Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 12:00:54 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)  (Đọc 57294 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #20 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2024, 09:20:22 pm »


II - PHÁ THẾ KÌM KẸP Ở ĐỒNG BẰNG, CÙNG BẠN LÀO MỞ RỘNG VÙNG GIẢI PHÓNG,
ĐÁNH THẮNG TRẬN ĐẦU KHÔNG QUÂN MỸ-NGÀY 5 THÁNG 8 NĂM 1964

Cuối 1962, chương trình bình định 18 tháng của Mỹ - Diệm căn bản bị sụp đổ trên khắp miền Nam. Đây là sự thất bại bước đầu rất quan trọng của chiến lược "chiến tranh đặc biệt” của Mỹ. Tuy nhiên, viện trợ kinh tế, quân sự cùng số cố vấn và lực lượng đặc biệt của Mỹ được đưa vào ngày càng nhiều tạo nên chỗ dựa cho quân ngụy tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh, vì thế, trên toàn chiến trường, địch và ta vẫn ở thế giằng co quyết liệt.

Ở Trị - Thiên, lực lượng địch đông và chiếm ưu thế. Phong trào đấu tranh của quân dân vùng đồng bằng Trị - Thiên tuy đạt được một số kết quả bước đầu nhưng chưa vững chắc. Tình hình vẫn khó khăn gay gắt.

Sang năm 1963, địch tăng cường đánh phá quyết liệt vùng giáp ranh và rừng núi, sử dụng cả chất độc hóa học để triệt hại cây cối, bản làng, khai quang địa hình, phá hoại kinh tế, ngăn chặn hành lang và triệt nguồn cung cấp lương thực của ta. Ở đồng bằng, chúng đẩy mạnh càn quét với quy mô lớn, ráo riết triển khai đợt hai kế hoạch lập ấp chiến lược.

Để kịp thời lãnh đạo nhân dân đối phó có hiệu quả hoạt động đánh phá của địch, trong hai ngày 1 và 2 tháng 2 năm 1963, Tỉnh ủy Thừa Thiên họp xác định nhiệm vụ của quân và dân toàn tỉnh trong năm 1963 là tập trung đẩy mạnh ba phong trào lớn: đấu tranh chính trị, chiến tranh du kích, sản xuất tự túc. Tỉnh ủy chủ trương phát động toàn dân tham gia chiến đấu chống địch càn quét lấn chiếm, toàn dân giết giặc bằng mọi thứ vũ khí, mọi hình thức; trước mắt, sử dụng lực lượng vũ trang phối hợp với nhân dân đánh phá một số ấp chiến lược để rút kinh nghiệm đồng thời cổ vũ phong trào, lấy ấp Hòa Mỹ làm điểm mở đầu.

Ấp chiến lược Hòa Mỹ nằm sát bìa rừng tây Thừa Thiên, là một ấp thuộc loại "kiểu mẫu" trong chương trình bình định của Mỹ - Diệm. Xung quanh ấp, địch bố trí ba lớp hàng rào kẽm gai dày đặc. Lực lượng địch gồm 100 lính bảo an dân vệ, biệt kích, tề điệp, ngày đêm tuần phòng, canh gác, giám sát và kìm kẹp mấy nghìn dân trong ấp.

Đêm mùng 3 rạng ngày 4 tháng 3 năm 1963, đơn vị vũ trang tỉnh (K105) cùng với cán bộ cơ sở đã tiến công ấp Hòa Mỹ. Sau một giờ nổ súng, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hai trung đội địch, diệt ba tên sĩ quan ngoan cố, bắt một tên ác ôn và năm dân vệ. Cùng với mũi tiến công quân sự, nhân dân đã vùng dậy phá tung hàng rào ấp chiến lược, truy bắt ác ôn, tổ chức mít tinh hoan nghênh cách mạng, lập chính quyền tự quản.

Ngày hôm sau, 30 tên lính vừa bỏ chạy bị bọn chỉ huy bắt phải trở về chiếm lại Hòa Mỹ. Được đội công tác vũ trang tuyên truyền hỗ trợ, nhân dân Hòa Mỹ đã vận động kêu gọi làm tan rã toàn bộ lực lượng này.

Trận Hòa Mỹ là thắng lợi đầu tiên của lực lượng vũ trang cùng nhân dân phá ấp chiến lược, mở ra khả năng thực hiện phương châm "hai chân, ba mũi", trong việc phá ấp chiến lược, giành quyền làm chủ nông thôn đồng bằng.

Tiếp đó, lực lượng vũ trang hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên đã thực hiện một số trận đánh vào ấp chiến lược ở vùng giáp ranh và đồng bằng, tổ chức chống càn, diệt trừ ác ôn có nhiều nợ máu, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy phá lỏng thế kìm kẹp của địch.

Nhận thấy vùng đồng bằng đã bị đe dọa bởi những hoạt động vũ trang và đấu tranh chính trị của ta, Ngô Đình Cẩn - em ruột Ngô Đình Diệm - thống lĩnh miền Trung, lo lắng đề nghị Mỹ - Diệm phải tăng cường đánh phá cơ quan lãnh đạo của các tỉnh. Ngày 23 tháng 3 năm 1963, chúng mở "chiến dịch Phượng Hoàng" nhằm đánh phá vùng căn cứ địa cách mạng, chiếm lại vùng núi đã mất, ngăn chặn ta tiến về đồng bằng. Với lực lượng hai trung đoàn chủ lực được nhiều máy bay, xe cơ giới và pháo binh yểm trợ, địch chia hai cánh: từ tây Thừa Thiên đánh ra Tà Rụt và từ Đá Bàn đánh vào Ba Bình. Trong khi đó, địch cho một lực lượng đổ bộ bằng trực thăng xuống Ly Tông, căn cứ của cơ quan đầu não kháng chiến của tỉnh. Địch càn trong khi các đồng chí chủ trì của Tỉnh ủy đang đi dự hội nghị liên tịch, một số cán bộ văn phòng tỉnh ủy, cơ quan quân sự, ban an ninh tỉnh (Thư, Vĩnh, Thành, Hiền, Phố...) cùng một số đồng chí trong thường vụ huyện ủy và ban chỉ huy huyện đội Hướng Hóa chủ động tổ chức chiến đấu chống càn, bảo vệ cơ quan, bảo vệ dân. Đại đội 45 do đồng chí Chương chỉ huy và đại đội 55 do đồng chí Cường chỉ huy, cùng lực lượng du kích các xã miền núi triển khai đánh địch. Ròng rã hai tháng chiến đấu (từ cuối tháng 3 đến cuối tháng 5), quân dân vùng căn cứ khắc phục gian khổ hy sinh, liên tục tập kích, phục kích quân địch, gây cho địch những tổn thất về sinh lực và phương tiện chiến tranh. Phối hợp với vùng căn cứ, ở đồng bằng, ta mở một số trận tiến công vào ấp chiến lược, diệt và làm bị thương 43 tên, phá sập ba cầu.

Bị tổn thất do những hoạt động tập kích, phục kích liên tục của ta, cuối tháng 5 năm 1963, địch buộc phải kết thúc chiến dịch.

Suốt ba tháng mùa hè năm 1963, quân dân miền núi Trị - Thiên liên tục đánh địch lấn chiếm vùng giáp ranh và miền núi, giữ vững căn cứ, kho tàng, cơ quan và hành lang vận chuyển. Ở đồng bằng, ngày 1 tháng 4 năm 1963, địch cho quân càn vào khu vực Triệu Hùng (Triệu Phong). Bằng mọi vũ khí có trong tay, quân và dân địa phương mưu trí, bền bỉ đánh địch, tiêu diệt 54 tên, làm bị thương nhiều tên khác. Ngày 3 tháng 6, ở Ca Cứ, du kích ta đã bố trí trận địa phục kích kết hợp bãi chông, mìn và hỏa lực súng bộ binh, tiêu diệt một toán địch gồm 30 tên.

Tiếp đến, 5 giờ ngày 11 tháng 6 năm 1963, lực lượng vũ trang tập trung của tỉnh cùng đội vũ trang tuyên truyền đã nổ súng tiến công ấp chiến lược Trường Thọ (Hải Lăng), một ấp thí điểm của địch ở Quảng Trị, diệt gọn một tiểu đội, bắt sống một số tên, thu một số vũ khí, đồ dùng quân sự. Nhân dân nổi dậy, phá bung ấp chiến lược. Đây là trận đánh ấp chiến lược đầu tiên của lực lượng vũ trang tỉnh, mở đầu cho phong trào đánh phá ấp chiến lược ở Quảng Trị. Tại đồng bằng Thừa Thiên, bộ đội tập trung của tỉnh phục kích quân địch ở ki-lô-mét số 8 trên đoạn đường cầu Hai - Bạch Mã, bộ đội địa phương huyện Hương Thủy tập kích một trung đội địch ở Đá Đen, bộ đội Hương Trà diệt một tiểu đội địch ở lô cốt Cà Loi...

Phong trào đấu tranh ở đồng bằng Trị - Thiên bắt đầu có bước phát triển mới, ta đã phá được một số ấp chiến lược, xây dựng được cơ sở cách mạng ở nông thôn, đồng bằng. Đến giữa năm 1963, số cơ sở chính trị tăng 30 đến 40 phần trăm so với năm 1962. Ở Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng... mỗi địa phương có từ 100 đến 300 cơ sở. Tuy nhiên, lực lượng ta ở đồng bằng vẫn còn yếu, sức hỗ trợ của đòn quân sự cho quần chúng nổi dậy đấu tranh chính trị còn hạn chế.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #21 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2024, 09:21:28 pm »


Từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1963, Huế sục sôi cuộc đấu tranh của nhân dân thành phố, bắt đầu từ việc cảnh sát Diệm hạ cờ Phật trong ngày lễ Phật Đản. Hơn 20 nghìn người, trong đó gần một nửa là tăng ni, tín đồ theo đạo Phật đã biểu tình phản đối chính quyền. Hoảng sợ trước không khí đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, địch huy động lực lượng tới đàn áp, làm chết tám người, một số người bị thương, hàng trăm người bị bắt. Hành động đàn áp của kẻ thù đã làm phong trào đấu tranh của quần chúng bùng lên dữ dội. Nhân dân thành phố tổ chức cầu siêu, mít tinh, hội thảo, tuyệt thực; một số phật tử tự thiêu để phản đối chính quyền. Phong trào lan nhanh ra vùng phụ cận, tranh thủ được cả sinh viên, thanh niên, học sinh, trí thức thành phố, lôi kéo cả một số sĩ quan, nhân viên ngụy quyền Thừa Thiên - Huế, trong đó có cả những nhân viên cao cấp của ngụy quyền.

Ngày 15 tháng 5, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra tuyên bố về việc Mỹ - Diệm tàn sát các nhà sư và đồng bào theo đạo Phật ở Huế, kêu gọi nhân dân cả nước và dư luận thế giới ủng hộ đồng bào Phật giáo và sinh viên đại học Huế...

Theo dõi diễn biến cuộc đấu tranh của nhân dân thành phố, Tỉnh ủy Thừa Thiên nhận định: cuộc đấu tranh này mang tính chất dân tộc, dân chủ, chúng ta cần ủng hộ, tận dụng và cố gắng hướng phong trào tập trung vào mục tiêu chống Mỹ và tập đoàn tay sai Ngô Đình Diệm. Thành ủy Huế ra chỉ thị hướng dẫn cho cán bộ, đảng viên và cơ sở của ta trong nội thành lợi dụng cơ hội này đi sâu vận động công nhân, sinh viên, học sinh, trí thức... đấu tranh đòi quyền dân sinh dân chủ, kéo lái phong trào phật tử vào mục tiêu chống Mỹ - Diệm, qua đó mà phát triển xây dựng cơ sở nội thành. Đồng chí Hoàng Lanh, ủy viên thường vụ thành ủy trực tiếp chỉ đạo công tác này.

Sau vụ tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức tại Sài Gòn, nhiều vụ tự thiêu xảy ra ở Huế. Ngô Đình Cẩn cầu cứu Diệm cho cảnh sát dã chiến từ Sài Gòn ra đàn áp. Hàng nghìn nông dân các vùng phụ cận kéo vào cùng đồng bào Huế đấu tranh quyết liệt, đem bàn, ghế, tủ, giường ra làm vật chướng ngại trên đường phố; dùng đá, gậy gộc đánh trả cảnh sát.

Suốt ba tháng đấu tranh liên tục, quyết liệt, các tín đồ phật tử, nhân dân thành phố Huế và nông dân các xã ngoại vi đã làm cho quân thù hoảng sợ, mâu thuẫn giữa chính quyền với nhân dân và trong nội bộ chính quyền đã gay gắt càng gay gắt thêm. Phong trào này đã mở màn cho phong trào đấu tranh chính trị sục sôi trong các đô thị miền Nam, làm chấn động dư luận quốc tế, làm rung chuyển chế độ độc tài Ngô Đình Diệm.

Hưởng ứng phong trào đấu tranh của nhân dân Huế, ngày 8 tháng 6, hàng trăm phật tử và nhân dân thị trấn Đông Hà kéo vào thị xã Quảng Trị cùng tham gia biểu tình tuần hành phản đối nhà chức trách đàn áp phật tử Huế. Những người biểu tình hô vang khẩu hiệu: "Chống chính phủ diệt Đạo"...

Lợi dụng sơ hở của địch do phải lo đối phó với phong trào đô thị, lực lượng vũ trang ta tăng cường hoạt động đánh địch ở vùng ven, phát động quần chúng phá rã từng mảng ấp chiến lược, diệt ác trừ gian. Đơn vị K105 gửi thư quyết tâm cho đồng bào Huế, hoan nghênh và hứa đẩy mạnh đánh địch hỗ trợ cho phong trào.

Ngày 15 tháng 10 năm 1963, hội nghị Liên tỉnh ủy Trị - Thiên họp (mở rộng) nhận định: hiện nay, địch đang trong tình trạng khủng hoảng, lúng túng, mâu thuẫn giữa Mỹ và tập đoàn tay sai Ngô Đình Diệm gay gắt, có nhiều khả năng nổ ra đảo chính. Tinh thần địch, nhất là bọn tay sai ở cơ sở hoang mang dao động, trạng thái "lỏng" đã xuất hiện ở một số thôn; có nơi chính quyền địch hầu như tê liệt. Hội nghị chủ trương: đẩy mạnh đánh phá ấp chiến lược trên toàn bộ nông thôn đồng bằng, làm lỏng thế kìm kẹp của địch. Nơi có điều kiện thì phát động quần chúng đấu tranh nhằm bốn yêu cầu cụ thể là: giành dân; đưa quần chúng vào thế đấu tranh "hai chân, ba mũi", tạo khí thế mới cho phong trào; xây dựng bàn đạp chuẩn bị mọi điều kiện đến đầu năm 1964 phát động phá kìm; giành một phần nhân tài vật lực để phát triển lực lượng rút kinh nghiệm cho chỉ đạo.

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, đảo chính quân sự xảy ra ở Sài Gòn, Diệm - Nhu bị giết. Đứng sau cuộc đảo chính, Mỹ hy vọng sẽ tạo ra một tập đoàn tay sai mới phục vụ đắc lực hơn cho cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

Trước đột biến của tình hình nội bộ địch, lãnh đạo hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên chủ trương khẩn cấp "lợi dụng thời cơ, đẩy mạnh hoạt động". Lớp tập huấn cán bộ phát động quần chúng gồm 38 đồng chí của Thừa Thiên đang học tại căn cứ được tổ chức thành các đội công tác vũ trang tuyên truyền về ngay cơ sở hoạt động. Nhiều đồng chí tỉnh ủy viên của hai tỉnh được phân công về các huyện trực tiếp chỉ đạo phong trào. Cán bộ các cấp, các ngành và lực lượng vũ trang nhanh chóng triển khai đi các hướng. Trong hai ngày 2 và 3 tháng 11, lực lượng vũ trang, các đội công tác và du kích các huyện của Thừa Thiên đã tổ chức tiến công tiêu diệt dịch, phát động quần chúng nổi dậy đánh phá 36 thôn ấp, phát triển cơ sở ở hầu khắp các huyện. Tại xã Phong Sơn (Phong Điền), sau khi tiêu diệt và làm tan rã trung đội bảo an dân vệ ở đây, cán bộ, chiến sĩ ta đã bám trụ lại, tuyên truyền giải thích chính sách của Mặt trận cho hơn 100 giáo dân ở nhà thờ Thanh Tân. Chiều ngày 3 tháng 11 địch cho hai đại đội và bảy xe M113 phản kích. Dựa vào trận địa chuẩn bị sẵn và sự giúp đỡ của nhân dân địa phương, cán bộ, chiến sĩ ta đã chặn đánh quyết liệt, diệt tại chỗ 22 tên địch, thu 10 súng. Bọn còn lại bỏ chạy, nhân dân hoàn toàn làm chủ địa phương suốt một ngày đêm. Ở miền núi, ngày 11 tháng 11, bộ đội ta tiến công vị trí A Lưới, đánh sập một lô cốt, diệt một trung đội địch. Ta bao vây A Lưới một ngày, diệt thêm 50 tên, bắn cháy ba máy bay, phá hủy một số vũ khí, đạn dược.

Trong hai tháng cuối năm 1963, lực lượng vũ trang và các đội công tác vũ trang tỉnh Quảng Trị tiến công địch, hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá 50 ấp chiến lược, đốt 20 nghìn mét rào.

Sau vụ đảo chính lật đổ chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, phong trào đấu tranh của nhân dân thị xã Quảng Trị ngày càng mạnh. Ngày 26 tháng 11, hơn 3.000 học sinh và đồng bào thị xã xuống đường biểu tình, dương cao biểu ngữ, hô vang khẩu hiệu đả đảo tỉnh trưởng mới Nguyễn Trà Đơn. Đoàn biểu tình kéo đến chi khu quân sự, đòi gặp đại tá Hiền, buộc tên này phải ra nhận kiến nghị. Hôm sau, hơn 4.000 đồng bào và học sinh ở Sải cùng nhân dân thị xã rầm rộ diễu qua các phố, kéo đến trước tòa thị chính phản đối tỉnh trưởng.

Phối hợp với phong trào đấu tranh ở đồng bằng, đô thị, một phong trào thi đua săn máy bay địch được phát động trong bộ đội và du kích miền núi. Ngày 20 tháng 11, một tổ săn máy bay của du kích xã Phong Bình bí mật phục kích sát sân bay A So (tây Thừa Thiên), bắn trúng một máy bay trực thăng. Hai ngày sau, du kích A So bắn rơi một chiếc Đa-cô-ta. Ngày 28 tháng 11, tại A Lưới, tổ săn máy bay lại bắn rơi tiếp chiếc Đa-cô-ta thứ hai.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #22 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2024, 09:22:03 pm »


Trái với dự tính của Mỹ, sau ngày đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm, ngụy quyền Sài Gòn lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng; mâu thuẫn trong nội bộ ngày càng gay gắt. Để đẩy mạnh chiến lược "chiến tranh đặc biệt", sau khi cầm quyền ở Mỹ, Giôn-xan tăng cường lực lượng cố vấn Mỹ và phương tiện chiến tranh cho ngụy quyền Sài Gòn.

Được sự hỗ trợ của Mỹ, quân ngụy đẩy mạnh các hoạt động càn quét, bình định, lập ấp chiến lược với nhiều thủ đoạn tàn bạo hơn hòng giành lại quyền chủ động trên chiến trường.

Ở Trị - Thiên, trong và sau cuộc đảo chính, địch lo đề phòng lực lượng cách mạng từ phía bắc và phía tây đánh xuống đồng bằng. Chúng tăng quân ra đường số 9 và khu vực A Sầu, A Lưới; dùng không quân oanh tạc miền tây, kiểm soát chặt tuyến hành lang và khu vực giáp ranh, sử dụng cả chất độc hóa học khai quang địa hình dọc theo các trục đường hành lang ngang dọc.

Ở Lào, từ đầu năm 1963, Mỹ và tay sai đã phá bỏ chính phủ liên hiệp, tăng quân ngụy Lào lên ba nghìn tên, ra sức càn quét, đánh phá cơ sở cách mạng hòng kiểm soát chặt những vùng chúng chiếm đóng. Với sự yểm trợ hỏa lực của không quân Mỹ và pháo binh Thái Lan, quân ngụy Lào tiến công vùng giải phóng của Pa-thét Lào. Sau khi lấn chiếm Sê Nô, cùng quân ngụy Sài Gòn đánh chiếm Mường Noòng (Xa vẳn Na Khệt)... ngày 27 tháng 11 năm 1963, địch cho tiểu đoàn địa phương BK 340 và một số toán biệt kích bất ngờ tiến công các đơn vị bộ đội Pa-thét Lào, chiếm lại thị trấn Cam Kớt. Lực lượng của bạn ở đây chịu một số tổn thất. Ngày hôm sau, tiểu đoàn 11 thuộc BM 15 đổ bộ xuống Cam Kớt cùng với BK 340 đánh chiếm Lạc Xao, mở đường tiến xuống Na Pê. Tiểu đoàn 927 của ta chặn đánh quyết liệt.

Trong lúc đang họp, Thường vụ quân khu ủy nhận được điện của Bộ Tổng tham mưu cho biết địch đã hành quân xuống Lạc Xao và Nhôm Ma Rát, Quân khu 4 phải gấp rút tổ chức chiến đấu; sau bảy đến tám ngày có thể nổ súng được. Đồng chí Nam Long, quyền Tư lệnh quân khu cử đồng chí Tham mưu trưởng Quân khu ra Hà Nội nhận lệnh cụ thể của Bộ, đồng thời chỉ thị cho các cơ quan khẩn trương chuẩn bị chiến đấu.

Bộ giao cho quân khu cùng bạn mở chiến dịch "128" trên địa bàn nằm giữa đường số 8 và đường số 12; bao gồm một số địa phương thuộc tỉnh Khăm Muộn, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá âm mưu chiếm đóng vùng cao nguyên Trung Lào là tuyến tranh chấp giữa ta và địch, giải phóng khu vực phía tây sông Nậm Thơm bao gồm từ Na Kay đến núi Đá, tạo điều kiện cho bạn nống ra hoạt động trên đường số 13; giúp bạn xây dựng lực lượng và cơ sở cách mạng, củng cố vững chắc vùng giải phóng.

Trên địa bàn chiến dịch, lực lượng địch gồm 8BI của Coong-le, 2BI của Phu-mi và một tiểu đoàn biệt kích.

Căn cứ vào tình hình và nhiệm vụ được giao, Thường vụ đảng ủy và Bộ Tư lệnh quân khu quyết định thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch do đồng chí Nguyễn Ích Tỷ làm chỉ huy trưởng, đồng chí Quách Sỹ Kha làm chính ủy. Bộ Tổng tham mưu cử Cục phó Cục Tác chiến Lê Ngọc Hiền làm phái viên, trực tiếp giúp Bộ chỉ huy chiến dịch. Ngoai các đơn vị đang có mặt ở chiến trường, Bộ Tư lệnh quân khu điều thêm trung đoàn 95 thuộc sư đoàn 325 (do đồng chí Cư làm trung đoàn trưởng), tiểu đoàn 3 thuộc lữ đoàn 324 (do đồng chí Phương làm tiểu đoàn trưởng) là lực lượng dự bị chiến dịch. Mọi công việc chuẩn bị cho chiến dịch được tiến hành khẩn trương trong khi nhân dân đang đón Tết Giáp Thìn. Ngày 30 Tết, Tổng chỉ huy lực luợng Pa-thét Lào Khăm-tày Xi-phăn-đon tới sở chỉ huy chiến dịch thăm và chúc Tết bộ đội tình nguyện Việt Nam. Đó là sự cổ vũ động viên lớn đối với cán bộ, chiến sĩ ta trước giờ nổ súng.

Đúng bảy ngày sau khi nhận lệnh, ngày 16 tháng 12 năm 1963, từ hai hướng, liên quân Việt - Lào nổ súng tiến công mở màn chiến dịch. Trên hướng đường số 12, tiểu đoàn 929 trung đoàn 95 được pháo binh và hỏa lực phòng không yểm trợ nhanh chóng vượt đèo Phú Ác, đánh lên Nhôm Ra Rát. Từ hướng đường số 8, tiểu đoàn 927 và tiểu đoàn 3 lữ đoàn 324 cùng đặc công, pháo binh và công binh đánh xuống sân bay Na Cay. Ta và địch giành nhau từng ngọn đồi, từng khe suối. Cuối tháng 2 năm 1964, trước sức tiến công của ta, địch buộc phải tháo chạy. Vì chưa thông thuộc địa hình nên khi địch men theo hẻm núi, rút qua hang đá vôi Cuông Xang, ta đã không phát hiện được.

Gần hai tháng chiến đấu, liên quân Lào - Việt đã đánh thiệt hại 10 tiểu đoàn địch, làm tan rã hai tiểu đoàn khác, bắt hơn 2.000 tù binh, thu một số vũ khí và phương tiện chiến tranh, giải phóng một vùng cao nguyên rộng lớn với hai tuyến đường quan trọng số 8, số 12 và tuyến biên giới Lào - Việt dài 700 ki-lô-mét.

Sau chiến dịch, ngày 26 tháng 2 năm 1964, Bộ chỉ huy tiền phương rút về nước. Tiểu đoàn 927, tiểu đoàn 929, tiểu đoàn 3 lữ đoàn 324 tiếp tục cùng bạn làm nhiệm vụ phòng ngự và xây dựng cơ sở chính trị. Trung đoàn 95 rút về Lằng Khằng (đường số 12) củng cố và sẵn sàng cơ động. Tiểu đoàn 925 lên Nậm Cắn giúp bạn đánh thông đường số 7. Tiểu đoàn 15 công binh Quân khu Tây Bắc điều vào Quân khu 4 cũng được lệnh lên sửa chữa đường số 7.

Cả năm 1964, ta cùng bạn đánh 62 trận (bạn độc lập đánh 16 trận), tiêu diệt và làm bị thương nhiều địch, bắt 759 tên (kể cả lính ngụy miền Nam Việt Nam). Ta thu: 1.015 súng các loại (có năm khẩu pháo 75 ly), 52 tấn đạn, 17 VTĐ 15w, nhiều quân trang quân dụng, bắn rơi 16 máy bay, bắn bị thương 12 chiếc khác. Ta giúp bạn xây dựng được một tiểu đoàn bộ binh và 340 du kích ở khu vực đường số 8. Trên hướng đường số 12, ta giúp bạn củng cố các tiểu đoàn chủ lực và các đại đội độc lập, phát triển 1.257 du kích, tập huấn cho cán bộ xã đội, trung đội. Ở đường số 9, ngoài các tiểu đoàn chủ lực và đại đội độc lập được củng cố, bạn còn xây dựng thêm một đại đội.

Ở Trị - Thiên, Đảng ủy phân khu bắc họp tháng 12 năm 1963 đề ra nhiệm vụ cho các lực lượng vũ trang là: đẩy mạnh hoạt động của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích, tích cực tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, bảo vệ căn cứ và hành lang, hỗ trợ đắc lực cho đấu tranh chính trị của quần chúng phá ấp chiến lược, phá thế kìm kẹp, mở rộng đồng bằng; đẩy mạnh sản xuất tự túc, coi sản xuất như nhiệm vụ tác chiến; ra sức xây dựng lực lượng vũ trang, bán vũ trang, tăng cường sức mạnh chiến đấu, đẩy mạnh phong trào "Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công", xây dựng nhiều đơn vị và cá nhân tiên tiến.

Về tác chiến, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 lệnh cho lực lượng vũ trang Trị - Thiên tiếp tục đánh ấp chiến lược, phá thế kìm kẹp của địch ở vùng giáp ranh và các trục đường quốc lộ, đường sắt ở các huyện Cam Lộ, tây Triệu Phong, tây Hải Lăng, tây Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Hương Thủy, Phú Lộc. Trọng điểm là vùng Hương Trà, Nam Đông, Khe Tre, đưa các vùng này thành vùng du kích, đấu tranh hai chân ba mũi giáp công, giải phóng vùng Nam Đông, Dương Hòa, Ba Lòng, tạo thành bàn đạp du kích nối liền với căn cứ, tiến công mở rộng cơ sở ở đồng bằng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #23 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2024, 09:23:36 pm »


Bước vào năm 1964, lợi dụng sự suy yếu của chính quyền Sài Gòn, lực lượng vũ trang Trị - Thiên đã tổ chức các trận đánh vào ấp chiến lược, chi khu quân sự, quận lỵ địch.

Đêm mùng 8 rạng ngày 9 tháng 2 năm 1964, đại đội 12 đặc công phân khu do đồng chí Tâm chỉ huy cùng với K10 bộ đội tỉnh do đồng chí Phương chỉ huy1 đã tổ chức trận đánh công kiên vào quận lỵ Ba Lòng (tây Quảng Trị). Đây là cứ điểm có công sự kiên cố được xây dựng trên một địa hình cao hiểm trở do tên Trần Đình Lãm quận trưởng chỉ huy. Hắn huênh hoang tuyên bố quận lỵ Ba Lòng là bất khả xâm phạm. Sau khi nắm chắc địa hình và bố trí lực lượng của địch, quân ta bí mật tiếp cận mục tiêu, bất ngờ nổ súng tiến công, thực hành thọc sâu chia cắt đánh từ trong lòng địch ra. Bị bất ngờ, địch không kịp phản ứng. Trận đánh diễn ra chớp nhoáng. Sau 25 phút, ta làm chủ hoàn toàn trận địa, diệt 58 tên, làm bị thương 18 tên, bắt 32 tên (có tên quận phó Nguyễn Cao Hưởng và tên thiếu úy đại đội trưởng đại đội bảo an 812), thu 85 súng (có bốn khẩu đại liên và trung liên, bốn khẩu cối 81 và 60 ly), toàn bộ điện đài và tài liệu quan trọng, phá hủy trụ sở chi công an, chi thông tin và quận lỵ. Chiến thắng Ba Lòng lan nhanh, gây chấn động mạnh. Địch choáng váng lo sợ. Nhân dân hả lòng hả dạ, thân nhân của ngụy binh bị chết kéo đi đấu tranh trước cửa cơ quan ngụy quyền quận lỵ, thị xã, dinh tỉnh trưởng, đòi bồi thường. Hàng trăm lính ngụy tìm cớ ốm đau, xin nghỉ phép... tránh phải ra trận. Để khuếch trương chiến thắng Ba Lòng, Ủy ban Mặt trận tỉnh tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại Trấm. Hơn 3.000 đồng bào của 74 thôn vùng giáp ranh tới dự. Cán bộ ta nói ý nghĩa thắng lợi, vạch tội ác kẻ thù, giải thích đường lối chống Mỹ, cứu nước và nói rõ chủ trương của Mặt trận sẽ ngừng bắn bảy ngày trong dịp Tết Quý Mão. Bà con dự mít tinh về rất tin tưởng và khâm phục cách mạng, nói lại với đồng bào và binh lính ngụy, gây ảnh hưảng lớn trong nhân dân các đô thị và vùng giáp ranh. Hàng chục bà mẹ và chị em tìm đường lên Ba Lòng, Trấm để được gặp cách mạng. Lo sợ trước thanh thế và ảnh hưởng của cách mạng, địch rải quân quanh thị xã Quảng Trị, Đông Hà, Huế; cho bọn mật vụ trà trộn vào các làng xã, hai bên quốc lộ số 1 để ngăn chặn không cho đồng bào và binh lính đi lại đón xuân. Bất chấp lệnh cấm, nhiều chỉ huy cấp đại đội quân ngụy đã cho lính về ăn tết với gia đìrh. Họ làm như vậy bởi lẽ họ khẳng định với nhau rằng: "Mặt trận nói bao giờ cũng làm đúng".

Tình hình phát triển thuận lợi. Tinh thần địch sa sút. Ảnh hưởng cách mạng lan nhanh trong nhân dân. Ngày 20 tháng 3 năm 1964, khi du kích Gio Hải (huyện Gio Linh - Quảng Trị) tiêu diệt trung đội tổng vệ đóng ở thôn Diêm Hà Thượng, quần chúng 13 thôn trong xã đồng loạt nổi dậy phá rào kẽm gai, cắt đứt hệ thống thông tin liên lạc, truy lùng ác ôn, kêu gọi binh lính ra hàng. Các xã Gio Hải, Gio Cam, Gio Sơn, Trung Sơn được giải phóng.

Đầu tháng 4 năm 1964, Tỉnh ủy Thừa Thiên chủ trương phát động quần chúng đấu tranh theo phương châm “hai chân, ba mũi", giải phóng 20 đến 30 nghìn dân, hỗ trợ cho miền núi và tạo thế cho phong trào đô thị phát triển. Tỉnh ủy lấy xã Hương Thọ (huyện Hương Trà) làm thí điểm khởi nghĩa. Đồng chí Nguyễn Văn Quảng (tức Húng) ủy viên thường vụ Liên khu ủy 5 và là bí thư Ban cán sự liên tỉnh Trị - Thiên - Huế trực tiếp chỉ đạo khởi nghĩa. Đội công tác vũ trang có 38 đồng chí, đúng ngày giờ quy định tại Lương Miêu - Dương Hòa đã sử dụng nội ứng phối hợp đánh từ trong ra, ngoài vào, tiêu diệt một trung đội bảo an. Ta thu vũ khí, bắt tên trung đội trưởng. Nhân dân hai thôn nổi dậy phá ấp chiến lược, phục vụ chiến đấu. Mũi này kịp thời phát huy thắng lợi phát triển đánh vào Đình Môn, La Khê, Kiên Ngọc. Địch phản ứng quyết liệt, nhiều đồng chí ta bị thương. Sau một tháng giành đi giật lại, ta giành và giữ vững quyền làm chủ bốn thôn: Lương Miêu, Thác Hồ, Kim Ngọc, Thạch Hãn và đưa một số thôn khác vào thế tranh chấp, ta làm chủ ban đêm. Ủy ban mặt trận, chính quyền tự quản, các đoàn thể quần chúng, lực lượng du kích xã được hình thành. Chi bộ, đội công tác vũ trang thực sự là lực lượng nòng cốt, lãnh đạo phong trào đấu tranh của xã Hương Thọ.

Hương Thọ được giải phóng, ta tiếp tục mở rộng cơ sở này nối thông với một số vùng ở Phú Vang, Hương Thủy và cơ sở ở Huế. Từ thực tiễn khởi nghĩa Hương Thọ, Tỉnh ủy Thừa Thiên rút ra kinh nghiệm chỉ đạo: muốn đồng khởi thắng lợi phải kết hợp phát động quần chúng với công tác binh vận gây nội ứng, có lực lượng vũ trang từ ngoài đánh vào phối hợp với lực lượng bên trong, phải đánh trúng bọn địch trực tiếp kìm kẹp quần chúng. Quần chúng phải được phát động và sẵn sàng hành động. Chỉ đạo phải quyết tâm cao, nắm chắc tình hình, có kế hoạch chu đáo các bước và có phương án cho các tình huống có thể xảy ra.

Trước khí thế quần chúng chuẩn bị vùng dậy ở nhiều nơi, ngụy quân, ngụy quyền ở cơ sở càng hoang mang, một số đội "thanh niên chiến đấu" xã, ấp hoạt động cầm chừng hoặc tỏ thái độ ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân. Ngày 18 tháng 4, trung đội "thanh niên chiến đấu" gồm 25 người thuộc ấp Bốn Trì, xã Hương Chữ (huyện Hương Trà) đã bỏ đồn mang súng tìm đường lên căn cứ tham gia kháng chiến. Lực lượng này đã viết thư kêu gọi "thanh niên chiến đấu" toàn tỉnh Thừa Thiên quay súng bắn vào bọn ác ôn và trở về với cách mạng.

Hai tuần sau, 27 dân vệ thôn Niêm Phò mang theo súng chạy sang hàng ngũ cách mạng. Các đội "thanh niên chiến đấu" ở xã Phú Hồ, thôn Đồng Lâm và hàng trăm người đã chống lại địch, ra vùng căn cứ theo lời kêu gọi của mặt trận.

Tháng 4 năm 1964, tại Ro Ró (huyện Hướng Hóa) Tỉnh ủy Quảng Trị triệu tập hội nghị cán bộ mở rộng quyết định đồng khởi giành lại nông thôn đồng bằng, coi đó là nhiệm vụ sống còn số một. Khởi nghĩa sẽ chia ra ba đợt: đợt 1 từ 5 tháng 7 đến 30 tháng 8; đợt 2 từ 1 tháng 9 đến 31 tháng 10; đợt 3 từ 1 tháng 11 năm 1964 đến tháng 1 năm 1965. Hội nghị chủ trương tập trung lực lượng thích đáng cho đồng bằng, vùng sâu; dùng bạo lực của quần chúng và du kích mật là chủ yếu; lực lượng vũ trang chỉ sử dụng một số tổ chức nhỏ và sắc làm nòng cốt cho du kích. Lực lượng vũ trang huyện nào hoạt động tại huyện đó. Đơn vị 55 (bộ đội tỉnh) được điều về huyện Triệu Hải sẵn sàng cơ động. Cán bộ các ban, ngành của tỉnh thay nhau về trực tiếp tham gia phát động quần chúng. Tỉnh ủy quyết định lấy Cùa (huyện Cam Lộ) làm ngòi pháo khởi điểm cho đợt đồng khởi, thu hút địch, tạo điều kiện cho vùng giáp ranh toàn tỉnh vùng lên và lấy huyện Hải Lăng làm trọng điểm chỉ đạo toàn tỉnh.

Tỉnh mở lớp tập huấn cán bộ các cấp, quán triệt nghị quyết tỉnh ủy và phương pháp phát động quần chúng. Kết thúc lớp tập huấn, cán bộ tỏa ngay về các địa phương hoạt động phổ biến lời kêu gọi của tỉnh ủy: "Thời cơ đang tiếp diễn vô cùng thuận lợi, chúng ta hãy đồng tâm nhất trí vượt mọi khó khăn gian khổ, phát huy mọi nỗ lực và sáng kiến, bám sát cơ sở, bám sát nhân dân để hoàn thành nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang".
______________________________________________
1. K10 là đơn vị bộ đội tập trung của tỉnh Quảng Trị thành lập tại Khe Bắp thuộc huyện Hướng Hóa, lúc đầu có 10 đồng chí do đồng chí Mai Hồng Phương làm đội trưởng, sau phát triển thành tiểu đoàn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #24 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2024, 09:24:37 pm »


Đêm 24 tháng 6, được sự hỗ trợ của đòn tiến công từ ngoài vào, một số anh em binh sĩ yêu nước thuộc trung đội tổng vệ số 118 cùng nhân dân xã Ba Thành (quận Ba Lòng) đã nổi dậy, buộc những tên còn lại trong trung đội tổng vệ phải đầu hàng. Cùng đêm, đơn vị K10 đặc công tỉnh cùng chủ lực phân khu đã tiến công đánh chiếm Đầu Mầu, một vị trí án ngữ phía tây đường số 9, loại khỏi vòng chiến đấu gần 60 tên, pha sập cầu Đầu Mầu. Vụ binh biến Ba Thành và trận đánh Đầu Mầu nổ ra cùng một đêm giành thắng lợi hoàn toàn đã cổ vũ mạnh mẽ quần chúng nhân dân, và thúc đẩy lãnh đạo quyết tâm đồng khởi.

Sáng ngày 4 tháng 7 năm 1964, Thường vụ tỉnh ủy Quảng Trị phát đi bản mệnh lệnh số 1: "Lệnh cho các cấp, các ngành và toàn thể cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong tỉnh mở màn đợt phát động quần chúng phá thế kìm kẹp, giành lại nông thôn đồng bằng vào ngày 5 tháng 7 năm 1964, hãy sẵn sàng hy sinh tất cả, giành thắng lợi lớn nhất!"

Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Vũ Soạn phó bí thư tỉnh ủy và đồng chí Lê San ủy viên thường vụ tỉnh ủy, đêm 4 rạng ngày 5 tháng 7, lực lượng vũ trang, đội công tác vũ trang cùng cơ sở bí mật trong thanh niên chiến đấu từ ngoài đánh vào, từ trong đánh ra hỗ trợ cho quần chúng hai thôn Mai Lộc, Mai Đàn và cả vùng Cùa nổi dậy đồng loạt giành quyền làm chủ. Ngay sau đó, mít tinh quần chúng được tổ chức, chính quyền cách mạng được thành lập. Để bảo vệ chính quyền, mỗi xã tổ chức một trung đội du kích. Bốn ngày sau, địch đem 500 quân phản kích. Bộ đội, du kích cùng nhân dân kiên cường chiến đấu, giữ vững vùng mới giải phóng.

Khởi nghĩa ở Cùa giành thắng lợi hoàn toàn. Phong trào lan nhanh ra các địa phương trong tỉnh. Ở các huyện Triệu Phong, Hải Lăng, chưa đầy hai tháng đã nổi dậy giành được 40 nghìn dân (vượt chỉ tiêu trên 10 nghìn). Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đồng khởi, địch vô cùng hoảng sợ, chúng cấp tốc mở chiến dịch Lam Sơn 115A với hơn ba tiểu đoàn đánh lên vùng miền tây Quảng Trị. Áp dụng chiến thuật "trực thăng vận", địch dùng 50 máy bay trực thăng đổ quân ào ạt xuống Hương Điền hòng bất ngờ vây "chụp" chủ lực và cơ quan đầu não của ta, phá kho tàng và hành lang chiến lược. Bộ đội, du kích và nhân dân đánh trả quyết liệt, làm chậm bước tiến của địch, tiêu hao, tiêu diệt một số quân địch, bảo vệ căn cứ địa.

Cùng với Quảng Trị, từ đêm 5 tháng 7, quân và dân Thừa Thiên đã liên tiếp tiến công đánh phá hàng loạt đồn bốt, phá 130 ấp chiến lược, giành quyền làm chủ cho 10.821 dân, thành lập các ban tự quản, các đoàn thể quần chúng, phát triển du kích, lập làng chiến đấu, đánh địch phản kích, xây dựng cuộc sống mới.

Ở đô thị, các tổ chức Đảng trong nội thành đã lãnh đạo, hướng phong trào tập trung vào mục tiêu chống Mỹ và bọn tay sai ác ôn. Ngày 25 tháng 8, hơn 10 nghìn người đã biểu tình trên đường phố thị xã Quảng Trị. Hôm sau, 300 giáo viên, học sinh tiếp tục tuần hành giương cao khẩu hiệu "Mỹ không được can thiệp vào công việc nội bộ của người Việt Nam". Tại Huế, 50 nghìn đồng bào nội đô và vùng phụ cận xuống đường biểu tình, đưa yêu sách: "Nợ máu phải trả bằng máu", "phải chặt đầu Cẩn", "phải đem Cẩn ra xử tại Huế". Đoàn biểu tình bao vây và chiếm đài phát thanh Huế. Trước sức ép của phong trào đấu tranh, địch phải xử tử Phan Quang Đống - tỉnh trưởng Thừa Thiên. Tỉnh trưởng mới phải hứa sẽ giải quyết yêu sách của đồng bảo. Phong trào đã lôi kéo một số binh lính, cảnh sát ngụy tham gia.

Cũng trong thời gian này, tại Hải An, một xã vùng biển thuộc huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị, được sự hỗ trợ của một trung đội vũ trang ta, trung đội bảo an, dân vệ đã nổi dậy làm binh biến, diệt gọn bọn chỉ huy ác ôn, phá trụ sở ngụy quyền xã, mang toàn bộ vũ khí về với cách mạng. Xã Hải An được hoàn toàn giải phóng. Đây là vụ binh biến đầu tiên ở vùng biển Quảng Trị.

Giữa lúc phong trào đang diễn ra rộng khắp ở vùng đồng bằng Trị - Thiên - Huế, ngày 3 tháng 9 năm 1964, đoàn cán bộ do đồng chí Tư Minh làm trưởng đoàn từ Hà Nội vào truyền đạt chỉ thị của Bộ Chính trị cho quân và dân Trị - Thiên - Huế. Đánh giá tình hình năm 1964 trên chiến trường Trị - Thiên, Bộ Chính trị nhận xét: phong trào đã có bước phát triển; quân và dân Trị - Thiên đã anh dũng chiến đấu, bảo vệ được hành lang, xây dựng được căn cứ và mở rộng được vùng làm chủ ở đồng bằng. Tuy nhiên trong chỉ đạo, đánh giá tình hình địch - ta chưa sát đúng, vận dụng phương châm, phương thức chưa linh hoạt ... Vì thế, kết quả phần nào bị hạn chế.

Bộ Chính trị chỉ thị cho quân và dân Trị - Thiên - Huế phải tích cực chiến đấu bảo vệ hành lang, trong một thời gian ngắn phải biến đổi cho được tương quan lực lượng giữa ta và địch về quân sự, làm thay đổi tương quan lực lượng chính trị ở đồng bằng và đô thị, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, làm tốt công tác binh, địch vận.

Chỉ thị của Bộ Chính trị đáp ứng kịp thời yêu cầu chỉ đạo cho phong trào Trị - Thiên - Huế đang ở thời điểm sục sôi, quyết liệt.

Từ cuối tháng 9 năm 1964, Quảng Trị mở tiếp đồng khởi đợt 2, nhằm vào vùng sâu. Đợt hoạt động này kéo đến hết tháng 10 năm 1964. Phong trào lan rộng ra các huyện, phát triển mạnh ở Triệu Phong. Kết thúc đợt đồng khởi này, 60 nghìn dân đã giành quyền làm chủ. Vùng giải phóng Quảng Trị mở ra trên một địa bàn rộng lớn; nối liền từ khu vực giáp ranh Gio Linh và Cùa - Ba Lòng đến khu vực giáp ranh Triệu Hải; từ Cửa Việt vào Thẩm Khê, từ Triệu Phong đến Phương Lang Đông... Ở những vùng mới giải phóng, chính quyền cách mạng được thành lập. Chính quyền đã thực hiện chính sách ruộng đất và một số chính sách xã hội đem lại quyền lợi cho nhân dân.

Ở Thừa Thiên, sau đợt 1, Tỉnh ủy chuyển hướng chỉ đạo về khu vực phía nam của tỉnh, lấy xã Hải Thủy (huyện Hương Thủy) làm trọng điểm. Tháng 10 năm 1964, địch phản kích quyết liệt, mưa bão xẩy ra liên miên, hoạt động của bộ đội ta gặp nhiều khó khăn. Do vậy, lực lượng vũ trang Quảng Trị rút về căn cứ. Khí thế đấu tranh của quần chúng tạm thời lắng lại. Địch nhanh chóng chiếm lại Cùa - vùng căn cứ của ta.

Kiên quyết khắc phục khó khăn, từ tháng 11 năm 1964, quân và dân Trị - Thiên đẩy mạnh đấu tranh quân sự và chính trị, giữ vững vùng giải phóng ở miền núi và giáp ranh, mở rộng quyền làm chủ ở đồng bằng và ven biển. Quảng Trị mở được một số vùng sát ven thị xã, thị trấn dọc theo các trục lộ giao thông quan trọng. Ngày 20 tháng 1 năm 1965, nhân dân các thôn: Kinh Môn, Hói Cụ, Giang Phao, sát bờ nam sông Bến Hải, đã nổi dậy giành được quyền làm chủ. Ở Thừa Thiên, ta mở được 76 thôn, giành 45.000 dân; đặc biệt là mở được một số vùng sâu ở các huyện Hương Thủy, Phú Lộc, Phú Vang.

Sang tháng 12, phong trào đấu tranh ở thành phố Huế và thị xã Quảng Trị lại bùng lên. Hơn 10 nghìn nhân dân Huế đổ ra đường biểu tình, chiếm khu trung tâm thành phố, ngăn không cho một đoàn xe quân sự của địch tiếp viện ra phía bắc Huế, hô vang khẩu hiệu chống Mỹ, bao vây nhà thông tin Mỹ, xé cờ Mỹ. Địch hốt hoảng điều quân từ các nơi về bảo vệ thành phố và các trục giao thông.

Phối hợp với thành thị, nông dân các huyện ven đô biểu tình tuần hành tiến vào thành phố, tiếp sức cho phong trào nội đô.

Lợi dụng địch phải tập trung đối phó với phong trào đấu tranh ở đồng bằng, đô thị, chúng ta đẩy mạnh đánh phá ấp chiến lược ở khu vực ven đường số 9, giải phóng 22 thôn gồm hơn 5.000 dân, trừng trị 60 tên ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân.

Cùng với thắng lợi đó, căn cứ địa của ta được củng cố và mở rộng. Nhân dân các dân tộc vùng giải phóng ra sức sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Trong năm 1964, đồng bào các dân tộc miền núi Trị - Thiên đã đóng góp 199.913 ngày công, chi viện cho đồng bằng hàng chục tấn lương thực.

Qua hơn bảy tháng tiến công và nổi dậy (tháng 5 năm 1964 đến tháng 12 năm 1964), quân và dân Trị - Thiên - Huế giữ vững, mở rộng vùng giải phóng miền núi và giáp ranh, phá thế kìm kẹp ở đồng bằng, đưa dân một nửa tổng số thôn trong hai tỉnh lên làm chủ với nhiều mức độ khác nhau, hàng trăm nghìn dân đã được giải phóng. Ta đã trừng trị 125 tên ác ôn, bắt cải tạo hàng nghìn tên khác, làm rả ngũ gần 2.000 "thanh niên chiến đấu", nghĩa quân, lính cộng hòa, bảo an, dân vệ. Khu vực nam sông Bến Hải cơ bản đã sạch bóng bọn tề điệp, ác ôn.

Trong gian khổ, ác liệt của chiến tranh, lực lượng ta vẫn không ngừng phát triển. Quảng Trị đã xây dựng được 126 chi bộ đảng với 1.017 đảng viên, 64 chi đoàn với 916 đoàn viên. Thừa Thiên phát triển thêm 26 chi bộ với 185 đảng viên, 18 chi đoàn với 192 đoàn viên. Đến đầu năm 1965, toàn phân khu đã có ba tiểu đoàn chủ lực (800, 802 và 806), mỗi tỉnh có từ ba đại đội đến một tiểu đoàn bộ đội tập trung, một đại đội đặc công; mỗi huyện đã xây dựng được đại đội bộ binh. Lực lượng dân quân, du kích phát triển rộng khắp. Thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng mở rộng trên cả ba vùng chiến lược, làng xã chiến đấu được xây dựng khắp nơi.

Tuy nhiên vùng làm chủ ở nông thôn đồng bằng chưa được củng cố, vùng phụ cận thành phố, vùng đông dân nhiều của và một số địa bàn trọng yếu mở ra còn ít, trình độ tác chiến của lực lượng vũ trang phân khu và tỉnh còn hạn chế, chưa đánh tiêu diệt được đơn vị đại đội, tiểu đoàn địch.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #25 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2024, 09:25:49 pm »


*

*       *

Trước sự phát triển của cách mạng miền Nam, Mỹ - ngụy tăng cường hoạt động khiêu khích chống phá miền Bắc. Chúng đẩy mạnh việc dồn dân lập vành đai trắng dọc khu phi quân sự, cảnh sát ngụy bắn phá thuyền bè của ngư dân ta, nã đạn vào xóm làng bắc sông Bến Hải, khiêu khích chiến sĩ ta đứng gác ở cầu Hiền Lương. Cuối năm 1963, đầu năm 1964, địch ngang nhiên vi phạm quy chế khu phi quân sự, dùng hàng trăm lượt xe quân sự và tàu thuyền chiến đấu hoạt động sát giới tuyến tạm thời.

Trước tình hình đó, miền Bắc khẩn trương chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng giáng trả mọi âm mưu và hoạt động phá hoại của Mỹ - ngụy.

Để tăng cường phòng thủ bảo vệ địa phương và sẵn sàng chi viện cho tiền tuyến, những tháng đầu năm 1963, các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa đã mở cuộc vận động "xây dựng lực lượng hậu bị" nhằm củng cố và tăng cường chất lượng đội ngũ dân quân tự vệ và bộ đội địa phương, thực hiện tốt hơn công tác đăng ký nắm chắc và huấn luyện quân dự bị. Cuộc vận động được quần chúng hưởng ứng rộng khắp. Từ thành thị đến nông thôn, từ các  công trường, nông trường, lâm trường, xí nghiệp đến các cơ quan hành chính sự nghiệp, trường học, lực lượng dân quân tự vệ đã chấn chỉnh lại, được quân khu trang bị thêm vũ khí và phương tiện, thực hiện chế độ huấn luyện theo định kỳ. Cấp ủy các địa phương thực sự nắm và lãnh đạo lực lượng vũ trang. Bộ đội địa phương Nghệ An và Hà Tĩnh phát triển lên bốn tiểu đoàn và đưa lên hoạt động ở các huyện xung yếu trọng điểm miền núi: Tương Dương, Quỳ Châu, Kỳ Sơn, Hương Sơn, Hương Khê theo kế hoạch của quân khu.

Lực lượng công an nhân dân vũ trang của Nghệ - Tĩnh vừa làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan đầu não, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ biên cương. Các đồn biên phòng Nậm Cắn, bắc Đèo Ngang, Cửa Lò, Cửa Hội, Cửa Nhượng và các đồn dọc bờ biển, biên giới được củng cố, tăng khả năng phòng thủ bảo vệ chủ quyền biên giới. Các đảo tiền tiêu: Ngư, Mắt được tăng quân số lên đến đại đội, bổ sung vũ khí, khí tài kỹ thuật và xây dựng công sự kiên cố.

Là địa bàn tiếp giáp với địch qua giới tuyến quân sự, Vĩnh Linh giữ một vị trí quan trọng trong cuộc đấu tranh của quân và dân Quân khu 4 nhằm đánh bại các hoạt động phá hoại của kẻ thù. Đảng ủy, Bộ Tư lệnh quân khu cùng Đảng ủy, chính quyền khu vực Vĩnh Linh thống nhất chủ trương chỉ đạo bộ đội, công an vũ trang, dân quân tự vệ và nhân dân tăng cường cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, bình tĩnh không để bị địch khiêu khích, đồng thời hoàn chỉnh các phương án tác chiến, giữ thế chủ động.

Theo kế hoạch của Bộ, đến đầu năm 1964, Quân khu 4 đã căn bản hoàn thành việc xây dựng các công trình phòng thủ trên các hướng trọng yếu ở giới tuyến, đảo, bờ biển, biên giới với hệ thống đường hầm cơ động, giao thông hào, chiến hào, hầm pháo, hầm dự trữ đạn, lương thực, thuốc men, hầm giải phẫu, hầm thương binh sơ cứu... bảo đảm cho từng tiểu đội, trung đội, đại đội bám trụ chiến đấu dài ngày. Hệ thống đài quan sát, trạm ra-đa, mạng thông tin, sở chỉ huy các cấp được xây dựng vững chắc. Đặc biệt uu tiên xây dựng cho đảo Cồn Cỏ và giới tuyến.

Trong năm 1964, ba tuyến phòng thủ cơ bản được củng cố hoàn chỉnh thêm: tuyến phòng thủ giới tuyến, tuyến phòng thủ bờ biển và tuyến phòng thủ biên giới Việt - Lào. Dựa vào địa hình tự nhiên có lợi liên kết với các cụm làng xã chiến đấu, hệ thống các công trình quốc phòng được xây dựng từng bước, bố trí sử dụng các lực lượng tại chỗ là chính, trước hết kết hợp với phân công cho các trung đoàn, sư đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng của quân khu sẵn sàng cơ động thực hành phản kích, phản công theo phương án tác chiến đã chuẩn bị và đã diễn tập trên các khu vực phòng thủ chủ yếu.

Phán đoán những hướng tiến công chủ yếu của địch nếu chúng đưa quân xâm lược miền Bắc, Quân khu và các địa phương tăng cường khả năng phòng thủ phía nam, tập trung từ khu vực đảo Cồn Cỏ đến khu vực dọc bờ sông Bến Hải lên phía tây quốc lộ số 1, xây dựng Vĩnh Linh thành pháo đài quân sự vững chắc, dựa lưng vào tỉnh Quảng Bình, bảo đảm tiền duyên và chiều sâu của tuyến phòng thủ giới tuyến đều mạnh. Ngoài ra các cửa sông, bãi biển và các khu vực mà địch có thể đổ bộ, quân khu đều xây dựng công trình phòng thủ vững chắc, bố trí các trung đội, đại đội, bổ sung vũ khí trang bị khí tài, tăng cơ số đạn dự trữ cho tuyến đảo từ các đào: Mê, Ngư, Mát, Hòn La đến Cồn Cỏ, bảo đảm cho bộ đội bám trụ chiến đấu dài ngày.

Ở phía tây, phối hợp với quân và dân Lào, quân khu đã tăng cường khả năng phòng thủ ở các địa bàn xung yếu các cửa khẩu, các tuyến đường số 7, số 8, đường 217...

Nhằm nâng cao khả năng tác chiến các lực lượng vũ trang, quân khu chú trọng chất lượng huấn luyện cho cả ba thứ quân, tiến hành diễn tập công tác tham mưu và thực binh theo phương án tác chiến, tăng cường huấn luyện phân đội nhỏ đánh gần, đánh đêm, tập kích, phục kích, rèn luyện hành quân đường dài mang vác nặng.... huấn luyện binh chủng và nghiệp vụ chuyên môn, nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng (chủ yếu giữa bộ binh với pháo binh và xe tăng). Cấp ủy và chính quyền các địa phương chú trọng chất lượng dân quân tự vệ về khả năng tác chiến, chống biệt kích đường biển, đường không, đặc biệt là kỹ thuật ném lựu đạn, bắn súng. Nhiều địa phương tổ chức diễn tập trung đội tập kích, phục kích. Để tăng cường sự lãnh đạo, các cấp ủy đảng địa phương đã cử một ủy viên thường vụ trực tiếp chỉ huy ở các cấp. Cơ quan quân sự được kiện toàn từ tỉnh đến xã. Bộ Tư lệnh quân khu có chỉ lệnh bồi dưỡng cán bộ dân quân tự vệ hàng năm. Mỗi tỉnh có một trường huấn luyện cán bộ hậu bị. Năm 1964, các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đã huấn luyện 6.523 cán bộ xã đội và cán bộ tự vệ cấp trung đội, đại đội, tiểu đoàn.

Hơn 400 nghìn dân quân tự vệ là lực lượng nòng cốt trong sản xuất, bảo vệ trật tự trị an, và cũng là lực lượng chủ yếu tiêu diệt, bắt gọn hầu hết các toán biệt kích do Mỹ ngụy tung ra địa bàn quân khu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #26 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2024, 09:27:45 pm »


Đầu năm 1964, các tỉnh trong quân khu đã hoàn thành đăng ký quân dự bị loại 1 và loại 2, sắp xếp theo biên chế khung các đơn vị binh chủng từ tiểu đoàn đến trung đoàn. Bộ Tư lệnh quân khu đã động viên một trung đoàn để rút kinh nghiệm. Quân dự bị được huấn luyện theo định kỳ hàng năm, do khung trung đoàn 271 và các trường quân sự của tỉnh phụ trách.

Đi đôi với huấn luyện quân sự, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang ba thứ quân được tiến hành nghiêm túc theo đúng dự thảo "Điều lệ công tác chính trị" của Tổng cục Chính trị ban hành. Nổi bật là công tác chính trị ở đại đội, giáo dục chính trị nghiêm túc; văn hóa, văn nghệ sôi nổi, tuyên truyền cổ động liên tục, kịp thời.

Mặc dù đời sống còn nhiều thiếu thốn, luyện tập, lao động và chiến đấu gian khổ, nặng nhọc, nhưng cán bộ, đảng viên, chiến sĩ đoàn kết gắn bó, yêu thương nhau, hăng say học tập và công tác. Phong trào thi đua quyết thắng trong lực lượng vũ trang diễn ra sôi nổi, rộng khắp. Nhiều đơn vị và cá nhân được tặng danh hiệu "Đơn vị tiên tiến", "Đơn vị quyết thắng”, "Chiến sĩ thi đua", "Chiến sĩ quyết thắng". Dân quân xã Mai Thủy (huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình) được Hội đồng Chính phủ tuyên dương "Đơn vị tiên tiến"...

Được sự giúp đỡ tận tình của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Nghi Ân (Nghi Lộc - Nghệ An), đoàn 22 đã hoàn thành được kế hoạch hàng năm nhiệm vụ tuyển chọn, huấn luyện, nuôi dưỡng và giao quân cho các chiến trường miền Nam theo chỉ tiêu của Bộ và của quân khu giao. Các đơn vị thuộc sư đoàn 325B, lữ đoàn 324B, trung đoàn 120 và hàng chục đại đội, tiểu đoàn, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ được huấn luyện, bồi dưỡng thể lực trên đất Quân khu 4 để đi vào Nam chiến đấu.

Do yêu cầu các chiến trường càng tăng, từ 1963, tuyến vận tải chiến lược 559 phát triển mạnh từ vận chuyển thô sơ lên vận tải cơ giới qua tây Trường Sơn xuống Hạ Lào. Đường bay Đồng Hới - Thà Khống (Sê Pôn) được sử dụng để vận chuyển tiếp tế cho chiến trường Lào. Cảng sông Gianh trở thành một đầu mối của tuyến vận tải biển 759 đưa vũ khí vào miền Nam. Hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang quân khu được bổ sung cho Đoàn 559.

Những tháng đầu năm 1964, bị thua đau ở miền Nam, đế quốc Mỹ đẩy mạnh các hoạt động phá hoại miền Bắc. Tháng 4 năm 1964, Mỹ và quân ngụy Lào tăng cường lực lượng tiến công lấn chiếm vùng giải phóng Lào, tạo ra hướng uy hiếp phía tây quân khu, buộc ta phải chú ý đối phó. Không quân địch xâm phạm vùng trời Vĩnh Linh, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An.

Ngày 12 tháng 6 năm 1964, địch cho các toán biệt kích người nhái đánh phá cầu Hang (Thanh Hóa). Ngày 30 tháng 6, biệt kích địch tập kích nhà máy nước Bàu Tró (Quảng Bình). Tiếp đó, ngày 19 tháng 7, máy bay địch thả biệt kích xuống vùng Quỳ Châu (Nghệ An). Nhằm thực hiện kế hoạch thâm nhập phá hoại miền Bắc (kế hoạch 34A), tàu khu trục thuộc hạm đội 7 Mỹ tăng cường tuần tiễu trong vùng Vịnh Bắc Bộ.

Trước tình hình hoạt động thâm nhập, phá hoại miền Bắc của địch ngày càng tăng, được sự ủy nhiệm của Chính phủ, ngày 9 tháng 1 năm 1964, Bộ Tổng Tham mưu triệu tập hội nghị phòng không nhân dân toàn miền Bắc lần thứ nhất. Ngày 27 tháng 3 năm 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt tại thủ đô Hà Nội. Tại Hội nghị, Người đã đọc bản báo cáo chính trị quan trọng khẳng định ý chí của quân và dân cả nước quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược. Người kêu gọi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân miền Bắc "mỗi người làm việc bằng hai, để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt".

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Quân khu 4 phát động cao trào hành động cách mạng, chuẩn bị cho cuộc đọ sức với không quân Mỹ. Đến cuối tháng 5 năm 1964, các địa phương trong quân khu đã xây dựng 646 đài quan sát báo động máy bay, 4.043 đội bắn máy bay, 2.000 trận địa phòng không, 386 đội tuần tra canh gác bờ biển. Những lực lượng này được bố trí có trọng điểm trên toàn bộ địa bàn quân khu như: tuyến đảo tiền tiêu từ đảo Mê đến Cồn Cỏ, trên các mỏm nhô ra ở các cửa sông, các đồi cao, các vùng xung yếu ở ven biển, các yếu địa ở vùng rừng núi phía tây; trên các nhà cao tầng ở thành phố Vinh, các thị xã Thanh Hóa, Hà Tĩnh, thị trấn Hồ Xá, các đầu mối giao thông đường bộ (đường số 1, đường số 15), đường sắt, đường thủy, các nhà ga chính, bến bãi, chân hàng... Hơn 24 triệu hầm, hố phòng không được đào sẵn hai bên đường, cạnh bến xe, bến đò, bến phà, nhà ga, trường học, bệnh viện, các chợ và các nơi công cộng đông người. Dân quân tự vệ và nhân dân một số địa phương diễn tập báo động chiến đấu, cứu thương, cứu sập, cứu hỏa, vây bắt giặc lái, biệt kích. Các đơn vị phòng không của Bộ, của quân khu và của các địa phương được bố trí ở những trọng điểm, theo phương án tác chiến của Bộ Tư lệnh Quân khu 4.

Những ngày cuối tháng 7, đầu tháng 8 năm 1964, địch tăng cường các hoạt động khiêu khích, phá hoại miền Bắc, đặc biệt trên địa bàn Khu 4.

Đêm 30 rạng ngày 31 tháng 7, tàu hải quân ngụy có tàu chiến Mỹ yểm hộ, bắn phá đảo Mê (Thanh Hóa), đảo Ngư (Nghệ An). Liên tiếp trong hai ngày 1 và 2 tháng 8, Mỹ cho máy bay đánh phá đồn biên phòng Nậm Cắn và bản Noọng Dẻ (tây Nghệ An). Đồng thời, tàu Ma-dốc và tàu Tơn-nơ-goa Mỹ tiến sâu vào vùng biển miền Bắc, cách bờ sáu hải lý. Đêm mùng 3 tháng 8, tàu hải quân ngụy lại bắn phá cửa sông Ròn (Quảng Bình) và khu vực đèo Ngang.

Để tiến hành leo thang đánh phá miền Bắc, Mỹ đã dựng lên cái gọi là "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, lấy cớ tàu hải quân Mỹ bị Hải quân nhân dân Việt Nam tiến công, Giôn-xơn, lệnh cho không quân Mỹ tiến hành các phi vụ trả đũa. Trưa ngày 5 tháng 8 năm 1964, Mỹ đã sử dụng 64 lần chiếc máy bay chiến đấu A1, A4, F4 và F8U từ hướng đông lao tới đánh phá dữ dội cảng cửa Hội, Vinh - Bến Thủy, kho dầu Vinh (Nghệ An), cảng Gianh (Quảng Bình), Lạch Trường (Thanh Hóa) và thị xã Hòn Gai, Bãi Cháy (Quảng Ninh). Cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của không quân và hải quân Mỹ bắt đầu.

Tại sở chỉ huy quân khu, đồng chí Nam Long lệnh cho tất cả các lực lượng cao xạ phòng không nêu cao quyết tâm, bám sát mục tiêu, nổ súng chính xác, đánh trúng máy bay, trừng trị đích đáng quân thù.

Ở khu vực Cửa Hội, Vinh - Bến Thủy, lưới lửa phòng không trên các tàu hải quân, trung đoàn pháo cao xạ 280, các đơn vị phòng không quân khu và hỏa lực dân quân, tự vệ đánh trả mãnh liệt, bắn cháy một máy bay địch. Tự vệ nhà máy điện, nhà máy xay Vinh, lợi dụng tầng cao tòa nhà đặt súng máy, súng trường đánh địch. Dân quân xã Vinh Tân đặt súng trên bờ đập bắn máy bay Mỹ. Khắp nơi trong thành phố và vùng phụ cận, ai có súng trong tay đều nhanh chóng chiếm lĩnh địa hình có lợi đánh địch. Anh chị em dân quân, tự vệ gần các trận địa cao xạ, trực tiếp giúp pháo thủ tiếp đạn, củng cố công sự, tải thương. Công an, tự vệ bình tĩnh làm nhiệm vụ trật tự trị an trên đường phố, bảo vệ nhà cửa, tài sản của nhân dân. Một tổ tự vệ chiến đấu cảng Bến Thủy gồm có Phan Quang Ngô, Nguyễn Quang Chung và Nguyễn Quang Thông chiến đấu rất dũng cảm. Đồng chí Chung bị thương nặng ở hông vẫn không rời vị trí, bám sát trận địa chiến đấu đến cùng. Khẩu đội trưởng Phan Đăng Cát (trung đoàn 280) chuẩn bị về nghỉ phép, nghe lệnh báo động, không một chút chần chừ, đã chạy ngay ra công sự chỉ huy khẩu đội chiến đấu. Hai lần bị thương nặng, Phan Đăng Cát vẫn không rời trận địa, lần thứ ba bị thương nặng, anh mới chịu trao cờ chỉ huy và trút hơi thở cuối cùng trên tay đồng đội.

Ở khu vực cảng sông Gianh, một tốp tám máy bay địch từ hướng núi phía tây lao tới đánh vào cảng. Hải quân, bộ đội phòng không, dân quân các xã Quảng Thọ, Quảng Phúc, Thanh Trạch, Thuận Trạch... và tự vệ ngư trường sông Gianh, phối hợp chặt chẽ đánh trả quyết liệt. Đồng chí Trương Vừa Thích một dân quân với một khẩu trung liên đã cùng con trai 11 tuổi Trương Ngọc Bích chiến đấu vô cùng dũng cảm. Con tiếp đạn, cha nổ súng. Tại khu vực này, một máy bay Mỹ bị bắn cháy rơi xuống biển, một chiếc khác bị thương.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #27 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2024, 09:28:22 pm »


13 giờ 53 phút, máy bay Mỹ từ ngoài biển lao vào đánh phá Hòn Nẹ, cảng Lạch Trường (Thanh Hóa). Hỏa lực cao xạ trên tàu hải quân; súng máy, súng trường của công an vũ trang đặt ở mỏm cao dãy núi Trường đồng loạt nổ súng đánh địch. Dưới làn bom đạn quân thù, nữ dân quân Tạ Thị Đạo xung phong ra biển cấp cứu người bị thương và là người đầu tiên hiến máu cứu thương binh trong trận đầu đọ sức với kẻ thù. Nhân dân xã Hòa Lộc (huyện Hậu Lộc) tiếp tế cơm nước, phục vụ lực lượng vũ trang đánh máy bay địch, kịp thời chuyển thương binh về trạm cấp cứu.

16 giờ 20 phút, 11 máy bay Mỹ lại đánh cảng sông Gianh lần thứ hai. Chúng đã bị lưới lửa phòng không trừng trị kịp thời. Hai máy bay địch bị bắn rơi.

Kết thúc trận chiến đấu đánh trả máy bay Mỹ ngày 5 tháng 8, hỏa lực phòng không trên địa bàn Quân khu 4 đã bắn rơi sáu chiếc, bắn bị thương ba chiếc khác. Sau trận đánh các đơn vị, các địa phương khẩn trương khắc phục hậu quả, tổ chức rút kinh nghiệm chiến đấu và công tác sơ tán, phòng tránh; gấp rút chuẩn bị nhằm đối phó có hiệu quả các đợt đánh phá tiếp theo của không quân, hải quân Mỹ. Một số đơn vị phòng không quân khu được điều vào phục kích ở miền tây các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, tham gia bảo vệ tuyến vận tải chiến lược 559.

Với chiến công đầu ngày 5 tháng 8, quân và dân ta đã chứng minh một sự thật "không lực Hoa Kỳ" chẳng có gì đáng sợ, khẳng định sức mạnh chiến tranh nhân dân Việt Nam sẽ đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.

Giữa tháng 10 năm 1964, tin về người công nhân Sài Gòn - Nguyễn Văn Trỗi bị Mỹ - ngụy giết hại đã gây xúc động mạnh trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Quân khu 4. Khắp nơi dấy lên phong trào thi đua sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi, trả thù cho anh Trỗi.

Trưa ngày 18 tháng 11 năm 1964, máy bay Mỹ vào vùng trời tây Quảng Bình. Các chiến sĩ đại đội 3, tiểu đoàn 14 pháo cao xạ 37 thuộc sư đoàn 325 làm nhiệm vụ bảo vệ tuyến vận tải chiến lược 559 ở khu vực Cha Lo lập tức bám sát mục tiêu. Khi một tốp ba máy bay lao xuống, đại đội trưởng Lê Hữu Mai hô lớn: "Nhằm chiếc đi đầu bắn!". Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân hô tiếp: "Máy bay giặc Mỹ không có gí đáng sợ. Nhằm thẳng quân thù bắn! Trả thù cho đồng đội đã hy sinh".

 Trong khói đạn mịt mù, Nguyễn Viết Xuân chạy xuống từng khẩu đội, động viên chiến sĩ giữ vững tinh thần. Vừa quay về hầm chỉ huy, anh bị ngay một mảnh rốc-két làm nát đùi phải. Cắn răng chịu đựng không một tiếng kêu rên, dựa vào thành công sự, anh cùng đại đội trưởng tiếp tục chỉ huy trận đánh. Để khỏi vướng, anh động viên đồng chí y tá cắt bỏ đoạn chân anh còn dính lại. Vết thương quá nặng, Nguyễn Viết Xuân đã anh dũng hy sinh.

Sau bốn giờ đánh trả quyết liệt với 22 chiếc máy bay Mỹ, đại đội 3 cùng tiểu đoàn 14 đã bắn rơi tại chỗ ba chiếc, bảo vệ được hành lang vận tải.

Nguyễn Viết Xuân với lời hô bất tử "Nhằm thẳng quân thù bắn!", đã nhanh chóng trở thành khẩu lệnh chiến đấu của quân và dân ta trong suốt cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.

Bốn năm (1961-1964), là thời kỳ đấu tranh sôi động của quân và dân Khu 4 trên cả ba chiến trường. Quân và dân Trị - Thiên - Huế đã tự lực tự cường, kiên trì bền bỉ, chuyển từ thế yếu lên thế mạnh, từ bị động lên thế chủ động, tiến công địch bằng "hai chân, ba mũi", giữ vững và mở rộng căn cứ địa miền núi, tiến công về đồng bằng, uy hiếp đô thị, mở ra nguy cơ phá sản quốc sách ấp chiến lược và chiến tranh đặc biệt của Mỹ - ngụy. Quân và dân Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, khu vực Vĩnh Linh vừa sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, đánh thắng trận đầu không quân Mỹ, hết lòng chi viện tiền tuyến và làm tròn nghĩa vụ quốc tế.

Những thắng lợi của quân khu trong thời gian từ 1961 - 1964 và bước phát triển của chiến trường Trị - Thiên đã tạo ra thế và lực mới góp phần cùng quân và dân cả nước giành thắng lợi trong cuộc đọ sức quyết liệt với kẻ thù trên cả tiền tuyến và hậu phương quân khu trong giai đoạn tiếp theo.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #28 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2024, 08:17:50 pm »


CHƯƠNG III
CÙNG CẢ NƯỚC ĐÁNH BẠI TỪNG BƯỚC CHIẾN TRANH CỤC BỘ,
TlỀN TUYẾN - HẬU PHƯƠNG KHU 4 TRỞ THÀNH ĐỊA BÀN ĐỌ SỨC QUYẾT LIỆT GIỮA TA VÀ ĐỊCH
(1965 - 10-1967)



I. CÙNG CẢ NƯỚC BƯỚC VÀO CUỘC CHIẾN ĐẤU MỚI

Trước tình hình ngụy quân, ngụy quyền không đủ sức đương đầu với thế tiến công của cách mạng miền Nam trên khắp cả ba vùng chiến lược, ngày 1 tháng 4 năm 1965, tổng thống Mỹ Giôn-xơn quyết định đưa vào miền Nam 18.000 đến 20.000 quân Mỹ và tăng cường chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân, hải quân.

Ngày 17 tháng 7 năm 1965, Giôn-xơn quyết định triển khai 44 tiểu đoàn chiến đấu Mỹ ở chiến trường miền Nam, thông qua kế hoạch "tìm và diệt" của Oét-mo-len, tư lệnh quân Mỹ tại Sài Gòn. Với quyết định này, tổng thống Mỹ đưa nước Mỹ chính thức "bước vào cuộc chiến tranh trên bộ ở châu Á".

Hơn 100.000 quân chiến đấu Mỹ, hàng chục vạn tấn vũ khí, phương tiện chiến tranh ùn ùn đổ vào miền Nam, đưa số quân Mỹ và chư hầu có mặt trên chiến trường lên tới 206.000 tên vào cuối 1965.

Trên chiến trường Trị - Thiên, lực lượng địch có một sư đoàn chủ lực ngụy, 25 đại đội bảo an, hàng trăm trung đội dân vệ, khoảng 2.000 quân Mỹ làm nhiệm vụ xây dựng căn cứ, kho tàng ở Phú Bài và thị xã Quảng Trị, chuẩn bị cho việc triển khai các đơn vị chiến đấu Mỹ.

Với số quân hơn 20 nghìn, từ giữa 1965, địch liên tiếp mở các cuộc càn quét vùng đồng bằng ven biển và những khu vực dọc theo các trục giao thông, hòng "líp" lại vùng giải phóng của ta.

Tháng 8, mùa mưa lũ, địch chuyển hướng càn quét lên vùng giáp ranh. Dựa vào ưu thế về quân số, hỏa lực, sức cơ động và khả năng đảm bảo hậu cần, địch đã chuyển từ "chốt" giữ lẻ sang "chốt" từng vùng cấp tiểu đoàn, hình thành "cụm tác chiến", kết hợp và phát huy tối đa chỗ mạnh của xe bọc thép, máy bay lên thẳng đổ quân, càn quét, đồng thời sử dụng máy bay, pháo binh bắn phá căn cứ và vùng giải phóng của ta. Bom đạn địch đã triệt hạ nhiều làng mạc, ruộng vườn, nhà cửa và giết hại đồng bào ta. Một số nơi, nhân dân buộc phải bỏ vào vùng địch để tránh bom đạn, pháo bầy... Ngày 4 tháng 8 năm 1965, máy bay B52 giội 130 tấn bom, triệt năm thôn: Mai Sơn, Hà Vựng, Thạch Xá, Làng Hạ, Hà Giữa, mở đầu cho hành động dùng B52 đánh phá ở Trị - Thiên. Tiếp đó, Nguyễn Chánh Thi, tư lệnh quân đoàn 1 ngụy trực tiếp chỉ huy sáu tiểu đoàn thuộc sư đoàn 1 ngụy, năm đại đội biệt động quân và một đại đội Mỹ, càn vào Triệu Thượng, Hải Lệ, Ba Lòng. Chúng cho máy bay rải chất độc hóa học tàn phá rừng, rẫy từ Khe Bắc, Ba Lê, Ba Hy đến A Cho, A Ven thuộc Hướng Hóa. Hai phần ba số dân trong vùng bị ốm, 150 người ra hàng địch. Tỉnh ủy Quảng Trị chủ trương đưa số dân còn lại lên miền tây, nhưng cả nơi mới đến cũng bị địch đánh phá. Ở Cam Lộ, địch bắt nhân dân xây dựng và mở rộng các đồn Tân Sở, Cồn Trung, sân bay Đường Đèo, xây dựng nhiều lô cốt cạnh các cầu tại ki-lô-mét số 6, số 7, số 10 trên trục đường số 9. Đi đôi với càn quét, bắn phá, cướp bóc, chúng ráo riết tiến hành chiến tranh tâm lý, chiêu hồi, chiêu hàng, mua chuộc, tăng cường kìm kẹp, khủng bố nhân dân. Ở Triệu Phong và Hải Lăng bọn biệt chính, hải thuyền, bảo an, tổng vệ, tề điệp lưu vong, khủng bố trắng trợn nhân dân trong vùng. Bọn đầu hàng, đầu thú, phản bội, chỉ điểm cho địch xăm quét hầm bí mật, truy bắt thanh niên, cán bộ, du kích... Chúng dùng đủ kiểu nhục hình tra tấn người bị bắt. Các gia đình cách mạng hoặc có người thân tham gia cách mạng đều bị đấu tố, khủng bố dã man. Chúng đội lốt luồn vào hàng ngũ đấu tranh của học sinh, sinh viên, đồng bào đô thị để phát hiện bắt giam hoặc thủ tiêu những hạt nhân nòng cốt của phong trào, gây hoang mang, nghi ngờ trong quần chúng. Ở Gio Linh, bằng cách này và do ta mất cảnh giác, địch đã bắt cả chi bộ năm đồng chí và hàng chục cốt cán cơ sở. Ở Thừa Thiên, 14 lần địch đánh trúng vào cơ quan ta, gây thiệt hại về người và của...

Vùng giải phóng đồng bằng của ta cơ bản bị địch chiếm lại gần hết. Vùng phía trên đường số 1 và đường sắt bị lấn chiếm một mảng quan trọng. Lực lượng ta bị tiêu hao nặng. Du kích Thừa Thiên từ chỗ 1.400 người, còn lại 806 người. Huyện Hương Trà có 62 du kích chỉ còn lại 25, huyện Phú Lộc từ 50 du kích còn 30 người. Du kích một số nơi ở Phong Điền, Quảng Điền, Triệu Phong, Hải Lăng phải chôn súng, chạy lên rừng. Lực lượng Đại Việt, Việt Nam Quốc dân đảng thừa cơ trỗi dậy truy tróc nhân dân.

Vượt qua hy sinh, gian khổ, quân và dân Trị - Thiên giữ vững lòng tin, bền bỉ chiến đấu. Quần chúng nhiều nơi trong vùng địch tìm cách bắt liên lạc với cán bộ và du kích. Dân quân, du kích và cán bộ vẫn bám trụ chống càn, trừ gian, diệt ác, bảo vệ địa phương. Nhiều nơi, bọn phản động, tề điệp cũ không dám đứng ra lập ngụy quyền cấp xã. Tuy nhiên, trên toàn chiến trường, ta vẫn gặp khó khăn gay gắt. Thương vong ngày càng tăng. Quân số bổ sung không có. Tất cả các đơn vị đều thiếu gạo, thiếu tiền. Những chuyến đi thu mua lương thực thường phải đổi bằng máu. Cán bộ xã đội ở đồng bằng thiếu 75 phần trăm, huyện đội thiếu 50 phần trăm, đại đội thiếu 27 phần trăm. Lo chạy gạo, hoạt động của bộ đội bị phân tán, thiếu tập trung, không bảo đảm tác chiến liên tục.

Trước tình hình đó, phân khu và hai tỉnh tổ chức huấn luyện, đào tạo cán bộ xã đội, trung đội, tiểu đội, huyện đội; tổ chức huấn luyện tân binh để đáp ứng nhu cầu bổ sung lực lượng trước mắt và chuẩn bị cho bước phát triển tiếp theo. Phân khu khẩn trương xây dựng lực lượng vũ trang cho thành đội Huế, củng cố chấn chỉnh hệ thống quân báo, điệp báo nhân dân để bám nắm địch. Phân khu đề nghị với Khu 5 cho lập hội đồng cung cấp tiền phương cấp phân khu, cấp tốc triển khai kế hoạch bảo đảm cho Thừa Thiên 500 tấn gạo, Quảng Trị 260 tấn trong sáu tháng cuối năm 1965; đề nghị cho xây dựng xưởng sửa chữa vũ khí, xưởng quân dược. Phân khu coi thu mua lương thực là nhiệm vụ của quân đội, trước mắt cố gắng bảo đảm cho lực lượng tác chiến. Vừa tranh thủ thu mua ở đồng bằng, phân khu vừa giao chỉ tiêu cụ thể cho các đơn vị sản xuất tự túc, bảo đảm lương thực thường xuyên cho bộ đội và có lượng dự trữ trong hai đến ba tháng. Tỉnh Quảng Trị đạt mức "mỗi cán bộ, chiến sĩ phải sản xuất đủ ăn và nuôi một người" để chuẩn bị phát triển lực lượng.

Việc sửa chữa vũ khí có trong tay, làm các loại vũ khí thô sơ như đạp lôi, đạn đạp, làm công cụ cho địa phương sản xuất, làm xẻng, cuốc cho bộ đội và dân quân tác chiến cũng được phân khu chú trọng.

Các cấp ủy triển khai chỉnh huấn trong nội bộ Đảng, xây dựng quyết tâm và biện pháp lãnh đạo chỉ đạo đánh thắng Mỹ - ngụy, khắc phục tư tưởng hữu khuynh và hiện tượng mất đoàn kết. Lực lượng vũ trang học tập tình hình nhiệm vụ cách mạng (theo nội dung Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng). Tám mươi phần trăm quân số được huấn luyện bổ sung về kỹ thuật và chiến thuật cần cho chiến đấu. Phân khu và các tỉnh mở hội nghị chuyên đề về chiến tranh du kích và bồi dưỡng cán bộ theo phân cấp.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #29 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2024, 08:21:25 pm »


Ngày 10 tháng 10 năm 1965, tại chiến khu Ba Lòng, trung đoàn 6 làm lễ ra mắt. Đây là trung đoàn chủ lực đầu tiên của Trị - Thiên, gồm ba tiểu đoàn 800, 802, 806, các đại đội đặc công trinh sát, công binh, trợ chiến. Tiểu đoàn 800 là đơn vị chủ lực đầu tiên của phân khu gồm phần lớn con em Trị - Thiên tập kết ra Bắc trở về năm 1961. Tháng 8 năm 1963, được bổ sung một đại đội của Quảng Bình. Tiểu đoàn 806 là tiểu đoàn 2 giới tuyến (tiểu đoàn 4 sư đoàn 341) vào Trị - Thiên tháng 2 năm 1965. Tiểu đoàn 802 đã hỗ trợ cho quần chúng tiến hành đồng khởi giải phóng Phú Lộc tháng 2 năm 1965.

Tháng 10 năm 1965, Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Phân khu Trị - Thiên: "Nông thôn đồng bằng là hướng tiến công chủ yếu, phải đánh tiêu diệt địch ở đồng bằng, kết hợp giữa đánh địch và phát động quần chúng gây dựng cơ sở, đẩy mạnh chiến tranh du kích và cần đưa chủ lực về hoạt động ở đồng bằng để mở phong trào".

Thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ương, sau đợt hè-thu, quân và dân Trị - Thiên mở đợt hoạt động thu-đông 1965, nhằm tiêu diệt và tiêu hao một bộ phận sinh lực địch, mở rộng vùng làm chủ ở đồng bằng, làm thất bại âm mưu của địch tăng cường chiếm đóng đường số 9, bịt hành lang của ta.

Trên hướng chính, trung đoàn 6 được giao nhiệm vụ đánh chiếm Ba Lòng - Tân Lệ, căn cứ trọng yếu của địch khống chế một vùng rộng lớn, chặn tiếp tế của ta từ đồng bằng lên căn cứ miền núi.

17 giờ ngày 19 tháng 10 năm 1965, trong gió mưa lầy lội, các mũi hành quân chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công. 23 giờ, pháo ta nã đạn vào sở chỉ huy, khu thông tin, trận địa hỏa lực và đại đội cơ động của địch. Từ đồi Sim, đồi Cháy, địch tập trung hỏa lực bắn chặn dữ dội vào "cửa mở". Các chiến sĩ tiểu đoàn 806 băng qua hàng rào dây thép gai xông lên. Sau một giờ chiến đấu, quân ta chiếm được một nửa đồn địch, hai lô cốt, đánh tan đại đội thám báo. Địch từ các hầm ngầm phản kích quyết liệt. Trung đoàn 6 mới tập hợp từ các tiểu đội độc lập lại, chưa có đủ thời gian luyện tập đánh công kiên nên không dứt điểm được trận đánh.

Phía Tân Lệ, do có trở ngại, nên ngày 20 tháng 10, bộ đội ta mới nổ súng tiến công. Ngay từ những phút đầu, dưới sự chỉ huy của tỉnh đội trưởng Quảng Trị, Trần Phố và chính trị viên Nguyễn Văn Lương, quân ta đã diệt nhiều địch, bắt viên tiểu đoàn trưởng ngụy và dùng tên này gọi binh lính thuộc quyền ra hàng. Cùng lúc, đặc công và bộ binh ta đánh chiếm sở chỉ huy và các trận địa pháo. Trong vòng 30 phút tiến công, ta hoàn toàn làm chủ trận địa.

Sau khi đánh chiếm không dứt điểm Ba Lòng, trung đoàn 6 chuyển qua tiến công diệt vị trí A Chùm trên đường số 9, đánh tan một tiểu đoàn địch đến cứu viện. Địch buộc phải co về giữ Khe Sanh - Tà Cơn. Ta giải phóng hoàn toàn vùng Huội San - Lao Bảo.

Thừa thắng, trung đoàn 6 tiến quân về đồng bằng, vừa đánh địch, vừa tham gia phát động quần chúng diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ. Tháng 11 năm 1965, tiểu đoàn 802 trung đoàn 6 tiến công quân địch ở Tây Hoàng, Mỹ Phú (Thừa Thiên) làm tan rã một tiểu đoàn ngụy, diệt 15 xe M113 (đây là trận tiêu diệt nhiều nhất xe bọc thép ngụy so với các trận đánh xe bọc thép trước đó ở Trị - Thiên). Phối hợp với du kích và bộ đội địa phương huyện Long Điền, tiểu đoàn 806 đánh tan một tiểu đoàn ngụy, loại khỏi vòng chiến đấu 100 tên.

Phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, du kích đẩy mạnh hoạt động nhỏ lẻ, tiêu hao tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch. Xung quanh căn cứ quân sự Phú Bài, vành đai diệt Mỹ được tổ chức bao gồm các xã Thủy Phương, Thủy Châu, Thủy Phú, Thủy Tân.

Kết thúc đạt hoạt động thu-đông, Trị - Thiên đã tiêu hao tiêu diệt được một bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, mở được một đoạn hành lang. Tuy nhiên, quy mô tác chiến của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, du kích còn nhiều hạn chế, chưa hỗ trợ được cho phong trào đấu tranh của nhân dân đồng bằng phát triển.


Trong khi Trị - Thiên vẫn gặp nhiều khó khăn, các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh ngày càng phải đương đầu với bom đạn đánh phá ác liệt của không quân và hải quân Mỹ.

Tiếp theo những hoạt động phá hoại nhằm vào phần đất Khu 4 trong năm 1964, hai giờ sáng ngày 1 tháng 2 năm 1965 (30 Tết Ất Tỵ) lợi dụng tối trời, tàu biệt kích quân đội Sài Gòn xâm nhập vùng biển Vĩnh Linh, bắn phá xã Vĩnh Thái. Ngay từ những phút đầu tiên, đại đội 2 tiểu đoàn 13 pháo binh giới tuyến đã bắn chìm tại chỗ một chiếc.

13 giờ 50 phút ngày 7 tháng 2 năm 1965, Giôn-xơn ra lệnh cho không quân Mỹ mở chiến dịch "Mũi lao lửa". Địch cho 48 máy bay A4D, F8 từ các tàu sân bay Cô-ran-xi, Răn-giơ, Hen-cốc đậu ngoài khơi Đà Nẵng cùng với một phi đoàn máy bay AD6 của ngụy ném bom, bắn phá thị trấn Hồ Xá, thị xã Đồng Hới.

Ngày 8 tháng 2 và ngày 11 tháng 2, Mỹ lại tiếp tục cho máy bay ném bom, bắn phá khu vực doanh trại bỏ trống của sư đoàn 325 ở Chánh Hòa, Thuận Lý, doanh trại sư đoàn 341 ở Chấp Lễ. Bom đạn Mỹ đánh bừa bãi vào cả các khu vực dân cư ở Thuận Lý, Lộc Ninh, thị trấn Hồ Xá. Cùng ngày 11 tháng 2, máy bay Mỹ xâm phạm vùng trời Nghệ An.

Nhờ chuẩn bị tốt và sẵn sàng chiến đấu cao, ngay từ đầu, hỏa lực phòng không ba thứ quân kịp thời nổ súng, đánh trả quyết liệt.

Qua ba ngày chiến đấu; quân và dân Quảng Bình, Vĩnh Linh và Nghệ An đã bắn rơi 12 máy bay Mỹ, bắn bị thương 4 chiếc (trong đó có máy bay của tên đại tá Nguyễn Cao Kỳ, tư lệnh không quân ngụy).

Ngày 14 tháng 2 năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Quảng Bình, Vĩnh Linh, Nghệ An đã chiến đấu dũng cảm, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ.

Đêm 14 tháng 2 năm 1965, tàu biệt kích địch tiếp tục bắn phá vùng biển Ngư Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình. Đại đội 2 pháo binh sư đoàn 341 bắn chìm một tàu. Tàu hải quân ta bắn bị thương hai chiếc khác.

Chiến dịch "Mũi lao lửa I” của không quân Mỹ bị đập tan, chúng chuyển sang thực hiện chiến dịch "Mũi lao lửa II", đánh phá tới vĩ tuyến 19. Ngày 2 tháng 3, không quân Mỹ bắt đầu chiến dịch "Sấm rền"; đánh rộng ra toàn miền Bắc với cường độ ngày càng ác liệt. Phần đất Khu 4 trở thành tuyến lửa ngăn chặn thường xuyên và khốc liệt của không quân, hải quân Mỹ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM