dùng hải - lục - không quân vượt vĩ tuyến 17 đánh ra Nam Khu 4 để "trả đũa Bắc Việt Nam gia tăng hoạt động ở Nam Việt Nam".

- Chứng minh cho "kế hoạch đã dự kiến này", đầu tháng 2 năm 1971, địch cho 3 lữ đoàn (258, 147, 369) lính thủy đánh bộ thuộc quân đội Sài Gòn bấy giờ đang đứng chân ở Trị - Thiên "tập dượt" vượt phá Tam Giang, sông Bồ, sông Thạch Hãn đánh vào các địa hình đồi núi và đồng bằng ven biên...

- Từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1971: địch điều động, triển khai lực lượng chuẩn bị bàn đạp tiến công. Bằng đường không và đường bộ, quân đội Sài Gòn được sự hỗ trợ của quân Mỹ đã vận chuyển 22 tiểu đoàn lính dù, lính thủy đánh bộ và 7 tiểu đoàn pháo từ Sài Gòn, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Thừa Thiên ra khu vực Đông Hà, Ái Tử, Khe Sanh. Quân ngụy Lào cũng nống ra Pha Lan và Pha Đô Tuya để phối hợp với cuộc hành quân "Lam Sơn 719" ở Đường 9.

- Hạ tuần tháng 1 năm 1971, một bộ phận của quân Mỹ (một tiểu đoàn bộ binh, hai tiểu đoàn thiết giáp) được sự chi viện tối đa của không quân và pháo binh, mở trận càn mang mật danh Điuêcunion đánh ra Đường 9 phía Nam khu phi quân sự, chiếm lại khu vực Khe Sanh. Trận càn này của quân Mỹ vừa nhằm lập bàn đạp, vừa nghi binh cho các đơn vị quân đội Sài Gòn chuẩn bị mở cuộc tấn công ra Đường 9 - Nam Lào.

- Để nghi binh, ngày 2 tháng 2, địch cho Lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ diễn tập thực binh trên sông Hiếu ở phía Đông thị trấn Đông Hà 1km và cho Lữ đoàn 258 lính thủy đánh bộ từ La Vang (Quảng Trị) vào cửa biển Thuận An (Huê) xuống tàu thủy đi lên hướng Bắc Cửa Tùng. Từ biển Đông, Hạm đội 7 Mỹ cho một số tàu khu trục tiến vào uy hiếp vùng biển phía Nam Quảng Bình tham gia nghi binh hòng thu hút sự chú ý của ta.

Bước vào chiến dịch:

- Ngày 7 tháng 2 năm 1971: địch triển khai xong toàn bộ lực lượng của chúng trên các khu vực bàn đạp như Làng Vây, Ta Kút, Tà Púc, động A Hai, Làng Cát, từ Khe Sanh lên Lao Bảo, Làng Vây, từ Tân Lâm đến Hướng Hóa, Pha Lan và Pha Đô Tuya.

Ngày 8 tháng 2 năm 1971, Bộ chỉ huy quân Mỹ và quân đội Sài Gòn ở Vùng một chiến thuật do tên tướng Sơthơlen và tướng hai sao Hoàng Xuân Lãm chỉ huy được lệnh bắt đầu tấn công khu vực Đường 9 - Nam Lào, mở màn cho cuộc hành quân "Lam Sơn 719".

- Sáng 10 tháng 2 năm 1971, Chiến đoàn đặc nhiệm dù với hơn 100 xe tăng, xe bọc thép và hơn 3.000 lính dù được sự chi viện tối đa của pháo binh và máy bay (kể cả máy bay B-52)... đã ồ ạt đánh qua các điểm chốt, tiến về phía Bản Đông và 16 giờ cùng ngày, quân địch trên hướng chủ yếu đã chiếm được Bản Đông. Tuy nhiên sau đó chúng đã bị vây chặt và không phát triển được lên Sê Pôn..

- Ngày 26 tháng 2 năm 1971, địch phải chuyển nhiệm vụ mà Sư đoàn dù từ chỗ là lực lượng chủ yếu để phát triển lên Sê Pôn thành lực lượng phòng giữ Bản Đông và giải tỏa Đường 9 khỏi áp lực chia cắt của ta.

- Ngày 18 tháng 3 năm 1971, trước nguy cơ bị tiêu diệt quân địch phải bỏ Bản Đông tháo chạy. Bị truy quét gắt gao, những giờ phút bi thảm nhất của đạo quân chủ lực tinh nhuệ quân đội Việt Nam Cộng hòa thực hiện cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đã đến.

+ Về phía ta:

- Ngày 19 tháng 6 năm 1970, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp và ra Nghị quyết về Tình hình mới ở bán đảo Đông Dương và nhiệm vụ mới của chúng ta. Nghị quyết chỉ rõ: miền Bắc là hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam và là hậu phương của cách mạng các nước Campuchia và Lào. Các lực lượng vũ trang có nhiệm vụ giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc và làm nhiệm vụ quốc tế, sát cánh cùng quân và dân Campuchia và Lào đánh bại kẻ thù chung trên chiến trường ba nước Đông Dương. Bộ Chính trị quyết định tập trung xây dựng bộ đội chủ lực lớn mạnh làm lực lượng cơ động chiến lược trên các chiến trường, đủ sức đánh những trận tiêu diệt lớn.

- Tháng 6 năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu vạch kế hoạch tác chiến, bắt đầu điều động lực lượng và chuẩn bị chiến trường ở khu vực Đường 9 - Nam Lào

- Tháng 7 năm 1970, Quân ủy Trung ương quyết định sát nhập Bộ Tư lệnh Đoàn 986 và Bộ Tư lệnh Đoàn 559 với nhau để thống nhất lãnh đạo và chỉ huy việc vận chuyển chiến lược và việc tác chiến ở Trung - Hạ Lào.

- Tháng 10 năm 1970, Bộ quyết định thành lập Binh đoàn 70 gồm các sư đoàn 304, 308, 320 và các đơn vị binh chủng trong biên chế để làm lực lượng cơ động nòng cốt của chiến dịch.

- Ngày 31 tháng 12 năm 1970, Quân ủy Trung ương ra Quyết định số 078/NQ: thành lập Đảng ủy Bộ Tự lệnh 70 gồm 5 đồng chí, do đồng chí Hoàng Phương làm Bí thư kiêm Chính ủy, đồng chí Cao Văn Khánh làm Phó Bí thư kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh 70. Đảng ủy Bộ Tư lệnh 70 đã khẩn trương triển khai lãnh đạo các mặt công tác trong các đơn vị của Binh đoàn và phối hợp, hiệp đồng tác chiến với các lực lượng của Mặt trận B5, Quân khu Trị - Thiên và Đoàn 559 sẵn sàng đánh địch ở khu vực Đường 9 - Nam Lào.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #187 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2026, 11:20:34 pm »

- Ngày 31 tháng 1 năm 1971, Trung ương Đảng kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ trên Mặt trận Đường 9 - Nam Lào: Trận này là một trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Không những để giữ vững tuyến vận chuyển chiến lược mà còn nhằm tiêu diệt nhiều đơn vị dự bị chiến lược của địch, tạo một bước đánh bại quan trọng âm mưu "Việt Nam hóa chiến tranh"... Quân đội ta nhất định phải đánh thắng trận này.

- Ngày 4 tháng 2 năm 1971, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 51/QĐ-QP: thành lập Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (gọi tắt là Bộ Tư lệnh 702), do đồng chí Lê Trọng Tấn (Tổng Tham mưu phó) làm Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Đạo (Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị) làm Chính ủy.

- Ngày 8 tháng 2 năm 1971, Quân ủy Trung ương chính thức ra Quyết định số 04/QUTW: thành lập Đảng ủy Mặt trận 702, gồm 8 đồng chí (Ban Thường vụ 3 đồng chí), do đồng chí Lê Quang Đạo làm Bí thư, đồng chí Hoàng Phương làm Phó Bí thư, đồng chí Lê Trọng Tấn làm ủy viên thường vụ. Đảng ủy và Bộ Tư lệnh 702 đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương và sự lãnh đạo của Bộ Quốc phòng về mọi mặt, có nhiệm vụ thống nhất lãnh đạo và chỉ huy tác chiến đối với các lực lượng hoat động trong khu vực Nam - Bắc Đường 9.

- Ngày 11 tháng 2 năm 1971, Bộ Tư lệnh 702 đến vị trí triển khai sở chỉ huy và chính thức chỉ huy các đơn vị

- Ngày 7 tháng 2 năm 1971, các sư đoàn chủ lực thuôc Binh đoàn 70 và lực lượng vũ trang Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị đã hoàn tất các mặt chuẩn bị chiến dịch và chiến đấu, sẵn sàng đón đánh địch.

- Ngày 9 tháng 2 năm 1971, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị: "Kiên quyết đập tan bước phiêu lưu quân sự mới của đế quốc Mỹ và tay sai, giành toàn thắng cho Chiến dịch X" (Đường 9 - Nam Lào).

- Đến ngày 3 tháng 3 năm 1971, trên hướng chính ta đã chặn đứng được địch ở Bản Đông, không cho địch tiến lên Sê Pôn, bảo vệ được đường vận chuyển chiến lược của ta thông suốt.

- Ngày 4 tháng 3 năm 1971, Quân ủy Trung ương đã gửi bức điện số 012 QU/TU/A cho Thượng tướng Văn Tiến Dũng và Đảng ủy Mặt trận Đường 9 - Nam Lào. Nội dung bức điện đã phân tích tình hình địch, ta và đề ra nhiệm vụ cho quân dân Mặt trận Đường 9 - Nam Lào: Tập trung tiêu diệt địch trong khu vực Bản Đông; tăng cường chỉ đạo đối với cánh Nam; tổ chức trận địa tập kích đối với Khe Sanh; Tăng cường hoạt động ở phía Đông Đường 9 - Bắc Quảng Trị, cắt giao thông, đánh hậu cứ...

- Ngày 8 tháng 3 năm 1971, quân ta trên các hướng chiến dịch đồng loạt phản công địch. Hơn 40.000 sĩ quan, binh lính quân đội Việt Nam Cộng hoà tham gia cuộc hành quân "Lam Sơn 719" bắt đầu rơi vào tình thế khốn đốn.

- Ngày 13 tháng 3 năm 1971, toàn bộ lực lượng tham gia chiến dịch được lệnh gấp rút chuyển từ phản công sang tiến công trên toàn tuyến vào đội hình hành quân của địch.

- Ngày 20 tháng 3 năm 1971, khu vực Bản Đông - nơi được chọn làm khu vực đánh trận then chốt, đã được giải phóng hoàn toàn.

- Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi.

* Các trận then chốt trong chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào1 (Nguồn trích: Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử nghệ thuật đánh trận then chốt trong chiến dịch của Quân đội nhân dân Việt Nam trung kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ (1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nọi, 2007, tr. 367-378):

- Trận then chốt đầu tiên tiêu diệt căn cứ 31 của địch ở điểm cao 543 (từ ngày 25-2 đến ngày 4-3-1971): Ta đã bẻ gãy hoàn toàn cánh quân phía Bắc Đường 9 của địch, tiêu diệt Lữ đoàn 3 dù, Thiết đoàn 17, đánh thiệt hại nặng Liên đoàn 21 biệt động quân, phá vỡ kế hoạch thiết lập các căn cứ hoả lực vừa bảo vệ sườn Bắc vừa chi viện cho cánh quân chủ yếu tiến công lên Sê Pôn của chúng. Thắng lợi của trận then chốt này còn tạo điều kiện cho các hướng khác của chiến dịch kìm chân địch, bảo vệ được hành lang vận chuyển chiến lược.

- Trận then chốt quan trọng của chiến dịch tiêu diệt quân địch ở điểm cao 723 (từ ngày 12 đến ngày 18-3-1971): Đánh trận then chốt tiêu diệt quân địch ở điểm cao 723 - lực lượng mạnh nhất của Sư đoàn 1 ngụy, thắng lợi đã tạo điều kiện thuận lợi cho Sư đoàn 2 và các đơn vị bạn trong chiến dịch bẻ gãy hoàn toàn cánh quân phía Nam Đường 9 của địch và ta không chế được khu vực từ Sê Pôn đến Bản Đông.

- Trận then chốt quyết định tiêu diệt tập đoàn chủ yếu của địch trong cuộc hành quân của chúng ở Bản Đông (từ ngày 13 đến ngày 20-3-1971): Ta chiếm được Bản Đông nhưng không thực hiện được trận then chốt quyết định tiêu diệt lớn quân địch. Nguyên nhân chính là: khi rút quân địch đã thực hiện nghi binh chặt chẽ, ta nắm địch không chắc; trong tiến công, việc tổ chức hiệp đồng giữa các hướng không cụ thể, kém hiệu lực, tổ chức bao vây không chặt, đón lõng chưa tốt; việc tổ chức khắc phục mìn cho bộ binh và xe tăng tiến công còn chậm và sót dẫn đến tốc độ tiến công của ta chậm, lỡ thời cơ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #188 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2026, 11:22:11 pm »

IV - MỘT VÀI CON SỐ VÀ SỰ KIỆN QUA ĐÁNH GIÁ CỦA MỘT SỐ TÁC GIẢ NƯỚC NGOÀI VỀ CUỘC HÀNH QUÂN "LAM SƠN 719" VÀ CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO

- "Tháng 2 năm 1971, tám tháng sau khi đột nhập vào Campuchia, các đơn vị quân cộng hòa miền Nam lợi dụng một lần nữa sự yểm trợ quan trọng của không quân Mỹ, xâm nhập vào Lào trong kế hoạch hành quân như H. Kítxinhgơ nói: "Thụ thai trong ngờ vực và bị nghi hoặc dày vò". Có đến gần 30.000 quân đưa sang Lào, song họ đã nhận chỉ thị của Sài Gòn phải kết thúc cuộc hành quân với hơn 3.000 người thiệt mạng. Đó là trường hợp họ dừng lại nửa đường đến mục tiêu và trở về trong tình trạng hoàn toàn lộn xộn. Kế hoạch "Lam Sơn 719" không làm chậm hoạt động trên đường Hồ Chí Minh; tệ hại nhất quân cộng hoà miền Nam đã thất bại thảm hại ngay trận ra quân đầu tiên không có sự yểm trợ của bộ binh Mỹ. Điều đó không ngăn cản Tổng thống Níchxơn tuyến bố với đất nước ngày 7 tháng 4 rằng Việt Nam hoá đã thành công. Chắc chắn đó không phải là trường hợp sự tan vỡ lớn hơn trong tinh thần mọi người và làm tăng gay gắt hơn áp lực lên những lực lượng ốm yếu của quân Mỹ hiện còn ở miền Nam". (Tướng Giáp qua hai cuộc chiến tranh Đông Dương/Peter Macdonald; Người dịch: Nguyễn Viết Quyền, Nguyễn Đình Cao. H.: QĐND, 2004, tr.361-362)


- "Ngày 18 tháng 1 năm 1971, với sự tán thành của Hội đồng An ninh quốc gia, Tổng thống Níchxơn đã cho phóp một cuộc xâm lược tại Lào. Lực lượng bộ binh không tham dự, nhưng pháo binh, không quân - nhất là máy bay trực thăng của Mỹ (bao gồm 10.000 người) sẽ yểm trợ cho cuộc tấn công của 17.000 quân Sài Gòn. Cuộc hành quân được mang tên "Lam Sơn". Mục tiêu chính là căn cứ thị xã Sê Pôn, cách biên giới Lào 25 dặm. Lực lượng quân đội Sài Gòn tiến chậm chạp, phải mất một tháng chiến đấu dễ đi đến Sê Pôn. Sau đó, quân Bắc Việt phản công. Trong cuộc hành quân kéo dài một tháng, một số đơn vị Sài Gòn bị tiêu diệt. Nhằm ngăn ngừa một thảm kịch lớn hơn, phải triển khai máy bay lên thẳng Mỹ. Nó phải chở quá nặng vì lúc bay trở về, những người lính Sài Gòn tuyệt vọng đã bám vào càng hạ cánh của máy bay. (Việt Nam - cuộc chiến tranh mười nghìn ngày/Mai-cơn Mác-lia.- H.: Sự thật, 1990. tr. 192).


- "Trong việc chuẩn bị cho chiến dịch, SOG1 (Liên đoàn hành quân đặc biệt, gọi tắt là SOG (Spécial Opération Group), sau đó đổi tên thành Đoàn nghiên cứu, quan sát để giữ bí mật, mặc dù vẫn viết tắt là SOG (Study and Observation Group). Đây là một đơn vị thuộc Bộ chỉ huy trợ giúp quân sự Mỹ ở Việt Nam đảm nhiệm những hoạt động bí mật của CIA) thực hiện hàng loạt động thái đánh lạc hướng đê thu hút sự chú ý của đối phương, ở vùng phía Tây của Khe Sanh, họ thả dù có gắn thuốc nổ và giả tạo ra các vụ xâm nhập biệt kích. Ngoài ra, SOG còn bố trí các toán thám báo và các đơn vị hỗ trợ vào khu vực này. Trong suốt chiến dịch "Lam Sơn 719", các toán của SOG tiếp tục hoạt động nghi binh ở thung lũng A Sầu để giam chân lực lượng miền Bắc và thu thập tình báo. Con đường 922 chạy qua A Sầu là một phần tuyến đường rút lui của quân đội Nam Việt Nam. Tướng Giáp - Tổng Tư lệnh quân đội Bắc Việt Nam đã chuẩn bị kỹ để đón quân đội Nam Việt Nam. Ông biết rõ lực lượng của Sài Gòn đi đâu và không bị mắc lừa các hoạt động nghi binh của SOG". (Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội - Việc sử dụng gián điệp, biệt kích và thám báo của Kenedy và Johnson ở miền Bắc Việt Nam/Richard H. Shultz; Người dịch: Hoàng Anh Tuyên, Hiệu đính: Anh Thái.- H.: Văn hoá - Thông tin, 2002, tr. 388).


- "Kế hoạch cuộc hành quân "Lam Sơn 719" được hoạch định với mục tiêu tấn công phá hủy các căn cứ tiếp vận, đóng quân, hậu cần, phá hủy hệ thống đường giao thông của quân đội Bắc Việt trong mùa khô (1970-1971), cũng như trận vượt biên đánh sang Campuchia năm 1971. Xuất phát từ Khe Sanh, lực lượng quân đội Sài Gòn sẽ tiến quân về hướng Tây, theo trục Đường 9, nhằm phá hủy các căn cứ của đối phương xung quanh Sê Pôn, rồi quay xuống phía Nam theo trục đường 92 để tấn công Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh tiền phương Đoàn 559 của đối phương. Cuối cùng, theo trục đường 922 trở về lãnh thổ Việt Nam qua thung lũng A Sầu.


Đã ba lần, Chỉ huy trưởng SOG báo cáo cho Tướng Abrams, cùng viên tướng trưởng phòng 2 Bộ Tư lệnh MACV1 (MACV: Bộ Tư lệnh Viện trợ quân sự Mỹ ở Việt Nam) và viên tướng Tư lệnh Quân đoàn 24 của Mỹ: "Phải tránh xa chỗ đó (Lào)!". Đại tá Sađơ là người biết rõ trong vòng 4 tháng vừa qua, chỉ có 40% toán biệt kích hoạt động trong lòng đối phương quá 24 giờ đồng hồ. Đối phương đã đề phòng và bố trí lực lượng đối phó với lực lượng biệt kích vì: "Họ đã ở vào thế phản công và biết trước phe ta sẽ tấn công. Tử thần đang chờ đợi!".


Đại tá Pinkơtơn là sĩ quan hành quân SOG kể tiếp: 'Khi chúng tôi thuyết trình cho Bộ Tham mưu Quân đoàn 24, Tướng Sơthơlen nói rằng ông lo nhất vấn đề đưa họ (quân đội Sài Gòn) vào vùng hành quân. Nhưng tôi trả lời, điêu ông nên lo nhất là làm sao để đưa họ ra khỏi đó". (Cuộc chiến bí mật - Hồ sơ lực lượng biệt quán ngụy, người dịch: Vũ Đình Hiếu.- H.: Nxb Lao động, 2009, tr. 210-211. Tài liệu lược dịch dựa vào những tài liệu đã giải mã của Lâu Năm Góc như: "SOG The Secret War Of Americas Comanandos in VietNam" của John L. Plato; "How American Lost The Secret War in VietNam" của Kênen Conboy Dale Andrale, United Press, 2000; và "Why American Lost The Secret War in North VietNam" của Kenneth Conboy Dale Andrale, United Press, 2000).


- "Lãnh đạo SOG cho rằng "Lam Sơn 719" là không thể thực hiện được. Theo Sađờ, kế hoạch đó chỉ mang lại thảm họa. Dựa trên sự quan sát trực tiếp bằng mắt thường của các toán biệt kích, Sađơ đến báo cáo với tướng Hoàng Xuân Lãm - Tư lệnh của quân đội Nam Việt Nam và Trung tướng Sơthơlen - người sẽ tiến hành yểm trợ bằng không kích và pháo kích từ lãnh thổ Việt Nam, về những thực tế xác đáng ở Lào. Trong buổi báo cáo, Sơthơlen cho rằng vấn đề lớn nhất của "Lam Sơn 719" là đưa lực lượng Nam Việt Nam vào các vị trí ở Lào để cắt đứt đường mòn. Măc dù thừa nhận đó là việc không dễ dàng, Sađơ lưu ý Tướng Lãm rằng "mối lo ngại nhất" lại là việc rút ra bằng cách nào". SOG tỏ ra rất chính xác.


... "Lam Sơn 719" bắt đầu ngày 8 tháng 2. Những lời cảnh báo của SOG không được ai để ý và chiến dịch là một thảm bại lớn. Lực lượng quân đội Nam Việt Nam bị lực lượng Bắc Việt Nam đón sẵn đánh tơi bời... Trong sáu tuần giao tranh, quân đội chủ lực miền Bắc nghiền nát các đơn vị tinh nhuệ nhất của miền Nam, trong đó, một số đơn vị bị tổn thất tới 50%. Điều tệ hại hơn là thất bại này mở cửa cho Hà Nội khống chế phần phía Tây Quân khu 1. Đường đã rộng mở tới Huế. Trong thời gian còn lại của năm 1971, quân đội miền Bắc tiếp tục được tăng cường để chuẩn bị cho cuộc tấn công năm 1972". (Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội - Việc sử dụng gián điệp, biệt kích và thám báo của Kenedy và Johnson ở miền Bắc Việt Nam/ Richard H. Shultz; Người dịch: Hoàng Anh Tuyên, Hiệu đính: Anh Thái.- H.: Văn hoá - Thông tin, 2002, tr. 387-388).


- "Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" chính thức chấm dứt ngày 6 tháng 4. Tính đến lúc này đã có 1.529 binh sĩ Việt Nam Cộng hòa tử trận và 5.438 bị thương. Phía Mỹ có 219 tử trận và 1.149 bị thương cùng với 107 trực thăng bị phá hủy, 618 chiếc khác bị thương.


Cũng như hầu hết các trường hợp khác, cuộc hành quân được đưa tin là thắng lợi, chẳng hạn quân Bắc Việt Nam bị thương vong gần 2.000 và không thể mở được cuộc tiến công vào Quân khu 1, nhưng không ai có thể che giấu sự kém cỏi của quân Nam Việt Nam. Nếu không có không quân và pháo binh Mỹ yểm trợ, có lẽ tổn thất của họ còn lớn hơn. Những nhược điểm của họ - về sự sáng tạo của chỉ huy hợp tác giữa các đơn vị và kỹ năng chiến thuật - đã bộc lộ rõ rêt". (Việt Nam - Những trận đánh quyết định/ J. Pimlott; người dịch: Lê Mỹ, Lý Văn Sáu, Trần Minh; Hiệu đính: Lê Mỹ.- H.: Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Môi trường - Bộ Quốc phòng, 1997, tr. 139).


- "Mặc dù có sự yểm trợ mạnh của không quân Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã thất bại thảm hại. Cuộc xâm chiếm là một bước thất bại và cuộc rút lui của quân đội Việt Nam Cộng hòa là một cuộc tháo chạy. Lực lượng Việt Nam Cộng hòa vào khoảng 25.000 người đã chịu thương vong là 1.445 chết và 4.016 bị thương. Điều nhục nhã này đã được hàng triệu người Mỹ xem trên màn ảnh truyền hình. Dù với sự yểm trợ ào ạt của không quân và sự chỉ huy của Lầu Năm Góc, đội quân đó đã thất bại thảm hại". (Lời phán quyết về Việt Nam - tiếng nói của một công dân/Giôdép A. Amtơ; Người dịch: Nguyễn Tấn Cưu.- H.: QĐND, 1985, tr. 323-324).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #189 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2026, 11:23:37 pm »

"CHIẾN THẮNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971
TẦM VÓC, Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ"

(Tổng hợp tham luận Hội thảo)

Thiếu tướng, PGS, TS VŨ QUANG ĐẠO
Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 là một trong những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của ta, một thất bại nặng nề của địch. Cuộc Hội thảo của chúng ta ở đây - mảnh đất của nhiều trận đánh quyết định, cũng là nơi ghi dấu sự kiện của 40 năm về trước, nhằm đánh giá toàn diện hơn, sâu sắc hơn về tầm vóc, ý nghĩa và bài học lịch sử của thắng lợi này. Đây cũng là dịp để chúng ta bày tỏ lòng tri ân đối với các anh hùng, liệt sĩ, các đồng chí thương binh, bệnh binh, các cựu chiến binh, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến cùng đồng bào các dân tộc Việt Nam - Lào trong hiểm nguy, gian khó đã không tiếc máu xương, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng làm nên chiến thắng.


Ban tổ chức Hội thảo đã nhận được gần 70 tham luận khoa học của các đồng chí lão thành cách mạng, các đồng chí đã từng giữ trọng trách cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội qua các thời kỳ; của các tướng lĩnh, sĩ quan, các nhà khoa học trong và ngoài Quân đội; của các nhân chứng lịch sử. Đặc biệt, Ban tổ chức Hội thảo cũng nhận được các bài tham luận khoa học của nhiều tướng lĩnh, sĩ quan Quân đội nhân dân Lào. Các tham luận khoa học đã đề cập khá toàn diện, hệ thống về Chiến dịch lịch sử Đường 9 - Nam Lào, trong đó tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau:


1. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào năm 1971 - một thành công xuất sắc trong chỉ đạo chiến lược của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương.

Sau 2 năm triển khai chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" (1969-1970), Mỹ - chính quyền Sài Gòn vẫn gặp phải những khó khăn to lớn. Với âm mưu nhằm tạo ra bước ngoặt mới cho cuộc chiến tranh xâm lược, đầu năm 1971, địch huy động lực lượng mở 3 cuộc hành quân lớn đánh vào tuyến vận tải chiến lược (đường Trường Sơn) của ta, trong đó cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh vào khu vực Đường 9 - Nam Lào có quy mô lớn nhất, mang nhiều tham vọng nhất với hai mục đích cơ bản là cắt đứt tuyến chi viện chiến lược của đối phương (đường Trường Sơn) và thử nghiệm công thức điển hình của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" là quân đội Sài Gòn + cố vấn Mỹ + hỏa lực và hậu cần Mỹ.


Về phía ta, ngay từ giữa năm 1970, Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương đã sớm nhận định trong thời gian tới địch sẽ tiếp tục những hành động phiêu lưu quân sự mới và dự đoán chính xác phương hướng tiến công chủ yếu của địch trong mùa khô 1970-1971 là tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn, trọng tâm đánh vào khu vực Đường 9 - Nam Lào. Từ nhận định đó, Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương nêu rõ quyết tâm cơ bản của ta là nắm vững thời cơ, tập trung lực lượng, kiên quyết phản công tiêu diệt thật nhiều binh lực địch, bảo vệ cho kỳ được tuyến chi viện huyết mạch Bắc - Nam. Quán triệt sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tham mưu sớm xây dựng kế hoạch tác chiến, điều động lực lượng và chỉ đạo chuẩn bị chiến trường, đặc biệt là khu vực Đường 9 - Nam Lào. Chính sự lường định và đánh giá chính xác âm mưu, thủ đoạn của địch, kịp thời chỉ đạo các hướng chiến trường là một đảm bảo rất quan - trọng cho quá trình chuẩn bị, giữ vững và phát huy quyền chủ động chiến lược, tạo ra sức mạnh đập tan cuộc hành quân quy mô lớn của địch.


Trên cơ sở phân tích những âm mưu và hành động của địch, làm rõ chủ trương chiến lược đúng đắn, kịp thời, sự chỉ đạo sâu sát, linh hoạt, chủ động của ta, nhiều tham luận đã đi đến khẳng định: chiến thắng Đường 9 - Nam Lào năm 1971 là một thành công xuất sắc trong chỉ đạo chiến lược của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, thể hiện rõ được bản lĩnh, tư duy và trí tuệ Việt Nam trong cuộc đương đầu với bộ máy điều hành chiến tranh khổng lồ của Mỹ. Đề cập đến chủ đề này có tham luận của các đồng chí: Đỗ Bá Tỵ, Nguyễn Thành Cung, Chănsamỏn Chănnhalạt, Trần Trọng Trung, Lê Văn Thái...


2. Quá trình tổ chức và thực hành chiến dịch - nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Đây là nội dung được các tham luận khoa học đề cập nhiều nhất.

Ngay sau khi được giao nhiệm vụ, các quân, binh chủng, đơn vị chủ lực, Đoàn 559 cùng lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương trên địa bàn chiến dịch khẩn trương bắt tay vào chuẩn bị các mặt: cơ động lực lượng, xây dựng kế hoạch tác chiến, đảm bảo hậu cần - kỹ thuật, thông tin liên lạc, mở đường... Toát lên từ những hoạt động chuẩn bị đó là không khí sôi sục, là quyết tâm cao độ của toàn thể cán bộ, chiến sĩ và nhân dân các địa phương cả Việt Nam và Lào, vì sự toàn thắng của chiến dịch. Nhờ đó, đến cuối tháng 1 năm 1971, trước khi bước vào chiến đấu, công tác chuẩn bị mọi mặt cơ bản hoàn thành, đảm bảo cho hàng vạn bộ đội chủ lực tác chiến trong thời gian 3 - 4 tháng.


Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào diễn ra từ ngày 30 tháng 1 năm 1971 đến ngày 23 tháng 3 năm 1971, thực sự là cuộc đọ sức quyết liệt giữa ta và địch. Điều đó được phản ánh sinh động, trung thực trong nhiều tham luận. Vượt qua mưa bom, bão đạn của quân thù, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, bằng sự hiệp đồng nhịp nhàng và chặt chẽ, các đơn vị chiến đấu trong đội hình chiến dịch đã kiên quyết chặn đánh, bẻ gãy các mũi tiến công trên các hướng của địch; bao vây, chia cắt, cô lập và tiến công tiêu diệt chúng. Thắng lợi Đường 9 - Nam Lào không chỉ là chiến công của các quân chủng, binh chủng, các đơn vị chủ lực, lực lượng vũ trang và nhân dân trên địa bàn trực tiếp chiến đấu, phục vụ chiến đấu, mà còn là kết quả của sự phối hợp trên khắp chiến trường sự phối hợp chặt chẽ với quân và dân Lào anh em.


Trên cơ sở tìm hiểu quá trình tổ chức và thực hành chiến dịch một số tham luận đã đi sâu trình bày, phân tích những nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam chứa đựng trong chiến thắng lịch sử này, như: nắm bắt đúng âm mưu và hành động của đạch để chủ động xây dựng quyết tâm chiến đấu hình thành thế trận phản công và tiến công; tổ chức và sử dụng lực lượng; tổ chức lãnh đạo, chỉ huy chiến lược, chiến dịch; hiệp đồng tác chiến giữa các lực lượng tham gia chiến dịch phối hợp chiến đấu với quân và dân Lào anh em...


Nội dung này đã được đề cập trong tham luận của các đồng chí: Nguyễn Chơn, Mai Quang Phấn, Nguyễn Châu Thanh, Nguyễn Vĩnh Phú, Nguyễn Hữu Cường, Trần Phi Hổ, Vũ Dương Nghi, Nguyễn Chí Hướng, Lương Sỹ Nhung, Lê Chiêm, Hồ Sơn Đài, Phạm Hữu Thắng, Sulivăn Sẻngchăn...
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM