Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:34:28 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)  (Đọc 57143 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #40 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2024, 06:55:09 pm »


III. TỔ CHỨC LẠI CHIẾN TRƯỜNG,
TIỀN TUYẾN - HẬU PHƯƠNG ĐÁNH GIỎI THẮNG LỚN

Kết thúc mùa khô 1965 - 1966, đế quốc Mỹ không thực hiện được các mục tiêu đề ra cho cuộc phản công lần thứ nhất; quyền chủ động chiến trường vẫn thuộc về Quân giải phóng miền Nam.

Mùa mưa năm 1966, thêm nhiều đơn vị quân Mỹ cùng hàng vạn tấn vũ khí, phương tiện chiến tranh tiếp tục đổ vào miền Nam. Tổng số quân Mỹ có mặt trên chiến trường lên tới 389.000 tên. Không quân Mỹ tăng cường các phi vụ ném bom, bắn phá triệt hạ làng mạc, hành lang vận chuyển của ta. Địch đẩy mạnh "bình định" gom dân, ráo riết triển khai lực lượng, chuẩn bị phản công chiến lược lần thứ hai.

Đối với chiến trường Trị - Thiên, sau đông-xuân 1965 - 1966, Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhận định: "Phong trào tuy có thu một số thắng lợi, nhưng chỉ mới là bước đầu. So với đà phát triển chung của toàn chiến trường miền Nam, thì phong trào ở Trị - Thiên tiến triển chậm, trong điều kiện địch ở đây yếu hơn các chiến trường khác. Lực lượng vũ trang và đội ngũ cán bộ của ta thì tương đối mạnh".

Bộ Chính trị chỉ rõ: để đưa phong trào cách mạng Trị - Thiên tiến lên mạnh mẽ và vững chắc, vấn đề căn bản nhất là tiếp tục nâng cao tư tưởng tiến công địch, vận dụng đúng đắn các phương châm của cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam, xác định những hình thức đánh địch về quân sự, sáng tạo ra những hình thức phong phú về đấu tranh chính trị thích hợp với hoàn cảnh cụ thể của Trị - Thiên.

Tháng 4 năm 1966, Bộ Chính trị Trung ương Đcảng quyết định thành lập Khu ủy Trị - Thiên gồm các đảng bộ Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, đặt dưới sự chỉ đạo của Trung ương. Bộ Chính trị ủy nhiệm Quân ủy Trung ương chỉ đạo về mọi mặt đối với Khu ủy Trị - Thiên. Thường trực Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Quân khu Trị - Thiên, tách khỏi Khu 5. Quân khu Trị - Thiên đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Khu ủy Trị - Thiên, đồng thời có nhiệm vụ báo cáo và xin chỉ thị của Quân ủy Trung ương về mọi mặt công tác.

Nhiệm vụ của chiến trường Trị - Thiên được Thường trực Quân ủy Trung ương xác định: "tiêu diệt và làm tan rã phần lớn quân ngụy, tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ, ra sức chuẩn bị lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang thành phố để phục vụ kế hoạch tổng công kích và tổng khởi nghĩa khi có điều kiện chín muồi... cắt đứt các đường giao thông chiến lược của địch, xây dựng đường hành lang của ta, giành thắng lợi lớn về mọi mặt và tạo nên một tình thế mới trên chiến trường Trị - Thiên, phối hợp tốt với các chiến trường khác trong mọi tình huống (kể cả tình huống đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh trên đất liền ra Trung - Hạ Lào)1.

Nhằm phân tán lực lượng chủ lực cơ động chiến lược Mỹ - ngụy, tạo thuận lợi cho chiến trường toàn miền, trực tiếp là vùng đồng bằng Trị - Thiên, tháng 6 năm 1966, Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân ủy trung ương quyết định mở mặt trận Đường số 9 - bắc Quảng Trị (mật đanh là mặt trận X).

Tổ chức lực lượng và công tác chuẩn bị cho mặt trận do Quân khu 4 đảm nhận.

Sư đoàn 324 và trung đoàn 31 thuộc sư đoàn 341 được sử dụng trong thời kỳ đầu mở mặt trận. Đại tá Nam Long Phó tư lệnh và thượng tá Quách Sỹ Kha, Chủ nhiệm chính trị Quân khu 4 làm Tư lệnh và Chính ủy mặt trận. Thượng tá Chu Phương Đới, sư đoàn trưởng và thượng tá Nguyễn Tiến Lợi, chính ủy sư đoàn 324 làm Phó tư lệnh và Phó chính ủy. Mật danh thường dùng là "công trường 1-5". Đảng ủy mặt trận lấy đảng ủy sư đoàn 324 làm cơ sở, có đồng chí Trương Chí Công - Bí thư tỉnh ủy Quảng Trị và đồng chí Hồ Sỹ Thản - Bí thư đảng ủy khu vực Vĩnh Linh tham gia. Bộ Tư lệnh mặt trận được coi như Sở chỉ huy tiên phương Quân khu 4, vừa chỉ huy phía trước, vừa chỉ đạo xây dựng hậu phương Vĩnh Linh, chuẩn bị chiến trường của khu vực và chỉ huy tác chiến đối với các lực lượng vũ trang Vĩnh Linh, Quảng Bình trong trường hợp địch tiến công bằng bộ binh ra phía nam Quân khu 4.

Ngày 20 tháng 6 năm 1966, Quân ủy trung ương và Bộ Quốc phòng làm việc thêm với đại tá Đàm Quang Trung trước khi đồng chí về nhận chức Tư lệnh quân khu, thay đồng chí Trần Văn Quang vào làm Bí thư Khu ủy kiêm Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên. Quân ủy trung ương và Bộ thống nhất thời gian nổ súng mở màn chiến dịch ở mặt trận Đường số 9 - bắc Quảng Trị, nhiệm vụ phối hợp với Trị - Thiên; lưu ý đến phương án tác chiến ở bắc giới tuyến quân sự tạm thời chống bộ binh địch tập kích và không quân địch đánh mạnh ở Khu 4.

Mặt trận Đường số 9 - bắc Quảng Trị mở ra và sự phát triển mới của chiến trường Trị - Thiên, đặt vùng đất Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Vĩnh Linh trở thành hậu phương trực tiếp, trong đó Quảng Bình và Vĩnh Linh trở thành hậu phương chiến dịch.

Ngày 19 và 20 tháng 8 năm 1966, Thường vụ Quân khu ủy 4 họp xác định: "Quân khu được Bộ giao nhiệm vụ dùng chủ lực của quân khu trực tiếp tác chiến ở chiến trường X (Quảng Trị) cùng với quân dân bắc Quảng Trị tiêu diệt địch, giải phóng đất đai ở khu vực này và để phối hợp với các chiến trường khác. Do đó, quân khu đã hoàn toàn trở thành một quân khu có chiến tranh, có vùng bị địch tạm chiếm là bắc Quảng Trị, có vùng tự do (Vĩnh Linh, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An) đang chống chiến tranh phá hoại. Tất cả mọi hoạt động của quân khu đều nhằm giải quyết hai vấn đề chủ yếu:

1. Tập trung mọi khả năng bảo đảm đầy đủ mọi nhu cầu của tiền phương và quyết giành cho được thắng lợi to lớn ở đó.

2. Xây dựng, bảo vệ hậu phương chống chiến tranh phá hoại cho tốt, chuẩn bị tốt việc chống "chiến tranh cục bộ" mở rộng ra phạm vi quân khu. Nhiệm vụ nổi bật của quân khu là tập trung mọi khả năng hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ tác chiến ở mặt trận Quảng Trị"2.

Ngay sau khi mặt trận Đường số 9 được thành lập, Quân khu khẩn trương bổ sung cán bộ, chiến sĩ cho sư đoàn 324 và trung đoàn 31 là những đơn vị được điều vào mặt trận. Đoàn 22 huấn luyện quân tăng cường (đóng ở Nông Cống - Như Xuân, Thanh Hóa) tuyển thêm tân binh ở Thanh Hóa cùng với Trường Quân chính quân khu và cán bộ quân khu nghiên cứu thực tế chiến trường đường số 9 để huấn luyện sát nhiệm vụ chiến đấu. Hệ thống kho tàng, đội điều trị, trạm chuyển thương binh đường bộ và đường sông, các trạm sửa chữa vũ khí, phương tiện được bố trí, điều chỉnh lại trên cả hai tuyến đường núi (dọc các đường số 15, 12, đường số 7) và tuyến đồng bằng (theo quốc lộ số 1 và các tuyến đường liên hương).

2.600 dân công hỏa tuyến của Hà Tĩnh trở thành lực lượng phối thuộc của mặt trận. Khu vực Vĩnh Linh và tỉnh Quảng Bình đề cao tinh thần cảnh giác, thực hiện "ba không" (không nghe, không biết, không thấy) để "phòng gian, phòng gián, phòng biệt kích" và đẩy mạnh xây dựng làng xã chiến đấu. Ngày sản xuất, trưa, tối, dân quân tranh thủ huấn luyện bổ sung, nhân dân củng cố, phát triển hệ thống hầm hào, công sự, rào làng. Các xã phía sau huy động lực lượng nguyên liệu, vật liệu lên giúp các xã phía trước xây dựng làng, xã chiến đấu. Các gia đình đào thêm hầm, hào dự phòng cho bộ đội trú quân.

Hai tiểu đoàn ca-nông 100 và lựu pháo (trung đoàn 164 pháo binh Quân khu 4) cơ động vào phối hợp tác chiến với mặt trận Đường số 9 và phối hợp với mạng lưới pháo binh của các địa phương sẵn sàng đánh địch đổ bộ. Quân khu tăng cường 29 khẩu pháo 55 và 75 ly cho các tỉnh từ Nghệ An trở vào tổ chức các phân đội pháo dân quân vùng biển.
______________________________________________
1. Nghị quyết của Thường trực Quân ủy Trung ương về nhiệm vụ của chiến trường Trị - Thiên, tháng 4 năm 1966.
2. Nội dung hội nghị Thường vụ Quân khu ủy 4 ngày 19-20 tháng 8 năm 1966. Dự hội nghị có các đồng chí Lê Hiến Mai, Trần Văn Quang, Trương Công Cẩn, Vũ Lăng, Đàm Quang Trung và Trần Sơn. Đồng chí Lê Thanh, Tham mưu trưởng và đồng chí Nguyễn Ích Tỷ, Phó tham mưu trưởng quân khu được mời dự. Văn bản lưu tại bảo mật Quân khu 4.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #41 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2024, 06:57:25 pm »


Cuộc vận động xây dựng quyết tâm đánh thắng bộ binh địch, được tiến hành sâu rộng khắp quân khu. Từng đội sản xuất, từng tiểu đội, trung đội lực lượng vũ trang đăng ký, giao ước chỉ tiêu chiến đấu, phục vụ chiến đấu, sản xuất, phòng tránh: địch đông bao nhiêu cũng đánh, chúng đến lúc nào cũng đánh, đánh thắng cả địch trên trời, ngoài biển, trên biên giới và nội địa.

Vừa tập trung bảo đảm cho tiền phương, Khu 4 vừa tổ chức lực lượng đánh máy bay, tàu chiến địch có hiệu quả. Tiêu biểu là các trận: ngày 3 tháng 2 năm 1966, bắn rơi một A3J tại cầu Hoàng Mai. Ngày 7 tháng 4 năm 1966, quân, dân Nghệ An bắn rơi hai máy bay Mỹ (đây là chiếc thứ 900, 901 bị bắn rơi ở miền Bắc). Đến cuối tháng 5 năm 1966, số máy bay Mỹ bị bắn rơi trên vùng trời Khu 4 đã lên tới 500 chiếc. Các địa phương khẩn trương mở các chiến dịch sửa đường, san lấp hố bom, làm đường vòng tránh, bến vượt, đóng mới và sửa chữa các phương tiện bảo đảm giao thông. Nghệ An, Hà Tĩnh, tổ chức thêm 182 đội công binh nhân dân gồm 2.580 người. Quảng Bình tổ chức đội xung kích bảo đảm giao thông vận tải ở từng xã, gồm thanh niên và dân quân tự vệ, Thanh Hóa tổ chức thêm bốn đại đội công binh, tiếp nhận thêm một tiểu đoàn (gồm ba đại đội) của tỉnh Hòa Bình. Tỉnh huy động 753 xe đạp thồ, 683 thuyền và 3.451 thủy thủ tổ chức thành các đơn vị chuyên chở hàng quân sự, chuyển thương binh. Các cơ sở sản xuất phao phà được mở rộng về quy mô...

Tại các bến vượt và những trọng điểm địch đánh phá, các trạm điều chỉnh xe được củng cố, tăng cường, nhằm khắc phục tình trạng ùn xe, tắc đường, hoặc bị bom địch phá hủy do thiếu thông tin.

Ngoài ra, các địa phương tổ chức thêm các trạm quan sát báo động ban đêm, hướng dẫn xe vào các nơi giấu xe. Hà Tĩnh là nơi đầu tiên có sáng kiến hình thành hệ thống trạm đèn tín hiệu phòng không trên các tuyến đường. Đèn có mái che; ánh sáng dọi ra vừa tầm đủ cho người lái xe thấy, có trục quay và dây điều khiển kéo đến hầm người gác. Những ngọn đèn trên các nẻo đường Khu 4 đã trở thành chỗ dựa đầy tin cậy cho các chiến sĩ lái xe vững vàng tay lái.

Bên cạnh hệ thống trạm đèn, nhân dân còn trồng cây ngụy trang, làm cọc tiêu, quét vôi ở các thân cây còn lại bên đường. Kỹ thuật và kỷ luật chạy xe bằng đèn ngầm, kỷ luật sử dụng ánh sáng, đèn, lửa trong mọi sinh hoạt ban đêm được quy định và kiểm tra nghiêm ngặt.

Đối phó với các loại máy bay tuần thám xăm tìm, Quảng Bình đào âu phà ngay gần bến, sáng tháo nút dìm phà, tối đóng nút bơm cạn nước cho phà nổi, không mất thời gian đi về cất giấu. Tỉnh Hà Tĩnh chuyển từ phà kéo tay sang cầu dẫn, tiết kiệm nguyên vật liệu và thời gian, tăng lưu lượng xe từ ba tới bốn lần.

Ủy ban hành chính Thanh Hóa quyết định lập công ty xe đạp thồ thuộc ty giao thông vận tải để đáp ứng yêu cầu vận chuyển ngày càng tăng. Tỉnh giao chỉ tiêu cho 10 huyện dọc các tuyến giao thông tổ chức các đội xe thồ kết hợp vận chuyển bộ. Các xã có sông tổ chức thuyền vận tải.

Trên bến Đò Lèn, trung đội công binh (thuộc Quân khu 3) có sáng kiến bắc, dỡ cầu phà theo kiểu "rồng rắn" trên sông, giảm bớt thời gian chờ đợi bắc, dỡ tại bến từ 39 đến 40 phút.

Khắp 26 bến vượt lớn và khắp nơi trên các tuyến giao thông, lực lượng công binh ba thứ quân cùng với thanh niên xung phong ngày đêm đối đầu với gian khổ, hiểm nguy, thực hiện: "Sống bám trụ cầu đường, chết kiên cường dũng cảm", "Tăng từng tấn, lấn từng chuyến". Trên khắp các địa phương quân khu, tại những khu vực địch đánh phá ác liệt, nhân dân đã "Nhường nhà để hàng, nhường làng để xe". Ba trăm cụ phụ lão và lớp tuổi trung niên xã Kỳ Trinh (Kỳ Anh) mở "hội Diên Hồng” cùng hướng về tuyến đường qua xã mình, nơi có những chiếc cầu địch đánh hàng chục lần, tuyên thệ: "Kỳ Trinh không chịu bó tay. Mạch máu ta tắc, giao thông không thể tắc". Dân quân và các đoàn thể họp bàn, từng hộ đóng góp phương tiện, nguyên liệu, vật liệu sửa chữa đường sá, cầu, cống. Mỗi người dân trong xã có một dụng cụ làm đường, một gánh vật liệu để sẵn sàng chống lầy. 4.050 dân xã Kỳ Trinh dành ra 82.000 công, khai thác 1.550 mét khối đá, thường xuyên đảm nhận ứng cứu cho tuyến đường tám ki-lô-mét quốc lộ số 1 với hơn chục cầu lớn nhỏ, làm thêm 18 ki-lô-mét đường xe, mua sắm 242 xe "cút kít” vừa phục vụ sản xuất, vừa phục vụ giao thông. Hơn 8.000 cây tre, khóm nứa và hàng nghìn các loại cây ngụy trang khác được chuyển ra trồng hai bên đường. Sáng kiến của Kỳ Trinh được phổ biến rộng toàn huyện Kỳ Anh. Du kích các xã xa mặt đường luân phiên tới phối hợp trực chiến với các xã ven đường. Mỗi xã đều nhận phụ trách một đoạn đường. Hai bên đường cứ cách từ năm đến 10 mét có một hầm tròn, 20 mét có một cọc tiêu, khoảng từ một đến hai ki-lô-mét có một trạm đèn. Các xã gần đường có trạm đón tiếp xe. Các cụ phụ lão, các cháu thiếu niên hướng dẫn xe vào nơi ẩn nấp, ngụy trang xe, bố trí nơi ăn nghỉ cho lái xe. Mỗi xã đều có đội công binh nhân dân. Toàn huyện làm thêm 41 ki-lô-mét đường xe và sửa 100 ki-lô-mét đường liên hương.

Trong ba ngày: 5, 6 và 7 tháng 5 năm 1966, Thường vụ Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh quân khu tiến hành đại hội "Thi đua quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" toàn quân khu. Hơn 200 đại biểu từ khắp các chiến trường và địa phương trong quân khu về xã Thanh Khê (Thanh Chương, Nghệ An), dự đại hội. Đại hội nhiệt liệt biểu dương 952 cán bộ, chiến sĩ, 139 đơn vị quyết thắng và các đơn vị là lá cờ đầu của phong trào thi đua: đại đội 3 Nguyễn Viết Xuân, đảo Cồn Cỏ, xã Vĩnh Giang, xã Ngư Thủy, xã Hướng Trạch...

Thiếu tướng Lê Hiến Mai, Ủy viên Trung ương Đảng, Chính ủy quân khu và đồng chí Võ Thúc Đồng, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Hội đồng quốc phòng quân khu, Bí thư tỉnh ủy Nghệ An, được ủy nhiệm của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trao cờ thưởng danh dự cho hai tỉnh Nghệ An, Quảng Bình, trao Huân chương Độc lập hạng hai cho bộ đội Cồn Cỏ.

Tiếp đó, Quân khu mở hội nghị sơ kết ba năm thực hiện cuộc vận động xây dựng chi bộ 4 tốt, rút ra những bài học kinh nghiệm tiếp tục tăng cường vai trò, vị trí lãnh đạo của chi bộ trước yêu cầu nhiệm vụ mới.

Ở Trị - Thiên, ngay sau khi thành lập, Khu uy và Quân khu ủy chủ trương đẩy mạnh hoạt động trong những tháng 6, 7, 8 năm 1966 để phối hợp với toàn miền và mặt trận Đường số 9.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #42 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2024, 06:58:24 pm »


Ngày 29 tháng 6 năm 1966, ta chính thức mở mặt trận Đường số 9 - bắc Quảng Trị.

3 giờ ngày 29, đại đội đặc công sư đoàn 324 tập kích vị trí Đầu Mầu, diệt gần hết trung đội bảo an đồn trú. Cùng lúc, pháo binh sư đoàn dội đạn vào Cam Lộ, loại khỏi vòng chiến hàng trăm tên địch.

Sáng 30 tháng 6, tiểu đoàn 3 trung đoàn 3 chặn đánh địch từ Cùa ra Phương An, diệt 45 tên, phá sập cầu xóm Búng và vây ép tiểu đoàn 3, trung đoàn 2 (sư đoàn 1 ngụy) ở Cùa. Bị mất Đầu Mầu và bị vây ép ở Cùa, ngày 5 tháng 7 năm 1966, địch mở cuộc hành quân "Lam Sơn 287", đưa hai tiểu đoàn dù đến giải vây cho lực lượng của chúng ở Cùa. Bị đánh mạnh, ngày 6 tháng 7, địch phải lui quân. Ngày 8 tháng 7, sư đoàn 1 ngụy tung bốn tiểu đoàn vào cuộc hành quân "Lam Sơn 288", đánh chiếm Đầu Mầu. Trước sự xuất hiện của bộ đội chủ lực miền Bắc ở đường số 9, Mỹ - ngụy bắt ngờ và lo sợ. Chúng tăng cường các hoạt động trinh sát trên không, dồn dập ném bom, bắn phá liên tục cả ngày đêm những nơi nghi ngờ có quân ta. Từ ngày 4 đến 14 tháng 7 năm 1966, Mỹ - ngụy điều lực lượng lính thủy đánh bộ từ Huế và Phú Bài ra Đông Hà.

Ngày 11 và 12 tháng 7, Oét-mo-len, tổng chỉ huy quân Mỹ và chư hầu ở miền Nam Việt Nam, Nguyễn Văn Thiệu tổng thống và Nguyễn Cao Kỳ thủ tướng ngụy cùng với tư lệnh vùng 1 chiến thuật thị sát chiến trường, quyết định sử dụng một lực lượng lớn bao gồm bảy tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ, hai chiến đoàn ngụy (có ba tiểu đoàn dù và một tiểu đoàn bộ binh thuộc lực lượng tổng dự bị ngụy), hai chi đoàn xe tăng, mở cuộc hành quân mang tên Hát-xting hòng giải tỏa đường số 9.

Lính thủy đánh bộ Mỹ từ Chu Lai, Đà Nẵng và lực lượng dự bị quân ngụy từ Sài Gòn ồ ạt đổ ra đường số 9. Máy bay B52 ném bom ác liệt vùng Cù Đinh - Ba De.

Ngày 15 tháng 7, máy bay lên thẳng đổ hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ xuống Cù Đinh - Ba De, chặn đường di chuyển lực lượng của ta, một tiểu đoàn của trung đoàn l ngụy xuống bản Hiệu, các điểm cao 300, 215 và Gia Hy. Tiểu đoàn 5 lính thủy đánh bộ Mỹ cũng được hành quân bằng trực thăng tới Sáp Đá Mài yểm trợ cho cánh ở Cù Đinh.

Cù Đinh cách thị trấn Cam Lộ 12 ki-lô-mét về phía tây-bắc. Lính thủy đánh bộ Mỹ đảm nhận mũi chủ yếu ở bắc đường số 9. Tập trung lực lượng vào khu vực này gồm ba tiểu đoàn ngụy đứng chân ở Cùa - sườn phía nam đường số 9, cách Cam Lộ tám ki-lô-mét phía tây-nam, một bộ phận quân địch bố trí ở Gio Linh làm lực lượng dự bị.

Lần đầu đọ sức với lính thủy đánh bộ Mỹ, cán bộ, chiến sĩ sư đoàn 324 vận dụng kinh nghiệm: "bám thắt lưng Mỹ mà đánh" của các đơn vị từng đánh Mỹ ở Vạn Tường, liên tục tiến công quân địch ở Cù Đinh, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 3 trung đoàn 4 lính thủy đánh bộ Mỹ, buộc quân Mỹ tại đây phải chuyển sang phòng ngự, dùng không quân và pháo binh bắn phá dữ dội trận địa ta. Đồng thời, chúng phải vội vã điều hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ từ Đà Nẵng ra ứng cứu.

Ngày 16 tháng 7, tiểu đoàn 1 trung đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ đổ quân xuống Cù Đinh, Be De, lập tức bộ đội ta bám đánh ngay từ đầu, tiêu diệt nhiều sinh lực và máy bay lên thẳng của địch. Hãng AFP ngày 17 tháng 7 năm 1966 nhận xét: "Sở chỉ huy tiểu đoàn 1 trung đoàn 3 lính thủy đánh bộ giống như bãi tha ma máy bay trực thăng".

Ngày 19 tháng 7, tiểu đoàn 3 trung đoàn 9 Mỹ rút bỏ Ba De, lùi về điểm cao 182, tiểu đoàn 2 trung đoàn 4 chuyển sang tây Cù Đinh một ki-lô-mét, bỏ lại trận địa còn nham nhở hố bom và khét lẹt thuốc súng. Sở chỉ huy trung đoàn 1 ngụy ở Cam Lộ bị uy hiếp mạnh, máy bay B52 phải dội bom vào khu vực xung quanh hòng giải tỏa. Địch đổ thêm hai tiểu đoàn xuống Tân Lâm và Sáp Đá Mài (tây - tây-bắc Cam Lộ từ 8 tới 10 ki-lô-mét). Ta chặn đánh kìm địch ở Sáp Đá Mài; bao vây, pháo kích, tập kích địch ở Cù Đinh. Từ sáng đến trưa ngày 18 tháng 7, lực lượng địch ở Sáp Đá Mài định ứng cứu cho Cù Đinh bị chặn đánh liên tiếp. Tiểu đoàn 3 trung đoàn 5 từ hạm đội 7 được lệnh vận chuyển cấp tốc bằng đường không vào lập khu phòng thủ mới. Ngay khi mới đổ quân, bọn này đã bị đánh liên tục. Đêm đến, ta đánh thốc vào bãi đỗ máy bay lên thẳng và sở chỉ huy tiểu đoàn, diệt 50 tên. Các cánh quân địch ở khu vực điểm cao 402 (bắc đường số 9), ở phía trung đoàn 4 đều bị đánh. Một đại đội địch đánh chiếm Đầu Mầu, bị diệt gần hết. Tại điểm cao 402, xạ thủ súng máy Nguyễn Phi Hùng lợi dụng xác địch làm vật che đỡ, bám trụ lại bên bìa rừng, đánh lui hết tốp lính này đến tốp lính khác, cùng đồng đội hạ máy bay lên thẳng, giữ vững trận địa. Nhiều trận đánh liên tiếp diễn ra trong ngày 18 tháng 7. Phát ngôn viên quân sự Mỹ ở Sài Gòn thú nhận: "Hai đơn vị lính thủy đánh bộ Mỹ đã bị thiệt hại nặng trong một trận đánh kéo dài bốn giờ. Quân Mỹ đã phải thu hẹp lại chu vi phòng thủ và phải củng cố lại hàng ngũ" (AP, ngày 19 tháng 7 năm 1966).

Ngày 19 và 20 tháng 7 năm 1966, máy bay lên thẳng Mỹ lại đổ quân xuống Cù Đinh, Khe Chùa (đông nam Cù Đinh, tây bắc Cam Lộ). Bộ Tư lệnh mặt trận cho rằng, ý đồ của địch là tập trung lực lượng lập tuyến phòng ngự Ba De - Cù Đinh - Sáp Đá Mài - Cam Lộ - Tân Lâm - cầu Đầu Mầu. Bộ Tư lệnh ra lệnh cho các đơn vị phải tích cực tiến công quân địch. Ngày 19 tháng 7, lợi dụng lúc địch đang dồn quân, ta liên tiếp tổ chức bốn trận đánh vào tiểu đoàn quân Mỹ mới đổ xuống Khe Chùa. Sáng ngày 20, khi địch rục rịch bỏ điểm cao đông nam Cù Đinh, ta vận động diệt 80 tên, hạ một máy bay. Đêm hôm đó, pháo cối ta bắn phá dữ dội vào quân Mỹ ở Cù Đinh. Suốt sáu ngày chiến đấu, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 700 tên địch, bắn rơi 20 máy bay lên thẳng. Ngày 20 và 21 tháng 7, địch bắt đầu co cụm. Ngày 23 tháng 7, ta tập kích nhiều nơi. Đêm 24 tháng 7, quân ta xiết chặt vòng vảy, nã cối vào bãi đỗ máy bay lên thẳng ở Cù Đinh. Tiểu đoàn 5 lính thủy đánh bộ Mỹ mất sức chiến đấu. Mỹ phải đưa quân ngụy vào vòng chiến và rút lính Mỹ ở Cù Đinh về lập tuyến phòng ngự ở nam đường số 9.

Những tháng tiếp theo, địch tập trung củng cố tuyến phòng ngự kéo dài từ Lao Bảo đến Cửa Việt; gấp rút xây dựng các căn cứ lớn Đông Hà, Ái Tử, Đồng Lâm, Phú Bài, củng cố hệ thống sân bay, kho tàng, đường sá; đồng thời mở cuộc hành quân "Đếch-hao" đánh vào vùng Cam Lộ (từ ngày 7-7 đến 3-8), cuộc hành quân "Đồng cỏ" đánh ra Cồn Tiên (từ 3-8-1966 đến 31-1-1967).

Mặt trận Đường số 9 – bắc Quảng Trị vừa mở ra đã giành được thắng lợi có ý nghĩa lớn: tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, thu hút và kìm chân một bộ phận chủ lực Mỹ - ngụy gần 41.000 tên, trong đó có 16.700 lính Mỹ, phối hợp đắc lực toàn miền Nam trong hè-thu năm 1966.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #43 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2024, 06:59:26 pm »


Trong khi tiếng súng ở mặt trận Đường số 9 rộ lên, thì ở Trị - Thiên, bộ đội địa phương hai tỉnh và các huyện tiến xuống đồng bằng cùng dân quân, du kích đẩy mạnh tác chiến, cắt đường giao thông, phá sập đồn bốt và lô cốt, tiêu diệt bọn bảo an, hỗ trợ cho nhân dân giành quyền làm chủ, lập làng chiến đấu. Quanh các khu vực có quân Mỹ đóng đã xuất hiện thêm các "vành đai diệt Mỹ" như Phú Bài, Đồng Lâm...

Du kích Phong Nguyên, Quảng Thái, Phú Đa kết hợp vũ khí thô sơ và bắn tỉa đánh bại các cuộc càn quy mô đại đội và tiểu đoàn địch (tháng 7 năm 1966). Du kích Triệu Ái, Triệu Giang phục kích diệt xe, cướp súng (tháng 6 năm 1966). Du kích Tân Lộ (Quảng Trị) táo bạo đưa lực lượng bí mật vào phục kích ngay phía trong hàng rào đồn địch, diệt bọn đi tuần và cướp súng. Hầu hết các cầu nhỏ và cống lớn trên đường giao thông của địch đều bị dân quân, du kích đánh phá. Trong tháng 8 năm 1966, nhiều đoạn giao thông của địch tê liệt từ hai tới ba ngày. Bằng nhiều hình thức: đắp ụ nghi binh, đào hố, kết hợp cài mìn, phục kích trên đường giao thông, du kích đã làm cho địch nơm nớp lo sợ, mất rất nhiều thời gian dò phá, khắc phục. Bộ đội địa phương, dân quân, du kích cùng nhân dân xung quanh "vành đai" liên tục bám đánh địch. Du kích Phong Sơn diệt một trung đội. Dân quân ba xã Quảng Ninh, Quảng Đại, Quảng Hòa (Quảng Điền) đồng loạt nổi dậy phối hợp với bộ đội bao vây bức rút một số đồn địch ở Lương Mai, Nam Giảng, Tà Rụt, Khe Tre. Lực lượng vũ trang cững đã thọc sâu xuống vùng phía dưới quốc lộ số 1, quận lỵ, thành phố Huế, cùng cán bộ chính trị tuyên truyền khởi nghĩa giành dân, mở rộng vùng giải phóng ở Thanh Thủy Thượng, Quảng Điền, diệt ác, phá kìm ở Phong Điền. Đêm 19 tháng 6, lần đầu tiên, lực lượng vũ trang Huế tiến công diệt chi khu quân sự Phú Xuân. Tiểu đoàn 6 trung đoàn 6, phối hợp với du kích và nhân dân đánh bại một tiểu đoàn Mỹ càn vào xã Phong Chương, bắn rơi bốn máy bay; phục kích một đoàn xe quân sự ở ngã tư Đồng Lâm. Lực lượng pháo binh chuyên trách đánh vào các bãi pháo và khu vực đóng quân của địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại nặng. Bộ đội đặc công tập kích sâu vào hậu cứ của một tiểu đoàn vận tải ngụy đóng ở An Cựu (thành phố Huế), diệt và làm bị thương gần 100 tên, đánh cháy nhiều xe ô-tô.

Ở vùng núi và giáp ranh, phong trào đánh máy bay, biệt kích phát triển. Riêng ba huyện miền núi Thừa Thiên thường xuyên có 45 tổ phục kích đánh máy bay và đánh biệt kích. Du kích miền núi còn phối hợp với bộ đội địa phương bao vây đồn bốt, bắn tỉa, đánh mìn, gài chông, tiêu hao và tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá hỏng một số phương tiện chiến tranh của chúng, góp phần bảo vệ vững chắc căn cứ và vùng giải phóng miền núi, tạo điều kiện cho trung đoàn 6 chủ lực liên tục đánh địch ở khu vực giáp ranh, trên các tuyến đường giao thông; hỗ trợ cho bộ đội tỉnh, huyện đẩy mạnh hoạt động diệt các cụm bảo an, dân vệ; mở rộng vùng giải phóng đồng bằng.

Ngày 29 tháng 6 năm 1966, trung đoàn 6 tổ chức trận đánh "độn thổ" ở Cầu Nhi trên đường số 1, cách Huế 20 ki-lô-mét về phía tây-bắc. Cầu Nhi do một trung đội địch bảo vệ. Tiểu đoàn 2 do tiểu đoàn trưởng Nguyễn Quốc Khánh chỉ huy, cùng các đại đội trinh sát, thông tin, công binh và đại đội 16 cối 82 của trung đoàn được giao nhiệm vụ đánh địch. Suốt một đêm thức trắng đào hầm, đến 5 giờ sáng 29 tháng 6, bộ đội đã hoàn thành việc chuẩn bị trận địa. Ta vừa bố trí xong lực lượng, thì địch cho 26 xe GMC chở đầy lính từ Huế ra tiếp ứng cho đường số 9 - Quảng Trị.

Khi 26 chiếc GMC lọt vào trận địa phục kích, các cỡ súng 12,7, cối 82, súng bộ binh đồng loạt nhả đạn vào đội hình hành quân của địch. Vừa đánh chính diện vừa chốt chặn đường rút của địch, tiểu đoàn 2 đã biến Cầu Nhi thành mồ chôn viện binh địch. Sau tám phút chiến đấu, cả 26 xe GMC đều bị bắn cháy, bắn hỏng; toàn bộ tiểu đoàn 2 lính thủy đánh bộ ngụy được tăng cường một đại đội, cùng ban chỉ huy tiểu đoàn gồm một đại tá, một trung tá và ba thiếu tá bị tiêu diệt. Ta thu 30 súng bộ binh và 6 súng cối.

Ngay sau đó, địch vội vã điều 30 xe lội nước từ Phò Trạch ra, cùng với một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống các điểm cao 53 và 79 để bao vây, chặn đường ta lui quân. Nhưng bộ đội ta đã rút về căn cứ an toàn.

Cuối tháng 7 năm 1966, một tiểu đoàn ngụy được tăng cường một đại đội bảo vệ và một nhóm "hải tặc" tổ chức một cuộc càn vào thôn Vĩnh Trình (Phú Vang). Tiểu đoàn 2 bộ đội địa phương đã phối hợp cùng dân quân, du kích bí mật đón địch và chiến đấu kiên cường bẻ gãy các mũi tiến công của địch. Sau một giờ chiến đấu, tiểu đoàn bộ và đại đội trợ chiến thuộc trung đoàn 2 ngụy bị tiêu diệt, ta thu toàn bộ vũ khí.

Đêm mùng 1 rạng ngày 2 tháng 8 năm 1966, tiểu đoàn 3 bộ đội địa phương Thừa Thiên vận động tập kích tiểu đoàn 4 trung đoàn 3 ngụy vừa đi càn quét về đứng chân ở Diên Đại, án ngữ phía đông-bắc Huế. Sau 20 phút chiến đấu, ta đã tiêu diệt sở chỉ huy tiểu đoàn và một đại đội địch, bắt sống một đại tá, hai cố vấn và thu nhiều tài liệu quan trọng.

Kết thúc đợt hoạt động hè-thu 1966, ta đã khôi phục lại vùng nông thôn Trị - Thiên bị địch lấn chiếm từ cuối năm 1965 đấu năm 1966. Đến tháng 11 năm 1966, có 500 thôn với 350 nghìn dân trong số 929 thôn thuộc vùng đồng bằng Trị - Thiên đã giành quyền làm chủ, mở ra vùng giải phóng liên hoàn kéo dài hơn 60 ki-lô-mét từ Triệu Phong đến Quảng Điền, Phú Vang.

Thắng lợi về quân sự, chính trị ở đường số 9 và Trị - Thiên góp phần cùng toàn miền Nam giữ vững và củng cố thế chủ động chiến lược; đẩy địch lún sâu vào thế phòng ngự trên chiến trường.

Nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược, đế quốc Mỹ tiếp tục tăng quân, nâng tổng số quân Mỹ và chư hầu có mặt tại miền Nam cuối năm 1966 lên 395 nghìn tên, quân ngụy lên tới 560 nghìn tên và mở cuộc phản công chiến lược lần thứ hai vào mùa khô 1966 - 1967. Chúng tập trung lực lượng vào hướng chính là miền Đông Nam Bộ; trọng điểm là chiến khu Dương Minh Châu. Trên các hướng từ Trị - Thiên đến Quảng Ngãi, Tây Nguyên, đồng bằng Khu 5 và đồng bằng sông Cửu Long, địch chủ trương kiềm chế ta. Phía mặt trận Đường số 9 địch tăng cường khả năng phòng thủ nhằm ngăn chặn bộ đội chủ lực của ta.

Hỗ trợ cho các hoạt động trên chiến trường miền Nam, không quân, hải quân địch tăng cường đánh phá miền Bắc, vừa ngăn chặn chi viện, vừa gây sức ép mạnh đối với ta.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #44 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2024, 07:04:05 pm »


Sau khi dùng máy bay B52 đánh vào Hướng Lập, Vĩnh Linh (ngày 15 tháng 10 năm 1966) và tiếp tục đánh phá ác liệt các nơi khác, tháng 12 năm 1966, Mỹ đánh lớn bốn đợt vào ngoại vi Hà Nội.

Giôn-xơn thông qua kế hoạch tiến công mùa xuân bằng không quân "nhằm đánh mạnh vào sáu hệ thống mục tiêu ở miền Bắc"1 chuẩn y kế hoạch tăng cường độ đánh phá của máy bay chiến lược B52 từ 60 lần chiếc lên 800 lần chiếc một tháng. Số phi vụ máy bay chiến thuật, từ chỗ 12.000 lần xuất kích một tháng tăng lên 84.000 lần2. Đồng thời, địch dùng pháo hạm và hải quân khống chế ven biển phía bắc vĩ tuyến 17, 18, nhằm cô lập Hải Phòng, Hà Nội, chặn mọi luồng tiếp tế vận chuyển từ ngoài vào Việt Nam, từ miền Bắc vào miền Nam và mọi luồng tiếp tế trong nội địa.

Dưới bom đạn đánh phá ác liệt của kẻ thù, lực lượng phòng không các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, khu vực Vĩnh Linh đánh giỏi, bắn trúng, hạ nhiều máy bay Mỹ. Ngày 31 tháng 8. Quảng Bình bắn rơi tại chỗ một chiếc F4. Đầu tháng 9 năm 1966, trung đoàn 214 cao xạ bảo vệ bến vượt Xuân Sơn (Quảng Bình) chiến đấu quyết liệt, bắn rơi hai chiếc. Cũng thời gian này, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa hạ sáu chiếc. Giữa tháng 9, quân dân thành phố Vinh đã bắn rơi chiếc thứ 100 trên bầu trời thành phố. Các ngày 21, 22, 23 tháng 9, địch mở đợt đánh phá ác liệt cầu Hàm Rồng. Lực lượng bảo vệ cầu cùng quân và dân Thanh Hóa chiến đấu anh dũng, hạ tám máy bay. Trong tháng 10, thêm ba chiếc bị bắn cháy trên vùng trời khu vực Bò Lăn (Thanh Hóa).

7 giờ ngày 11 tháng 11, tiểu đoàn 6 pháo cao xạ Vĩnh Linh và tiểu đoàn 5 trung đoàn 218 bắn rơi một chiếc L19 tại Hải Cụ. Một giờ sau, hỏa lực phòng không của bộ đội lại phối hợp với dân quân Vĩnh Thủy bắn rơi hai chiếc F4 từ biển lao vào đánh phá trận địa pháo. Trong ngày 11 tháng 11, ba máy bay Mỹ còn tiếp tục bị bắn rơi trên đất Vĩnh Linh.

Nhằm động viên kịp thời quân và dân Vĩnh Linh, ngay 15 tháng 11 năm 1966, Bác Hồ đã gửi thư khen. Thư của Bác có đoạn: "Đó là chiến công oanh liệt của một địa phương trong một ngày. Giặc Mỹ đã phải thú nhận, đó là một ngày đen tối của không quân chúng. Các địa phương hãy ra sức đánh giỏi, thắng lớn như Vĩnh Linh".


Tháng 10 năm 1966, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp đề ra chủ trương đẩy mạnh đấu tranh quân sự và chính trị động viên cả nước cố gắng lớn hơn nữa tranh thủ thời cơ giành thắng lợi to lớn, toàn diện trong năm 1967. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua sáu phương thức tác chiến chiến lược áp dụng trên các chiến trường. Tiếp đó, Hội nghị Ban Chấp hành trung ương Đảng lần thứ 13 họp từ ngày 23 đến 26 tháng 1 năm 1967, đã quyết định mở mặt trận tiến công ngoại giao nhằm tố cáo mạnh mẽ những tội ác của đế quốc Mỹ trước dư luận thế giới, đề cao chính nghĩa của ta, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của quốc tế.

Đối với chiến trường Trị - Thiên - Huế, Quân ủy trung ương chỉ thị: "Tiếp tục quán triệt và tích cực thi hành Nghị quyết Trung ương lần thứ 12, Nghị quyết Bộ Chính trị, Nghị quyết của Thường trục Quân ủy về chiến trường Trị - Thiên - Huế (tháng 4 năm 1966) mà thực hiện với quyết tâm cao hơn, cố gắng với tinh thần sáng tạo hơn nhằm đẩy chiến trường Trị - Thiên - Huế lên một bước mới, trở thành một chiến trường đánh tiêu diệt, tiêu hao nhiều lực lượng địch, phát triển chiến tranh nhân dân đến trình độ cao, giành thắng lợi lớn"3.

Về nhiệm vụ của mặt trận Đường số 9 trong tình hình mới, Đảng ủy B5 có nghị quyết chỉ rõ: chiến trường đường số 9 phải là nơi "bắt giặc Mỹ phải trả giá đắt, tiêu diệt từng bộ phận quan trọng quân Mỹ và kiềm chế, tiêu hao lực lượng chúng ở mức cao nhất, đồng thời tạo thời cơ cùng quân dân Trị - Thiên - Huế tiêu diệt và làm tan rã quân ngụy"4.

Do vị trí của Khu 4 và mặt trận Đường số 9, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng dành nhiều thời gian làm việc với Thường vụ đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 4. Các đồng chí Lê Quang Đạo, Ủy viên thường vụ Quân ủy Trung ương, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Trần Sâm, Thứ trưởng quốc phòng; Vương Thừa Vũ, Phó Tổng tham mưu trưởng vào Khu 4 đôn đốc, giúp đỡ, kiểm tra việc triển khai nhiệm vụ.

Ngày 26 tháng 1 năm 1967, Hội nghị Quân khu ủy 4 được triệu tập. Dự hội nghị có các đồng chí: Lê Quang Hòa, Trần Thế Môn, Vũ Lăng, Hoàng Kiện, Lê Thanh, Phan Văn Đường, Đoàn La, Trần Sơn (hai đồng chí Đàm Quang Trung và Nguyễn Xuân Hoàng vắng mặt vì đang chỉ huy chiến đấu ở mặt trận Đường số 9). Hội nghị xác định rõ: Quân khu có bốn nhiệm vụ trên ba chiến trường. Những nhiệm vụ đó rất to lớn, nặng nề, khẩn trương, phức tạp nhằm thực hiện một phương hướng chiến lược của Trung ương Đảng "đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trên chiến trường chính là miền Nam".

Quân khu 4 và mặt trận Đường số 9 khẩn trương bổ sung quân số, trang bị, nội dung huấn luyện, tổ chức biên chế lại các lực lượng chiến đấu cho phù hợp yêu cầu tham gia đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của Mỹ. Ngoài việc tiếp tục kiện toàn cách đánh của các phân đội để mở rộng diện đánh tiêu diệt, quân khu và mặt trận tích cực nghiên cứu giải quyết cách đánh của các trung đoàn, nhằm tiêu diệt từng đơn vị quân địch. Từ cấp quân khu xuống tới các đơn vị, địa phương tích cực chuẩn bị tư tưởng và tổ chức bảo đảm chiến đấu liên tục trong điều kiện ác liệt và gian khổ hơn trước nhiều lần; tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng các đơn vị cơ sở một cách toàn diện, quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật, nuôi quân, phòng bệnh, khắc phục hiện tượng đào ngũ, giảm bớt thương vong.

Quân khu và mặt trận khẩn trương làm thêm mạng đường cơ động, điểu chỉnh lại hệ thống cơ sở tiếp nhận thương binh, bệnh binh, hệ thống kho tàng. Hơn 3.000 dân công Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, bổ sung cho mặt trận. Trung đoàn 152 chuyển vào mở đường Bồng Lai - Vít Thù Lù. Bộ Giao thông vận tải đảm nhận thêm phần bảo đảm giao thông ở tuyến đường số 8 và đường số 12.
______________________________________________
1. Sáu hệ thống mục tiêu: điện lực, công nghiệp, giao thông thủy bộ, các kho nhiên liệu, hệ thống phòng không, các cơ quan quân sự.
2. Mác Na-ma-ra muốn hạn chế ở mức 12.000 lần chiếc như tháng 10 năm 1966, nhưng phái hiếu chiến đã thắng trong quyết định "gia tăng sức ép không thương tiếc đối với hai miền Nam – Bắc Việt Nam.
3. Chỉ thị Quân ủy Trung ương gửi chiến trường Trị - Thiên - Huế, tháng 1 năm 1967.
4. Nghị quyết hội nghị Đảng ủy B5, họp tháng 1 năm 1967.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #45 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2024, 07:06:16 pm »


Tất cả lực lượng vũ trang ở phía nam Quân khu 4 được bố trí lại đội hình theo phương án vừa bảo đảm tác chiến tốt ở đường số 9, vừa chống chiến tranh phá hoại có hiệu quả, vừa sẵn sàng đánh thắng địch tiến công bằng bộ binh ra nam Quân khu.

Các trung đoàn thuộc sư đoàn 324 và trung đoàn 31 tác chiến ở đường số 9, sư đoàn 325 cùng với ba trung đoàn pháo binh chủ lực, ba tiểu đoàn, sáu đại đội bộ đội địa phương và 30.000 dân quân, du kích, tự vệ được trang bị mạnh, sẵn sàng đánh bộ binh Mỹ.

Quân khu 4 điều tiểu đoàn 1 pháo binh 130 ly (trung đoàn 164) từ Nam Đàn vào đứng chân ở Vĩnh Linh có nhiệm vụ đánh địch ở phía nam và sẵn sàng chi viện cho Cồn Cỏ.

Quân khu mở lớp tập huấn học tập kinh nghiệm đánh tập trung lớn của chủ lực ở miền Nam. Các đồng chí bí thư tỉnh ủy, huyện ủy, chỉ huy các đơn vị về dự, có thêm những kiến thức về vận dụng chiến thuật, thủ đoạn chiến đấu...

Lực lượng cao xạ quán triệt tư tưởng chỉ đạo: "tích cực tiêu diệt địch, khống chế trọng điểm, hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ giao thông là chủ yếu, coi trọng đúng mức nhiệm vụ bảo vệ các mục tiêu kinh tế quan trọng và dân cư..." đã điểu chỉnh lại việc bố trí trên các hướng trọng điểm:

Cụm trung đoàn 222 bảo vệ đập Đô Lương và đường số 7, đường số 15, đường số 1 ở phía bắc Nghệ An, với các trọng điểm cụm cầu, ba-ra, phà Đô Lương và các cầu Bùng Đao, Yên Lý.

Cụm trung đoàn 282, bảo vệ khu vực Vinh - Bến Thủy và các tuyến giao thông phía nam Nghệ An (trên trục đường số 34, 49, 15, 1) với các trọng điểm Vinh - Bến Thủy, cầu Cấm, Phương Tích, Nam Đàn.

Cụm trung đoàn 284 cơ động đánh địch trên tuyến đường số 1 từ Hà Tĩnh đến bắc Gianh.

Cụm trung đoàn 214, chốt kết hợp cơ động đánh địch ở khu vực "tứ giác" Xuân Sơn - Gianh - Quán Hàu - Long Đại.

Cụm trung đoàn 280 cơ động đánh địch trên tuyến đường số 12, đường số 15 ở tây Quảng Bình và tuyến đường goòng Đò Vàng (Tuyên Hóa).

Cụm trung đoàn 218 hiệp đồng tác chiến với mặt trận Đường số 9 (B5) bảo vệ hậu phương chiến dịch.

Tiểu đoàn 74 và 75 (súng 12,7 ly) tăng cường cho mặt trận Đường số 9.

Trung đoàn 238 tên lửa chuyển hai tiểu đoàn vào phục kích ở Vĩnh Linh - Quảng Bình với quyết tâm bắn rơi B52; hai tiểu đoàn còn lại bố trí ở bắc quân khu.

Hai tiểu đoàn pháo cao xạ 37 ly của quân khu (tiểu đoàn Nguyễn Viết Xuân và tiểu đoàn 12) bố trí ở Nghệ An.

Trên địa bàn Thanh Hóa có trung đoàn 228.

Lực lượng phòng không địa phương gồm có tiểu đoàn 6 Vĩnh Linh, tiểu đoàn 9 Quảng Bình, tiểu đoàn 8 Hà Tĩnh, đại đội 552 Nghệ An cùng với 396 đài trực chiến thường xuyên1 và lực lượng "tay cày, tay súng" và trực chiến không thường xuyên gồm 50.698 súng trường, 1.251 trung liên, 432 đại liên, 444 khẩu 12,7 ly kết hợp thành mạng lưới hỏa lực rộng rãi ở địa phương thực hiện "tìm địch mà đánh" đến nơi xung yếu mà diệt dịch", kết hợp linh hoạt phân tán đánh địch ở nhiều nơi với tập trung đánh lớn khi nhiệm vụ yêu cầu và có thời cơ.

Giữa lúc quân và dân các tỉnh Khu 4 đang khẩn trương tăng cường lực lượng, củng cố thế trận đánh địch, một tin vui đến với mọi người: Đại hội anh hùng chống Mỹ, cứu nước họp tại thủ đô Hà Nội (đầu tháng 1 năm 1967) đã tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho 9 đơn vị và 12 cá nhân thuộc Quân khu 4.

Tiếp theo những thành tích chống chiến tranh phá hoại của Mỹ trong năm 1966, quân và dân Khu 4 bước sang năm 1967 với một khí thế mới. Ngày 1 tháng 1 năm 1967, lực lượng phòng không Quảng Bình bắn rơi một máy bay RF4, trừng trị kịp thời hành động vi phạm thỏa thuận tạm thời ngừng những hoạt động quân sự chống phá miền Bắc của Mỹ. Ngày 2 tháng 1, bộ đội đảo Mê phối hợp với hỏa lực phòng không ở đất liền bắn rơi một máy bay Mỹ khi chiếc máy bay này đang đánh phá làng thuyền ngư dân. Ngày 6 tháng 1, chỉ trong vòng 45 phút, lực lượng phòng không Thanh Hóa hạ hai máy bay. Cùng ngày, đại đội 552 Nghệ An hạ một A4. Đơn vị bộ đội địa phương huyện Diễn Châu vừa mới thành lập đã bắn rơi một máy bay địch vào đánh phá ban đêm.

Những ngày giáp tết cổ truyền, lực lượng phòng không Quảng Bình vẫn bám sát trận địa, đánh trả các đợt oanh tạc của không quân địch, hạ tại chỗ bốn máy bay (cả trinh sát, cường kích và lên thẳng). Bằng diều vải, quân và dân Vĩnh Linh đã hạ một chiếc A6A của Mỹ vào lúc 19 giờ ngày 10 tháng 3 năm 1967.

Ngoài hoạt động đường không, Mỹ còn cho máy bay AD5, AD6 của hải quân tăng cường các hoạt động chỉ điểm cho pháo hạm tàu bắn phá đường giao thông và các làng xóm ven biển Khu 4. Với hoạt động này, địch gây cho ta nhiều khó khăn, lúng túng. Sau nhiều lần rút kinh nghiệm, cụm pháo trung đoàn 214 đã tìm được cách đánh hiệu quả, bằng 95 viên đạn 37 ly diệt gọn cả tốp máy bay loại này. Từ đó trở đi, máy bay AD5, AD6 không dám đi sâu vào đất liền chỉ điểm cho pháo của hải quân Mỹ.
______________________________________________
1. Trong đó có 106 đội trang bị súng 12,7 ly, 90 đội trang bị đại liên, 11 đội nữ dân quân, 2 đội lão quân.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #46 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2024, 07:08:32 pm »


Tháng 5 năm 1967, Mỹ thực hiện "quyết tâm tăng cường sức ép đối với Hà Nội". Cả miền Bắc phối hợp chặt chẽ với Hà Nội, Hải Phòng, bắn rơi 160 máy bay. Nhiều địa phương ở Khu 4 lập công lớn: Thanh Hóa hạ 11 chiếc, Vĩnh Linh 15 chiếc, Quảng Bình 14 chiếc. Đặc biệt, ngày 18 tháng 5, tiểu đoàn 14 hạ hai chiếc; ngày 19 tháng 5, trận đầu ra quân trung đoàn 238 tên lửa diệt một tốp hai F4 ở Vĩnh Linh.

Trên vùng rừng núi Quan Hóa (Thanh Hóa), dân quân xã Phú Lễ sau nhiều ngày công phu nghiên cứu đã bắc bảy lần cầu, 10 lần thang, đưa súng lên đỉnh lèn Pa U Hò, kiên trì phục kích và bắn rơi một F105 “thần sấm”, đưa lại niềm tin lớn cho nhân dân địa phương.

Đêm ngày 6 tháng 7, trung đoàn 238 diệt gọn một tốp hai F105. Vào lúc 15 giờ ngày 16 tháng 7, trung đội dân quân gái xã Hoa Lộc (Thanh Hóa) do đồng chí Nguyễn Thị Mợi chỉ huy, bắn rơi một AD6 ở Kênh De. Đây là trung đội nữ dân quân đầu tiên trên miền Bắc bắn rơi máy bay Mỹ. Được tin này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư khen trung đội và tặng mỗi một đồng chí một huy hiệu của Người.

Ngày 7 tháng 8 năm 1967, đại đội 10, tiểu đoàn 2 trung đoàn 214 độc lập chiến đấu, hạ một F4 tại Long Đại. Đêm 23 tháng 8, đại đội 10 lại liên tiếp đánh trả quyết liệt ba trận đánh phá của máy bay AD6, F4, F105, bắn rơi tại chỗ một F4, bảo vệ an toàn cho các đoàn xe kéo pháo vào mặt trận Đường số 9.

Liên tiếp trong hai ngày 2 và 3 tháng 3 năm 1967, tại Tuyên Hóa, trung đoàn 280 bắn rơi năm máy bay Mỹ.

Suốt những tháng mùa hè 1967, cứ chiều tối và đêm đêm, ở nhiều vùng dân cư ở Quảng Bình, sáng rực lửa của bom cháy, bom lân tinh. Vùng đồng bằng Vĩnh Linh và phía bên kia đường số 9 máy bay B52 rải bom kéo dài từng vệt hàng nghìn mét. Nhân dân Quảng Bình và Vĩnh Linh khắc phục mọi khó khăn, cùng bộ đội xây dựng trận địa đưa tên lửa vào đánh máy bay địch. Để bảo đảm bí mặt trận địa tên lửa, chống những cuộc săn tìm của máy bay tuần thám, trinh sát, nhân dân đã cùng bộ đội đào hàng loạt cây to, đưa đến trồng trên các vệt đường xe qua, trồng quanh các trận địa. Những ngày mưa tầm tã, bộ đội và nhân dân luân phiên tát nước chống ngập, chống lún cho trang bị, khí tài.

Vào lúc 20 giờ 28 phút ngày 13 tháng 9, trung đoàn 214 trên đường di chuyển trận địa phục kích địch, đã chiến đấu ngoài công sự, bắn rơi tại chỗ một chiếc B57. Từ đó, địch buộc phải hạn chế thủ đoạn dùng máy bay B57 rải bom cháy, bom lân tinh.

Sau một thời gian chuẩn bị những yếu tố cần thiết để đánh B52, chiều ngày 17 tháng 9, tại Vĩnh Linh, trung đoàn 238 tên lửa đã tổ chức trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao: trong vòng 30 phút, trung đoàn đã bắn rơi hai máy bay B52. Đây là những chiếc B52 đầu tiên của Mỹ bị bắn rơi trên chiến trường Việt Nam và là hai chiếc máy bay thứ 999 và 1.000 bị bắn rơi ở Quân khu 4. Thần tượng "siêu pháo đài bay" của Mỹ bị sụp đổ.

Ngày 19 tháng 9, Bộ Tổng tư lệnh gửi điện khen các đơn vị và nhân dân cán bộ, chiến sĩ Vĩnh Linh đánh thắng B52. Tiếp đó, ngày 20 tháng 9, Bác Hồ đã gửi thư khen quân và dân Vĩnh Linh. Bác viết: "... Vĩnh Linh thật xứng đáng là tiền tuyến anh hùng của miền Bắc xã hội chủ nghĩa…”.

Sau chiến thắng có ý nghĩa quan trọng này, trung đoàn 238 vinh dự được Nhà nước, Quốc hội tặng thưởng Huân chương Quân công hạng hai.

12 giờ ngày 14 tháng 10 năm 1967, đội lão dân quân xã Hoằng Trường, Hoằng Hóa (Thanh Hóa) bắn rơi một A4. Mười ngày sau, các lão dân quân Hoằng Trường lại lập công mới, hạ một AD6 trên vùng trời cửa biển quê nhà ghi công đầu trong đội ngũ các lão quân miền Bắc bắn rơi máy bay Mỹ.

Ngay sau chiến công này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư khen các lão dân quân Hoằng Trường: "Tuổi già, chí không già" và tặng mỗi cụ một huy hiệu của Người.

Ngày 4 tháng 11, Hồ Chủ tịch gửi thư khen quân và dân Nghệ An, nhân chiến công bắn rơi tròn 400 máy bay giặc Mỹ. Tiếp đó, ngày 6 tháng 11, Bác khen và tặng huy hiệu của Người cho các chiến sĩ dân quân gái xã Võ Ninh (Quảng Bình) về thành tích hạ tại chỗ một máy bay.

Chiến trường ngày càng đánh lớn; việc bảo đảm nhu cầu cho chiến trường miền Nam, Lào và mặt trận Đường số 9 ngày càng tăng. Khối lượng vận chuyển tăng gấp đôi năm 1965, trong khi cường độ oanh tạc của địch trở nên dữ dội ác liệt. So với năm 1965, chỉ riêng số bom nổ chậm của địch ném xuống đường sá, cầu, phà ở Khu 4 năm 1966 tăng bốn lần và năm 1967 tăng 18 lần. Ngoài các loại bom đạn thường dùng, lần đầu tiên trên địa bàn Khu 4, địch sử dụng bom TN, tập trung vào khu vực Quảng Bình. Các đoạn đường hiểm yếu phía tây, các bến vượt, các phương tiện vượt sông và vận tải, các chân hàng và hệ thống cầu cống trên dải đất Khu 4 chật hẹp, là mục tiêu đánh phá liên tục của không quân Mỹ. Cứ mỗi tuần trăng, trước mỗi đợt ngừng bắn, trước mùa mưa, đợt mưa, địch tập trung đánh hỏng đường sá, cầu, ngầm, gây nhiều khó khăn cho ta trong khắc phục hậu quả và tổ chức vận chuyển. Hạm đội 7 của địch tăng cường oanh kích các bến vượt gần biển như Hoàng Mai, Bến Thủy, Gianh...

Khu vực nam-bắc sông Bến Hải và quanh tuyến phòng ngự đường số 9, máy bay trinh sát chiến thuật thường xuyên hoạt động; kết hợp với pháo sáng của không quân, máy dò tiếng động và các đài quan sát, các toán do thám, biệt kích phát hiện, chỉ điểm cho máy bay cường kích và pháo tàu biển, pháo bờ nam đánh phá. Các loại máy bay RF101, RF4C được huy động trinh sát chiến dịch, ít nhất từ 8 đến 10 chiếc một ngày, chuẩn bị cho những đợt đánh phá tập trung. Có lúc chúng dùng 16 chiếc cùng trinh sát trên một khu vực. Ngày đêm, bầu trời và mặt đất nơi đây rung chuyển bởi tiếng máy bay rú rít, tiếng nổ các loại bom đạn địch. Chỉ riêng từ tháng 6 năm 1966 đến hết năm 1967, địch đánh Vĩnh Linh 255.889 quả bom, 298.611 quả đạn đại bác.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #47 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2024, 07:10:06 pm »


Giao thông vận tải trên địa bàn Khu 4 trở thành mặt trận nóng bỏng, đẩy gian khổ, hy sinh. Trước tình hình đó, từ tháng 12 năm 1966, Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương giao cho Quân khu 4 chỉ huy thống nhất các lực lượng bảo đảm giao thông vận tải trên các tuyến đường chiến lược số 1, 7, 8, 12, 15 thuộc địa bàn quân khu. Cơ quan bảo đảm giao thông được củng cố từ tỉnh đến xã, cơ quan quân sự tỉnh, huyện và các ty, phòng giao thông làm tham mưu cho cấp ủy. Các địa phương phát triển thêm lực lượng bảo đảm giao thông tại chỗ, lấy lực lượng giao thông - công binh làm chủ lực, thanh niên xung phong làm nòng cốt, kết hợp giữa làm giao thông thường xuyên với tổ chức các chiến dịch. Nhân dân các địa phương đã cùng lực lượng bảo đảm giao thông mở 619 ki-lô-mét đường vòng, chuẩn bị 1.319.859 mét khối đất, 152.384 mét khối đá dự trữ. Lực lượng giao thông của Bộ Giao thông vận tải và các tỉnh tập trung xây dựng nhanh 462 ki-lô-mét đường mới trên các tuyến đường số 20, 21, 22A, 22B, và 15; làm 1.000 cầu gỗ, 1.515 mét cầu phao, 88 phà. Các cầu bị hỏng có cầu thấp, cầu dự bị; nơi nước cạn thì làm ngầm. Mỗi điểm vượt sông đều có từ ba đến bốn bến, mỗi vùng trọng điểm địch đánh phá, có hai tới ba đường vòng tránh. Nhân dân đóng góp hơn một triệu ngày công san lấp hố bom, sữa chữa đường sá, làm đường giao liên, đường vòng tránh và các thiết bị báo hiệu, trồng cây ngụy trang cầu cống, bến vượt; làm cầu giả, phà giả, nghi binh lừa địch. Thanh Hóa đã mở thêm và sửa chữa 200 ki-lô-mét trên tuyến đường chiến lược, 784 ki-lô-mét đường huyện, hơn 1.500 ki-lô-mét đường thôn xã, làm mới 2.115 mét cầu phao bằng luồng, 21 phà loại 18 tấn. Tỉnh Hà Tĩnh làm mới và sửa chữa 122 lượt cầu gỗ, làm thêm tám ki-lô-mét đường ray, 103 ki-lô-mét đường dây thông tin phục vụ bảo đảm giao thông. Tỉnh Nghệ An nạo vét 29 ki-lô-mét kênh nhà Lê...

Về lực lượng vận tải, Quân khu 4 tổ chức thêm ba binh trạm mới, hình thành hệ thống binh trạm bố trí trên sáu điểm: Vinh, Chu Lễ, Cẩm Xuyên, Gianh, Long Đại và Trường Thủy - Thái Thủy. Hình thức tổ chức tiểu đoàn ô-tô chạy suốt không còn phù hợp trước sức đánh phá ác liệt của địch và tình trạng cầu đường bị phá hỏng liên tục. 158 xe ô-tô được tổ chức theo đại đội, giao hẳn cho từng binh trạm. Cuối năm 1966, địch phong tỏa đường biển. Phương tiện vận chuyển trên sông, biển thường xuyên bị không quân địch chặn đánh. Quân khu tổ chức bốn đại đội thuyền (361 tấn, có thuyền 7 tấn đi biển). Binh trạm 1 (Vinh) và binh trạm 5 (Gianh) được tăng cường xà lan và ca-nô kéo thuyền, bảo đảm chuyển tải qua sông khớp nối thủy-bộ. Cách tổ chức phân các cung đường thành từng tuyến nhỏ thuận lợi cho việc chỉ huy, giúp cho người lái thạo thuộc đường sá, địa hình, nắm chắc quy luật hoạt động của không quân địch để xử lý kịp thời và hiệu quả các tình huống; tuy rằng sự vận chuyển qua nhiều cung, trạm có hao hụt hàng hóa.

Cùng với mạng lưới vận chuyển do Bộ và quân khu đảm nhận, các tỉnh đội, sư đoàn 341, trung đoàn 270, 271, được chính quyền và nhân dân địa phương giúp đỡ, đã tự đảm nhận 40 đến 60 phần trăm tổng khối lượng vận chuyển của đơn vị. Việc tiếp tế cho bộ đội các đảo lúc này đều dựa vào phương tiện của địa phương, của nhân dân.

Hòng ngăn chặn có hiệu quả khả năng vận chuyển của ta, địch đưa vào sử dụng bom TN. Chúng đánh vào ban đêm, ném lẫn bom nổ ngay với bom TN gây cho ta những thiệt hại bất ngờ, tạo nên nhiều tình huống khó khăn, phức tạp, nguy hiểm trong phát hiện, rà phá. Trước tình hình đó, ta đã tổ chức các đội nghiên cứu, các đội rà phá chuyên nghiệp, bố trí ở các trọng điểm sông Gianh, Nhật Lệ, cửa Hội, Bến Thủy, Lạch Trường, Hàm Rồng. Đồng chí Lương Văn Ới cùng các cán bộ công binh Quân khu 4 đi vào bãi bom địch nghiên cứu cấu tạo, nguyên lý gây nổ của bom TN, tổng kết thành tài liệu huấn luyện phổ biến rộng rãi. Bên cạnh 600 đội dân quân - công binh gồm 3.578 người ở Nghệ An, Hà Tĩnh, 132 đội quân xung kích ở Quảng Bình, các huyện trọng điểm trong quân khu đều tổ chức đại đội chủ lực bảo đảm giao thông. 273 đội rà phá bom TN bằng các dụng cụ thô sơ được tổ chức huấn luyện và đưa vào hoạt động. Cán bộ, chiến sĩ ở 140 đài quan sát cắm tiêu bom TN và bom nổ chậm, được bố trí ở các trọng điểm đánh phá của địch, thực sự là những con người gan vàng, dạ thép. Lúc địch ném bom, đánh phá, họ có mặt tại vị trí, quan sát từng đoạn đường, từng khúc sông, đánh dấu điểm bom rơi, quả nào đã nổ, quả nào chưa nổ. Vừa im tiếng máy bay, các chiến sĩ tháo gỡ bom nổ chậm, rà phá bom TN nhanh chóng bò vào giữa "túi bom", làm nhiệm vụ. Họ lái ca-nô lướt nhanh qua bãi bom để mở đường cho phà, thuyền vượt bến an toàn. Họ lặn xuống đáy sông sâu, tìm cách phát hiện, tháo gỡ các loại đầu nổ địch cải tiến đến lần thứ tư, thứ năm; phục vụ cho công tác nghiên cứu. Nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh. Có đồng chí nhiều lần bị bom nổ hất tung lên cao, rơi xuống giữa bùn nước, vừa hồi phục lại tiếp tục làm nhiệm vụ. Chiếc ca-nô "Bất khuất" của tiểu đoàn 27 công binh đầy thương tích và các đồng chí Nguyễn Tấn Kiêng, Võ Xuân Nở, Hà Huy Ty, Trần Ngọc Mật, Nguyễn Thị Hồng, Cao Viết Danh, Lê Đăng Tới, Nguyễn Văn Nhỏ, Nguyễn Đắc Điềm đã vô hiệu hóa hàng nghìn quả bom nổ chậm. Trụ bám trên đoạn đường đèo Lý Hòa, từng phút, từng giờ, đầy thử thách nguy hiểm; trên trời là máy bay địch, ngoài biển là pháo hạm tàu, dưới chân là bom chờ nổ, trung đội nữ dân quân công binh do Võ Thị Đởn chỉ huy, dù trong điều kiện sống chết chỉ tấc gang; có thể người còn, kẻ mất, vẫn không rời trận địa. Họ đã làm lễ "truy điệu sống" thề "thà hy sinh chứ không bao giờ chùn bước", cả trung đội đã bám chắc, trụ vững đoạn đường này suốt thời gian địch đánh phá ác liệt, bảo đảm mạch máu giao thông. Anh thương binh chống Pháp, Nguyễn Xuân Hoàng ở Kỳ Trinh tuy bị cụt một chân, nhưng dù đêm hay ngày, hễ địch đánh phá đường qua xã, là anh có mặt nghiên cứu đề xuất phương án huy động lực lượng cứu chữa kịp thời.

Bằng sự nỗ lực lớn, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã phá được thế độc tuyến, đơn luồng. Lợi dụng lúc địch tập trung đánh ở trọng điểm này ta mở chiến dịch vận tải ở chỗ khác. Trong các đợt không quân Mỹ ngừng hoạt động, lực lượng giao thông vận tải tranh thủ mở các chiến dịch vận chuyển, tạo chân hàng dự trữ, tạo nguồn hàng liên tục. Trên địa bàn từ Vĩnh Linh vào đường số 9, địch đánh phá ác liệt, đường ô-tô chưa phát triển được, hơn 500 dân công vận chuyển bộ, cùng với các đại đội "gùi cõng" của mặt trận khắc phục gian khổ, tạo nhiều bến vượt, nhiều đường vòng, thực hiện "khi vào tải gạo, đạn, khi ra tải thương". Ở phía đông khu vực Vĩnh Linh, những tuyến đường giao thông trong hầm hào liên hoàn được xây dựng. Thương binh từ mặt trận đưa ra có cung, trạm dừng chân để chăm sóc, cấp cứu an toàn.

Hàng vào Quảng Bình trong năm 1967 gấp 2,67 lần so với năm 1965 và 19 lần năm 1966. Kế hoạch vận chuyển cho mặt trận đường số 9 đạt 360 phần trăm, vận chuyển cho Trung - Hạ Lào đạt 134 phần trăm. Khối lượng hàng vận chuyển bằng đường sắt vào Nghệ An năm 1967 tăng 31 phần trăm so với năm 1965, chiếm 53 phần trăm tổng khối lượng vận chuyển. Khối lượng vận chuyển đường sông, đường biển tăng: Quảng Bình tăng 322 lần so với năm 1966, chiếm 14 phần trăm tổng khối lượng vận chuyển; Nghệ An tăng 147 lần... Cùng với việc vận chuyển bằng cơ giới, trong hai năm 1966-1967, vận tải thô sơ đóng góp một phần quan trọng (419.358 tấn, 3.712.845 tấn ki-lô-mét), vận tải hợp tác xã 307.171 tấn, 31.622.323 tấn ki-lô-mét.

Trong 43 ngày của ba chiến dịch vận chuyển (tranh thủ địch ngừng bắn nhân dịp lễ Nô-en, ngày Tết dương lịch và Tết âm lịch), Nghệ An chở được 36.780 tấn (đạt 111 phần trăm kế hoạch chiến dịch và đạt 23 phần trăm kế hoạch vận chuyển của cả năm 1967); Quảng Bình chở 25.400 tấn (đạt 32 phần trăm kế hoạch năm 1967); Vĩnh Linh 2.470 tấn (đạt 123 phần trăm kế hoạch chiến dịch).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #48 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2024, 07:14:06 pm »


Được hậu phương chi viện sức người, sức của, cán bộ chiến sĩ mặt trận Đường số 9 và chiến trường Trị - Thiên - Huế đẩy mạnh tiến công quân địch cả về quân sự, chính trị và binh vận. Đêm 14 rạng 15 tháng 1, dân quân, du kích và bộ đội địa phương tiến công bọn "bình định'' ở Triệu Đại, Triệu Thượng, Triệu Phước, bắn phá dữ dội nơi trú quân của Mỹ ở Cửa Việt. Ở phía tây Đông Hà, ta loại khỏi vòng chiến đấu một trung đội lính thủy đánh bộ Mỹ, bắn rơi liền ba chiếc máy bay lên thẳng cỡ lớn (hai CH46 và một UH34) đến cứu đồng bọn.

Ngày 4 tháng 2, đại đội 1 và 2 trung đoàn 6 đánh vào thị trấn chợ Sịa - hang ổ của bọn ác ôn, mật vụ Đại Việt, Quốc dân đảng xây dựng từ hơn 20 năm. Sáng hôm sau, đơn vị tiếp tục đánh bọn đến giải tỏa. Trong trận này, ta diệt 468 tên địch, bắn hỏng ba xe bọc thép M113. Vào dịp Tết Đinh Mùi (1967), ta mở đợt tiến công chính trị vào Gio Linh, Cam Lộ, tuyên truyền chính sách mặt trận, vận động gia đình lính ngụy, kết hợp diệt ác ôn.

Các cán bộ chính trị và lực lượng vũ trang luồn sâu vào vùng đường số 4, Triệu Phong, Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy, Phong Điền, Quảng Điền chiếm lĩnh địa bàn vùng đồng bằng, đánh địch, phát động chiến tranh du kích. Ngày 11 tháng 3, sau 15 phút tiến công, bộ đội địa phương tỉnh, huyện và du kích Phú Vang diệt gọn một đại đội địch, làm chủ chi khu quân sự Phú Thứ (đông nam Huế 15 ki-lô-mét), đánh thiệt hại nặng bốn trung đội bảo an, dân vệ ở Hòa Đa Tây. Sở chỉ huy trung đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ ở Phú Bài bị pháo kích mạnh. Ngày 12 tháng 3, ta chặn đánh đẩy lùi hai cuộc hành quân cứu viện của địch ở Hòa Đa, bắn cháy hai máy bay và năm xe bọc thép. Đòn tiến công này gây hoang mang trong hàng ngũ địch. Ngày 19 tháng 3, cả đại đội ngụy ở trại huấn luyện Đống Đa, Phú Bài bỏ ngũ. Đêm 24 tháng 3, tiểu đoàn 1 trung đoàn 6 tiến công diệt gọn một đại đội ngụy ở Quế Chi - Phú Ó. Ngày 1 tháng 4, ta xóa sổ một đại đội chốt ở An Đô Hạ.

Trong khi đó, ở Hồ Khê, Tân Kim, trung đoàn 2 sư đoàn 324 dùng một lực lượng nhỏ nổ súng nhử địch. Ngày 27 tháng 2 năm 1967, một đại đội Mỹ từ Đá Bạc, có sáu xe tăng yểm hộ nống ra thăm dò. Ta dùng tiểu đội trinh sát đánh trong sáu giờ liền, gây cho địch thiệt hại lớn. Tối đến, địch co cụm lại, đại đội 3 tiểu đoàn 4 tập kích vào đội hình địch, diệt gọn sáu xe tăng và xóa sổ toàn bộ đại đội này và tiếp tục phục kích đón đánh bọn đến ứng cứu.

11 giờ ngày 28 tháng 2, một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ và 15 xe tăng kéo ra Tân Kim. Đại đội 2 do Trần Xuân Đồng chỉ huy vượt hai ki-lô-mét đường rừng, đánh thắng vào sở chỉ huy tiểu đoàn địch. Bị thất bại bước đầu, địch cho máy bay đánh phá trận địa của ta. Cuộc chiến đấu kéo dài đến chiều tối. Ta đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ.

Trận đánh "châm ngòi" ngày 28 tháng 2, thu hút thêm hai tiểu đoàn Mỹ vào cuộc. Suốt hai ngày 1 và 2 tháng 3, máy bay, đại bác địch dồn dập dội bom đạn xuống Tân Kim - Hồ Khê.

Tiểu đoàn bám riết địch, không để lâm vào thế phân tuyến, liên tục phục kích, tập kích các cụm quân Mỹ, bắn cháy ba máy bay, bảy xe tăng, loại khỏi vòng chiến đấu một đại đội địch. Lần đầu tiên ở chiến trường đường số 9 và Trị - Thiên, một tiểu đoàn chủ lực ta, kết hợp nhiều hình thức tác chiến, bám trụ liên tục nhiều ngày trên địa hình đồi núi với nhiều tiểu đoàn Mỹ, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn Mỹ. Thương vong ta giảm rất nhiều so với khi mở mặt trận Đường số 9.

Chiến sự đang diễn ra ác liệt ở Tân Kim - Hồ Khê, thì pháo binh ta liên tục đánh vào các vị trí đóng quân của Mỹ ở các điểm cao 137, 160, 196, Cồn Tiên, Dốc Miếu. Riêng Dốc Miếu trong hai đêm 26 và 29 tháng 2, ta đã bắn hàng trăm quả đạn pháo.

Phía khu vực suối La La, trong lúc trung đoàn 84B đang tập kết đạn dược chuẩn bị cho đợt tập kích của pháo DKB vào căn cứ pháo binh 241 của địch1, thì Mỹ đổ quân xuống quanh khu vực ta bố trí trận địa. Các trận địa được lệnh phải giữ bí mật và bảo đảm an toàn lực lượng cho trận ra quân đầu tiên của loại hỏa lực mới ở mặt trận Đường số 9. Khi địch càn, tiểu đội Bùi Ngọc Đủ sử dụng mọi loại vũ khí bộ binh có trong tay (lựu đạn, súng trường, tiểu liên, thủ pháo) chặn địch lại, không cho chúng sục vào nơi cất giấu đạn dược. Sau 15 đợt chiến đấu với 200 tên địch, 10 anh em trong tiểu đội diệt 41 tên, thu 9 súng, cả 10 đồng chí đều được tăng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”. Nêu gương tiểu đội Bùi Ngọc Đủ, mặt trận Đường số 9 phát động phong trào học tập tiểu đội "một thắng 20" của anh.

Do tình huống đột xuất trên, ý định tập kích hỏa tiễn vào căn cứ 241 phải tạm lùi lại. Sau sáu ngày chịu đói và bom đạn ác liệt, vào lúc 0 giờ 4 phút ngày 7 tháng 3, bộ đội ta bắt đấu trận đánh, hỏa tiễn DKB, H6 và các loại đạn cối 82 ly, 120 ly dồn dập đánh trúng các mục tiêu trong căn cứ. Lửa khói ngút trời, các kho đạn trong căn cứ nổ suốt hai ngày liền. Hơn 1.000 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, 21 khẩu pháo và 35 xe bị đánh hỏng.

Cùng đêm, pháo binh ta tập kích trận địa pháo địch ở Gio Linh, phá hủy bốn đại bác, diệt nhiều địch.

Liên tiếp từ ngày 1 đến ngày 4 tháng 3, pháo ta đánh vào Cồn Tiên, các điểm cao 137, 182 bắc Tân Kim. Ngày 5 tháng 3, một tiểu đoàn địch càn ra Trung An (bắc Cam Lộ 10 ki-lô-mét) bị trung đoàn 2 chặn đánh. Du kích Cam Lộ bám sát một đơn vị trính sát vũ trang của địch diệt 30 tên. Cùng ngày, đại đội Mỹ sục sạo ra tây Dốc Miếu, bị đánh thiệt hại nặng hai trung đội. Ở tây bắc Đông Hà 10 ki-lô-mét, ta tập kích diệt sáu xe tăng và 130 tên địch. Một cánh quân địch từ Nam Đông đi Cam Lộ bị ta chặn đánh, diệt 70 tên. Ở hướng Tà Cơn (nghi binh) ta tập kích sân bay, bắn cháy năm máy bay lên thẳng, kho xăng và nhiều xe quân sự. Ngày 3 tháng 3, lính Mỹ và biệt kích ngụy nống ra càn xung quanh Tà Cơn bị chặn đánh, tổn thất lớn và phải bỏ chạy.
______________________________________________
1. Trên diện tích 12.000 mét vuông này, Mỹ tập trung bảy pháo đội gồm 40 khẩu pháo lớn, một sân bay lên thẳng, nhiều kho tàng và nhà cửa cho hai tiểu đoàn Mỹ đóng quân. Từ căn cứ này, pháo địch bắn sang bờ bắc Bến Hải, bắn tới nam Lệ Thủy (Quảng Bình) và yểm trợ rất đắc lực cho bộ binh chúng từ Cửa Việt lên Sa Mưu, Cà Lu, tây đường số 9.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #49 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2024, 07:17:07 pm »


Từ ngày 10 đến 14 tháng 3 năm 1967, đại bác tầm xa của Mỹ - ngụy từ bờ nam sông Bến Hải lại bắn ra miền Bắc. Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh ra lệnh cho Quân khu 4 và mặt trận Đường số 9 tổ chức trận tập kích pháo binh quy mô lớn vào căn cứ Dốc Miếu. Quân khu 4 sử dụng tiểu đoàn 1 ca-nông 100, tiểu đoàn lựu pháo 105 thuộc trung đoàn pháo binh 164, đại đội cối 82 trung đoàn 270 Vĩnh Linh tham gia trận tập kích này. Trận địa giả nghi binh thu hút hỏa lực địch được giao cho 16 nam nữ dân quân xã Vĩnh Sơn đảm nhận. Được sự giúp đỡ của nhân dân xóm Bàu, hợp tác xã Thủy Ba đem gỗ ván chống lầy, ty giao thông Vĩnh Linh đem máy húc kéo pháo..., các đơn vị chiếm lĩnh trận địa đúng thời gian.

Trước khi vào trận, Bác Hồ gửi điện căn dặn cán bộ và chiến sĩ các đơn vị tham gia trận đánh: "Các chú đại diện cho lực lượng pháo binh miền Bắc xã hội chủ nghĩa đánh trả hành động leo thang phá hoại của pháo binh địch ở bờ nam. Vì vậy trận đầu các chú phải đánh thắng".

Chiều 20 tháng 3, trước giờ nổ súng, đài quan sát báo về: địch dùng 149 lần chiếc máy bay lên thẳng đổ quân xuống Dốc Miếu và đưa thêm năm khẩu pháo lớn chuẩn bị cho cuộc càn Đếch-hao.

18 giờ 16 phút, dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng Nguyễn Cư và chính ủy Phạm Công Mạc, trận đánh bắt đầu. Pháo ta phát hỏa đồng loạt. Căn cứ Dốc Miếu chìm trong lửa khói. Bị bất ngờ, địch hoàn toàn rối loạn. Đến 1 giờ 30 phút sáng, đại đội cối 82 trung đoàn 270 áp sát căn cứ, bắn tiếp 350 quả đạn, lửa đạn càng bốc cao thêm. Mờ sáng ngày 21 tháng 3, đài quan sát báo địch cho xe vận tải đến ứng cứu, pháo ta được lệnh bắn tiếp, diệt thêm 25 xe.

Với 480 viên lựu pháo 105, 739 viên đạn pháo 100, 350 viên đạn cối 82, ta đã phá hủy 17 khẩu pháo, 57 xe, 5 máy bay lên thẳng, bắn cháy một kho xăng, một kho đạn, diệt hàng nghìn tên địch. Nhiều hầm ngầm công sự địch bị phá nát. Ta đập tan cuộc càn của địch ngay từ đầu.

Giữa lúc địch đang bối rối, ngay đêm 20 tháng 3, hơn hai trăm cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 4 trung đoàn 84 được đơn vị bạn giúp súc, đã cấp tốc vượt sông Bến Hải, đưa 78 ống phóng và 258 quả đạn hỏa tiễn A12, băng qua chặng đường 20 ki-lô-mét vào tập kết đặt pháo ở bãi cát Cường Gián.

2 giờ ngày 21 tháng 3, những vệt lửa kéo dài kèm theo những tiếng rú khủng khiếp bất thần chụp xuống đầu lính Mỹ ở Đông Hà, gây nên những đám cháy lớn. Cùng đêm, pháo binh ta đánh mạnh vào Tân Lâm, Cam Lộ, Cồn Tiên, Cửa Việt, kìm chế pháo địch, không để chúng chi viện cho Dốc Miếu.

Đêm 20 rạng ngày 21 tháng 3, nhân dân Vĩnh Linh trèo lên các cây cao, điểm cao, trông về phía đồn địch bị trúng đạn, reo hò vang dậy. Sau trận này, biệt đoàn cảnh sát 333 ngụy có 540 tên gần như tan rã hoàn toàn.

Cùng với chiến thắng vang dội ở Cồn Tiên, Dốc Miếu, Cam Lộ, mười ngày cuối tháng 3 năm 1967, những trận đánh địch liên tiếp diễn ra ở Long Sơn, Xuân Hải, Hảo Sơn, An Định, Tân Văn, Khe Sanh, đường 75, 76. Ta đập tan cuộc càn Bô-cô-him. 1.689 tên địch, bốn máy bay lên thẳng, ba xe bọc thép bị loại khỏi vòng chiến đấu. Trung đoàn 18 do trung đoàn trưởng Ma Vĩnh Lan và chủ nhiệm chính trị Lê Thế Diễn phụ trách vào thay phiên hoạt động ở Gio Linh, Cam Lộ, liên tiếp đánh địch, bẻ gãy các cuộc hành quân Pre-ri, Lam Sơn 253, diệt gần 1.000 tên địch ở Hồ Khê, Trung An, Đá Bạc và các điểm cao 161, 162, 183...

Đêm 31 tháng 3 năm 1967, hai chiến sĩ đặc công hải quân (đội 1A) Đỗ Văn Khắc và Nguyễn Văn Kiểm, vượt qua tuyến bảo vệ của địch, lọt vào càng Cửa Việt, đánh chìm chiếc tàu cuốc 70 tấn của quân Nam Triều Tiên.

Đợt 1 hoạt động lớn của mặt trận Đường số 9 kết thúc ngày 31 tháng 3 năm 1967.

Theo kế hoạch, từ tháng 4 năm 1967, chiến trường đường số 9 – Trị - Thiên bước vào đợt 2.

Khu ủy và Quân khu Trị - Thiên chủ trương trong đợt này tập trung lực lượng đánh mạnh ở đồng bằng, tiêu diệt địch, củng cố và mở rộng vùng giải phóng, đánh bại kế hoạch "bình định", đưa chiến tranh vào vùng sau lưng địch, tập dượt bộ đội tiếp cận chiến trường thành phố.

Đêm 5 tháng 4 năm 1967, trung đoàn 6 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương và đặc công đồng loạt tiến công vào 11 mục tiêu trên tuyến dài 40 ki-lô-mét, trong đó có các căn cứ lớn: Từ Hạ, La Vang, thị xã Quảng Trị, trường huấn luyện Long Thọ.

Từ Hạ là một căn cứ quân sự lớn. Sở chỉ huy trung đoàn 3 sư đoàn 1 ngụy đặt tại đây. Quân địch có một tiểu đoàn bộ binh, một đại đội công binh, các đại đội thông tin, quân y, vận tải, hai đại đội pháo binh 105 ly và 175 ly, một chi đoàn xe bọc thép và hơn 100 xe quân sự. Xung quanh căn cứ có chiến hào sâu hai mét, rộng sáu mét và hệ thống lô cốt kiên cố. Hỏa lực của địch bố trí thành lưới lửa dày đặc bắn chéo, hỗ trợ cho nhau. Bên trong chiến hào là ba lớp rào kẽm gai và các bãi mìn. Thường xuyên có từ một đến hai đại đội bảo vệ vòng ngoài.

Đúng 23 giờ ngày 5 tháng 4, sau hiệu lệnh phát hỏa, đặc công ta đánh sập các lô cốt vòng ngoài. Quân ta nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu. Mặc dù tổ chức chống cự quyết liệt, nhưng do đội hình đã bị băm nát, ý chí đề kháng của địch nhanh chóng bị suy giảm. Sau một giờ chiến đấu, sở chỉ huy trang đoàn 3, năm đại đội bộ binh, hai đại đội pháo, sáu trung đội binh chủng phục vụ, một chi đoàn thiết giáp, 12 khẩu pháo, hơn 100 xe bị tiêu diệt và gần 1.000 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Tên trung đoàn trưởng địch bị diệt tại trận.

Ở La Vang, đội 10 đặc công phối hợp với tiểu đoàn 14 tiến công tiêu diệt căn cứ trung đoàn bộ trung đoàn 1 ngụy.

Bằng lối đánh bất ngờ, táo bạo và dũng mãnh, các chiến sĩ đặc công ta tiêu biểu như Phan Thanh Chung, Nguyễn Chí Phi cùng đồng đội nhanh chóng đánh sập nhiều lô cốt, chiếm các mục tiêu, phá hủy hai kho xăng, đốt cháy hơn 10 nghìn lít xăng, nhiều xe cơ giới, pháo lớn và ba máy bay L19, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch.

Cùng lúc đó, ba tổ đặc công của đội 10 cùng với tiểu đoàn 14 vượt sông Thạch Hãn, tiến công bọn địch ở thị xã Quảng Trị. Đặc công đánh thẳng vào nơi ở cố vấn Mỹ. Tiểu đoàn 14 chia làm hai mũi đánh vào cửa Hậu, và theo bờ sông đánh vào cửa Hữu, tiêu diệt và bắt nhiều địch, phá hủy, phá hỏng 15 xe quân sự, phá cửa nhà lao, giải thoát 260 tù chính trị.

Đây là lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam, ta tổ chức đánh lớn vào một thị xã.

Sau loạt trận tiến công nói trên, hệ thống phòng ngự của địch dọc đường số 1 phía bắc Huế bị uy hiếp mạnh. Được đòn quân sự hỗ trợ, trong vòng năm tháng, nhân dân vùng đồng bằng Trị - Thiên nổi dậy diệt tề điệp, ác ôn, giải phóng 100 xã, làm chủ 21 xã với 200 nghìn dân và đưa 17 xã vào thế tranh chấp.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM