chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #10 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2024, 08:44:36 pm » |
|
Năm 1958, thực hiện thi đua sản xuất thực hành tiết kiệm, chuẩn bị chi viện lớn cho chiến trường miền Nam, các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thanh Hóa đã ủng hộ đồng bào miền Nam 500 tấn gạo. Bắt đầu từ đầu năm 1959, nhiều cán bộ trong quân khu được lệnh vào miền Nam chiến đấu. Tháng 8 năm 1959, một đoàn cán bộ gồm 70 đồng chí lên đường, trong đó có 12 đồng chí ở lại Quảng Trị xây dựng lực lượng vũ trang. Tháng 9 năm 1960, sau khi để khung tiểu đoàn đặc công 323 ở lại làm nhiệm vụ huấn luyện, Quân khu đã điều toàn bộ số còn lại của tiểu đoàn tăng cường cho miền Nam.
Cùng thời gian này, Quân khu tổ chức thêm đoàn 22 huấn luyện bộ đội bổ sung vào Nam chiến đấu, 400 đồng chí khi học xong đã hăng hái lên đường nhận nhiệm vụ.
Khi những nhóm cán bộ, những phân đội nhỏ lẻ đầu tiên của quân khu vào Nam làm nhiệm vụ, thì những đơn vị chủ lực như sư đoàn 325, sư đoàn 324..., cũng tích cực luyện tập, củng cố quyết tâm, sẵn sàng đợi lệnh đi chiến đấu.
Hoạt động chi viện cho miền Nam ngày một lớn, yêu cầu cấp thiết phải có hệ thống giao thông an toàn, hiệu quả. Lúc này giao lưu giữa hai miền Nam - Bắc chủ yếu bằng hệ thống đường liên tỉnh có trong thời kỳ chống Pháp chạy giữa giáp ranh miền núi và đồng bằng nối Liên khu 5 với Khu 4. Từ sau năm 1954, những con đường liên tỉnh được bảo vệ để vận chuyển thư từ, báo chí, đưa cán bộ đi lại hoạt động ở các huyện đồng bằng Trị - Thiên.
Phát hiện được những hoạt động của ta trên những tuyến đường này, địch cho nhiều đại đội lính ngụy càn quét các vùng gần đường, phục kích những nơi nghi ngờ, tung thám báo, biệt kích cải trang, làm thợ rừng, thường xuyên lùng sục tìm dấu vết giao liên ta. Việc đi lại của các đoàn cán bộ vào Nam, ra Bắc gặp nhiều khó khăn. Sớm nhận thấy điều đó, đầu năm 1956, Trung ương giao cho Liên tỉnh Trị - Thiên giúp bạn Lào xây dựng cơ sở cách mạng vùng sát biên giới để chuẩn bị xây dựng thêm tuyến đường phục vụ yêu cầu nhiệm vụ mới.
Thực hiện chủ trương của Trung ương, tháng 11 năm 1956, Liên tỉnh ủy quyết định mở đường Trường Sơn (còn gọi là đường Thống nhất Trung ương) chạy suốt biên giới Lào - Việt thuộc sườn đông dãy Trường Sơn, nằm phía tây các căn cứ Mỹ - ngụy ở Nam Đông, Khe Tre, A Nhật, A So, A Lưới. Đồng bào các dân tộc Pa Cô, Tà Ôi, Vân Kiều, luôn cảnh giác, bảo vệ an toàn cho tuyến đường, nhất là những quãng đường chạy sát căn cứ địch. Chỉ một thời gian ngắn, đường giao liên Trường Sơn đi qua Trị - Thiên hoàn thành, kịp thời phục vụ cho nhiệm vụ chi viện tiền tuyến.
Tháng 7 năm 1957, trên tuyến đường này hơn 1.000 cán bộ các tỉnh Khu 5 đã được bảo đảm hành quân ra Bắc an toàn.
Cuối năm 1957, trên địa bàn Quảng Trị, Thừa Thiên đã có hai tuyến hành lang chiến lược hoàn chỉnh. Tuyến đường liên tỉnh ra Vĩnh Linh và tuyến đường Trường Sơn từ bắc đường số 9 vào Quảng Nam. Đây là những tuyến đường hết sức quan trọng đối với hoạt động chi viện cho miền Nam thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Để tăng cường hoạt động chi viện cho miền Nam, Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng quyết định tổ chức tuyến vận tải quân sự Trường Sơn, có nhiệm vụ vận chuyển hàng quân sự chi viện cho chiến trường, tổ chức đưa đón cán bộ, chuyển công văn, tài liệu từ miền Bắc vào miền Nam và từ Nam ra Bắc.
Ngày 5 tháng 5 năm 1959, Tổng Quân ủy thành lập "Đoàn công tác quân sự đặc biệt" để nghiên cứu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ trên1. Thượng tá Võ Bẩm, cán bộ Liên khu 5 tập kết, nguyên chính ủy trung đoàn 803 sư đoàn 324, Cục phó Cục Nông trường, được giao nhiệm vụ tổ chức đoàn và được chỉ định làm Bí thư Ban cán sự Đảng. Nhiệm vụ của đoàn ngay sau khi thành lập là tổ chức tuyến giao liên quân sự Trường Sơn với nhiệm vụ chủ yếu là đưa quân bổ sung, đưa đón cán bộ, vận chuyển công văn tài liệu vào miền Nam và vận chuyển một phần hàng hóa quân sự theo yêu cầu khấn cấp của Khu 5 và Trị - Thiên với phương châm tuyệt đối bí mật, an toàn.
Chấp hành nhiệm vụ, Ban cán sự Đảng của Đoàn 559 đã khẩn trương làm việc với Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 4, với Thường vụ Liên tỉnh ủy Trị - Thiên, đặc khu Vĩnh Linh để triển khai tổ chức. Lực lượng được chọn để thành lập Đoàn 559 chủ yếu là cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc, tập trung ở các sư đoàn: 324, 325, các nông trường "19-5", "1-5", ... trong quân khu.
Ngày 10 tháng 6 năm 1959, tiểu đoàn 301 vận tải bộ (440 cán bộ, chiến sĩ) vào đến Khe Hó (tây Vĩnh Linh) lập tuyến đứng chân xuất phát. Đồng chí Cương, huyện ủy viên Hướng Hóa đảm nhiệm việc dẫn đường cho các nhóm vận chuyển vượt sông Bến Hải.
Tiếp theo sự ra đời của tiểu đoàn 301, tháng 7 năm 1959, tiểu đoàn 603 vận tải thủy được thành lập (107 đồng chí). Tiểu đoàn 603 tập kết tại cảng Thanh Khê (sông Gianh - Quảng Bình), triển khai việc vận chuyển đường biển, lấy tên "Tập đoàn đánh cá miền Nam".
Thời gian này, cán bộ, chiến sĩ đi lại trên tuyến đường Trường Sơn bắt đầu tăng. Mỗi ngày các trạm đưa đón 20 người vào Nam, ra Bắc, đồng thời cấp phát đủ gạo ăn cho cán bộ đi đường. Trên từng cung đoạn, mỗi ngày chuyển từ hai đến ba gùi hàng, mỗi gùi từ 20 đến 30 ki-lô-gam, gồm thư từ, công văn, báo chí, thuốc chữa bệnh... Phát hiện thấy những hoạt động của ta trên tuyến giao liên Trường Sơn kẻ địch đã tổ chức lùng sục, phục kích. Nhằm bảo đảm an toàn cho hoạt động trên tuyến, Ban cán sự miền núi Trị - Thiên cùng với ban chỉ huy giao liên thống nhất mở thêm một con đường mới ở tây Trường Sơn chạy ra tới Vĩnh Linh. Với quyết tâm hoàn thành tuyến đường để kịp thời nhận chuyến hàng đầu tiên, Ban cán sự Trị - Thiên khẩn trương tổ chức các bộ phận xoi đường, đặt cung trạm, tuyển thêm quân ở các xã, chuyển lương thực, muối đến các vị trí mới. Ban cán sự hai tỉnh liên hệ với tiểu đoàn 301 và ban chỉ huy giao thông vận tải Quảng Nam - Đà Nẵng để thống nhất kế hoạch thực hiện.
Vượt qua khó khăn, nhất là thiếu lương thực, tuyến đường mới hoàn thành đúng thời gian. Các cung, trạm hình thành và tiếp nhận hơn 100 thanh niên địa phương tình nguyện phục vụ. Các trạm vừa vận tải, vừa sản xuất tự túc lương thực. Khó khăn lớn thời gian đầu là tuyến đường đi qua nhiều vùng trên đất bạn mà ta chưa liên hệ được với các cơ sở cách mạng, hoặc gần với đồn của lính ngụy Lào. Tuy vậy, nhờ kiên trì vận động quần chúng, cán bộ, chiến sĩ ta đã nắm được dân, thuyết phục phần lớn lính ngụy Lào ủng hộ2.
Như vậy, đến cuối năm 1959, ở Quảng Trị, Thừa Thiên, tuyến vận tải quân sự thứ ba đã ra đời, Cùng với các tuyến vận tải có từ trước, tuyến vận tải quan trọng này đã góp phần đáp ứng yêu cầu công tác vận tải, giao liên đang đặt ra cấp bách.
Sau một thời gian định hình về tổ chức, tiến hành mở tuyến, chuẩn bị hàng hóa, ngày 13 tháng 8 năm 1959, chuyến vũ khí đầu tiên được đoàn 301 chuyển vào Nam. Ngày 20 tháng 8, hơn 500 ki-lô-gam vũ khí được giao cho Liên khu 5 ở Tà Riệp, gần trạm Pa Lin (tây nam Thừa Thiên). ______________________________________________ 1. Ngày 12-9-1959, Bộ Quốc phòng ra quyết định số 446/QĐ, hợp thức hóa việc thành lập “Đoàn công tác quân sự đặc biệt", lấy tên là Đoàn 559 trực thuộc Tổng tư lệnh. 2. Ở làng A Bỉ thuộc Lào, ông Quỳnh Ngọt - chủ làng đã ủng hộ bộ đội ta hàng chục thúng gạo, ngô, sắn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #11 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2024, 08:46:21 pm » |
|
Tháng 11 năm 1960, hơn 500 thanh niên Quảng Trị, Thừa Thiên tình nguyện tham gia bảo vệ, mở đường và vận chuyển hàng hóa. Có nhiều thanh niên dân tộc Vân Kiều đã đưa năng suất gùi lên 100 ki-lô-gam, tiêu biểu là A Nun, Hồ Dục1... Nhân dân các khu vực có tuyến đường đi qua đã ủng hộ lương thực và tham gia bảo vệ an toàn cho tuyến đường. Đến tháng 12 năm 1960, trên các tuyến chiến lược đã có 542 cán bộ chiến sĩ từ miền Bắc vào Nam chiến đấu và nhiều vũ khí, hàng hóa được chuyển vào Trị - Thiên, Khu 5, Tây Nguyên.
Tuyến hành lang được bảo vệ, căn cứ địa miền núi Trị - Thiên vững mạnh, hậu phương không ngừng củng cố, đã tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng vũ trang quân khu sát cánh cùng quân và dân Trung - Hạ Lào đấu tranh chống kẻ thù chung, từng bước thực hiện mối liên kết chiến trường liên hoàn thế trận Trung - Hạ Lào và miền tây quân khu.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, tình hình Lào có nhiều diễn biến phức tạp. Lực lượng Pa-thét Lào tập kết vào hai tỉnh Sầm Nưa, và Phong Sa Lỳ. Đế quốc Mỹ dựng lên chính quyền tay sai phản động Cà - tày, Phủi-xa-na-ni-con, tiến hành cho quân tiến công vào hai tỉnh, hòng bóp chết lực lượng Pa-thét Lào. Đối với Trung - Hạ Lào, địch khẩn trương xây dựng chính quyền tay sai để đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng. Chủ trương của bạn lúc này là xây dựng vùng giải phóng vững mạnh, xây dựng cơ sở cách mạng khắp 10 tỉnh, đấu tranh với địch để thành lập chính phủ liên hiệp.
Trung-Hạ Lào là một vùng rộng lớn của bạn, cơ sở cách mạng còn rất mỏng, bộ đội chủ lực chưa có, chỉ có những cơ sở du kích nhỏ lẻ ở các làng, bản hẻo lánh.
Đáp ứng yêu cầu trước mắt của bạn và thực hiện nhiệm vụ Trung ương giao, Quân khu 4 đã đưa cán bộ, chiến sĩ sang giúp bạn xây dựng cơ sở cách mạng và lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho phong trào chiến tranh du kích ở Trung - Hạ Lào.
Tháng 8 năm 1956. Quân khu cử 25 đồng chí sang vùng Xiêng Khoảng liên hệ với cơ sở cách mạng của bạn, xây dựng tổ chức dân quân, phát động quần chúng đấu tranh chống địch.
Liên tỉnh Trị - Thiên được Trung ương giao trực tiếp giúp bạn ở vùng gần biên giới Việt - Lào. Tháng 8 năm 1958, đồng chí Nguyễn Húng phụ trách Liên tỉnh Trị - Thiên cùng với đồng chí Khăm Xẻng bí thư liên huyện Mường Phìn, La Ve, họp bàn kế hoạch đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, tăng cường xây dựng cơ sở cách mạng vững mạnh, đoàn kết chiến đấu ở địa bàn biên giới hai nước. Cán bộ quân sự ta cùng cán bộ của bạn trực tiếp xuống các làng, bản, tổ chức lại tổ, đội dân quân du kích, huấn luyện quân sự, chính trị. Đến tháng 9 năm 1959, căn cứ cách mạng từ Sê Pôn đến Mường Noòng, La Ve, Ka Say hình thành.
Tháng 10 năm 1959, liên tỉnh Trị - Thiên đưa thêm 15 cán bộ quân sự giúp bạn xây dựng, huấn luyện một đội vũ trang Pa-thét Lào ở huyện Tà Ôi, một đại đội khác ở huyện Tà Ưu. Bước đầu, cán bộ, chiến sĩ Pa-thét Lào nắm vững cơ bản về kỹ thuật bộ binh, chiến thuật phân đội nhỏ, phương pháp tổ chức quần chúng...
Phong trào chiến tranh du kích đã có bước tiến khá mạnh, song vẫn chưa đáp ứng với thực tế chung của cách mạng Lào. Từ tháng 3 năm 1958, Quân khu 4 đã đưa một số cán bộ, chiến sĩ của trung đoàn 120, các tiểu đoàn 929, 927 sang giúp bạn. Tiếp đó, Quân khu cử năm tiểu đoàn thuộc các sư đoàn 325, 324, sang giúp bạn xây dựng lực lượng chủ lực và bộ đội địa phương, mở rộng căn cứ địa, góp phần hỗ trợ cho phong trào đánh địch ở Thượng Lào.
Tháng 6 năm 1959, một đơn vị thuộc sư đoàn 325, phối hợp với cơ sở cách mạng của bạn ở Khăm Muộn đánh đuổi địch tại Tha Phay Chòn, Ăng Kham, vùng căn cứ của bạn được mở rộng thêm.
Giữa năm 1959, Mỹ và tay sai liên tục mở các cuộc càn quét tiến công vào vùng giải phóng Lào và các cơ sở cách mạng ở Trung - Hạ Lào, nhằm bao vây, tiêu diệt tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào.
Được chỉ thị của Bộ, Quân khu 4 liền đưa một lực lượng gồm 35 cán bộ chiến sĩ trinh sát kịp thời bắt liên lạc với bộ đội Pa-thét Lào. Tiếp đó, ngày 20 tháng 5, một tiểu đội của tiểu đoàn biên phòng 925 được lệnh lên đường. Vượt qua địa hình rừng núi hiểm trở, luồn lách tránh địch phục kích, đến ngày 25 tháng 5, bộ đội ta gặp tiểu đoàn 2 ở đồi Bù Khai Khẳn (thuộc Xiêng Khoảng). Cán bộ, chiến sĩ ta nhanh chóng giúp bạn tổ chức cho tiểu đoàn 2 hành quân về tập kết tại Phu Cây Khảnh (một vị trí gần biên giới Việt - Lào). Ngày 6 tháng 6, toàn bộ tiểu đoàn 2 về tới căn cứ an toàn. Nhân dân và lực lượng vũ trang miền tây Nghệ An đón tiếp bộ đội Pa-thét Lào rất thân tình, chu đáo.
Để đối phó với phong trào cách mạng Lào đang phát triển rộng khắp 10 tỉnh, từ tháng 5 năm 1959, đế quốc Mỹ thực hiện chiến tranh đặc biệt, liên tiếp mở các cuộc càn quét ra toàn bộ nước Lào. Tháng 1 năm 1960, địch cho 10 tiểu đoàn càn mạnh vào các vùng của Trung - Hạ Lào, đặc biệt chúng càn quét dọc biên giới Lào - Việt nhằm hạn chế tác dụng của vùng căn cứ địa cách mạng nối liền với hậu phương miền Bắc Việt Nam và ngăn chặn tuyến vận tải quân sự tây Trường Sơn của ta.
Theo yêu cầu của bạn, Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Quân khu 4 tổ chức một lực lượng quân tình nguyện phối hợp với bộ đội Pa-thét Lào giải phóng Noọng Hét. Đây là một mục tiêu trong toàn bộ chiến dịch giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng của bạn. Tham gia đánh Noọng Hét gồm một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 120 quân tình nguyện quân khu và hai đại đội Pa-thét Lào.
Ngày 16 tháng 12 năm 1960, trận đánh bắt đầu. Do chủ quan đánh giá địch thấp, nên những lần tiến công đầu tiên ta đã gặp phải sự phản kích điên cuồng của địch và không hoàn thành nhiệm vụ. Sau khi rút kinh nghiệm, Quân khu bổ sung thêm lực lượng của sư đoàn 324 và làm gấp gần 10 ki-lô-mét đường từ Mường Xén đến Noọng Hét để kéo pháo vào áp sát căn cứ của địch. Ngày 28 tháng 12, ta tổ chức đợt tiến công lần thứ hai. Sau ba ngày chiến đấu, bộ binh được hỏa lực pháo binh chi viện đã giải phóng hoàn toàn Noọng Hét.
Ngoài lực lượng tình nguyện của sư đoàn 324 và trung đoàn 120 tham gia giải phóng Noọng Hét, một trung đội của tiểu đoàn 929 được giao nhiệm vụ phối hợp với hai đại đội Pa-thét Lào tiến công Lằng Khằng. Sau bốn ngày chiến đấu (từ 16 đến 19-12-1960) Lằng Khằng cũng được giải phóng.
Đây là những thắng lại mở đầu của bộ đội tình nguyện Quân khu 4, phối hợp với bộ đội Pa-thét Lào tiến công vào những vị trí khá quan trọng của địch.
Cùng với việc đưa bộ đội tình nguyện trực tiếp giúp bạn chiến đấu, Quân khu đặc biệt chú trọng giúp bạn tổ chức các lớp bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ.
Tháng 9 năm 1959, sư đoàn 325 giúp bạn thành lập tiểu đoàn 15 huấn luyện cán bộ. Tiếp đó, tháng 1 năm 1960, trường quân chính Quân khu được thành lập. Trong khóa học đầu tiên, trường đã đào tạo cho bạn 60 học viên. Nội dung học chủ yếu là những kiến thức cơ bản về cách mạng giải phóng dân tộc, đoàn kết quốc tế, về kỹ thuật, chiến thuật quân sự, kiến thức tổ chức, chỉ huy... Tháng 12 năm 1960, lớp học viên đầu tiên ra trường đã kịp thời bổ sung cho các đơn vị, giải quyết một phần khó khăn về cán bộ của bạn.
Vừa chiến đấu, lực lượng cách mạng vùng Trung - Hạ Lào đã có bước phát triển nhanh chóng. Từ những đơn vị du kích nhỏ lẻ, phát triển thành ba tiểu đoàn độc lập, được trang bị đầy đủ vũ khí, có hỏa lực cối 82, ĐKZ 57. Lực lượng dân quân được tổ chức thành tiểu đội ở các làng, bản, vũ khí trang bị chủ yếu là súng trường.
Hậu phương quân khu không ngừng được củng cố, tuyến vận tải quân sự ngày một phát triển cùng với sự phát triển của cách mạng vùng Trung - Hạ Lào đã tạo nên thế trận vững chắc trên địa bàn hậu phương kế cận của miền Nam cũng như chiến trường Lào.
Từ ngày 3 đến ngày 13 tháng 7 năm 1960, Đại hội đại biểu Đảng bộ quân khu họp lần thứ nhất để đánh giá và tổng kết kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ của Đảng và quân đội giao cho. Nghị quyết Đại hội nêu rõ những thành tựu quân khu đạt được trong thời gian qua là đã từng bước củng cố vững chắc công cuộc phòng thủ, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân có trình độ kỹ thuật tốt, vững vàng về chính trị, sẵn sàng chiến đấu giữ gìn an ninh, quốc phòng; thực hiện tốt nhiệm vụ kinh tế, quốc phòng; đồng thời chi viện tích cực cho Trị - Thiên đấu tranh và giúp bạn Lào. Tuy nhiên, so với yêu cầu của cách mạng thì trình độ chính trị, kỹ thuật, chiến thuật của lực lượng vũ trang quân khu còn non yếu nhiều mặt, trong đó hiệu suất lãnh đạo của các cấp ủy đảng của một số đơn vị chưa cao, còn xem nhẹ việc xây dựng cơ sở chính trị tại những vùng công giáo.
Đại hội quyết nghị phải tăng cường hơn nữa công tác phòng thủ, bảo vệ trị an, luôn sẵn sàng chiến đấu, nâng cao trình độ chính trị, quân sự, khoa học kỹ thuật và nghiệp vụ cho lực lượng vũ trang; nhanh chóng đưa bộ đội lên chính quy và tương đối hiện đại, cùng các cấp ủy đảng địa phương xây dựng lực lượng hậu bị tiến bộ đều khắp, thực hiện tốt việc xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, củng cố hậu phương vững mạnh, làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. ______________________________________________ 1. A Nun, Hồ Dục sau này được Nhà nước phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #12 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2024, 09:07:19 pm » |
|
CHƯƠNG II XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG, SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU VÀ CHIẾN ĐẤU, GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1961 - 1964)
I - XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG, CỦNG CỐ HẬU PHƯƠNG, SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU Ngày 5 tháng 9 năm 1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng khai mạc tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội đề ra nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là: tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà. Các lực lượng vũ trang phải được tăng cường về mọi mặt nhằm bảo vệ vững chắc công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào và Cam-pu-chia. Cùng cả nước, quân và dân Quân khu 4 đón nhận tinh thần Đại hội với niềm tin và quyết tâm mới. Những tháng đầu năm 1961, các địa phương trong quân khu tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ (vòng 2) nhằm đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ trong thời gian qua, đặc biệt là công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp và phong trào hợp tác hóa ở địa phương; đề ra nhiệm vụ và biện pháp trong thời gian tới. Đại hội các tỉnh đảng bộ Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh đều chú trọng vấn đề xây dựng đảng bộ vững mạnh, tăng cường hiệu lực của chính quyền, củng cố khối liên minh công nông, làm tốt công tác trị an, quốc phòng góp phần xứng đáng vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng miền Bắc, giải phóng miền Nam. Ngày 18 tháng 2 năm 1961, hội nghị Quân khu ủy (mở rộng) được triệu tập. Kiểm điểm mọi mặt công tác năm 1960, hội nghị chỉ rõ: bên cạnh một số mặt thực hiện tương đối tốt, vẫn còn những yếu kém phải kiên quyết khắc phục đặc biệt là nhiệm vụ tăng cường khả năng phòng thủ trên địa bàn quân khu. Hội nghị cho rằng, lúc này tuy địch chưa có khả năng tiến công ra miền Bắc, nhưng khả năng khiêu khích từ bên ngoài vào và từ bên trong nội địa cần đặc biệt chú ý. Đấu tranh giai cấp ở miền Bắc vẫn đang tiếp tục đòi hỏi nền chuyên chính vô sản phải được củng cố vững chắc. Đấu tranh của đồng bào ta ở miền Nam càng mạnh thì địch càng ra sức đàn áp, "thậm chí có thể có những hành động khiêu khích đối với miền Bắc, trực tiếp nhất là đối với quân khu”. Đế quốc Mỹ và khối SEATO đang ráo riết chuẩn bị chiến tranh. Tình hình Lào còn diễn biến phức tạp, chia cắt và nội chiến còn có thể kéo dài. Tình hình đó đòi hỏi Quân khu 4, "một quân khu đầu cầu, ba mặt đều có thể bị địch khiêu khích lại càng phải chuẩn bị sẵn sàng đối phó với mọi tình huống, kể cả các tình huống lớn". Hội nghị đề ra năm công tác lớn phải được thực hiện thật tốt trong thời gian tới: 1. Tăng cường phòng thủ, sẵn sàng chiến đấu trong các đơn vị bộ đội chủ lực và lực lượng hậu bị, chủ động đối phó với mọi tình huống, phối hợp hoạt động bảo vệ biên giới. 2. Chấn chỉnh biên chế và tăng cường huấn luyện chiến đấu cho lực lượng thường trực phù hợp với yêu cầu sẵn sàng chiến đấu của quân khu, kiên quyết thực hiện chính quy hóa. 3. Tiếp tục củng cố tổ chức và đẩy mạnh huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật; nâng cao chất lượng hậu bị, sẵn sàng kế hoạch động viên thời chiến. 4. Tăng cường công tác bảo đảm vật chất phục vụ yêu cầu phòng thủ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện chuẩn bị động viên, nâng cao sinh hoạt vật chất của bộ đội. 5. Tăng cường công tác chính trị tư tưởng, xây dựng đảng, phát huy mạnh mẽ vai trò lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng. Sau hội nghị Quân khu ủy (mở rộng) Bộ Tư lệnh và các cơ quan quân khu khẩn trương tiến hành biên chế thời chiến cho các đơn vị trực thuộc quân khu. Sư đoàn tăng thêm thành phần binh chủng và bổ sung đủ quân số, bảo đảm sẵn sàng cơ động; tăng thêm bộ binh và binh chủng cho lữ đoàn 341, bảo đảm phòng thủ giới tuyến. Sư đoàn 324 được tổ chức lại thành lữ đoàn. Mỗi tiểu đoàn biên phòng có từ một trung đội đến một đại đội là con em các dân tộc thiểu số. Các cơ quan quân khu cũng tinh giảm. Các trường huấn luyện bộ binh, binh chủng, văn hóa được chấn chỉnh nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Đội ngũ cán bộ trong quân khu được luân phiên về trường văn hóa học tập. Quân khu tiếp tục hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ giải quyết chế độ tình nguyện, bổ sung trang bị cho những đơn vị còn thiếu, thay vũ khí cho lực lượng dân quân tự vệ hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh. Cùng với việc chấn chỉnh tổ chức biên chế, công tác giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự được triển khai có nền nếp. Nhân dân và lực lượng vũ trang quân khu mở đợt sinh hoạt chính trị quán triệt các văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng. Các đơn vị, các địa phương học tập đường lối cách mạng, mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ kinh tế và quốc phòng trong giai đoạn mới. Đợt sinh hoạt chính trị đã nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, tăng cường sự đoàn kết, nhất trí trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Khắp nơi trong quân khu đã dấy lên phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa hướng về miền Nam ruột thịt. Học tập Đại Phong - ngọn cờ đầu trong sản xuất nông nghiệp, các địa phương tích cực cải tiến kỹ thuật canh tác, nông cụ; cãi tiến công tác quản lý hợp tác xã và mở ngành nghề. Đặc biệt thanh niên nông thôn sôi nổi thi đua trở thành "trai gái Đại Phong"... Lực lượng vũ trang quân khu hưởng ứng phong trào thi đua "Ba nhất", ngày ra thao trường, tối sinh hoạt chính trị, văn hóa với quyết tâm đạt nhiều thành tích cao nhất trong huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu. Quân khu đặc biệt chú trọng bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ cơ quan tham mưu quân khu, sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn về trình độ tổ chức chỉ huy hiệp đồng chiến đấu, đồng thời đẩy mạnh huấn luyện chiến sĩ và phân đội nhỏ. Hướng ra tiền tuyến, cán bộ, chiến sĩ khắc phục gian khổ, khó khăn, ngày đêm rèn luyện, tập hành quân đường dài mang vác nặng ... Tình hình biến chuyển khẩn trương. Ngay sau khi bước vào Nhà trắng (20-1-1961), tập đoàn cầm quyền Mỹ Ken-nơ-di - Giôn-xan thực hiện chiến lược "chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam Việt Nam, nhằm ráo riết thực hiện âm mưu xâm lược, đối phó với bước tiến mạnh mẽ của cách mạng miền Nam. Ngày 8 tháng 5 năm 1961, Ken-nơ-đi phê chuẩn chính sách đối với Việt Nam do Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ soạn thảo; theo đó, phái đoàn cố vấn quân sự Mỹ MAAG được tăng cường và mở rộng quyền điều hành tác chiến, chỉ huy yểm trợ trên chiến trường miền Nam, đưa lực lượng đặc biệt Mỹ vào miền Nam. Mỹ đã giúp Diệm xây dựng lực lượng đặc biệt, chốt chặn biên giới, chống miền Bắc "xâm nhập", tăng cường ngụy quân, khẩn trương bình định, củng cố ngụy quyền, phong tỏa vùng biển, đẩy mạnh các hoạt động chống phá nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong khi tăng lực lượng cố vấn và lực lượng đặc biệt vào miền Nam, cải tiến hệ thống tổ chức chiến trường, thúc đẩy Diệm đẩy mạnh bắt lính, dồn quân, tăng thêm viện trợ cho chính quyền Diệm, bắt đầu từ tháng 7 năm 1961, Mỹ - ngụy triển khai chương trình bình định 18 tháng, dự định đến cuối 1962 cơ bản bình định xong miền Nam.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #13 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2024, 09:09:52 pm » |
|
Trên chiến trường Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, để đối phó với cả hai sức ép từ phía bắc và phía tây, quân ngụy ra sức bình định nông thôn, gom dân lập "ấp chiến lược"; mặt khác chúng lập tuyến phòng ngự để ngăn chặn ta ở phía bắc đường số 9 và tây Trị - Thiên, đánh phá miền núi và hành lang chiến lược của ta.
Địch điều đại bộ phận sư đoàn 1 ngụy ra Quảng Trị. Trung đoàn 1 ngụy được bố trí ở La Vang, trung đoàn 2 đóng ở Đông Hà - đường số 9, trung đoàn 3 đứng chân ở miền tây và vùng giáp ranh Thừa Thiên. Địch còn củng cố hệ thống các đồn bốt dọc quốc lộ số 1 và khu vực giáp ranh, lập tuyến , ngăn chặn miền núi và biên giới Việt - Lào. Chúng xây dựng và mở rộng đường 14, đường 76, làm thêm các tuyến đường mới như: Tuần - A Lưới, Bình Điền - Trái, cảng Cửa Việt - giáp ranh, Đại Thùy - Cùa, Tích Tường - Trái - La Vang - Phước Môn, lập bãi đổ bộ đường biển Cảnh Dương. Địch tăng cường xây dựng quân ngụy, cả quân chính quy và quân địa phương. Ngoài sư đoàn 1, mỗi tỉnh có một trung đoàn bảo an, mỗi quận có một đại đội bảo an và một số tổng đoàn, mỗi xã có từ hai tiểu đội đến một trung đội dân vệ. Trong khi tăng cường lực lượng cơ động, Mỹ - ngụy khẩn trương xây dựng lực lượng biệt kích, chú trọng tuyển mộ lính là người các dân tộc thiểu số để đánh phá căn cứ và hành lang của ta. Chúng còn tổ chức ba đại đội "lính phong trào" cũng đi vào "ba cùng" để lừa bịp, giám sát từng người dân, thực hiện bình định, thực hiện "đoàn ngũ hóa" quần chúng, "quân sự hóa" thanh niên và bộ máy ngụy quyền, bắt thanh niên phải gia nhập các tổ chức quân sự phản động: "thanh niên xung kích", "thanh niên cộng hòa", "thanh niên bảo vệ hương thôn", biến các trụ sở ngụy quyền thành đồn, bốt.
Với tổ chức lực lượng như trên, Mỹ - ngụy ra sức kìm kẹp nhân dân, hòng tách dân ra khỏi ảnh hưởng của cách mạng, triệt tiêu sức đề kháng của từng người dân ở nông thôn đồng bằng, đồng thời cũng tạo điều kiện để chúng dồn lực lượng lên đánh phá miền núi, trọng tâm là dọc đường số 9 và biên giới Việt - Lào. Những tháng đầu năm 1961, chúng mở cuộc hành quân lớn phối hợp giữa quân Diệm, quân Phu-mi Nô-xa-vẳn (Lào) đánh vào căn cứ địa của ta và bạn, gom dân, bắt lính, phá hậu phương và hành lang chiến lược đông - tây Trường Sơn. Đầu năm 1962, Mỹ - ngụy lại mở chiến dịch “Lê Lợi", huy động 800 quân với hàng chục máy bay càn đi, quét lại hàng tháng vào khu vực Ngược Nước (đường số 9). Đi đôi với hành quân càn quét, địch đóng chốt thêm một số đồn, bốt tại các vị trí hiểm yếu: Tà Rụt, Tà Lương, Cô Ca Va; củng cố và mở rộng các vị trí: Nam Đông, Khe Tre, A So, A Lưới; triển khai các đội hải thuyền kiểm soát tuần tra đề phòng ta đột nhập từ đường biển. Cùng với biện pháp quân sự, Mỹ - Diệm còn ra sức triệt phá về kinh tế, ngăn chặn tiếp tế tại chỗ của đồng bào ta cho cách mạng. Từ ngày 27 tháng 11 năm 1961 đến ngày 3 tháng 2 năm 1962, địch mở rộng cuộc hành quân dài ngày nhằm triệt lương thực của ta ở miền núi, bằng nhiều hướng tiến vào đánh phá các khu vực Ba Lòng, Cam Lộ. Điển hình là trận đánh vào Cù Đinh - Ba De; chúng đốt phá hàng chục bản làng, đốt hết nương rẫy, lúa, khoai, giết, chết hàng trăm đồng bào ta.
Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị (ngày 31 tháng 1 năm 1961) về chủ trương đẩy mạnh đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song, tiến công địch bằng chính trị và quân sự, ngày 24 tháng 4 năm 1961, tại chòi con Hiền, làng Tà Pát, Hội nghị Đảng bộ Thừa Thiên - Huế được triệu tập nhằm đề ra phương hướng và nhiệm vụ cho quân và dân Thừa Thiên - Huế trong thời gian tới. Kiểm điểm tình hình trong tỉnh từ tháng 7 năm 1954 đến cuối năm 1960, nhất là sau khi có Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng và trên cơ sở nghị quyết Bộ Chính trị: hội nghị cho rằng trọng tâm công tác của Đảng bộ và các cấp ủy đảng là tập trung lãnh đạo nhân dân phá "quốc sách ấp chiến lược", phá hỏng một bước quan trọng thế kìm kẹp của địch. Nhiệm vụ trước mắt của quân và dân Thừa Thiên - Huế: đẩy mạnh hoạt động vũ trang tuyên truyền, cương quyết phá tan ấp chiến lược, diệt ác trừ gian, xây dựng cơ sở chính trị trong quần chúng. Hội nghị quyết định thành lập ban chỉ huy quân sự tỉnh, thành, huyện, đại đội địa phương tỉnh và các đội vũ trang tuyên truyền huyện, thành.
Sau hội nghị, hoạt động của các huyện ủy, các đội công tác vũ trang tuyên truyền được đẩy mạnh. Cán bộ, đảng viên đi sâu xuống các vùng nông thôn đồng bằng phát động quần chúng trong các ấp chiến lược. Nhiều đồng chí lãnh đạo chủ chốt của huyện ủy, như đồng chí Trí (huyện Phú Vang), đồng chí Nam (huyện Phong Điền), đồng chí Ái (huyện Hương Thủy)... đã kiên cường bám trụ, hoạt động ngay trong lòng các thôn, ấp, bất chấp nguy hiểm, gian khổ. Đồng thời, hệ thống liên lạc giữa tỉnh, huyện, đến cơ sở xã, thôn được xây dựng, bảo đảm cho sự lãnh đạo và chỉ huy được thông suốt và kịp thời hơn. Các đội công tác cùng với những gia đình cơ sở của ta đã đào nhiều hầm bí mật bảo vệ cho cán bộ hoạt động. Trong khi đó, đơn vị K105 của tỉnh1 liên tục đột nhập vào ấp chiến lược ở các xã vùng ven núi, phối hợp với lực lượng huyện tiến công trại biệt kích Nam Đông (huyện Phú Lộc) đánh bọn biệt kích ở khu 3 trên đường Cầu Hai - Bạch Mã, tập kích vị trí Đá Ngọc (huyện Hương Thủy), vị trí Tam Dần (huyện Phong Điền), hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy đấu tranh phá thế kìm kẹp của địch.
Tại Quảng Trị, từ sau khi tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương đến tháng 3 năm 1961, phong trào diệt ác trừ gian ngày càng phát triển. Lực lượng thực hiện chủ yếu là hai đội công tác 59A và 59B.
Điển hình là các vụ trừng trị tên ác ôn thôn trưởng Kiên Phước xã Triệu Hải, tên cảnh sát trưởng xã Ba Thành và một số tên ác ôn khét tiếng khác.
Từ thực tiễn phát triển của phong trào đấu tranh vũ trang cùng với yêu cầu của tình hình nhiệm vụ, ban quân sự tỉnh và đơn vị 55 bộ đội tập trung đầu tiên của Quảng Trị được thành lập. Ban quân sự tỉnh do đồng chí Phố (tức Hùng) phụ trách quân sự, đồng chí Hiền (tức Thìn) phụ trách chính trị. Đồng chí Nam Sinh, ủy viên thường vụ Tỉnh ủy, được phân công trực tiếp chỉ đạo công tác quân sự, hoạt động vũ trang.
Tháng 5 năm 1961, thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, đội công an vũ trang Vĩnh Linh phối hợp với trung đoàn 270, được sự giúp đỡ của nhân dân, đã tổ chức một đợt hoạt động vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị ở khu vực phía tây, phía bắc đường số 9, phá 20 đồn bốt nhỏ, đánh thiệt hại các đơn vị địch đóng rải rác dọc đường số 9 và ở một số địa phương thuộc huyện Cam Lộ, giết 60 tên, bắt, gọi hàng 125 tên, làm tan rã 260 tên, thu 65 súng các loại. Hơn 100 ngụy binh thuộc dân tộc ít người theo lời kêu gọi của cách mạng đã bỏ hàng ngũ địch, mang theo 125 khẩu súng về với nhân dân. Kết thúc đợt hoạt động, ta đã giải phóng sáu tổng phía bắc đường số 9. Tại đây, các đội vũ trang cùng với cán bộ địa phương nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân, lập chính quyền cách mạng, xây dựng thôn, bản thành căn cứ liên hoàn. Địch buộc phải rút khỏi các vị trí A Rông, Tà Riệt, Nguồn Rôn, Ra Gà, Tà Rụt, Trại Cá, Sa Trầm, Sa Muồi... Đến cuối năm 1961, miền tây huyện Hướng Hóa đã hoàn toàn giải phóng.
Sau thắng lợi tháng 5, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Trị được triệu tập tại làng Tu Pông (huyện Hướng Hóa). Đại hội chủ trương nhanh chóng xây dựng và củng cố miền tây vững chắc về mọi mặt, quyết tâm phát động quần chúng, gấp rút xây dựng cơ sở chính trị; ở đồng bằng phải làm tốt công tác binh vận, coi đó là một công tác quan trọng và thường xuyên, giữ bí mật cơ sở và bảo tồn lực lượng, sẵn sàng hành động khi có thời cơ. Đại hội quyết định củng cố các đơn vị vũ trang của tỉnh, thành lập các đơn vị vũ trang của huyện. _____________________________________________ 1. K105 là đơn vị vũ trang đầu tiên của tỉnh Thừa Thiên gồm 105 đồng chí đã hoạt động ở đồng bằng thời kỳ khó khăn khốc liệt nhất (11-1957) còn sống sót lại, bị bật lên miền núi, sau gom lại tổ chức thành đơn vị vũ trang. Trong đó, cán bộ cấp tỉnh có 22 đồng chí, huyện Phú Lộc 37, Phú Vang 3, Hương Thùy 3, Hương Trà 6, Quảng Điền 3, Phong Điền 9, Nam Hòa 3, miền Tây 13, đường dây 16.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #14 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2024, 09:11:36 pm » |
|
Sau Đại hội Đảng bộ tỉnh, ngày 7 tháng 8 năm 1961, đơn vị 55 tổ chức phục kích một toán địch vận tải tiếp tế cho đồn Tà Rụt, diệt và làm bị thương tám tên, trong đó có tên đồn trưởng kiêm chỉ huy bảo an, thu 4 súng, Thắng lợi này đã cổ vũ niềm tin cho bộ đội và nhân dân trong tỉnh.
Cũng thời gian này, tại huyện Hướng Hóa, Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh Quảng Trị tổ chức lễ ra mắt nhân dân, tạo thêm điều kiện chính trị thuận lợi mới để tập hợp đông đảo quần chúng vào cuộc đấu tranh đang trong thời kỳ gay go quyết liệt.
Hoạt động quân sự trên các chiến trường Quân khu 4 quan hệ mật thiết với cách mạng Lào anh em, trực tiếp là trên chiến trường Trung - Hạ Lào. Đầu tháng 1 năm 1961 bộ đội Pa-thét Lào và lực lượng trung lập phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam, tiến công giải phóng toàn bộ Cánh Đồng Chum và tỉnh Xiêng Khoảng, thị xã Phong Xa Lỳ, Bản Ban. Trước tình hình đó, địch tập trung lực lượng lớn lên phía bắc nhằm đánh chiếm lại Cánh Đồng Chum và tỉnh Xiêng Khoảng. Lợi dụng sơ hở của địch ở chiến trường Trung - Hạ Lào và theo yêu cầu của bạn, Bộ Quốc phòng chỉ thị cho Quân khu 4 phối hợp cùng lực lượng Pa-thét Lào, khẩn trương tổ chức tiến công giải phóng đường số 8, tạo nên căn cứ địa rộng lớn cho bạn ở Trung Lào, uy hiếp cạnh sườn địch, phối hợp với chiến trường chính của ta.
Lực lượng địch chốt giữ trên đường số 8 gồm: 34 BV và ba đại đội Ma-ki. Bộ Tư lệnh Quân khu lệnh cho tiểu đoàn 14 bộ binh, một đại đội trợ chiến và một trung đội của tiểu đoàn 927, hai tiểu đội đặc công, một tiểu đội trinh sát của quân khu, được tăng cường hỏa lực gồm hai khẩu cối 120 ly, hai khẩu ĐKZ 57, sáu khẩu 12,7 ly của lữ đoàn 3241, cùng với các đơn vị bộ đội địa phương và dân quân du kích của bạn tiến công các mục tiêu quy định.
Đêm 16 rạng ngày 17 tháng 2, sương mù phủ trắng các triền núi đá. Bộ đội ta bí mật áp sát các vị trí địch. Lệnh nổ súng phát ra, các cánh quân lập tức hành động theo phương án đã hiệp đồng. 5 giờ sáng ngày 17 tháng 2, tiểu đoàn 14 cùng một đơn vị bạn tiến công thị trấn Na Pê. Sau ba giờ chiến đấu quyết liệt, ta chiếm được Na Pê. Trưa ngày 17 tháng 2, Lạc Xao được giải phóng. Tiếp đó, ngày 21 tháng 2, thị trấn Cam Cớt bị quân ta đánh chiếm. Như vậy, qua năm ngày chiến đấu, ta đã diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch, thu một trung liên, hai tiểu liên, 20 súng trường, 10 các-bin, một xe jeep và nhiều quân trang, quân dụng. Một vùng dọc theo đường số 8 từ biên giới Việt - Lào đến thị trấn Cam Cớt và toàn bộ huyện Cam Cớt (tỉnh Bô Ly Khăm Xay), gồm 12 xã, 13.073 dân đã được giải phóng.
Chấp hành lệnh của Bộ Tổng Tham mun, ngay sau khi giải phóng đường số 8, bộ đội tình nguyện của ta tiếp tục phối hợp với bạn giải phóng Mường Ngàn. Lực lượng của địch ở đây gồm hai đại đội thuộc 22 BV, một đại đội Ma-ki. Để giải phóng Mường Ngàn, ta huy động tiểu đoàn 925 (thiếu một đại đội) và đại đội trợ chiến của lữ đoàn 324 với ba khẩu 12,7 ly. Về phía bạn có một đại đội Pa-thét.
Rạng sáng ngày 10 tháng 3, ta đánh vào Mường Ngàn, nhưng địch đã rút toàn bộ lực lượng lên Mường Phàn. Phán đoán ý đồ địch sẽ quay lại Mường Ngàn, ban chỉ huy liên quân quyết định chuyển qua phương án đánh phục kích khi chúng trở về. Đúng như phán đoán của ta, sáng ngày 12 tháng 3, quân địch từ Mường Phàn quay về Mường Ngàn. Quân ta bất ngờ nổ súng đồng loạt, tiêu diệt và bắt sống nhiều địch, số còn lại hoảng loạn chạy vào bìa rừng. Lợi dụng lúc chúng đang hoang mang cực độ, các chiến sĩ ta bám sát kêu gọi được một đại đội địch mang theo 80 súng các loại ra hàng.
Với thắng lợi lớn trong trận đường số 8 - Mường Ngàn ta đã phối hợp với bạn giải phóng một địa bàn có ý nghĩa chiến lược, mở rộng hành lang và căn cứ của bạn. Tiếp theo chiến thắng đường số 8, quân ta tiến công khu vực Xa La Phu Khum. Ngày 7 tháng 3 năm 1961, ta kiểm soát phần lớn con đường Viêng Chăn - Luông Pha Băng.
Trước những thắng lợi liên tiếp của cách mạng Lào, địch muốn mở hội nghị Giơ-ne-vơ về Lào nhưng với những điều kiện có lợi cho chúng.
Theo lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, lực lượng vũ trang Quân khu 4 tiếp tục phối hợp cùng bạn tiến công giải phóng đường số 12, Nhôm Ma Rát, Ma Hả Xây nối liền với đường số 8 thành khu giải phóng rộng lớn ở Trung Lào, góp phần buộc địch nhanh chóng ngồi vào bàn hội nghị theo điều kiện của ta.
Sau thất bại trên đường số 8 và Bắc Lào, tinh thần địch trên đường số 12 dao động mạnh. Ngày 30 tháng 3, ta cho tiểu đoàn 14 tiến về hướng Nhôm Ma Rát. Ngày 2 tháng 4, khi bộ đội ta đến Na Kay thì địch đã bỏ chạy. Hai ngày sau, địch đóng ở Nhôm Ma Rát cũng chạy nốt.
Sau khi được tăng thêm lực lượng, ngày 5 tháng 4, địch tổ chức hành quân chiếm lại Nhôm Ma Rát. Bộ Tư lệnh quân khu lệnh cho các tiểu đoàn 927, 929, 44 phối hợp với bộ đội bạn tổ chức lại đội hình, thay đổi cách đánh, nhanh chóng tiến công tiêu diệt địch khi chúng chưa kịp củng cố.
Nhôm Ma Rát là một thị trấn quan trọng nằm trên trục đường số 8B, cách thị xã Thà Khẹt 87 ki-lô-mét về phía đông, án ngữ đoạn giữa các trục đường nam - bắc, đông - tây nước Lào. Thị trấn này cùng với Ma Hả Xây là một trong những vựa lúa lớn nhất ở Trung Lào.
Địch tập trung ở đây một lực lượng khá lớn: 32 BV, 8 BI, đại đội 2/CB1, đại đội 16 dù và một số đại đội Ma-ki, có một trung đội cơ giới và một đại đội pháo 105 ly yểm trợ.
13 giờ 30 phút ngày 15 tháng 4, quân ta nổ súng tiến công. 16 giờ, ta chiếm Nhôm Ma Rát. Hôm sau, 16 tháng 4, ta tiến đánh ngã ba Na Kóc. Sáng ngày 17 tháng 4, ta tiến công Ma Hả Xây. Hai ngày sau, 19 tháng 4, quân ta chiếm Na Du một điểm cách Thà Khẹt 28 ki-lô-mét về phía đông. Địch bỏ chạy về Kô Nan Pa Van cách Thà Khẹt 15 ki-lô-mét. Thà Khẹt bắt đầu bị uy hiếp.
Gần một tháng liên tục chiến đấu, ta và bạn đã giải phóng toàn bộ đường số 8B từ Lạc Xao đến Nhôm Ma Rát, khống chế phần lớn đường số 12 từ biên giới Việt - Lào đến Na Du, trong đó có hai thị trấn quan trọng là Nhôm Ma Rát, và Ma Hả Xây. Mất một địa bàn chiến lược quan trọng ở Trung Lào, địch buộc phải chấp nhận những điều kiện về đình chiến ở Lào của Chính phủ kháng chiến Lào tại Hội nghị Giơ-ne-vơ.
Sau chiến thắng trên đường số 8B và đường số 12, Bộ Tư lệnh quân khu được lệnh sử dụng một bộ phận lực lượng phối hợp với bạn nhanh chóng đánh chiếm đường số 9, mở rộng vùng giải phóng ở Trung Lào nối thông với vùng giải phóng Hạ Lào, tạo thành hành lang an toàn, cắt đứt đường tiếp tế của Mỹ và quân ngụy miền Nam cho quân phái hữu Lào, thông qua trục đường số 9. _____________________________________________ 1. Tháng 2 năm 1961, theo yêu cầu biên chế và tình hình nhiệm vụ, sư đoàn 324 chuyển thành lữ doàn 324. Tháng 5 năm 1965, lữ đoàn 324 lại phát triển thành sư đoàn 324.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #15 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2024, 09:13:21 pm » |
|
Do tầm quan trọng của tuyến đường số 9, địch tập trung ở đây một lực lượng gồm 33 BV và một số đại đội Ma-ki. Lợi dụng các dãy đồi núi vòng cung nhô ra phía trục đường, các hang động có sẵn, các điểm cao có tầm khống chế, địch đã tổ chức trận địa phòng thủ vững chắc. Để chắc thắng, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 điều một số các đơn vị được huấn luyện tốt và đã qua thử thách gồm một đại đội bộ binh tăng cường (lữ đoàn 324), một tiểu đoàn tăng cường (trung đoàn 101), một đại đội tăng cường của trung đoàn 95 (thuộc sư đoàn 325) và tiểu đoàn 19 phối hợp với đoàn 44 của bạn thực hành tiến công.
9 giờ 30 phút ngày 21 tháng 4, đại đội tăng cường của lữ đoàn 324 đánh chiếm Bản Na, Na Nai, Chiến Túp. Ngày 26 tháng 4, tiểu đoàn 19 đánh Mường Phìn. Địch bỏ chạy, ta thu hai xe AM, sáu xe GMC, hai xe jeep và một số vũ khí, quân trang, quân dụng. Tiếp đó, ngày 28 tháng 4, tiểu đoàn tăng cường của trung đoàn 101 tiến đánh Sê Pôn. Dựa vào trận địa phòng thủ kiên cố, địch chống trả quyết liệt, gây cho ta nhiều tổn thất. Trước tình hình đó, ta đã kịp thời thay đổi cách đánh, thực hiện bao vây chia cắt quân địch, triệt đường tiếp tế trên bộ và trên không của chúng. Sau năm ngày chiến đấu liên tục, ngày 29 tháng 4, ta chiếm được sân bay Thà Khống, buộc địch phải rút chạy.
12 giờ ngày 2 tháng 5, bộ đội Pa-thét Lào cùng quân tình nguyện hoàn toàn làm chủ khu vực Thà Khống, Sê Pôn. Thừa thắng, quân ta theo trục đường số 9 đánh mạnh về phía đông, chiếm cầu Ka Ki và tiến về phía tây giải phóng Mường Phìn. Từ Mường Phìn, ta tiến đánh Pha Lan. Giữa lúc chiến sự đang diễn ra quyết liệt ở đây thì cả ta và địch đều nhận được lệnh đình chiến.
Sau 15 ngày liên tục chiến đấu, liên quân Việt - Lào đã đập tan tuyến phòng thủ dài hơn 100 ki-lô-mét của địch trên đường số 9, loại khỏi vòng chiến đấu 87 tên địch, thu gần 200 súng và nhiều lương thực, quân trang, quân dụng. Một vùng giải phóng rộng lớn ở Trung Lào được mở ra, nối thông với vùng giải phóng Hạ Lào và miền Nam Việt Nam. Nhờ đó, Đoàn 559 đã "lật cánh" từ đông sang tây Trường Sơn. Hai tiểu đoàn công binh 25 và 26 của Quân khu 4 cùng tiểu đoàn 927 bộ đội địa phương Hà Tĩnh được lệnh mở đường 129 cho xe cơ giới, nối đường số 9 với đường số 12. Lực lượng công binh của sư đoàn 325 khẩn trương sửa chữa sân bay Thà Khống (Sê Pôn) đảm bảo cho máy bay vận tải của Không quân nhân dân Việt Nam từ sân bay Đồng Hới làm nhiệm vụ vận chuyển chi viện theo yêu cầu của bạn sang hạ cánh. Tháng 12 năm 1961, đường 129 hoàn thành. Từ đây trên tuyến vận tải chiến lược 559, bên cạnh phương tiện thô sơ, chúng ta bắt đầu vận tải bằng cơ giới.
Bị thất bại nậng trên chiến trường, phái hữu Lào đề nghị ngừng bắn. Tháng 5 năm 1961, lệnh ngừng bắn được ba phái thỏa thuận bắt đầu có hiệu lực. Ngay sau đó, bọn phản động vi phạm thỏa thuận, nống ra lấn chiếm vùng giải phóng của cách mạng Lào. Chúng tiến hành cắm chốt, hoạt động phỉ. Kiên quyết bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, theo đề nghị của bạn, Bộ Tư lệnh quân khu điều tiểu đoàn 3 và hai đại đội của tiểu đoàn 1 lữ đoàn 324 cùng trung đội công an vũ trang phối hợp với bạn tiến công tiêu diệt hai căn cứ tại Mường Ngạt và Phu La Bút. Đây là vùng núi đá hiểm trở, việc đi lại rất khó khăn. Địch ở hai căn cứ có khoảng 300 tên, trú đóng trong các hang động.
Trên các cánh rừng Lào vào mùa mưa việc cơ động lực lượng, tiếp cận mục tiêu gặp nhiều khó khăn. Khắc phục gian khổ, hy sinh, các chiến sĩ tình nguyện Quân khu 4 lại tiếp tục trèo đèo, lội suối, cơm vắt, muối vừng, sát cánh cùng bạn đánh giặc.
Sáng sớm ngày 13 tháng 5, ta nổ súng tiến công Mường Ngạt. Địch chống trả quyết liệt. Sau hơn tám giờ liên tục chiến đấu, chiều 13 tháng 5, ta làm chủ hoàn toàn Mường Ngạt. Tiếp đó, bộ đội ta đánh chiếm đồn Khăm Tạt, tiến lên bao vây căn cứ phỉ Phu La Bút. Ngày 20 tháng 5, bạn và ta giải phóng Phu La Bút. Với ba trận thắng liên tiếp, một lực lượng đáng kể của địch bị diệt và bị bắt, ta thu 58 súng các loại, 200 tên phỉ mang theo súng ra hàng.
Tháng 6 năm 1961, trên hướng đường số 7, tiểu đoàn 929 được lệnh hành quân về Bản Ban làm nhiệm vụ phòng ngự và sẵn sàng cơ động đánh địch. Sau khi giải phóng Noọng Hét, đại bộ phận quân tình nguyện được lệnh rút về nước. Tiểu đoàn 925 trực thuộc trung đoàn 120 với 220 cán bộ chiến sĩ có nhiệm vụ ở lại giúp bạn phòng thủ Noọng Hét. Một đại đội của lữ đoàn 324 ở lại bảo vệ binh trạm của Tổng cục Hậu cần đóng ở Noọng Dẻ. Ngay sau đó, đoàn 7 quân tình nguyện được thành lập thay thế cho trung đoàn 120, lữ đoàn 324 cũng được lệnh rút về nước.
Trên hướng đường số 12, cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 929 và đoàn chuyên gia quân sự của ta (150 đồng chí) đã bền bỉ phối hợp cùng bạn bảo vệ an toàn cho tuyến đường.
Một năm liên tục chiến đấu trên chiến trường Lào, lực lượng vũ trang Quân khu 4 đã hoàn thành nhiệm vụ của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng giao, sát cánh cùng bạn đánh 41 trận, diệt và bắt nhiều địch, gọi hàng 376 tên, thu 578 súng các loại, 7 tấn đạn, nhiều xe quân sự, lương thực, quân trang quân dụng. Bộ đội Pa-thét Lào và quân tình nguyện làm chủ các tuyến đường số 8, đường số 9, đường số 12, chiếm giữ một loạt vị trí quan trọng: Noọng hét, Na Pê, Lạc Xao, Nhôm Ma Rát, Ma Hả Xây, Sê Pôn, Thà Khống..., giải phóng một vùng rộng lớn ở Trung - Hạ Lào, mở rộng khu giải phóng Thượng Lào và hành lang chiến lược. Góp phần tạo nên thắng lợi trên có một phần đóng góp của nhân dân hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh. Chỉ riêng sáu tháng đầu năm 1961, Quân khu đã sử dụng 418 xe vận tải và hơn một vạn dân công hỏa tuyến của Nghệ An, Hà Tĩnh tham gia phục vụ chiến đấu trên chiến trường Lào; đồng thời giúp bạn xây dựng sáu tiểu đoàn bộ binh, một số đơn vị địa phương, cao xạ, pháo binh, xe tăng, thiết giáp...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #16 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2024, 09:14:49 pm » |
|
Trên chiến trường Trị - Thiên, tháng 9 năm 1961, quân và dân ta mở đợt hoạt động quân sự và chính trị trên địa bàn rừng núi của hai tỉnh. Tháng 10 năm 1961, lực lượng vũ trang ta diệt đồn Khe Tre ở tây Thừa Thiên và tổ chức chiến đấu chống càn, bảo vệ căn cứ, hành lang tiếp tế. Trong khi đó, theo kế hoạch của ban quân sự tỉnh, trọng tâm hoạt động được chuyển dần xuống khu vực giáp ranh và đồng bằng. Các đội công tác vũ trang tuyên truyền luồn về đồng bằng, đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền vận động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị trong nhân dân. Phong trào phát triển mạnh cùng với việc mở rộng địa bàn càng bộc lộ vấn đề thiếu cán bộ. Kịp thời đáp ứng một phần yêu cầu của chiến trường, tháng 9 năm 1961, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng tăng cường cho Trị - Thiên đơn vị K300, gồm 800 cán bộ quê ở Trị - Thiên ra tập kết và 50 cán bộ người Vĩnh Linh, Quảng Bình. Ngoài K300, Quân khu còn tăng cường cho Trị - Thiên một đại đội đặc công và một khung cơ quan. Với lực lượng này, ban quân sự liên tỉnh – tiền thân của phân khu Bắc trên thực tế đã hình thành.
Trước tình hình ta đẩy mạnh các hoạt động quân sự và chính trị, đặc biệt khi phát hiện việc ta đưa lực lượng luồn sâu về đồng bằng, địch bắt đấu phản ứng mạnh. Chúng liên tục mở các cuộc hành quân càn quét, quy mô lớn dài ngày, đánh lên miền núi hòng triệt phá căn cứ của ta ở tây Trị - Thiên và nam Tây Nguyên, ráo riết gom dân lập ấp chiến lược, triệt phá kinh tế, tiêu diệt lực lượng ta.
Lực lượng vũ trang cùng nhân dân các địa phương đã kiên cường đánh bại các cuộc hành quân của chúng. Ngày 27 tháng 11 năm 1961, địch càn vào xã Cam Giang (huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị), bắt năm người ở năm thôn: Cù Đinh, Ba De, Khe Chiềng, Khe Ái, Sông Ngân đi tập trung. Nhân dân Cam Giang đã đấu tranh chống lại hành động vây bắt của địch, quyết không vào trại tập trung. Địch đánh đập dã man và đốt sạch thôn Cù Đinh. Ở thôn Ba De, chúng bắt dân tra tấn tàn bạo, dìm đầu một em bé xuống nước rồi lấy ván ép vào bụng đạp lên cho nước và máu phọt ra mồm ra mũi. Chúng đốt sạch thôn Ba De, bắt đi 10 người cùng nhiều tài sản khác của đồng bào, phá nát nương rẫy, hoa màu.
Trước những hành động dã man của kẻ thù, người dân Cam Giang vẫn một lòng hướng về cách mạng. Thực tế này đặt ra cho lãnh đạo các cấp phải khẩn trương chuyển phương châm đấu tranh, đưa đấu tranh vũ trang lên ngang với đấu tranh chính trị, hỗ trợ đắc lực cho phong trào quần chúng.
Đấu năm 1962, Mỹ - Diệm đẩy mạnh thực hiện kế hoạch Sta-lây - Tay-lo, cải tổ hệ thống tổ chức chiến trường, điều chỉnh lực lượng bố phòng nhằm tăng thêm hiệu quả đánh phá phong trào cách mạng. Chúng giải thể các quân khu, lập các vùng chiến thuật (do các quân đoàn đảm nhiệm, vùng chiến thuật I từ vĩ tuyến 17 đến hết tỉnh Quảng Ngãi là địa bàn của quân đoàn 1 ngụy phụ trách.
Ở các cấp cơ sở như huyện, quận vùng đồng bằng, địch chú trọng kết hợp giữa quân sự, hành chính, kinh tế để kìm kẹp nhân dân, đánh phá cơ sở cách mạng của ta. Chúng liên tiếp tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét kết hợp với tăng cường hoạt động biệt kích, gián điệp, đánh phá ác liệt vùng tranh chấp, triển khai các chiến dịch "tố cộng", khủng bố trắng ở đồng bằng, đồng thời đẩy nhanh việc xây dựng lực lượng ở cơ sở; chuyển dân vệ lên tổng đoàn, đôn tổng đoàn lên làm nhiệm vụ bảo an. Ở xã, chúng để lại một hoặc hai tiểu đội làm nhiệm vụ "dân vận". Trên cơ sở lực lượng ở địa phương được tăng cường, địch rút các đơn vị chủ lực cơ động, mở các cuộc càn quét lớn. Từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1962, địch liên tục mở nhiều cuộc hành quân dài ngày với lực lượng lớn đánh lên vùng núi phía tây Thừa Thiên (Xang. Cô Ca Va). Tháng 6 năm 1962, hai tiểu đoàn quân ngụy được máy bay trực thăng và phi pháo yểm trợ đã đánh vào căn cứ của ta ở Thừa Thiên. Tại Khe Tre và Nam Đông (tây nam Thừa Thiên), một lực lượng gồm từ hai đại đội đến một tiểu đoàn ngụy đã mở hai cuộc càn, bắt đi 135 đồng bào ta. Cùng thời gian đó, địch cho bốn tiểu đoàn ngụy đánh vào vùng A So, A Lưới, nhằm lấn chiếm và thu hẹp căn cứ địa của ta, phá hoại sản xuất, phá bàn đạp của ta ở vùng giáp ranh. Ngoài ra, chúng còn liên tiếp tổ chức gần 50 vụ biệt kích nống lấn vùng giải phóng, giáp ranh và miền núi. Phong trào đấu tranh của nhân dân gặp nhiều khó khăn, tổn thất, có nơi bị động, lúng túng.
Trước tình hình khó khăn đó, từ đầu năm 1962, Tỉnh ủy Thừa Thiên đã nghiêm khắc kiểm điểm và kịp thời đề ra một số biện pháp cấp bách: khẩn trương đưa lực lượng luồn về đồng bằng, thực hiện tiến công địch về chính trị và quân sự, phát động quần chúng mở rộng phong trào đấu tranh, Tỉnh ủy xác định "tranh thủ quần chúng là vấn đề cơ bản và lâu dài"1.
Thực hiện nghị quyết của tỉnh ủy, cán bộ chủ chốt các huyện, thành đi sâu, bám sát quần chúng đưa lực lượng về đồng bằng tổ chức các đợt hoạt động vũ trang và chính trị. Chào mừng ngày Quốc tế lao động (1-5-1962), một bộ phận lực lượng vũ trang phối hợp với cán bộ chính trị huyện Phú Lộc tiến công đồn số 8 của địch trên đường đi Bạch Mã. Lực lượng địch ở đây gồm một tiểu đội biệt kích, hai tiểu đội bảo an có nhiệm vụ khống chế việc đi lại, hoạt động của ta giữa vùng núi với giáp ranh, đồng bằng. Lợi dụng địa hình rừng núi, quân ta bí mật luồn sâu, áp sát mục tiêu, bất ngờ nổ súng tiến công. Chỉ sau 10 phút chiến đấu, ta đã tiêu diệt vị trí này. Tiếp đó, ngày 27 tháng 5 năm 1962, ta diệt vị trí Khe Tre lần thứ hai, do một trung đội bảo an đóng giữ, thu toàn bộ vũ khí, đạn dược. _____________________________________________ 1. Nghị quyết Hội nghị Tỉnh ủy Thừa Thiên họp từ ngày 24 tháng 2 đến ngày 2 tháng 3 năm 1962.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #17 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2024, 09:15:34 pm » |
|
Ngày 24 tháng 6 năm 1962, hội nghị quân sự tỉnh Thừa Thiên họp xác định phương châm tác chiến thời gian tới: lấy chiến tranh du kích là chính, đánh nhỏ ăn chắc, không dốc hết lực lượng và vũ khí lớn; quán triệt tư tưởng tích cực tiêu diệt sinh lực địch bồi dưỡng lực lượng ta. Đối tượng tác chiến của ta lúc này là: dân vệ, tổng vệ, biệt kích, bảo an, lính cộng hòa đi lẻ, cố vấn Mỹ, ác ôn, tề điệp. Hội nghị đề ra nhiệm vụ quân sự sáu tháng cuối năm 1962 là: tích cực đẩy mạnh chiến tranh du kích ở miền núi, bảo vệ căn cứ, đồng thời tăng cường hoạt động ở giáp ranh và đồng bằng với mức độ thích hợp, hỗ trợ thiết thực cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng; phối hợp với các mặt đấu tranh khác làm lỏng thế kìm kẹp của địch chống phá việc lập ấp chiến lược, khẩn trương xây dựng lực lượng đủ sức làm nhiệm vụ trước mắt và chuẩn bị lực lượng khi có thời cơ.
Ở miền núi Trị - Thiên, vào những tháng cuối năm 1962, nhân dân và lực lượng vũ trang tiếp tục chiến đấu đánh bại các cuộc hành quân của địch, bảo vệ vùng giải phóng, bảo vệ sản xuất, giữ vững hành lang. Tại các vùng giáp ranh, lực lượng vũ trang và cán bộ chính trị kiên cường đánh địch, trụ bám địa bàn, xây dựng và phát triển cơ sở cách mạng trong nhân dân. Trên chiến trường đồng bằng, cuộc đấu tranh giữa ta và địch diễn ra âm thầm nhưng quyết liệt. Cán bộ, đảng viên chịu biết bao gian khổ hy sinh, ngày đêm bám đất, bám dân, móc nối và gây dựng cơ sở ngay trong vùng địch chiếm, nhen nhóm lại phong trào. Cuối năm 1962, phong trào đấu tranh chính trị bắt đầu hồi phục và có bước phát triển tương đối rộng rãi. Tại nhiều địa phương, nhân dân tổ chức đấu tranh giằng co với địch; chống bắt lính, gom dân lập ấp chiến lược; chống đàn áp phật giáo...
Thông qua hoạt động chính trị và quân sự, các tổ chức đảng, tổ chức quần chúng và các lực lượng vũ trang tiếp tục được khôi phục, củng cố và phát triển. Hệ thống chỉ huy lực lượng vũ trang hình thành và được chấn chỉnh. Tháng 12 năm 1962, cơ quan quân sự của hai tỉnh được thành lập. Cơ quan quân sự miền tây của Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế và ban chỉ huy xã, thôn..., cũng lần lượt ra đời. Mỗi tỉnh đã xây dựng được các trung đội, đại đội tập trung, các huyện đồng bằng có các tổ vũ trang công tác. Đến cuối năm 1962, lực lượng vũ trang tập trung của Trị - Thiên lên tới 1.263 người; lực lượng dân quân, du kích gần 2.000 người; trong đó, tỉnh Quảng Trị có 828 người và Thừa Thiên có 1.052 người.
Được lãnh đạo, giáo dục và huấn luyện tốt, lực lượng vũ trang Quảng Trị, Thừa Thiên đã khắc phục thiếu thốn về trang bị và hậu cần, không nề gian khổ, hy sinh, tích cực hoạt động, luồn sâu về đồng bằng, chiến đấu liên tục và có hiệu quả, hỗ trợ đắc lực cho quần chúng đấu tranh. Năm 1962, lực lượng vũ trang cùng nhân dân Quảng Trị - Thừa Thiên đã đánh trên 300 trận, giết và làm bị thương 974 tên, vũ trang tuyên truyền 50 lần hỗ trợ cho nhân dân đứng lên đấu tranh chính trị.
Vừa chiến đấu vừa sản xuất, coi sản xuất như nhiệm vụ tác chiến, tranh thủ thời gian sau và giữa hai đợt chiến đấu, cơ quan cũng như đơn vị khẩn trương trỉa lúa, trồng bắp, chăn nuôi lợn, gà; hái, nhặt, săn, bắt sản vật núi rừng, sông suối để cải thiện đời sống, giảm một phần gánh nặng cho hậu phương. Năm 1962, lực lượng vũ trang Trị - Thiên đã sản xuất được một số lương thực, thực phẩm đáng kể nhất là sắn và bắp. Bộ đội đã biến nhiều vùng đồi núi thành rẫy ngô, nương sắn, đủ ăn cho cả hai năm 1962 – 1963, lực lượng vũ trang Quảng Trị đạt bình quân đầu người tăng gia được 25 ki-lô-gam thịt các loại.
Cùng với chiến trường Trị - Thiên, chiến trường Trung- Hạ Lào đang chuyển biến ngày càng có lợi cho ta.
Từ cuối năm 1961 đến giữa năm 1962, trên chiến trường Lào, địch sử dụng hai phần ba lực lượng tập trung càn quét lấn chiếm vùng giải phóng. Phối hợp với bọn phản động ở Lào, quân ngụy Sài Gòn và bọn phản động ở Thái Lan được Mỹ nuôi dưỡng tăng cường hoạt động biệt kích xâm nhập vùng giải phóng; mở rộng chiến tranh đặc biệt sang đất Lào.
Được sự hỗ trợ của quân tình nguyện, lực lượng vũ trang của bạn đã kịp thời mở các cuộc phản công và tiến công đẩy lùi các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, giải phóng một vùng phía bắc tỉnh Luông Pha Băng (2-1962), Bắc Lào (5-1962), buộc Mỹ và tay sai phải chấp nhận quy chế trung lập ở Lào với cơ cấu chính phủ liên hiệp ba phái, chấp nhận sự tồn tại vùng giải phóng của cách mạng Lào. Ngày 2 tháng 7 năm 1962, Hội nghị quốc tế về Lào được tiến hành tại Giơ-ne-vơ gồm 14 nước tham dự. Ngày 22 tháng 7, Hội nghị ra tuyên bố công nhận nền trung lập của Lào.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #18 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2024, 09:17:14 pm » |
|
Trước ngày thỏa thuận về chính phủ ba phái được ký kết, địch đã tập trung lực lượng lớn trên hướng đường số 12 gồm GM14 (7BI, 8BI và 9BI), GM12 (5BI và 24BI), BV34, pháo 105 ly và một số xe cơ giới tiến công vào ba đại đội thuộc quân Vương quốc đóng ở Khăm Pheng, Khăm Phườn. Chúng chiếm cả Na Đun.
Theo yêu cầu của bạn, Quân khu điều động một lực lượng cùng phối hợp với bộ đội Pa-thét Lào đánh địch, mở rộng vùng giải phóng và ảnh hưởng của cách mạng Lào trên hướng đường số 12.
Tháng 1 năm 1962, Quân khu điều tiểu đoàn 927 cơ động tới phối hợp với lực lượng tại chỗ bảo vệ tuyến đường và lệnh cho tiểu đoàn 44 hành quân chiếm lĩnh hướng Thà Khống. Ngày 28 tháng 1 năm 1962, Bộ chỉ thị cho quân khu tranh thủ lúc địch đang tập trung lực lượng đối phó ở Nậm Thà (Thượng Lào), phối hợp cùng bạn nhanh chóng tiến công tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch trên đường số 12, đẩy mạnh hoạt động vùng sau lưng địch. Thực hiện chỉ thị của Bộ Quốc phòng, tiểu đoàn 2 trung đoàn 101 được lệnh ém sát biên giới Việt - Lào vùng Cha Lo (Quảng Bình) sẵn sàng cơ động sang đất bạn. Để đối phó với âm mưu địch có thể chiếm lại Ma Hả Xây và Nhôm Ma Rát, Quân khu đã điều tiểu đoàn 9 trung đoàn 101 từ đường số 9 lên đường số 12. Tiểu đoàn 18 của bạn tập kết tạm thời ở Thanh Lạng (tây Quảng Bình) cũng nhanh chóng trở lại cùng quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu.
Trên đường số 12, những tháng đầu 1962, ta tập trung một lực lượng mạnh gồm tiểu đoàn 927, tiểu đoàn 929, tiểu đoàn 9 của trung đoàn 101, tiểu đoàn 44, hai khẩu pháo 105 ly, một đại đội pháo cao xạ 37 ly. Lực lượng bạn có tiểu đoàn 16, tiểu đoàn 18 và một đại đội của tiểu đoàn 17. Ngoài ra, còn có một tiểu đoàn lực lượng Vương quốc tham gia phòng thủ Ma Hả Xây, Nhôm Ma Rát. Các đơn vị trên có nhiệm vụ tích cực hoạt động tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, bảo vệ đường số 12 huyết mạch, sẵn sàng đánh trả kẻ địch nếu chúng tiến công, kiên quyết giữ cho được các vị trí xung yếu.
Do vị trí chiến lược của chiến trường Trung Lào ngày càng quan trọng đối với cách mạng hai nước và để tăng cường hiệu quả chiến đấu, cần thống nhất chỉ huy các lực lượng trên chiến trường này, ngày 3 tháng 6 năm 1962, Bộ Tổng Tham mưu đã ra quyết định giao cho Bộ Tư lệnh Quân khu 4 tổ chức một cơ quan chỉ huy ở khu vực Trung Lào với bốn nhiệm vụ cụ thể:
1. Trực tiếp chỉ huy các lực lượng tình nguyện của ta hoạt động trên chiến trường Trung - Hạ Lào.
2. Trực tiếp giúp bạn xây dựng lực lượng, củng cố cơ sở trong khu vực này.
3. Tổ chức các lực lượng của ta và giúp bạn thực hiện kế hoạch phòng thủ vùng giải phóng.
4. Chuẩn bị chiến trường trước mắt, và đối phó với tình huống khẩn trương nhất, đồng thời chuẩn bị chiến trường có tính chất lâu dài.
Theo quyết định đó, Đoàn 959 chuyên gia quân sự giúp bạn ở khu vực Trung Lào, nay thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu 4 chỉ huy và quản lý.
Với sự chuyển hướng về tổ chức lực lượng, thống nhất lãnh đạo, chỉ huy, cuộc chiến đấu của quân tình nguyện và lực lượng vũ trang của bạn trên chiến trường Trung - Hạ Lào trong sáu tháng cuối năm 1962 đạt hiệu quả cao, giành nhiều thắng lợi lớn. Được sự hỗ trợ của quân tình nguyện, trong năm 1962, lực lượng vũ trang của bạn ở Trung - Hạ Lào đã đánh 36 trận, diệt và làm bị thương nhiều địch, bắt 12 tên, gọi hàng 34 tên, thu trên 60 súng các loại, nhiều quân trang, quân dụng và hai kho gạo...
Đến cuối năm 1962, vùng giải phóng Lào mở ra rộng lớn gồm hai phần ba đất đai và một phần hai số dân, chạy dài từ Thượng Lào xuống Hạ Lào, nối liền với miền Bắc và vùng giải phóng miền Nam Việt Nam.
Quân và dân Quân khu 4 phấn khởi, tự hào bởi đã góp một phần sức mình củng cố tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt - Lào, góp phần vào thắng lợi bước đầu của bạn.
Đánh giá đóng góp của quân tình nguyện, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân khu 4 lần thứ hai ghi rõ: "Những đơn vị được phái di chiến đấu bên cạnh quân đội và nhân dân nước bạn đã nêu cao tinh thần quốc tế vô sản, phát huy truyền thống cách mạng của quân đội và nhân dân Việt Nam anh hùng, góp phần vào thắng lợi lớn lao của nhân dân nước bạn".
Thi đua với tiền tuyến, các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh đẩy mạnh sản xuất, tăng cường lực lượng, sẵn sàng đánh bại các hoạt động phá hoại của kẻ thù. Đảng ủy, Bộ Tư lệnh quân khu cùng với đảng bộ, chính quyền các địa phương trong quân khu nhận rõ trách nhiệm, thống nhất ý chí và hành động triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ hai xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng, tăng cường khả năng phòng thủ, nhất là ở các vùng trọng điểm. Đi đôi với tổ chức lại lực lượng cho phù hợp yêu cầu mới, lực lượng vũ trang quân khu đồng thời thực hiện nghiêm túc chương trình huấn luyện, đặc biệt coi trọng huấn luyện chiến đấu cho trên 300 nghìn dân quân tự vệ. Các vùng giới tuyến, biên giới, bờ biển và tuyến đảo từ hòn Mê đến Cồn Cỏ, những vùng xung yếu được đặt vào vị trí ưu tiên số một trong công tác tổ chức và huấn luyện nâng cao khả năng phòng thủ, sẵn sàng đối phó với mọi hành động phá hoại của địch.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #19 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2024, 09:19:04 pm » |
|
Ngày 19 tháng 2 năm 1961, được quần chúng báo tin và giúp đỡ, công an vũ trang Phước Lý cùng với dân quân đã vây bắt tên trung sĩ ngụy cải trang thành dân vạn chài chèo thuyền vượt sông Hiền Lương qua bờ bắc xâm nhập xã Vĩnh Giang và nữ gián điệp Lê Thị Bao cũng vừa đến xã này chưa kịp hoạt động.
23 giờ 30 phút ngày 2 tháng 6 năm 1961, Mỹ - ngụy cho một máy bay đa-cô-ta thả sáu tên biệt kích xuống khu vực Cây Lim thuộc xã Lâm Trạch (huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình). Xã Lâm Trạch nằm giữa cánh rừng rậm rạp, dân cư thưa thớt; phần lớn theo đạo Thiên chúa, xã có nhà thờ Tam Trang.
Kịp thời phát hiện hoạt động biệt kích của địch, đồng chí Lưu, bí thư đảng ủy kiêm chính trị viên xã đội lập tức ra lệnh báo động dân quân, du kích, tổ chức vây bắt, đồng thời báo cáo lên cấp trên xin chỉ thị. 3 giờ sáng hôm sau (ngày 3 tháng 6), lực lượng dân quân xã Lâm Trạch được lệnh cùng dân quân xã Phúc Trạch tổ chức thành ba mũi tiến vào rừng bao vây khu vực địch nhảy dù. Thường vụ tỉnh ủy và thường trực ủy ban hành chính tỉnh Quảng Bình nhận được điện báo của xã Lâm Trạch đã họp khẩn cấp, lập ra ban chỉ đạo vây bắt biệt kích gồm các đồng chí Cổ Kim Thành, phó bí thư tỉnh ủy làm trưởng ban, đồng chí Trần Sự, tỉnh đội trưởng, đồng chí Lê Thanh Phong, trưởng ty công an, đồng chí Hoàng Minh Thi, tham mưu trưởng công an vũ trang tỉnh. Vào lúc 8 giờ, ngày 3 tháng 6, ban chỉ đạo đã có mặt tại khu vực Cây Lim. Lực lượng tham gia vây bắt gồm phân đội công an vũ trang, một đại đội bộ binh của sư đoàn 325 và một đại đội dân quân. Trong khi lực lượng vây bắt tiến hành phong tỏa hai cao điểm 368 và 100, các đồn biên phòng và công an Quảng Bình, Vĩnh Linh được lệnh kiểm soát chặt tuyến biên giới và tuyến quân sự. Sau một tuần truy lùng ta đã bắt gọn toán biệt kích sáu tên và đầy đủ vũ khí, thu ba đài VTĐ, một đài VTĐ liên lạc với máy bay, bảy ký hiệu mật mã, một bản đồ, ba ống nhòm, 14 súng hiệu, ba giấy thông hành giả, 2.500 đồng tiền Ngân hàng Việt Nam, thư và ảnh gửi cha xứ nhà thờ Tam Trang và bọn phản động nội địa. Đây là toán biệt kích nhảy dù đầu tiên được Mỹ - Diệm tung ra miền Bắc, đã bị quân dân Quảng Bình - Vĩnh Linh bắt gọn.
Sau vụ biệt kích nhảy dù xuống Quảng Bình, ngày 22 tháng 6 năm 1961, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị số 20/CT-TW vạch rõ âm mưu và hành động phá hoại của Mỹ - Diệm đối với miền Bắc, yêu cầu toàn Đảng, toàn quân và toàn dân nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kịp thời trấn áp các phần tử phản động tại chỗ, nhanh chóng tiêu diệt địch xâm nhập, phá tan âm mưu tung gián điệp, biệt kích ra miền Bắc của Mỹ - Diệm.
Nhận được chỉ thị của Ban Bí thư, các cấp, các ngành và lực lượng vũ trang trên địa bàn quân khu đã chấn chỉnh lại lực lượng, bổ sung, hoàn thiện các phương án tác chiến, kịp thời phát hiện, tiêu diệt, bắt gọn nhiều toán biệt kích, gián điệp của địch.
Đêm 29 rạng sáng 30 tháng 6 năm 1961, địch cho 17 tên biệt kích đột nhập cảng sông Gianh, gài mìn định phá tàu của hải quân ta. Theo phương án chuẩn bị sẵn, các chiến sĩ hải quân ở cảng sông Gianh cùng bộ đội biên phòng và tự vệ ngư trường Gianh, dân quân huyện Quảng Trạch nhanh chóng triển khai lực lượng, tiêu diệt và bắt gọn cả 17 tên. Tại khu vực giáp ranh hai tỉnh Quảng Bình - Hà Tĩnh, đêm 29 tháng 12 năm 1962, địch cho một toán biệt kích từ biển đột nhập Khe Lũy, gài mìn định phá hỏng chiếc cầu trên quốc lộ số 1. Cùng lúc, một tốp biệt kích khác được tung vào móc nối với các phần tử phản động ẩn náu trong nhà thờ Hương Phương (Quảng Phương, Quảng Trạch). Đề cao cảnh giác, hiệp đồng chặt chẽ, bộ đội biên phòng các đồn Roòn, Đèo Ngang và một bộ phận của đại đội 1 bộ đội biên phòng Hà Tĩnh cùng với lực lượng dân quân các xã Kỳ Phương, Kỳ Lợi (Kỳ Anh), Cảnh Dương (Quảng Trạch) đã tổ chức truy bắt các tốp biệt kích này. Sau năm ngày, bảy tên biệt kích bị sa lưới, trong đó có cả tên toán trưởng Lê Khoái. Các vụ biệt kích nhảy dù xuống Động Choắc (huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh), Phú Cộ (Thanh Hóa) cũng bị lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương tiêu diệt gọn. Ngoài thủ đoạn tung biệt kích, gián điệp vào địa bàn Quân khu 4 bằng đường không, đường biển, đường bộ; trong hai năm 1961 - 1962, Mỹ - Diệm còn dùng 224 lần chiếc máy bay trinh sát trên vùng trời quân khu.
Trước những diễn biến mới của tình hình trên ba hướng chiến trường, trong ba ngày (từ ngày 2 đến ngày 4 tháng 7 năm 1962) Đại hội đại biểu Đảng bộ quân khu lần thứ hai được triệu tập tại thành phố Vinh (Nghệ An) nhằm kịp thời lãnh đạo, nâng cao sức chiến đấu của lực lượng vũ trang quân khu; đáp ứng tốt yêu cầu chi viện cho Trị - Thiên, miền Nam; bảo vệ vững chắc hậu phương miền Bắc và thực hiện tốt nghĩa vụ quốc tế ở Lào.
Về tình hình và nhiệm vụ của quân khu trong thời gian tới, Đại hội chỉ rõ: trong hoàn cảnh đất nước vừa có hòa bình vừa có chiến tranh, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc, là tuyến đấu trực tiếp với địch, có giới tuyến quân sự tạm thời, có bờ biển dài, nếu địch tấn công ra miền Bắc thì chắc chắn chúng sẽ đánh vào Quân khu 4. Vì vậy phương hướng nhiệm vụ cơ bản cho hai năm tới của các lực lượng vũ trang quân khu là: phải ra sức xây dựng bộ đội về mọi mặt, thực hiện nâng cao sức chiến đấu của các đơn vị bộ binh, binh chủng, sẵn sàng về tư tưởng và tổ chức, bảo đảm tiêu diệt địch nhanh gọn bất kỳ lúc nào và ở đâu, giữ vững lãnh thổ quốc gia, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ đột xuất.
Nắm vững quan điểm: công tác xây dựng đảng trong lực lượng vũ trang quân khu là vấn đề có ý nghĩa quyết định đến việc hoàn thành nhiệm vụ, Đại hội quyết nghị: Đảng bộ phải được xây dựng vững mạnh, đủ sức lãnh đạo lực lượng vũ trang quân khu luôn luôn "sắc bén về chính trị, vững vàng về tư tưởng, chặt chẽ về tổ chức, nghiêm minh về kỷ luật, nhanh mạnh về tác phong, giỏi về khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ”1.
Đại hội đặc biệt nhấn mạnh việc tăng cường khả năng phòng thủ, tác chiến của lực lượng vũ trang quân khu với phương châm: "đánh tiêu diệt, phòng ngự ngoan cường, tiến công dũng mãnh, cận chiến, truy kích đến cùng, đánh thắng trận đầu, có gì đánh nấy, có bao nhiêu đánh bấy nhiêu, không ỷ lại chờ đợi. Phải bắn trúng, bắn rơi khi địch xâm phạm không phận, hải phận quân khu, phải sẵn sàng cơ động trên bất cứ chiến trường nào Tổ quốc cần đến".
Về nhiệm vụ xây dựng huấn luyện bộ đội, Đại hội quyết nghị: "Nâng cao chất lượng huấn luyện, huấn luyện phải gắn với nhiệm vụ chiến đấu, chiến đấu phải tiêu diệt sinh lực địch, lấy đó làm thước đo kết quả huấn luyện và xây dựng, quan điểm huấn luyện toàn diện: ý chí chiến đấu, tư tưởng tiến công tiêu diệt địch, trình độ thao luyện, sức chịu đựng bền bỉ dẻo dai là một thể hoàn chỉnh của một chiến binh"2.
Để kiện toàn Ban chấp hành Đảng bộ, Quân khu ủy đã cử thêm đồng chí Bùi Sinh vào Ban Thường vụ, đồng chí Trần Văn Ân và đồng chí Trần Sơn là Quân khu ủy viên chính thức. Quân khu ủy đề nghị lên Quân ủy Trung ương chỉ định thêm đồng chí Đặng Hòa (bí thư lữ đoàn ủy 324) và đồng chí Quách Sĩ Kha (bí thư sư đoàn ủy 325) làm ủy viên chính thức quân khu ủy.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân khu 4 lần thứ hai là mốc đánh dấu sự chuyển hướng mạnh mẽ trong lãnh đạo quán triệt và vận dụng sáng tạo đường lối, tư tưởng quân sự của Đảng, cổ vũ mạnh mẽ cán bộ, chiến sĩ trong quân khu vươn lên. ______________________________________________ 1, 2. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân khu 4 lần thứ hai.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|