Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:10:42 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)  (Đọc 57146 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #50 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2024, 07:19:34 pm »


Trên mặt trận Đường số 9, hướng chính Khe Sanh trở thành "điểm nóng".

Khe Sanh là một vùng lòng chảo ở tây Quảng Trị, bao gồm ba vị trí lớn: Tà Cơn, Làng Vây, Hướng Hóa, tạo thành hệ thống phòng ngự hình tam giác, khống chế cả một vùng rộng lớn dọc đường số 9 đến giáp biên giới Việt - Lào. Oét-mo-len đánh giá: "Mỹ có thể dùng căn cứ này làm một lá chắn ngăn chặn Việt cộng từ Lào sang và là căn cứ quan trọng cho cuộc hành quân "tìm diệt" đánh phá kho tàng".

Vì thế, ở Tà Cơn, địch lập sân bay lớn, chuyên dùng cho các loại máy bay trinh sát, đánh phá đường tuyến chi viện 559. Chúng bố trí ở đây một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ, một tiểu đoàn pháo hỗn hợp, một chi đoàn xe tăng, xe thiết giáp. Tà Cơn được bảo vệ bằng hệ thống dây thép gai nhiều lớp, nhiều tầng, các bãi mìn và vật chướng ngại. Phía tây – bắc Tà Cơn là vùng đồi núi, với các điểm cao 832, 845, 1009 động Tri, 689, 682, động Tri... có giá trị về quân sự. Địch tuyên bố: đây là mỏ neo vững chắc về phía tây của hệ thống phòng ngự Mác Na-ma-ra, là cái bẫy nghiền nát chủ lực miền Bắc.

Bộ Tư lệnh mặt trận Đường số 9 quyết định sử dụng sư đoàn 325 cùng một số lực lượng bộ đội địa phương, dân quân, du kích phối thuộc đánh chiếm Tà Cơn. Trung đoàn 95 và tiểu đoàn 8 trung đoàn 18 do trung đoàn trưởng Hồ Ngọc Trai và phó chính ủy sư đoàn Trần Văn Ân phụ trách đánh trận mở đầu.

Sáng 19 tháng 4 năm 1967, tiểu đoàn 8 trung đoàn 18C, đứng chân cách Tà Cơn ba ki-lô-mét, dùng ĐKZ, súng cối bắn cấp tập vào Tà Cơn và tiến hành vây ép để kéo địch, gây cho địch một số thương vong. Hai máy bay đỗ trên đường băng sân bay Tà Cơn bị cháy. Trung đội phó Nguyễn Văn Huynh chỉ huy một tiểu đội luồn sâu vào phục kích ngay sát cổng đồn địch ở điểm cao 682. Khi trung đội địch đi càn vừa ra khỏi cổng đồn, lập tức cả tiểu đội bật nắp hầm xốc tới đánh diệt nhiều tên. Bộ đội ta phục kích, bắn tỉa, tiếp tục vây ép địch. Trưa 23 tháng 4, sau một đợt pháo bắn dồn dập dọn đường, dọn bãi, địch tung một đại đội lên cao điểm 832 (địch gọi là 861).

Lập tức, hỏa lực bắn chéo của tiểu đoàn 8 đánh mạnh vào đội hình địch, ghìm chúng lại. Bị đánh mạnh, địch cho máy bay, đại bác liên tục đánh phá điểm cao 832. Vào lúc 11 giờ trưa ngày 25 tháng 4, hai đại đội Mỹ từ Tà Cơn nống ra nhằm đẩy lùi bộ đội ta trên điểm chốt 832. Ta chặn đánh quyết liệt, buộc chúng cụm lại ở một ngọn đồi gần điểm cao đó. Tiểu đoàn 8 dùng súng cối tập kích vào bọn này; đồng thời hỏa lực của sư đoàn bắn mạnh vào Tà Cơn.

Sáng 26 tháng 4, địch cấp tốc điều hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ từ Tân Lâm, Cam Lộ lên giải tỏa Tà Cơn. Ngay từ đầu, bọn này đã bị chặn đánh. Đến hết ngày 26 tháng 4, điểm cao 832 vẫn do ta khống chế. Hôm sau - ngày 27 tháng 4, máy bay địch đánh phá dữ dội các điểm cao 832, 845. Hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ, một tiểu đoàn pháo binh Mỹ từ Huế và hạm đội 7 cấp tốc tăng viện cho Tà Cơn bằng đường không. Ba đại đội máy bay lên thẳng gồm 69 chiếc túc trực ở Đông Hà sẵn sàng chi viện cho Khe Sanh. Đêm 27 tháng 4, pháo binh ta dội đạn vào Đông Hà, gây thiệt hại nặng cho cả ba đại đội này, địch buộc phải dùng ô-tô theo đường số 9 chở quân và hàng quân sự lên Khe Sanh.

Trong lúc đó, tại khu vực điểm cao 845 (địch gọi là 881) diễn ra những trận đánh quyết liệt giữa ta và địch. Bộ đội ta nhiều lần đánh giáp lá cà với lính Mỹ1. Đối mặt với kẻ thù, nhiều chiến sĩ, cán bộ của ta đã chiến đấu với tinh thần "quyết lập công đầu, xả thân vì sự nghiệp chống Mỹ". Lương Văn Sang, chưa đầy 19 tuổi, dân tộc Thái, sau hai trận đánh, diệt 42 tên địch. Hoàng Đình Nối, ngón tay trỏ bóp cò bị mảnh đạn địch tiện cụt, dùng ngón tay giữa tiếp tục bắn và chỉ huy tiểu đội truy kích địch 100 mét, diệt đến tên cuối cùng. Phạm Văn Bảo chuyển gạo lên cho phân đội phía trước, gặp lúc địch tiến công, đã tham gia chiến đấu, diệt 20 tên, bắt sống một tên, thu năm súng. Trần Công Tời liên lạc viên, hai ngày chiến đấu, diệt 14 tên địch. Võ Ngọc Biên đào "bếp Hoàng Cầm" ngay tại trận địa, bảo đảm ngày hai bữa cơm nóng, đủ nước sôi để nguội cho đồng đội dùng cả ngày. Ba lô cơm vắt trên lưng, với khẩu súng, Biên bò đến từng công sự trên điểm cao 832 tiếp tế cho đồng đội. Gặp địch chặn đường, Biên nổ súng diệt hai tên. Bùi Văn Tân 20 tuổi, dùng trung liên và lựu đạn diệt 23 tên địch. Súng bị địch bắn hỏng, chân bị thương, Tân tự băng bó và dùng súng của một thương binh khác bắn chết thêm tám tên nữa2.

Địch đang lúng túng đối phó với chủ lực ta ở các ngọn đồi phía tây-bắc lòng chảo Khe Sanh, thì đêm mồng 1 tháng 5, năm 1967, sư đoàn 325 sử dụng tiểu đoàn 8 và đại đội 40 đặc công, do trung đoàn phó trung đoàn 18 Trần Sĩ Kịch chỉ huy, luồn sâu vào sau lưng chúng, tập kích cứ điểm Làng Vây.

Làng Vây là căn cứ biệt kích ngụy lớn nhất ở chiến trường miền núi Quảng Trị. Bọn lính biệt kích khét tiếng gian ác, chuyên lùng sục, phá phách kho tàng ở vùng giải phóng, đàn áp, giết hại, cưỡng bức đồng bào miền núi vào các khu tập trung. Chúng còn được tung vào do thám, tập kích hậu phương ta.

Bằng lối đánh tiềm nhập sâu kết hợp xung lực đột phá mạnh, trong vòng 30 phút, ta tiêu diệt và bắt sống toàn bộ tiểu đoàn biệt kích này, phá tan các công sự và hầm ngầm.

Mất căn cứ Làng Vây, Tà Cơn lại bị vây ép, trưa ngày 2 tháng 5, Oét-mo-len, tổng chỉ huy quân đội Mỹ và chư hầu ở miền Nam Việt Nam cùng với Uôn-tơ, tư lệnh lính thủy đánh bộ Mỹ bay ra Khe Sanh tìm cách đối phó.

Ngày 2 và 3 tháng 5, địch cho ba đại đội đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống đồi không tên (giữa hai điểm cao 832, 845), tiểu đoàn 4 trung đoàn 95 đón đánh, gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Để đánh địch có hiệu quả hơn, trung đoàn 95 và các tiểu đoàn khắc phục lối "đóng chốt" cứng nhắc, bổ sung phương án tác chiến, kiên quyết vận động xuất kích kết hợp chốt chắc, trụ vững.
_____________________________________________
1. Hãng thông tin Mỹ UPI thú nhận: "Ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1967 là ngày không bao giờ quên được của trung đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ số 3. Cả hai tiểu đoàn gặp khó khăn ngay khi họ bắt đầu tiến qua cỏ tranh, lên sườn đồi. Cộng sản đã bố trí sẵn những khẩu súng cối để bắn chính xác lên đỉnh đồi này và đạn súng cối rơi như mưa xuống đầu lính thủy đánh bộ mắc kẹt ở đây. Nó không thể tiến lên và cũng không thể rút lui; vì những boong-ke và hố cá nhân bắn tỉa ở hai bên sườn đồi bây giờ lô nhô những quân Cộng sản đang chặn đường. Cuối cùng, lúc 18 giờ, số bị mắc kẹt ở đây, nhờ có hỏa lực yểm trợ dày đặc, mới rút xuống đồi được, nhưng bị thương vong 200 người".
2. Vẻ đẹp người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam làm cho hãng thông tin Roi-tơ (Anh) dành những trang tường thuật: "Khi lính Mỹ cách đỉnh đồi chừng một ki-lô-mét thì một lính Mỹ phát hiện thấy một dòng chữ khắc vào gốc cây, cạnh công sự quân Bắc Việt: "Đời thật đẹp. Phải có tinh thần chiến đấu cao".
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #51 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2024, 07:22:21 pm »


Ngày 7 tháng 5, thêm một đại đội Mỹ được đổ bộ xuống điểm cao 845. Phân đội 5 do Lê Đức Huân phụ trách, dùng một bộ phận thu hút binh lực và hỏa lực địch, còn đại bộ phận kết hợp với phân đội 4 do Nguyễn Hữu Thọ chỉ huy, bất ngờ đánh thọc vào sau lưng địch. Trong lúc đó, quân y sĩ Lê ở phía sau chân đồi kịp thời tập hợp các chiến sĩ nuôi quân, y tá và anh em bị ốm, đánh trả máy bay lên thẳng, ngăn địch tập kích vào hậu cứ đơn vị. Nhân lúc địch phân tán hỏa lực về phía này, Lê Đức Huân lệnh cho trung liên đánh mãnh liệt yểm trợ cho đơn vị xung phong. Phân đội 6 do Đinh Vân Chương dẫn đầu đột phá vào sở chỉ huy của địch, đánh giáp lá cà, diệt gọn hai trung đội địch. Nhằm tạo điều kiện cho hỏa lực phát huy tác dụng, địch dùng lựu đạn khói phân tuyến. Máy bay lên thẳng vãi đạn xuống trận địa ta. Nguyễn Hữu Thọ bị thương lần thứ hai vẫn bám sát chỉ huy đơn vị chia làm ba mũi truy kích địch. Phân đội 5, phân đội 6 nhanh chóng vượt qua màn khói ngăn cách, tiếp cận địch. Các tay súng bắn tỉa được giao trách nhiệm tiêu diệt các ổ súng máy, súng cối. Cứ mỗi phát đạn bắn tỉa là một tên địch ngã. Các bộ phận xung kích tiếp cận đánh thẳng vào các ổ đề kháng. Sau 1 giờ 20 phút giành giật quyết liệt, địch núng thế, gọi máy bay thả chất độc hóa học xuống trận địa ta. Bộ đội ta nhanh chóng xung phong băm nát đội hình địch trước khi chất độc chưa kịp tải ra mặt đất. Đêm đó, ta tập kích vào toán biệt kích vừa được đổ xuống phía sau đội hình của ta, diệt gọn cả 50 tên. Kết quả trận đánh ta tiêu diệt một đại đội địch, đánh thiệt hại nặng hai đại đội khác, bắn cháy năm máy bay lên thẳng, diệt gọn tổ đi trên máy bay.

Khe Sanh trở thành nỗi lo sợ ngày càng tăng đối với bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở miền Nam1. Nhiều đơn vị lính thủy đánh bộ Mỹ được điều tới tăng cường cho trung đoàn 3 và trung đoàn 9 đang có mặt ở Khe Sanh.

Phối hợp với mặt trận Khe Sanh, các đội pháo binh mang vác luồn sâu của trung đoàn 270 Vĩnh Linh và các trung đoàn 84, 164, 78; các đơn vị pháo cối "đánh lẻ, bắn tỉa" trong đội hình các trung đoàn bộ binh, đoàn đặc công 1A hải quân liên tiếp tập kích các căn cứ hậu cần của địch ở Đông Hà, Cửa Việt. Sở chỉ huy trung đoàn 3, trung đoàn 9 lính thủy đánh bộ Mỹ bị đánh đi đánh lại nhiều lần. Tàu Ri-ta của Mỹ ở Cửa Việt cũng bị đánh chìm.

Đêm 27 tháng 4, pháo binh ta đồng loạt bắn vào các căn cứ lớn: Dốc Miếu, Dốc Sỏi, Gio Linh, Cồn Tiên, Đông Hà, Cửa Việt, sát thương nhiều địch, phần lớn là sĩ quan chỉ huy, nhân viên lái máy bay, nhân viên kỹ thuật; phá hủy, phá hỏng nhiều phương tiện chiến tranh, đốt cháy ba kho xăng, hai kho đạn, hai đài ra-đa, gây cho chúng nỗi kinh hoàng, lo sợ.

Nổi bật là trận pháo kích "chọc thủng dạ dày quân Mỹ ở Khe Sanh" đặt tại Đông Hà. Căn cứ Đông Hà rộng 20 ki-lô-mét vuông nằm ở ngã ba đường số 9 và đường số 1, thuộc bắc Quảng Trị. Đông Hà có sân bay, kho tàng và thường xuyên có 3.000 quân Mỹ đồn trú. Đây cũng là nơi đặt sở chỉ huy nhẹ của sư đoàn 3, sở chỉ huy trung đoàn 3 và trung đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ. Không chỉ khu vực đóng quân mà cả khu vực kho xăng, đạn, hàng hóa dùng tiếp tế cho Khe Sanh và bắc đường số 9 cũng được bảo vệ rất cẩn mật. Ngoài ra, căn cứ này còn có từ 70 tới 75 xe tăng, xe bọc thép, 16 tới 20 khẩu pháo cỡ 75-175 ly. Cạnh khu vực quân Mỹ đóng là sở chỉ huy trung đoàn 1 sư đoàn 1 ngụy, một tiểu đoàn công binh, hai khu trung tâm thông tin và đài ra-đa.

Đông Hà nằm sâu giữa các tuyến bảo vệ vòng ngoài. Để tập kích vào đây, các chiến sĩ pháo binh đã phải bí mật vác hàng trăm quả đạn hỏa tiễn từ bờ bắc sông Bến Hải vào thiết lập trận địa sát địch, đánh trúng các mục tiêu trong căn cứ và các trận địa pháo của chúng xung quanh, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch, phá hủy, phá hỏng năm khẩu 175 ly, trung tâm thông tin, trạm ra-đa. Đặc biệt pháo binh của ta đã gây thiệt hại nặng cho đội máy bay địch gồm 71 chiếc, có hai chiếc vận tải cỡ lớn, chuyên làm nhiệm vụ vận chuyển chi viện cho Khe Sanh.

Đường vận chuyển hàng không từ Đông Hà tiếp tế cho Khe Sanh bị gián đoạn sau trận pháo kích đêm 27 tháng 4 chưa được khôi phục lại, thì đêm 7 tháng 5, trung đoàn 31, tiểu đoàn 47 Vĩnh Linh, đặc công mặt trận B5 tiến công đồng loạt bốn vị trí: Cồn Tiên, Dốc Miếu, trận địa pháo 241, căn cứ Đông Hà, diệt gần hàng trăm tên địch, bắt nhiều tù binh.

Liên tiếp các ngày 14, 15, 16 tháng 5, bộ đội ta tiến công bọn Mỹ ở Gio An, diệt 10 xe tăng và hàng trăm tên địch.

Vào lúc 2 giờ 15 phút ngày 18 tháng 5, lần thứ ba trong vòng 20 ngày, sở chỉ huy trung đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ lại bị pháo binh ta tập kích. Kho xăng, kho đạn cháy nổ dữ dội. Cùng đêm, Cồn Tiên, Dốc Miếu, và trận địa pháo 241 của địch cũng bị pháo kích.

Phối hợp với bộ binh, pháo binh đội 1 đặc công nước do hai đồng chí Mai Năng và Lương Mẫn chỉ huy vượt qua sông Bến Hải, luồn qua núi rừng tây Cam Lộ, lách giữa các điểm Quán Ngang, ngã tư Sòng, đột nhập vào Cửa Việt, Đông Hà. Đêm 8 tháng 5, hai đồng chí Tống Duy Kiên và Nguyễn Văn Kiểm đánh chìm tàu cuốc Hây-đa ở cảng Cửa Việt. Vào lúc 2 giờ ngày 15 tháng 7, Nguyễn Văn Tình và Nguyễn Đình Thi đột nhập cảng Đông Hà đánh chìm một chiếc LCU. Bộ phận đặc công ở Cửa Việt đánh chìm một tàu LST trọng tải 5.000 tấn chở đầy xe tăng và vũ khí.

Trước những trận tập kích của ta, địch đã có những phản ứng quyết liệt. Ngày 18 tháng 5, năm 1967, hàng nghìn quân Mỹ, có máy bay, pháo binh yểm trợ, mở cuộc càn lớn vào các xã phía nam khu phi quân sự, thực hiện “đốt sạch, phá sạch” và bắn giết rất dã man, để xúc tát nhân dân vào các "ấp chiến lược". Du kích ta bám đánh rộng khắp trên từng đường thôn, ngõ xóm. Hàng trăm gia đình kiên quyết đấu tranh với địch, quyết không chịu "dồn dân".

Ngày 7 tháng 6 năm 1967, mặt trận Đường số 9 mở tiếp đợt hoạt động nhằm vào hướng chính Gio An2. Ngay từ đêm 6 tháng 6, trung đội 1 bộ binh tiểu đoàn 8 vượt mưa rừng tầm tã và núi đá cao, dốc đứng, tập kích diệt gọn đại đội địch chốt giữ điểm cao 1009 (động Tri).

Ngày 7 tháng 6, bộ binh ta chặn đánh diệt ba đại đội địch tại Khe Sanh và Hồ Khê. Pháo binh tập kích vào Cùa, phá hủy nhiều xe cơ giới, kho tàng, diệt nhiều địch. Phối hợp với chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, du kích Gio Linh, Cam Lộ tổ chức một loạt trận đánh cắt giao thông trên đường số 9; đồng thời phát động rộng rãi phong trào săn máy bay tiếp tế, trinh sát. Trong vòng 10 ngày ta đã bắn rơi 10 máy bay địch.

Đêm 26 tháng 6, pháo binh ta tập kích mãnh liệt các vị trí ở Khe Sanh, phá hủy nhiều kho tàng, nhà hầm, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch. Ngày 27, bằng những trận đánh giáp lá cà, bộ đội ta diệt gần hết hai đại đội địch phản kích ngoài trận địa của chúng. Tình hình thương vong tăng nhanh buộc Mỹ cấp tốc đưa tàu bệnh viện Sa-tu-ry đến Đông Hà, cấp cứu lính Mỹ bị thương từ Khe Sanh đưa về.
______________________________________________
1. Oét-mo-len sau khi đi thị sát tình hình, thốt lên với Uôn-tơ: "Ở đây chúng ta gặp một đối thủ cứng rắn nhất". Theo hãng Roi-tơ (7-5-1967): "Những ngày cuối tháng 4, đầu tháng 5, lính thủy đánh bộ Mỹ (ở Khe Sanh) bị thương vong gần 50 phần trăm".
2. Gio An cách Gio Linh bảy ki-lô-mét về phía tây.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #52 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2024, 07:24:34 pm »


Bước sang tháng 7 năm 1967, những trận đánh hiệp đồng binh chủng của chủ lực ta liên tục diễn ra ở Gio An.

Để bảo đảm trận đánh hiệp đồng lớn đầu tiên chắc thắng, cả hậu phương Vĩnh Linh - Quảng Bình và phía trước dồn sức cho công tác chuẩn bị. Dân quân Vĩnh Thủy làm trận địa nghi binh thu hút bom đạn địch. Các chiến sĩ ra trận thêu lên ngực có bốn chữ "sát Mỹ, diệt ngụy", hạ quyết tâm bắt cho được tù binh...

Sáng 2 tháng 7, bằng cách nghi binh, ta kéo đại đội 9, tiểu đoàn 1, trung đoàn 9 lính đánh bộ Mỹ từ Cồn Tiên nống ra Gio An. Sau một giờ chiến đấu, các chiến sĩ trung đoàn 1 đánh thiệt hại nặng đại đội này1. Cùng lúc, pháo ta cấp tập vào Cồn Tiên và Gio Linh, khống chế trận địa pháo binh của địch. Chỉ huy sư đoàn 3 cấp tốc điều tiểu đoàn 3, trung đoàn 9 đang ở nam Quảng Trị đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống Cồn Tiên. Một đại đội của tiểu đoàn 1 trung đoàn 9 lính thủy đánh bộ Mỹ thua trận đang củng cố ở Đông Hà cũng bị điều ra trận.

Gần trưa, lực lượng địch từ Cồn Tiên chia làm bốn cánh có xe tăng, đại bắc tiến về Gio An. 13 giờ 30, địch cụm lại quanh Hảo Sơn, điểm cao 88, điểm cao 100 (nam Gio An một ki-lô-mét). Đây là khu vực ta bố trí sẵn trận địa đánh địch. Lập tức, pháo ta đồng loạt giã trúng đội hình chúng, tạo điều kiện cho bộ binh xuất kích. Các chiến sĩ ta vận dụng lối đánh sở trường "bám thắt lưng địch" chia cắt đội hình, đánh gần, gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề. 16 giờ 30 phút, 41 lần chiếc máy bay lên thẳng cùng với lính thủy đánh bộ từ Cồn Tiên, có xe tăng yểm trợ, tiếp tục kéo đến Gio An. Bãi đỗ máy bay lên thẳng của địch chìm ngập trong những đợt pháo kích. Trong ngày 2 tháng 7, ta liên tiếp xuất kích nhiều đợt. Năm đại đội Mỹ bị đánh thiệt hại nặng, tiểu đoàn 1 (trung đoàn 9 sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ) bị loại khỏi vòng chiến đấu.

Ngày 3 tháng 7, địch tung tiểu đoàn 3 trung đoàn 9 và tiểu đoàn 1 trung đoàn 3 vào Gio An. Cả năm đợt tiến công của địch đều bị ta bẻ gãy. Du kích dùng mìn phá hủy ba trong số 15 xe tăng địch trên đường tiến quân.

Qua hai ngày quần nhau với lính Mỹ, đã xuất hiện những tập thể, cá nhân chiến đấu ngoan cường như tổ đài trinh sát luồn sâu của trung đoàn 84 pháo binh gồm 14 đồng chí, do Phạm Xuân Huy phụ trách chiến đấu đến người cuối cùng bảo đảm cho trận đánh thắng lợi.

Ngày 6 tháng 7, quân ta chặn đánh ba đại đội Mỹ ở An Hòa (tây Gio Linh 10 ki-lô-mét) diệt nhiều tên. Tiểu đoàn 3 trung đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ chia nhiều mũi tiến lên Gio An. Đến 15 giờ 30, địch lọt sâu vào trận địa phục kích, pháo binh và bộ binh ta tập kích mãnh liệt đội hình chúng. Cùng lúc, pháo ta ghìm chặt pháo địch ở các căn cứ Dốc Miếu, Cồn Tiên. Ta và địch giành nhau quyết liệt từng mỏm đồi, từng vật chướng ngại. Bộ đội ta dùng súng B40, B41 bắn chính xác diệt bảy xe tăng. Lực lượng cao xạ diệt một máy bay L19. Mất xe tăng, địch hốt hoảng co cụm lại. Bộ đội ta sử dụng súng cối tập trung bắn vào các điểm tụ quân của địch. Sau ba giờ chiến đấu, ta hoàn toàn làm chủ trận địa.

Sau loạt trận đánh lớn này, bước vào mùa mưa, ta tiến hành vây lấn căn cứ địch; cắt đứt giao thông, đánh hậu cứ, gây cho địch nhiều thiệt hại.


Ở Lào, sau thất bại mùa khô 1966, địch không đủ khả năng tập trung lực lượng lớn lấn chiếm vùng giải phóng. Chúng quay về củng cố lực lượng của chính phủ phản động Lào, tăng cường phòng thủ đường số 9, cố giữ khu vực Nậm Bạc; phối hợp với quân Thái Lan đánh phá dọc biên giới Lào - Thái hòng phá căn cứ du kích, sử dụng không quân đánh phá ác liệt hành lang vận chuyển và các khu căn cứ chiến lược của cách mạng Lào. Máy bay B52 tập trung đánh phá hủy diệt một số vùng. Các toán phỉ và các toán biệt kích được tung vào phá hoại vùng giải phóng. Các binh đoàn cơ động GM18, GM15 và các tiểu đoàn BV của Vàng Pao càn đi, quét lại nam - bắc đường số 9, GM12 và BV32 càn vùng nam Thà Khẹt. BV34 càn quét vùng Hin Bun và giáp ranh khu giải phóng. Đồng thời, Mỹ trực tiếp chỉ huy xây dựng lại các đường chiến lược dọc sông Mê Công và các đường số 15, 16, 23, Pắc Xế, Pác Xoòng.

Tại nhiều vùng giải phóng Lào, tình trạng đói ngày càng trở nên nghiêm trọng, việc tiếp nhận sự chi viện của Trung ương bạn và của các tỉnh Khu 4 chuyển sang gặp nhiều khó khăn, vì địch tăng cường đánh phá ác liệt các tuyến hành lang vận chuyển.

Hưởng ứng lời kêu gọi của khu ủy bạn, Mặt trận 565 phát động cứu đói cho dân, tổ chức sản xuất, vận động nhân dân bạn cùng đẩy mạnh sản xuất tự túc2.

Vừa phối hợp với bạn đánh địch càn quét lấn chiếm, bộ đội tình nguyện vừa tổ chức các lực lượng luồn sâu đánh vào sau lưng chúng. Các tiểu đoàn 14, 18, đại đội 25, 27 luôn có bộ phận luồn sâu vào Sa Ra Van. Các tiểu đoàn 15, 17 tổ chức lực lượng vào vùng sau lưng địch ở Thà Khẹt. Bộ đội tỉnh A Tô Pơ phối hợp với quân tình nguyện đánh địch ở Pheng Đeng, Mường Cầu và Cheng. Bộ đội Chăm Pát Xắc tập kích quận lỵ Phôn Teng diệt một số tên, thu 186 súng, bắt bốn tên. Bộ đội địa phương Lào Ngam, Sa Ra Van, Đồng Hến phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam phục kích, tập kích quấy rối địch. Bộ đội miền Đông đánh địch càn ra Tha Teng, giết 30 tên, thu 10 súng. Lực lượng vũ trang Lào Ngam tham gia cùng quân tình nguyện bao vây vị trí Lào Ngam suốt hai tháng. Bộ đội Xi Phăn Đon gọi hàng chục tên địch. Tại Bản Đông, được sự hỗ trợ của bộ đội tình nguyện, bạn đã diệt hai đại đội thuộc tiểu đoàn 66 biên phòng...

Mùa mưa 1967, khắc phục khó khăn do thời tiết và đường sá bị chia cắt, các đơn vị bạn và quân tình nguyện vẫn liên tục tổ chức đánh địch, bảo vệ hậu phương, bảo vệ hành lang, truy quét phỉ. Nhiều trận đánh trúng nơi bọn trùm phỉ chiếm giữ, thu nhiều súng, lương thực, quân trang, quân dụng, bắt tù binh, gọi được một số địch ra hàng.

Quân tình nguyện phối hợp với bạn tuyên truyền tổ chức thêm 2.340 du kích (có 445 nữ). Dọc đường số 12 có 11 xã đã tổ chức lực lượng dân quân, dọc đường số 9 có 56 xã, A Tô Pơ có 10 xã... Các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, khu vực Vĩnh Linh tiếp tục viện trợ cho bạn những mặt hàng thiết yếu, trao đổi hàng hóa, giúp cán bộ kỹ thuật, máy móc, dụng cụ, vật tư, giúp công nhân và đào tạo cán bộ kỹ thuật.

Đến cuối năm 1967, vùng giải phóng của bạn ở Trung - Hạ Lào đã mở rộng bao gồm một tỉnh, 16 huyện, 163 tà xèng, 2.082 bản. Quân chủ lực ngụy Lào đã lui về phòng ngự, co cụm để bảo tồn lực lượng. Địch không những không lấn chiếm được vùng giải phóng mà còn mất thêm nhiều địa bàn quan trọng: Tùm Lan, Pha Lan, tây A Tô Pơ.

Vượt qua gian khổ, hy sinh, gần ba năm trực tiếp đương đầu với các loại hình chiến tranh của địch trên các chiến trường, tiền tuyến, hậu phương Khu 4 đã trở thành địa bàn đọ sức quyết liệt, góp phần cùng cả nước bước đầu đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, tạo nên thời cơ lớn cho mùa Xuân 1968.
_____________________________________________
1. Trung đoàn 1 sư đoàn 324, lúc này do mặt trận B5 trực tiếp chỉ huy.
2. Có những cán bộ trồng 3.000 gốc sắn. Nhiều đại đội trồng 150.000 gốc. Các đơn vị dành 20 tấn gạo, 300 nghìn công giúp nhân dân bạn làm mùa.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #53 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2024, 07:26:49 pm »


CHƯƠNG IV
VƯƠN LÊN CÙNG CẢ NƯỚC
ĐÁNH BẠI HOÀN TOÀN CHIẾN LUỢC CHIẾN TRANH CỤC BỘ
(10-1967 - 1968)


I. TẠO THẾ, TẠO LỰC, CHUẨN BỊ TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN (1968)

Sau những thất bại qua hai mùa khô 1965-1966, 1966-1967 trên chiến trường miền Nam và trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân, hải quân, đế quốc Mỹ tiếp tục tăng quân, nâng tổng số quân Mỹ có mặt trên chiến trường miền Nam lên 480.000 vào cuối năm 1967 và ráo riết triển khai lực lượng, chuẩn bị phản công chiến lược lần thứ ba. Chúng dự định đánh vào miền Đông Nam Bộ và Trị - Thiên, nhằm ngăn chặn bất cứ sự đảo lộn bất ngờ nào về quân sự và chính trị ở miền Nam Việt Nam, giữ cho tình hình ổn định để bước vào cuộc bầu cử tổng thống Mỹ, tháng 11 năm 1968.

Về phía ta, sau thắng lợi vang dội đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân Gian-xơn-xi-ti tháng 6 năm 1967, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp phân tích tình hình, chủ trương trên cơ sở phương châm đánh lâu dài, đẩy mạnh nỗ lực chủ quan đến mức cao nhất để giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn, dự kiến trong năm 1968.

Quán triệt phương hướng chiến lược của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, lực lượng vũ trang và nhân dân Quân khu 4 khẩn trương chuẩn bị, đẩy mạnh hoạt động góp phần tạo ra và kịp thời đón thời cơ lớn.

Ở hậu phương quân khu, quân và dân các tỉnh từ Thanh Hóa đến khu vực Vĩnh Linh, vừa đánh trả không quân, hải quân địch, vừa khẩn trương thực hiện kế hoạch chi viện chiến trường.

Tháng 9 năm 1967, Thường vụ Quân khu ủy họp quán triệt phương hướng chiến lược của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, xác định toàn Đảng bộ phải cố gắng hết sức mình, tập trung mọi trí tuệ, tài năng, quyết giành thắng lợi và phải kiên định vững vàng trong mọi tình huống.

Từ tháng 9 đến tháng 12 năm 1967, được sự giúp đỡ của đoàn cán bộ Bộ Tổng Tham mưu, cơ quan quân khu cụ thể hóa và tiếp tục hoàn chỉnh kế hoạch phòng thủ quân khu trong tình huống dự kiến địch tiến công ra nam Khu 4, lực lượng tại chỗ được lệnh chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao. Ở các địa phương từ nam sông Gianh trở vào, dân quân tự vệ được củng cố, 397 xã trọng điểm trong tổng số 844 xã trên địa bàn quân khu được xây dựng thành làng xã chiến đấu, tổ chức cho bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, du kích diễn tập tác chiến phòng thủ chống địch tập kích bằng đường bộ, đường biển và đường không vào nam quân khu.

Theo chủ trương của Quân khu ủy, đảng bộ và chính quyền các địa phương rà soát lại lực lượng, tổ chức sơ tán trên 10.000 dân, chủ yếu là người già, yếu, phụ nữ có con dưới năm tuổi và trẻ em từ Vĩnh Linh ra các tỉnh phía bắc. Nhiều con em Vĩnh Linh, Quảng Bình được các gia đình ở Nghệ An, Thanh Hóa nuôi dạy khôn lớn.

Những tháng cuối năm 1967, địch tăng cường đánh phá các trung tâm dân cư, các cơ sở nông nghiệp, các tuyến đường giao thông. Chúng sử dụng nhiều loại bom đạn mới như bom vô tuyến truyền hình, bom bi nổ chậm, thủy lôi từ trường, thủy lôi âm thanh...., áp dụng nhiễu điện từ dày đặc..., tập trung lực lượng máy bay không quân và máy bay hải quân oanh tạc các bến vượt, các đoạn đường hiểm yếu, các phương tiện vận tải và hệ thống kho tàng, chân hàng, bến bãi... trên địa bàn Quân khu 4, trên tuyến hành lang vận chuyển Trường Sơn. Chỉ trong tháng 9 năm 1967, địch cho 266 lần chiếc B52 ném một khối lượng lớn bom gấp 13 lần cả năm 1966 xuống các tuyến hành lang vận chuyển của ta.

Khắc phục bom đạn đánh phá ác liệt của kẻ thù, quân dân Khu 4 vừa chiến đấu, vừa tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo đảm giao thông vận tải, chuyên chở hàng hóa, vũ khí cho miền Nam. Quân khu và các tỉnh phối hợp lực lượng, phương tiện, hoàn thành các tuyến đường quy định, thông xe trong cả mùa mưa lũ. Đến tháng 12 năm 1967, Thanh Hóa mở thêm 200 ki-lô-mét đường thôn xã, đóng mới 2.115 mét cầu phao bằng luồng, 21 phà loại 18 tấn, Hà Tĩnh làm mới và sửa chữa 12 cầu gỗ, đặt thêm 8 ki-lô-mét đường goòng, mắc 105 ki-lô-mét đường dây thông tin liên lạc. Nghệ An huy động lực lượng trong ngành giao thông sản xuất vật liệu dự phòng, cải tạo bến bãi đậu xe, đóng thêm thuyền vận tải vượt sông, nạo vét thông dòng kênh Nhà Lê.

Ở Trị - Thiên, tháng 9 năm 1967, Khu ủy họp soát xét toàn bộ tình hình đã nhận định: "Địch đã bị thất bại nghiêm trọng trong kế hoạch phản công mùa khô, không những không ngăn chặn được ta mà lại bị ta tiêu diệt, tiêu hao lớn trên tuyến đường số 9 và đường số 1. Kế hoạch bình định năm 1967 của địch bị thất bại nặng. Phạm vi kìm kẹp của chúng bị thu hẹp. Chiến tranh đã đi từ rừng núi về đồng bằng và đã tiến vào thành phố và hậu cứ của địch. Thế và lực của ta đã hơn địch. Tình hình phát triển của phong trào đã tạo ra khả năng đánh lớn vào thành phố Huế.

Khu ủy chủ trương gấp rút chấn chỉnh tổ chức và bố trí lực lượng chính trị, quân sự, binh vận, đẩy mạnh tiến công địch theo phương châm kết hợp tiến công tiêu diệt địch bằng quân sự và nổi dậy của quần chúng, kết hợp đánh từ trong nội thành ra và đánh từ ngoài vào, kết hợp các hoạt động ở nông thôn và ở đô thị. Khu ủy cho rằng phải tổ chức nhiều lực lượng quân sự khác nhau phù hợp từng mục tiêu, lấy ít đánh nhiều, số lượng là quan trọng nhưng tốt nhất là chất lượng cao, tinh nhuệ, giữ được bí mật, bất ngờ, xây dựng nhanh "vành đai diệt Mỹ” ở bốn góc thành phố Huế, đưa lực lượng đặc công, biệt động vào bám các mục tiêu, tiến hành trinh sát và tập dượt cách đánh, xây dựng nhanh các tiểu đoàn chủ lực và địa phương. củng cố và phát triển nhanh du kích vùng bàn đạp, áp sát vào thành phố.

Sau hội nghị Khu ủy, mọi công tác chuẩn bị được gấp rút tổ chức triển khai, về phát triển lực lượng, đến cuối tháng 12 năm 1967, mỗi huyện xây dựng được một đại đội bộ binh, riêng các huyện Phú Lộc, Phú Vang, Quảng Điền, Triệu Phong có hai đại đội. Các huyện đồng bằng phát triển 17.000 dân quân và 5.000 du kích, các huyện miền núi có 4.000 du kích. Mỗi huyện xây dựng 11 đội biệt động. Thành phố Huế có bảy đội biệt động. Toàn quân khu có hơn 10.000 cán bộ cơ sở bám các thôn xã và nội thành Huế. Suốt từ tháng 10 năm 1967 đến đầu tháng 1 năm 1968, các đơn vị đặc công và đội trinh sát vũ trang tổ chức huấn luyện cho các lực lượng này ngay trong quá trình chiến đấu. Các "vành đai diệt Mỹ" quanh Phú Bài, Ấp 5, động Tòa, Thành Huế, thị xã Quảng Trị được nhanh chóng hình thành. Các phân đội đặc công, biệt động, trinh sát vũ trang, du kích mật áp sát dần vào vùng ven, vừa hoạt động tác chiến vừa xây dựng bàn đạp. Khối chủ lực quân khu được tăng cường trung đoàn 9 (sư đoàn 304) trung đoàn 2 (sư đoàn 324) và trung đoàn 3 (sư đoàn 325).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #54 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2024, 06:01:47 pm »


Để phù hợp với nhiệm vụ trong tình hình mới, ngay từ tháng 5, Trung ương Đảng đã chuẩn y việc giải thể Tỉnh ủy và Tỉnh đội Quảng Trị, Thừa Thiên, thành lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế do đồng chí Trần Văn Quang, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, làm Bí thư khu ủy kiêm Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên. Đồng chí Lê Chưởng làm Chính ủy. Các đồng chí Nam Long, Phó tư lệnh; Hồ Tú Nam, Phó chính ủy; Đặng Kinh, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng. Các huyện ủy chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Khu ủy.

Về tổ chức chiến trường, trên các hướng thành lập các đoàn trực thuộc Bộ Tư lệnh quân khu. Đoàn 4 có nhiệm vụ đánh giao thông từ nam Phú Lộc đến bắc đèo Hải Vân, lực lượng có tiểu đoàn 804B bộ binh và hai tiểu đoàn công binh do Nguyễn Chi làm đoàn trưởng, Lê Tư Cường làm chính ủy. Đoàn 5 phụ trách Huế và ba huyện vùng ven Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vang, lực lượng gồm ba tiểu đoàn bộ binh 804A, 810, 845, hai tiểu đoàn đặc công K1, K2 và 14 đội biệt động. Đoàn 5 chia làm hai cánh: cánh bắc và cánh nam sông Hương. Cánh bắc do đồng chí Trần Thanh Liên bí thư kiêm chính ủy, Nguyễn Thu làm chỉ huy trưởng. Các đồng chí Dương Đấu, Ngô Quang Chính, Nguyễn Trọng Dần, Nguyễn Hữu Hường làm phó chỉ huy. Đồng chí Hường trực tiếp làm bí thư huyện Hương Trà. Cánh nam do đồng chí Nguyễn Vạn làm bí thư kiêm chính ủy, Thân Trọng Một làm chỉ huy trưởng. Các đồng chí: Hoàng Lanh, Tô Đình Khản làm phó chỉ huy. Đồng chí Xuân Ngà làm bí thư huyện Hương Thủy, Phan Nam bí thư huyện Phú Vang.

Đoàn 6 phụ trách ba huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Điền, có trung đoàn 6 bộ binh, do Vũ Thắng làm bí thư kiêm chính ủy, Lê Sáu chỉ huy trưởng. Đoàn 7 phụ trách các huyện Triệu Phong, Hải Lăng, thị xã Quảng Trị, Đông Hà. Lực lượng có trung đoàn 9 (sư đoàn 304), hai tiểu đoàn bộ binh 808, 814, tiểu đoàn đặc công K10 và hai đại đội bộ đội địa phương huyện. Cuối năm 1967, trung đoàn 9 được rút về làm lực lượng cơ động của quân khu, trung đoàn 2 (sư đoàn 324) được điều về thay thế. Đoàn 7 do Hồ Sĩ Thản làm bí thư kiêm chính ủy, Sùng Lãm chỉ huy trưởng, Hồ Tú Nam, Phó chính ủy quân khu trực tiếp chỉ đạo. Đoàn 31 phụ trách khu vực từ đường số 9 đến giới tuyến quân sự tạm thời gồm địa bàn hai huyện Gio Linh, Cam Lộ. Hoạt động khu vực này có hai tiểu đoàn bộ binh đặt dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh mặt trận Đường 9 - bắc Quảng Trị (B5).

Các huyện miền tây của hai tỉnh tổ chức thành Đảng ủy miền Tây, do đồng chí Lê Hành làm bí thư, đồng chí Cù Pàng chỉ huy trưởng. Các đồng chí khu ủy viên, tỉnh ủy viên được phân bổ về cơ sở trực tiếp chỉ đạo phong trào. Các đoàn được sử dụng lực lượng tại chỗ, kể cả chủ lực của quân khu đóng trên địa bàn.

Đầu tháng 10 năm 1967, Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Khu ủy và quân khu Trị - Thiên - Huế: "Tổ chức chuẩn bị đánh vào Huế. Làm kế hoạch ra Bộ báo cáo và nhận lệnh cụ thể".

Trung tuần tháng 10 năm 1967, Khu ủy họp dưới sự chủ tọa của Bí thư Trần Văn Quang để nghiên cứu chỉ thị của Quân ủy Trung ương, bàn kế hoạch tổng tiến công và nổi dậy đánh chiếm Huế, giải phóng Trị - Thiên.

Sau khi phân tích tình thế đã được tạo ra trong năm 1967 Khu ủy quyết định: "Tích cực chuẩn bị mọi mặt tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa giành thắng lợi to lớn trong năm 1968" và hạ quyết tâm: "Tập trung sức lực của toàn Đảng bộ, toàn dân, toàn quân trong quân khu với nỗ lực và cố gắng cao nhất, tiến công địch liên tục và toàn diện cả về quân sự, chính trị, binh vận, tiêu diệt và tiêu hao một bộ phận quan trọng quân Mỹ, cô lập chúng và làm cho chúng không cứu vãn được quân ngụy, chiếm lĩnh những vùng nông thôn xung yếu, làm rối loạn thành phố và hệ thống phòng thủ của địch. Phối hợp với các chiến trường khác tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa, giải phóng Trị - Thiên - Huế, giành chính quyền về tay nhân dân, đánh bại mọi cuộc phản kích của địch".

Kế hoạch chia làm hai bước:

1. Đông - xuân 1967 -1968: vừa đánh địch, mở rộng vùng giải phóng, vừa xây dựng lực lượng vùng ven và nội thành.

2. Trên cơ sở bước 1: đến hè năm 1968 tiến hành tổng tiến công và nổi dậy chiếm Huế, Phối hợp với toàn miền đánh bại quân địch.

Cùng với việc tăng cường lực lượng, xây dựng phương án tác chiến, bố trí chiến trường, Khu ủy, Bộ Tư lệnh quân khu chỉ đạo quân và dân Trị - Thiên mở đợt hoạt động quân sự thu - đông 1967.

Sau khi đưa sư đoàn 325, hai trung đoàn bộ binh cùng các binh chủng kỹ thuật vào mặt trận Đường số 9, tăng sức ép tuyến phòng thủ Mac Na-ma-ra, mở đợt tiến công vào các căn cứ Mỹ trên tuyến phòng thủ này, từ tháng 8 năm 1967 trở đi, ta tăng cường hoạt động ở đồng bằng, đánh cắt đường xe lửa Huế - Đà Nẵng, giải phóng thêm nhiều thôn ven đường, diệt đồn Nam Giảng, Lương Mai, Mỹ Chánh, Cây Xanh, Cầu Vực. Đêm 8 tháng 8, pháo binh ta đánh vào sân bay Phú Bài, phá hủy 75 máy bay, 50 xe quân sự, diệt hơn 100 tên địch. Cũng thời gian này, đặc công Thừa Thiên đột nhập vào căn cứ Mỹ ở Tam Sao, gây cho địch thiệt hại lớn. Liên tiếp từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9, đoàn 126 hải quân đưa cả bốn tiểu đoàn vào hoạt động. Đêm 1 rạng ngày 2 tháng 9, hải quân ta đánh chím năm tàu địch trên sông Cửa Việt. Trong đợt hoạt động này, đoàn 126 đã đánh chìm 12 tàu địch.

Cùng với đòn tiến công về quân sự, quân và dân ta đẩy mạnh đánh phá chương trình bình định của địch, mở rộng vùng làm chủ và vùng tranh chấp, tạo nên nhiều bàn đạp xung quanh thành phố, khôi phục lại vùng đồng bằng địch lấn chiếm, giải phóng thêm 22 thôn ở Gio Linh, Cam Lộ. Vùng giải phóng được mở rộng tạo thành thế liên hoàn từ nam sông Bến Hải vào Triệu Phong, Hải Lăng, Hương Điền, thông đến Hương Trà, Phú Vang và áp sát thành phố Huế.

Tại Huế, phong trào đấu tranh chính trị tiếp tục phát triển, nhiều cuộc biểu tình của quần chúng đòi ly khai Thiệu, Kỳ, chống bắt lính, đôn quân, đòi Mỹ rút về nước lôi cuốn hàng vạn người tham gia. Cơ sở cách mạng ở nội thành có bước phát triển.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #55 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2024, 06:02:57 pm »


Để phù hợp với nhiệm vụ trong tình hình mới, ngay từ tháng 5, Trung ương Đảng đã chuẩn y việc giải thể Tỉnh ủy và Tỉnh đội Quảng Trị, Thừa Thiên, thành lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế do đồng chí Trần Văn Quang, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, làm Bí thư khu ủy kiêm Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên. Đồng chí Lê Chưởng làm Chính ủy. Các đồng chí Nam Long, Phó tư lệnh; Hồ Tú Nam, Phó chính ủy; Đặng Kinh, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng. Các huyện ủy chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Khu ủy.

Về tổ chức chiến trường, trên các hướng thành lập các đoàn trực thuộc Bộ Tư lệnh quân khu. Đoàn 4 có nhiệm vụ đánh giao thông từ nam Phú Lộc đến bắc đèo Hải Vân, lực lượng có tiểu đoàn 804B bộ binh và hai tiểu đoàn công binh do Nguyễn Chi làm đoàn trưởng, Lê Tư Cường làm chính ủy. Đoàn 5 phụ trách Huế và ba huyện vùng ven Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vang, lực lượng gồm ba tiểu đoàn bộ binh 804A, 810, 845, hai tiểu đoàn đặc công K1, K2 và 14 đội biệt động. Đoàn 5 chia làm hai cánh: cánh bắc và cánh nam sông Hương. Cánh bắc do đồng chí Trần Thanh Liên bí thư kiêm chính ủy, Nguyễn Thu làm chỉ huy trưởng. Các đồng chí Dương Đấu, Ngô Quang Chính, Nguyễn Trọng Dần, Nguyễn Hữu Hường làm phó chỉ huy. Đồng chí Hường trực tiếp làm bí thư huyện Hương Trà. Cánh nam do đồng chí Nguyễn Vạn làm bí thư kiêm chính ủy, Thân Trọng Một làm chỉ huy trưởng. Các đồng chí: Hoàng Lanh, Tô Đình Khản làm phó chỉ huy. Đồng chí Xuân Ngà làm bí thư huyện Hương Thủy, Phan Nam bí thư huyện Phú Vang.

Đoàn 6 phụ trách ba huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Điền, có trung đoàn 6 bộ binh, do Vũ Thắng làm bí thư kiêm chính ủy, Lê Sáu chỉ huy trưởng. Đoàn 7 phụ trách các huyện Triệu Phong, Hải Lăng, thị xã Quảng Trị, Đông Hà. Lực lượng có trung đoàn 9 (sư đoàn 304), hai tiểu đoàn bộ binh 808, 814, tiểu đoàn đặc công K10 và hai đại đội bộ đội địa phương huyện. Cuối năm 1967, trung đoàn 9 được rút về làm lực lượng cơ động của quân khu, trung đoàn 2 (sư đoàn 324) được điều về thay thế. Đoàn 7 do Hồ Sĩ Thản làm bí thư kiêm chính ủy, Sùng Lãm chỉ huy trưởng, Hồ Tú Nam, Phó chính ủy quân khu trực tiếp chỉ đạo. Đoàn 31 phụ trách khu vực từ đường số 9 đến giới tuyến quân sự tạm thời gồm địa bàn hai huyện Gio Linh, Cam Lộ. Hoạt động khu vực này có hai tiểu đoàn bộ binh đặt dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh mặt trận Đường 9 - bắc Quảng Trị (B5).

Các huyện miền tây của hai tỉnh tổ chức thành Đảng ủy miền Tây, do đồng chí Lê Hành làm bí thư, đồng chí Cù Pàng chỉ huy trưởng. Các đồng chí khu ủy viên, tỉnh ủy viên được phân bổ về cơ sở trực tiếp chỉ đạo phong trào. Các đoàn được sử dụng lực lượng tại chỗ, kể cả chủ lực của quân khu đóng trên địa bàn.

Đầu tháng 10 năm 1967, Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Khu ủy và quân khu Trị - Thiên - Huế: "Tổ chức chuẩn bị đánh vào Huế. Làm kế hoạch ra Bộ báo cáo và nhận lệnh cụ thể".

Trung tuần tháng 10 năm 1967, Khu ủy họp dưới sự chủ tọa của Bí thư Trần Văn Quang để nghiên cứu chỉ thị của Quân ủy Trung ương, bàn kế hoạch tổng tiến công và nổi dậy đánh chiếm Huế, giải phóng Trị - Thiên.

Sau khi phân tích tình thế đã được tạo ra trong năm 1967 Khu ủy quyết định: "Tích cực chuẩn bị mọi mặt tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa giành thắng lợi to lớn trong năm 1968" và hạ quyết tâm: "Tập trung sức lực của toàn Đảng bộ, toàn dân, toàn quân trong quân khu với nỗ lực và cố gắng cao nhất, tiến công địch liên tục và toàn diện cả về quân sự, chính trị, binh vận, tiêu diệt và tiêu hao một bộ phận quan trọng quân Mỹ, cô lập chúng và làm cho chúng không cứu vãn được quân ngụy, chiếm lĩnh những vùng nông thôn xung yếu, làm rối loạn thành phố và hệ thống phòng thủ của địch. Phối hợp với các chiến trường khác tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa, giải phóng Trị - Thiên - Huế, giành chính quyền về tay nhân dân, đánh bại mọi cuộc phản kích của địch".

Kế hoạch chia làm hai bước:

1. Đông - xuân 1967 -1968: vừa đánh địch, mở rộng vùng giải phóng, vừa xây dựng lực lượng vùng ven và nội thành.

2. Trên cơ sở bước 1: đến hè năm 1968 tiến hành tổng tiến công và nổi dậy chiếm Huế, Phối hợp với toàn miền đánh bại quân địch.

Cùng với việc tăng cường lực lượng, xây dựng phương án tác chiến, bố trí chiến trường, Khu ủy, Bộ Tư lệnh quân khu chỉ đạo quân và dân Trị - Thiên mở đợt hoạt động quân sự thu - đông 1967.

Sau khi đưa sư đoàn 325, hai trung đoàn bộ binh cùng các binh chủng kỹ thuật vào mặt trận Đường số 9, tăng sức ép tuyến phòng thủ Mac Na-ma-ra, mở đợt tiến công vào các căn cứ Mỹ trên tuyến phòng thủ này, từ tháng 8 năm 1967 trở đi, ta tăng cường hoạt động ở đồng bằng, đánh cắt đường xe lửa Huế - Đà Nẵng, giải phóng thêm nhiều thôn ven đường, diệt đồn Nam Giảng, Lương Mai, Mỹ Chánh, Cây Xanh, Cầu Vực. Đêm 8 tháng 8, pháo binh ta đánh vào sân bay Phú Bài, phá hủy 75 máy bay, 50 xe quân sự, diệt hơn 100 tên địch. Cũng thời gian này, đặc công Thừa Thiên đột nhập vào căn cứ Mỹ ở Tam Sao, gây cho địch thiệt hại lớn. Liên tiếp từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9, đoàn 126 hải quân đưa cả bốn tiểu đoàn vào hoạt động. Đêm 1 rạng ngày 2 tháng 9, hải quân ta đánh chím năm tàu địch trên sông Cửa Việt. Trong đợt hoạt động này, đoàn 126 đã đánh chìm 12 tàu địch.

Cùng với đòn tiến công về quân sự, quân và dân ta đẩy mạnh đánh phá chương trình bình định của địch, mở rộng vùng làm chủ và vùng tranh chấp, tạo nên nhiều bàn đạp xung quanh thành phố, khôi phục lại vùng đồng bằng địch lấn chiếm, giải phóng thêm 22 thôn ở Gio Linh, Cam Lộ. Vùng giải phóng được mở rộng tạo thành thế liên hoàn từ nam sông Bến Hải vào Triệu Phong, Hải Lăng, Hương Điền, thông đến Hương Trà, Phú Vang và áp sát thành phố Huế.

Tại Huế, phong trào đấu tranh chính trị tiếp tục phát triển, nhiều cuộc biểu tình của quần chúng đòi ly khai Thiệu, Kỳ, chống bắt lính, đôn quân, đòi Mỹ rút về nước lôi cuốn hàng vạn người tham gia. Cơ sở cách mạng ở nội thành có bước phát triển.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #56 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2024, 06:04:08 pm »


Trên miền Bắc, mặc dù địch đánh phá ngày càng ác liệt, nhưng quân và dân ta không nao núng quyết tâm, vừa kiên cường đánh trả không quân Mỹ, vừa bảo đảm giao thông vận tải chi viện tiền tuyến. Đến cuối 1967, toàn Quân khu 4 đã vận chuyển cho chiến trường miền Nam đạt 117 phần trăm kế hoạch, cho Lào đạt 104 phần trăm kế hoạch, cho chiến trường Trị - Thiên được 28.529 tấn. Trong không khí cả nước ra quân, 11.130 chiến sĩ con em các địa phương trong quân khu đã lần lượt lên đường nhập ngũ và có 10.000 người đã vào chiến đấu ở Trị - Thiên.

Theo dõi chặt chẽ diễn biến của tình hình trên chiến trường, trong nước và trên thế giới, tháng 12 năm 1967, Bộ Chính trị họp quyết định: "Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định". Thực hiện quyết định của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh khi xây dựng phương án tổng công kích - tổng khởi nghĩa đã xác định đường số 9 - Khe Sanh là chiến trường chính của bộ đội chủ lực nhằm thu hút, giam chân lực lượng cơ động chiến lược của địch, lấy Sài Gòn, Nam Bộ và Trị - Thiên - Huế làm chiến trường chính của đòn tổng công kích - tổng khởi nghĩa, trong đó Sài Gòn, Huế và các thành phố lớn là trọng điểm.

Dưới sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, Quân khu Trị - Thiên thành lập mặt trận thành phố Huế (gồm sáu quận, huyện nội và ngoại thành) và mặt trận Trị - Thiên (B4). Ban chỉ đạo tổng công kích - tổng khởi nghĩa ở B4 và mặt trận Huế do Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy trực tiếp chỉ đạo. Các ban chỉ đạo, chỉ huy ở cánh nam, bắc Huế, và ở mặt trận Quảng Trị, Phú Lộc và ban chỉ đạo hậu phương toàn quân khu được gấp rút thành lập.

Cán bộ chủ chốt của quân khu, huyện, thị, thành phố được cử về các địa phương bám nắm địa bàn.

Bí thư Đảng bộ các cấp, các đội trưởng đội công tác cơ sở, chỉ huy trưởng các đơn vị về quân khu dự các lớp tập huấn quán triệt chủ trương, kế hoạch tổng tiến công và nổi dậy, cùng cơ quạn quân khu thảo luận, xây dựng phương án tác chiến cụ thể trên từng cánh, từng mũi. Trong khi đó các đội trinh sát tăng cường hoạt động điều tra tình hình địch, chuẩn bị chiến đấu. Lúc này các xã ở ven thành phố Huế đã có vùng "lõm" và hệ thống hầm bí mật nuôi giấu cán bộ vào hoạt động. Nội thành Huế đã xây dựng 1.000 cơ sở mật và 40 tổ vũ trang công tác. Ở cánh nam, trong tháng 1 năm 1968, thêm 300 tự vệ chiến đấu được cài cắm ở các khu phố. Xí nghiệp Long Thọ, nhà máy đèn, nhà ga có hai đến ba tiểu đội tự vệ vũ trang. Các huyện ngoại thành bổ sung 700 cán bộ vào đội công tác.

Mạng giao thông liên lạc từ miền núi về đồng bằng vào thành phố được thiết lập. Đêm đêm, giao liên đưa đón cán bộ ra, vào thành hoạt động.

Tết đang đến gần. Lợi dụng việc nhân dân đi lại mua sắm hàng tết; đặc công, biệt động, cán bộ dân - chính - Đảng, quần chúng cách mạng cải trang lọt vào thành phố Huế, thị xã Quảng Trị bám sát các mục tiêu nắm địch và chuẩn bị lực lượng.

Từ vùng địch kiểm soát, cơ sở cách mạng đã sử dụng các phương tiện vận tải ô-tô, xuồng máy... đi bằng đường hợp pháp công khai hoặc đường bí mật, đêm ngày chuyển gạo, thuốc men ra vùng giải phóng và nhận về súng đạn, thuốc nổ.

Ở Hương Thủy, quần chúng cách mạng mua gạo chuyển lên vùng giáp ranh. Chị Nguyễn Thị Toen đã hy sinh trong khi chuyển gạo qua sông cung cấp cho quân giải phóng.

Các xã Hương Thanh, Hương Mai, Hương Phú huyện Hương Trà được phân công thu mua lương thực, thực phẩm. Xã Hương Vinh mua nhu yếu phẩm. Đến cuối năm 1967 đã có 1.700 tấn lương thực, 18 con trâu được đưa lên căn cứ.

Huyện Phú Vang huy động 2.000 tấn lương thực, 30 triệu (tiền ngân hàng chính quyền Sài Gòn), 500 thùng sắn khô. Ở Quảng Trị, nhân dân Triệu Hải mua gạo từ đồng bằng ven biển chuyển về các xã Hải Phong, Hải Vĩnh, Hải Thượng. Đến trung tuần tháng 1 năm 1968 đã tập kết được 1.500 tấn.

Vừa hoàn thành công tác chuẩn bị, tăng cường lực lượng, bố trí chiến trường, Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên phối hợp với Bộ Tư lệnh mặt trận Đường số 9 mở đợt hoạt động quân sự, nhằm thu hút lực lượng địch và nghi binh, đánh lạc hướng phán đoán của địch.
Đêm 6 rạng ngày 7 tháng 1 năm 1968, tiểu đoàn 804 bộ binh cùng một đại đội đặc công, một đại đội súng cối và ĐKZ, một đại đội công binh do đồng chí Trần Lưu Chử, đoàn phó đoàn 4 chỉ huy đã nổ súng tiến công diệt đồn Cầu Hai, quận Phú Lộc, đồn An Bằng và Nước Ngọt, loại khỏi vòng chiến đấu gần 400 tên, trong đó có tên quận trưởng Phú Lộc. Được sự hỗ trợ của đòn tiến công quân sự, nhân dân đã phá giao thông địch trên đường số 1, đoạn Phú Lộc - Hải Vân. Địch phải điều một tiểu đoàn Mỹ từ Phú Bài vào đối phó. Trong khi tuyến đường số 1 chưa được giải tỏa, ngày 13 tháng 1, trên hướng Quảng Trị, tiểu đoàn 8 bộ binh phục kích phá đoàn xe vận tải gồm chín chiếc, trên đoạn Tân Lâm - Cà Lu (tây đường số 9) diệt hàng trăm tên địch. Năm ngày sau, đoàn 31 đặc công phối hợp với pháo binh tập kích diệt quân Mỹ trên các điểm cao động Tri, 845, 832.

Đêm 21 tháng 1, pháo binh bờ bắc sông Bến Hải dội đạn vào căn cứ Ái Tử và tập kích vào xóm Búng, đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ, phá hỏng một đài ra-đa, một xe M113, gây nổ một kho đạn.

Đêm 12 tháng 1, lực lượng vũ trang huyện Hương Trà, cùng với tiểu đoàn 12 đặc công đánh bại cuộc hành quân càn quét của hai tiểu đoàn ngụy vào vùng núi huyện Hương Trà, bảo vệ địa bàn đứng chân và cơ sở vật chất chuẩn bị cho tổng tiến công.

Trong tháng 1, các đội biệt động nội thành Huế cũng diệt gần 300 tên ác ôn, mật vụ.

Đêm 19 tháng 1, ta đưa trung đoàn 270 vào chốt giữ các điểm: Lâm Xuân, Bạch Cầu, Hoàng Hà; sử dụng tiểu đoàn 25 công binh làm lực lượng mở cửa cho trung đoàn 48 sư đoàn 320 vào đánh Cam Lộ và đánh giao thông địch trên đường số 9. Đặc công hải quân kết hợp với một bộ phận trung đoàn 270 đánh cắt giao thông thủy của địch trên sông Bồ Điền, đoạn Cửa Việt - Đông Hà.

Trong lúc địch đang cố phán đoán về đợt hoạt động mới của ta, từ ngày 12 đến 27 tháng 1, Liên quân Lào - Việt thực hành thắng lợi chiến dịch Nậm Bạc, đánh thiệt hại nặng 11 tiểu đoàn ngụy Lào, giữ vững hành lang chiến lược, buộc Mỹ và bọn phản động Lào phải lúng túng đối phó.

Giữa lúc chiến dịch Nậm Bạc diễn ra sôi động thì đêm 20 tháng 1 năm 1968, Bộ Tư lệnh chiến dịch Đường số 9 - Khe Sanh ra lệnh tiến công tập đoàn cứ điểm Khe Sanh và tuyến phòng thủ đường số 9.

Sáng 21 tháng 1, trung đoàn 66 sư đoàn 304 đánh chiếm quận lỵ Hướng Hóa (phía tây Khe Sanh), giải phóng hơn 8.000 dân. Tiểu đoàn 6 trung đoàn 2 sư đoàn 325C đánh chiếm điểm cao 832 án ngữ tây bắc cụm cứ điểm Tà Cơn. Đêm 23 tháng 1, trung đoàn 24 sư đoàn 304 được tăng cường một đại đội xe tăng PT76 tiến công đánh chiếm căn cứ Huội San, phá một mắt xích quan trọng trên tuyến phòng thủ phía tây đường số 9. Khi chiến dịch Đường số 9 - Khe Sanh nổ ra, địch cho rằng ta sẽ đánh chiếm thị xã Quảng Trị. Chúng vội điều lực lượng ra bảo vệ thị xã Quảng Trị và quận lỵ Triệu Phong, tăng thêm quân cho khu vực đường số 9.

Huế và Phú Lộc vẫn là nơi sơ hở nhất của địch.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #57 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2024, 06:06:56 pm »


II. CHIẾM GIỮ HUẾ 25 NGÀY ĐÊM, VÂY HÃM MỸ - NGỤY 170 NGÀY ĐÊM Ở KHE SANH - ĐƯỜNG SỐ 9

Giữa lúc địch đang dồn tâm trí và lực lượng đối phó ở hướng đường số 9 - Quảng Trị, trưa ngày mồng một Tết Mậu Thân (ngày 30 tháng 1 năm 1968)1  từ những cánh rừng phía tây Hương Trà, Hương Thủy, Phong Điền, các đơn vị chủ lực và địa phương khẩn trương hành quân tới vị trí tập kết. Bộ chỉ huy tiền phương Quân khu Trị - Thiên rời căn cứ Phong Điền, chuyển xuống vùng Khe Trái huyện Hương Trà để bám sát các mũi tiến công. Cùng lúc đó, các đội biệt động, tổ công tác đã vào thành phố, ém sát các mục tiêu, sẵn sàng chờ lệnh nổ súng tiến công.

Bộ chỉ huy cánh bắc do đồng chí Nguyễn Thu làm chỉ huy trưởng, Trần Anh Liên làm chính ủy đã có mặt ở phía Khe Trái huyện Hương Trà. Lực lượng cánh này gồm trung đoàn 6 bộ binh (do trung đoàn trưởng Dương Đấu và chính ủy Nguyễn Chí Thành chỉ huy), được tăng cường tiểu đoàn 6 trung đoàn 9, tiểu đoàn 12 đặc công, hai đội biệt động, một đại đội trinh sát, các đơn vị hỏa lực, công binh, thông tin và lực lượng địa phương huyện Hương Trà. 17 giờ 30 ngày 30 tháng 1, toàn bộ lực lượng đã vượt qua dốc Ông Ấm tiến vào khu vực An Hòa, Bồn Trì, Bồn Phổ.

Bộ chỉ huy cánh nam do đồng chí Thân Trọng Một làm chỉ huy trưởng có mặt ở khu vực Viễn Trình huyện Phú Vang. Chiến đấu ở cánh này có trung đoàn 9 bộ binh (thiếu tiểu đoàn 6) do trung đoàn trưởng Tô Đình Khản và chính ủy Lê Khả Phiêu chỉ huy, được bổ sung hai tiểu đoàn 864, 810 bộ binh của thành đội Huế, tiểu đoàn 1, tiểu đoàn 2 đặc công, tiểu đoàn 32 pháo ĐKB, một lực lượng hỏa lực B41 (có 50 khẩu), bốn đội biệt động, các đơn vị binh chủng và lực lượng hai huyện: Phú Vang, Hương Thủy. 22 giờ ngày 30 tháng 1, toàn bộ lực lượng đã tập kết ở khu vực Viễn Trình, Phú Tài, Hải Thủy.

Ngoài hai hướng trên, một số đơn vị của ta cũng áp sát mục tiêu trên nhiều hướng. Bộ đội sẵn sàng, hồi hộp ở vị trí xuất phát tiến công, chờ lệnh nổ súng.

2 giờ 33 phút ngày 31 tháng 1 năm 1968, pháo ĐKB cánh nam bắn vào sân bay Phú Bài. Hiệu lệnh tổng tiến công và nổi dậy trên toàn chiến trường Trị - Thiên - Huế đã điểm.

Trên cánh bắc: một tổ du kích mật do Đặng Văn Hiếu chỉ huy mở đường cho đại đội 1, tiểu đoàn 12 đặc công và tiểu đoàn 6, trung đoàn 6 bộ binh đánh vào sở chỉ huy sư đoàn 1 ngụy ở Mang Cá.

Một bộ phận đặc công bí mật vượt qua tường thành khu Mang Cá; nhung lúc phát triển vào bên trong căn cứ thì bị địch phát hiện chống trả, một số cán bộ, chiến sĩ thương vong. Mũi trưởng Nguyễn Văn Châu dùng cối 82 bắn chế áp để đưa lực lượng đánh vào cổng Bắc, diệt được bốn lô cốt, sau đó đánh sang cổng Tây. Ở vòng ngoài, đại đội 2 bộ binh vấp phải sự chống trả mãnh liệt của địch; bị địch cầm chân. Cuộc chiến đấu kéo dài năm giờ. Hàng trăm tên địch bị diệt, nhưng số thương vong của ta cũng tăng dần. Vào lúc 7 giờ 30, ta buộc phải rút ra củng cố.

Bộ chỉ huy cánh bắc tung tiểu đoàn 2 và lực lượng đặc công đánh vào Mang Cá lần thứ hai, nhưng vẫn không đột nhập được vào tung thâm. Ta chỉ tổ chức bao vây Mang Cá trong suốt quá trình chiếm giữ Huế. Mục tiêu chủ yếu của cánh bắc không giải quyết được.

Ở Tây Lộc: sau khi bí mật vượt qua cống Thủy Quan và cửa Chánh Tây, đại đội 2 đặc công và tiểu đoàn 1 trung đoàn 6 bộ binh ba lần tiến công vào sân bay, gây thiệt hại nặng hai tiểu đoàn địch, phá hủy 20 máy bay, nhưng chỉ giữ được đến 11 giờ.

Tại khu vực Thành Nội, đại đội 4 đặc công cùng đại đội 5 tiểu đoàn 2 trung đoàn 6 đột phá từ cửa Hữu, diệt đơn vị thám báo và 131 tên cảnh sát, bắt 26 tên, sau đó phát triển đánh chiếm khu vực cột cờ. Đúng 9 giờ ngày 31 tháng 1, cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tung bay trên đỉnh Phu Văn Lâu. Chiến sĩ Nguyễn Văn Tuyển là người được phân công kéo lá cờ này.

Sau khi đánh chiếm khu cột cờ, tiểu đoàn 2 phát triển qua cửa Đông Ba, cửa Thượng Tứ, cống Thanh Long tiến ra phía bắc cầu Tràng Tiền đánh chiếm các ty, sở ngụy quyền ở quận Nhất, diệt đồn cảnh sát chợ Đông Ba, truy quét lũ ác ôn, cảnh sát suốt dọc đường Trần Hưng Đạo.

Ở khu vực phường Gia Hội, đội biệt động số 14 đã đập tan chính quyền ngụy. Sáng ngày 1 tháng 2, nhân dân toàn phường nổi dậy truy lùng ác ôn, tề điệp, mật vụ, tham gia phục vụ chiến đấu.

Phối hợp với nội thành, ở vùng ven, tiểu đoàn 818 cùng lực lượng vũ trang huyện Hương Trà nổ súng tiến công diệt các vị trí địch ở vòng ngoài như Kim Long, Kẻ Vạn, Văn Thánh, cầu Bạch Hổ, cầu An Hòa, Đốc Sơ, Bồn Tứ, Bồn Phổ, An Lưu, Quế Chử..., diệt và bắt hàng trăm ác ôn, cảnh sát và nhân viên ngụy quyền. Trưa ngày 1 tháng 2, bộ đội địa phương huyện Hương Trà cùng nhân dân nổi dậy cướp chính quyền ở một số xã, diệt và bắt nhiều ác ôn, gọi hàng hơn 1.000 tên phòng vệ dân sự. Sáng ngày 2 tháng 2, các xã còn lại trong huyện nổi dậy phá bỏ chính quyền của địch, thành lập chính quyền cách mạng và hăng hái tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Nhân dân xã Hương Thái góp hơn 700 thùng gạo, hàng tấn thực phẩm, tổ chức nhà ăn tập thể phục vụ cho hàng nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ, đồng bào cánh bắc Huế trong suốt quá trình tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân.

Cùng Hương Trà, lực lượng vũ trang huyện Quảng Điền tiến công mạnh mẽ, đánh chiếm đồn Phổ Lại, uy hiếp các vị trí Đức Trọng, cầu Kẽm; cắt giao thông tuyến Phú Ốc - Sịa; giải phóng các xã An Gia, Thanh Bình, Thu Lễ, làm chủ Sịa, bao vây quận lỵ Quảng Điền. Cùng lúc, lực lượng vũ trang huyện Phong Điền đột nhập vào chợ Phò Trạch, làng Thanh Hương, hỗ trợ cho hơn 3.000 quần chúng bao vây, uy hiếp quận lỵ, buộc địch rút bỏ ba vị trí ở Thanh Hương. Vùng giải phóng nối liên hoàn từ Hải Lăng vào Phong Điền, Quảng Điền...

Đòn tiến công bất ngờ của ta ở cánh bắc buộc địch phải rút bỏ nhiều đồn bốt ở Sịa và các điểm cao 367, 54, cầu Kẽm để đưa quân về Đồng Lâm, An Lỗ, tăng cường lực lượng giữ tuyến sông Bồ làm bàn đạp chuẩn bị phản kích.

Ở cánh nam Huế, tiểu đoàn 1 đặc công dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trường Trần Đức Tuyển cùng chính trị viên Trương Đình Chiến tăng cường một trung đội bộ binh và một khẩu đội ĐKZ, đánh chiếm căn cứ trung đoàn 7 thiết giáp ngụy ở Tam Thai. Đến 6 giờ 31 tháng 1, ta đã làm chủ hầu hết các vị trí trong căn cứ, phá 35 xe tăng, thiết giáp, diệt trên 350 tên địch.

7 giờ ngày 31 tháng 1, các đơn vị xe tăng và bộ binh địch ở vòng ngoài quay lại phản kích. Tiểu đoàn 1 đặc công trụ lại trong căn cứ, liên tiếp đánh bật các đợt phản kích của chúng. Suốt ba ngày chiến đấu liên tục và quyết liệt, lực lượng ta bị tổn thất, quân số không được bổ sung. Chiều 2 tháng 2, đặc công ta phải rút về Ngũ Tây để củng cố sau khi đã giữ Tam Thai liên tục ba ngày, mở cửa cho các đơn vị vào đánh Huế từ phía nam, góp phần hình thành thế chặn địch tăng viện bằng đường bộ từ Phú Bài, Ấp 5, động Tòa vào giải vây Huế.

Trong khi tiếng súng tiến công của tiểu đoàn 1 đặc công đang rộ lên ở Tam Thai, tiểu đoàn 2 đặc công dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Hùng Hải Vũ và chính trị viên Trần Đăng Hiền tiến công táo bạo vào khách sạn Thuận Hóa và tiểu khu Thừa Thiên. 4 giờ ngày 1 tháng 2, đại đội 1 đã chiếm tầng một khách sạn Thuận Hóa và đại đội 2 chiếm tiểu khu Thừa Thiên, ngã 5 Tòa Khâm và phát triển xuống khách sạn Hương Giang, cùng tiểu đoàn 840 bộ binh chiếm đài phát thanh Huế và phía nam cầu Tràng Tiền.

Đại đội 3 cùng với biệt động thành đánh đồn An Cựu, diệt hai đoàn bình định, phát triển lên Kho Rèn, diệt gần 50 tên cảnh sát, bắn cháy sáu xe tăng, kết hợp với đại đội 1 tiểu đoàn 804 bộ binh tiến công hai tiểu đoàn cảnh sát dã chiến ngụy ở Bốt Cò. Đại đội 2 tiểu đoàn 804 tiến công trại hậu cần Lê Lai, diệt hơn 200 tên ngụy, phá hủy trên 100 xe vận tải. Sau khi diệt các mục tiêu được phân công, toàn bộ tiểu đoàn 804 vòng ra khu vực nam cầu Tràng Tiền xây dựng trận địa chốt để chuẩn bị đánh địch phản kích.
____________________________________________________
1. Theo lịch đo chính quyền Sài Gòn công bố: Ngày mồng một Tết Nguyên đán năm 1968 là ngày 30 tháng 1 năm 1968, sớm hơn một ngày so với lịch sử dụng trên miền Bắc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #58 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2024, 06:08:13 pm »


Hòa nhịp với tiểu đoàn 804, tiểu đoàn 810 do hai đồng chí Bảy Khiên và Đặng Văn Đáp chỉ huy, tiến công mạnh mẽ, đánh chiếm cầu Ga, Bến Ngự, Nam Giao, đường Lê Lợi..., diệt tiểu đoàn bình định, tỉnh đoàn bảo an, ty sắc tộc, tòa đại điện chính quyền Sài Gòn ở Trung Phần, tòa tỉnh trưởng, bắt sống đại tá Nguyễn Văn Đại tỉnh phó Thừa Thiên. Thừa thắng, tiểu đoàn 810 tiến công nhà lao Thừa Phủ, giải phóng hơn 2.000 cán bộ cách mạng bị địch giam cầm. Cùng lúc, đại đội 4 đặc công đột nhập vào trại biệt giam thẩm vấn, giải thoát 107 cán bộ cách mạng.

Tiểu đoàn 8 trung đoàn 9 cùng tổ du kích mật xã Thủy An, diệt cụm xe tăng ở cầu Nhà Đèn, đánh chiếm cầu An Cựu, tiến công vào Phước Quả, Phú Cam, diệt 1.300 tên gián điệp, biệt kích, bắt 246 tên, thu nhiều tài liệu vũ khí. Sau đó, tiểu đoàn phát triển sang xưởng quân cụ, trường huấn luyện biệt kích người Thượng, đồn cảnh sát ga Huế và căn cứ của tiểu đoàn công binh ngụy ở Bò Ghè.

Phối hợp nhịp nhàng với các đơn vị ở nội thành cánh nam Huế, đội đặc công huyện Hương Thủy cùng du kích diệt đồn cảnh sát An Cựu, miếu Đại Càng, đồn Cầu Vực, Gia Lệ, chợ Cống..., diệt bọn ác ôn, mật vụ và cảnh sát ở các xã Mỹ Thủy, An Thủy, Thanh Thủy. Sau khi làm chủ khu vực này, đặc công phối hợp với du kích xây dựng trận địa chốt, chuẩn bị đánh địch từ Phú Bài vào phản kích, đồng thời hỗ trợ cho nhân dân các xã Mỹ Thủy, Vân Dương, Xuân Hòa, An Thủy, Hải Thanh nổi dậy, phá bỏ chính quyền địch, thành lập chính quyền cách mạng, tham gia du kích. Huyện đã kịp thời bổ sung 300 du kích cho bộ đội chủ lực.

Ở Phú Vang, đội biệt động huyện phối hợp với đại đội 117 bộ đội địa phương cùng du kích diệt một đại đội biệt kích ngụy ở Phú Xuân, một trung đội cảnh sát, một trung đội dân vệ và hai đoàn bình định ở Đập Đá, đốt cháy kho xăng chợ Dinh, cắt đường giao thông thủy của địch từ cửa Thuận lên Huế, hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy giành chính quyền ở các xã Phú Ân, Phú Bài, Phú Thiện và khu phố 5 (vùng Vĩ Dạ, Ngọc Anh).

Từ ngày 2 đến ngày 7 tháng 2, huyện Phú Vang đã thành lập được hai đại đội vũ trang huyện và xây dựng trận địa chốt chuẩn bị đánh địch phản kích.

Cùng với Huế, khắp nơi ở Trị - Thiên, lực lượng vũ trang ta đồng loạt tiến công các mục tiêu, căn cứ địch. Đoàn 4 nổ súng tiến công diệt quận lỵ Phú Lộc, phá sập cầu Hai, cầu Nước Ngọt, bức địch rút bỏ các đồn An Bằng, Thừa Lưu, giải phóng thêm một số xã ở vùng Truồi, nam Cầu Hai và khu 3 Phú Lộc, sau đó chuyển sang đánh cắt giao thông địch từ Phú Bài vào Hải Vân. Lực lượng vũ trang mặt trận 7 kết hợp với đoàn 31 đồng loạt tiến công các vị trí trên tuyến phòng thủ bắc Quảng Trị của địch.

Đêm 31 tháng 1, tiểu đoàn 10 đặc công tập kích đại đội địch ở điểm cao 49 và tiến công tiêu diệt sở chỉ huy tiểu đoàn 1 dù ngụy ở mộ ông Chưởng.

Tiểu đoàn 1 trung đoàn 2 sư đoàn 324 bí mật vượt sông Thạch Hãn tiến công ty cảnh sát, dinh tỉnh trưởng Quảng Trị, đánh thiệt hại tiểu đoàn dù số 9 ngụy ở Hành Hoa. Tiểu đoàn dù số 8 ngụy ở Tri Bửu cũng bị tiểu đoàn 14 bộ binh Quảng Trị tiêu diệt.

Trung đoàn 270 tiến công tiêu diệt các căn cứ địch ở Lâm Xuân, Hoàng Hà.

Sáng 3 tháng 2, trung đoàn 27 đánh chiếm Phúc Sa. Lực lượng vũ trang các huyện Hải Lăng, Triệu Phong, phối hợp cùng bộ đội chủ lực tiến công các vị trí địch ở cầu Nhùng, La Nghi, Bến Đá, Ngô Xá... giải phóng các xã Triệu Trung, Triệu Phương, Triệu Đại, Triệu Hoa...

Đoàn 126 đặc công hải quân dùng thủy lôi đánh chìm 12 tàu địch trên sông Cửa Việt. Chỉ mấy ngày đầu của cuộc tổng tiến công, quân và dân Trị - Thiên - Huế đã đánh chiếm nhiều mục tiêu bên trong và bên ngoài thành phố Huế, thị xã Quảng Trị, Đông Hà và các chi khu quân sự, quận lỵ, giam chân và tiêu diệt, tiêu hao nhiều đơn vị Mỹ - ngụy trên đường số 9, buộc Mỹ - ngụy phải rút lực lượng ở các nơi về đối phó, bỏ hở vùng nông thôn.

Được đòn tiến công quân sự hỗ trợ, nhân dân nổi dậy phá vỡ bộ máy kìm kẹp của địch ở hầu hết các quận trong thành phố Huế và nhiều vùng nông thôn đồng bằng Trị - Thiên, giành quyền làm chủ.

Ở Huế, công nhân, nông dân, tiểu thương, học sinh, sinh viên, các tầng lớp trí thức, tu sĩ... tham gia diệt ác trừ gian truy quét địch, lùng diệt ác ôn, cảnh sát, mật vụ, vận động binh lính địch ra đầu thú. Chính quyền cách mạng được thiết lập ở hầu khắp các phường xã, khối phố. Nhân dân nô nức tham gia tự vệ, dân quân, du kích, tiếp tế nuôi quân, cứu chữa, chăm sóc thương binh.

Xã Thủy Xuân có 30 y sĩ và bác sĩ giúp quân y tổ chức các trạm phẫu thuật dã chiến. Chùa Ngũ Tây, chùa Thích Quang Tự được các sư thầy cho sử dụng làm trạm phẫu thuật. Các ni sư ở chùa Từ Đàm, chùa Tường Vân cung cấp lương thực, thực phẩm, bảo đảm ăn uống cho hơn 2.000 cán bộ cách mạng mới được giải thoát khỏi nhà lao Thừa Phủ và trại thẩm vấn. Xưởng Vị Hương Tố của nhà chùa ủng hộ 250 bao muối cho các đơn vị bộ đội. Các nhà sư ở chùa Thiên Hữu ủng hộ 20 tấn gạo cho bộ đội...

Ngay sau khi Huế giải phóng, các đoàn thể quần chúng được thành lập và bước đầu đi vào hoạt động. Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình thành phố Huế ra đời, tập hợp nhiều nhân sĩ, trí thức, sinh viên, các chức sắc tôn giáo yêu nước, tiến bộ, hình thành mặt trận yêu nước, yêu hòa bình, chống Mỹ và tay sai. Ủy ban nhân dân cách mạng thành phố Huế ra mắt quần chúng trong niềm phấn khởi, tự hào của quân và dân thành phố.

Chỉ trong tuần đầu của cuộc tổng tiến công, ta đã giải phóng thêm 200.000 dân của 100 xã, 296 thôn xung quanh Huế và hàng trăm nghìn dân ở nông thôn, đồng bằng haỉ tỉnh Trị - Thiên.

Phối hợp chặt chẽ với mặt trận Huế, lực lượng vũ trang cùng nhân dân các địa phương bao vây uy hiếp các quận lỵ, chia cắt giao thông, đánh bại các cuộc phản kích của địch, giữ vững địa bàn, bảo đảm được hành lang thông suốt từ Vĩnh Linh vào bắc Huế. Tuyến hành lang này được củng cố sau khi trung đoàn 1 sư đoàn 324 do trung đoàn trưởng Tứ Duyệt và chính ủy Nguyễn Đàm chỉ huy chọc thủng tuyến phòng thủ Cửa Việt, vào đứng chân ở vùng đồng bằng Quảng Điền, Phong Điền.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #59 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2024, 06:09:28 pm »


Ở mặt trận Đường số 9 — Khe Sanh, ta tăng cường vây ép các điểm cao 845, 832, 530, 950.

Ngày 6 tháng 2, trung đoàn 24 sư đoàn 304, tiểu đoàn 3 trung đoàn 1 sư đoàn 325C, có sự chi viện của xe tăng, pháo binh, súng phun lửa, đặc công và công binh nổ súng tiến công căn cứ Làng Vây (phía tây Khe Sanh).

Sau hơn chín giờ tiến công, ta đã diệt trên 400 tên địch, bắt 253 tù binh, thu toàn bộ vũ khí, làm chủ hoàn toàn cứ điểm Làng Vây.

Đây là trận đánh hiệp đồng binh chủng đầu tiên trên chiến trường Trị - Thiên.

Chiếm Làng Vây, quân ta làm chủ đoạn đường từ Khe Sanh lên biên giới Việt - Lào dài 40 ki-lô-mét trên đường số 9, tạo bàn đạp vững chắc vây hãm Tà Cơn.

Ngày 10 tháng 2, ta đánh chiếm các cứ điểm xung quanh Tà Cơn.

Dựa vào trận địa chốt được xây dựng sâu trong lòng đất, bộ đội ta đánh lui nhiều đợt phản kích của địch từ trong căn cứ nống ra và từ ngoài đánh vào. Các tổ bắn tỉa tích cực hoạt động và pháo binh ta lúc bắn cấp tập, lúc bắn cầm canh, làm cho lính Mỹ thường xụyên sống trong tình trạng căng thẳng. Địch phải dùng máy bay lên thẳng tiếp tế lương thực, nước sinh hoạt và vũ khí, đạn dược. Nỗi lo về một "Điện Biên Phủ thứ 2" ám ảnh bộ chỉ huy quân Mỹ buộc chúng phải đưa lực lượng lên giải tỏa.

Ở Gio Linh, Cam Lộ, Vĩnh Linh, nhân dân dỡ nhà, chặt tre, đẽo hàng nghìn cọc nhọn cắm cừ chặn sông Cửa Việt ngăn tàu địch qua lại. Chúng buộc phải dùng máy bay đổ xăng xuống đốt. Các tiểu đoàn đặc công 126, 31 từ Vĩnh Lịnh luôn theo mép biển đưa chất nổ vào Cửa Việt, kết hợp với pháo binh, cao xạ và lực lượng dân quân liên tục quần nhau với địch ở ngã tư Sòng, bắn cháy 35 tàu, đánh chìm 82 xuồng của địch. Sáu đại đội hỏa lực của dân quân Vĩnh Quang, Vĩnh Giang, Vĩnh Long, Vĩnh Lâm, Vĩnh Thái, Vĩnh Thành vượt sông Bến Hải vào cảng Cửa Việt phục kích săn tàu, bắn chìm 12 xuồng, bắn cháy bốn tàu vận tải và hai xe tăng địch.

Đại đội 3 tiểu đoàn 49 và đại đội 1 tiểu đoàn 46 Quảng Bình, đại đội súng cối 82 của Hà Tĩnh chiến đấu ở mặt trận Đường số 9 đã bắn cháy hàng chục xe vận tải của địch. Trong 10 ngày cuối tháng 2, các tổ bắn tỉa của dân quân Vĩnh Nam, Vĩnh Tú đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 100 tên địch. Nữ du kích Trần Thị Buổi, trong đội bắn tỉa xã Vĩnh Tú, từ một chiến sĩ phục vụ đã xin được trực tiếp cầm súng và chỉ ba ngày phục kích, với 26 viên đạn đã diệt 19 tên địch.

20 ngày của đợt hoạt động, các lực lượng vũ trang mặt trận Đường số 9 - bắc Quảng Trị liên tục chiến đấu, tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bắt 233 tên, phá gần hết ấp chiến lược ở hai huyện Gio Linh - Cam Lộ, giải phóng thêm 20.000 dân, thu hút giam chân 29 tiểu đoàn địch (có 19 tiểu đoàn Mỹ), làm cho chúng không rút được lực lượng nào đáng kể ở đường số 9 vào giải tỏa Huế.

Tại Huế, sau những phản ứng yếu ớt ban đầu, từ ngày 7 tháng 2, một lực lượng lớn Mỹ - ngụy gồm 16 tiểu đoàn có máy bay, xe tăng và pháo binh yểm trợ đã mở nhiều đợt phản kích quyết liệt chiếm lại thành phố.

Các lực lượng vũ trang ta chiến đấu kiên cường, dũng cảm, song vì ngay từ đầu ta không chiếm được sở chỉ huy sư đoàn 1 ngụy ở Mang Cá, không chia cắt địch từ Cửa Thuận lên Bao Vinh, nên khi địch phản kích mạnh ta bị thương vong lớn. Có đơn vị gần chục lần thay thế cán bộ chỉ huy, nhưng không được bổ sung quân số kịp thời, nên ta mất dần ưu thế.

Trước tình hình đó, sáng 13 tháng 2, Khu ủy họp thảo luận và xin ý kiến của Bộ Tổng tư lệnh cho phép rút lực lượng ra khỏi Huế vào ngày 14 và 15 tháng 2.

Tối 15 tháng 2, tiểu đoàn 9 trung đoàn 3 của ta được lệnh vào nội thành cùng lực lượng đang có mặt trong thành phố đánh địch phản kích. Ba tiểu đoàn của trung đoàn 3 và trung đoàn 6 chuyển sang đánh chặn địch.

Từ ngày 14 tháng 2 trở đi, địch tập trung lực lượng lớn, được pháo binh và không quân chi viện, liên tiếp mở các cuộc phản kích hòng đánh chiếm lại các mục tiêu vừa bị mất. Pháo binh và máy bay địch đánh phá dữ dội khu vực Đại Nội, sân bay Tây Lộc, dọn đường cho xe tăng, thiết giáp cùng đủ mọi sắc lính liên tục phản kích vào các chốt của ta. Chúng còn đánh vào các khu vực đông dân ở An Cựu, Gia Hội, Đông Ba, làm chết hàng trăm dân thường.

Các đơn vị vũ trang ta được nhân dân giúp đỡ kiên cường bám trụ đánh địch giữ từng góc phố, căn nhà, tường thành, bờ sông, hình thành các điểm chốt kiên cường chặn đánh, đẩy lùi nhiều đợt phản kích của địch. Đặc biệt, ở các khu vực chợ Đông Ba, cửa Chánh Tây, cửa Hữu, sân bay Tây Lộc... cuộc chiến đấu diễn ra liên tục và ngày càng ác liệt.

Trong hai ngày 14 và 15 tháng 2, địch từ hướng An Hòa, Bao Vinh và Mang Cá đồng loạt phản kích đánh chiếm bốn cửa: Chánh Tây, Đông Ba, Cửa Hữu, Thượng Tứ. Trung đoàn 6 cùng tiểu đoàn 12 đặc công dựa vào tường thành chiến đấu, cầm chân địch. Chiều 15 tháng 2, ta dùng hỏa lực yểm trợ cho bộ binh phản công chiếm lại bốn cửa, diệt hơn 300 tên, đẩy địch về vị trí cũ.

Sáng 15 tháng 2, Quân ủy Trung ương điện chỉ thị cho Khu ủy Trị - Thiên: "Vì lợi ích của toàn miền và bản thân Trị - Thiên nên phải giữ Thành Nội, phối hợp với mặt trận Đường số 9 hoạt động vào ngày 18 tháng 2".

Chấp hành nghiêm mệnh lệnh của trên, Khu ủy hạ quyết tâm: giữ Huế thêm ba ngày nữa. Ngày 16 tháng 2, ở khu vực chợ Đông Ba, một lực lượng lớn quân dù ngụy đông gấp 10 lần lực lượng ta từ Đập Đá chia thành ba cánh tổ chức phản kích mở đường tiến vào Thành Nội. Các đợt phản kích này bị ta bẻ gãy. Ta diệt 400 tên, hạ 5 máy bay, phá 6 xe M113, 13 giờ ngày 17 tháng 2, địch chiếm lại cửa Đông Ba. Ở Phu Văn Lâu các trận giao tranh quyết liệt diễn ra dưới chân cột cờ. Ta và địch đều thương vong nặng. Cờ Giải phóng vẫn tung bay trên bầu trời thành phố Huế.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM