chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #60 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2024, 06:11:36 pm » |
|
Ngày 17 tháng 2, tiểu đoàn 1 thiết giáp của địch yểm trợ cho hai tiểu đoàn bộ binh vượt cầu An Cựu phản kích vào nam Huế. Trung đoàn 9 bộ binh và tiểu đoàn 1 đặc công chặn đánh quyết liệt. 20 xe tăng và thiết giáp địch bị bắn cháy trên đoạn cầu Lim - Nam Giao, hàng trăm tên địch bị diệt.
Cùng ngày, lực lượng vũ trang huyện Hương Phú đánh bật đợt phản kích của hai đại đội Mỹ ở xã Phú Xuân, gây cho chúng tổn thất lớn.
Sáng 18 tháng 2, địch đột nhập qua cống Thủy Quan, uy hiếp Cửa Hữu, cửa An Hòa và cửa Thượng Tứ.
Ở vùng ven, từ 13 tháng 2, một bộ phận địch từ Liêu Cốc Thượng đánh vào Quế Chử và từ Rú Lầu đánh vào Bồn Trì, Bồn Phổ.
Ngày 15 tháng 2, ta tập trung hỏa lực tập kích mạnh vào Quế Chử và Bồn Phổ, đẩy địch về vị trí cũ, giữ chắc bàn đạp để đêm 16 tháng 2, bộ chỉ huy cánh bắc kịp thời điều tiểu đoàn 816 vào Thành Nội tăng cường cho trung đoàn 6, đưa tiểu đoàn 815 từ Thành Nội ra Bồn Trì, An Lưu củng cố và chuẩn bị đánh phản kích. Đêm 17 tháng 2, Bộ chỉ huy đưa tiểu đoàn 7 trung đoàn 3 sư đoàn 325C và điều tiểu đoàn 810 từ Phú Vang vượt sông Hương, qua cánh bắc vào Thành Nội.
Với lực lượng được tăng cường, bộ chỉ huy cánh bắc quyết định sử dụng tiểu đoàn 7 đánh địch ở Hương Cần, chiếm bàn đạp uy hiếp Bao Vinh. Tiểu đoàn 810 đánh vào khu Đông Ba, đồng thời một bộ phận của tiểu đoàn phục kích, ngăn tầu địch trên sông Hương để đưa toàn bộ trung đoàn 3 sư đoàn 325C vào Thành Nội.
Sau khi củng cố lại thế bố trí, các lực lượng cánh bắc dốc sức đánh địch ở các cửa ra vào quanh Thành Nội.
Tiểu đoàn 810 đánh bật các đợt phản kích nhỏ của địch từ cầu Tràng Tiền và Gia Hội tiến vào cửa Đông Ba, bắn chìm 10 xuồng của địch trên sông Hương. Lúc này trung đoàn 1 sư đoàn 324 đã vào đánh địch phản kích ở Phong Điền, Quảng Điền. Tình thế tuy có được cải thiện, nhưng địch tăng cường quá nhiều quân (nội thành Huế 11 tiểu đoàn, vùng ven 12 tiểu đoàn), lại được máy bay, pháo binh, xe tăng chi viện, dần dần chúng chiếm lại các bàn đạp xung yếu ở vùng ven, chốt chặn các ngả ra vào thành và dùng lực lượng lớn đánh mạnh trên hai khu vực Gia Hội và Tây Lộc.
Sau gần một tuần trụ thêm giữ Huế trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn và ác liệt, sáng 20 tháng 2, Khu ủy Trị - Thiên tiếp tục đề nghị Quân ủy Trung ương cho rút khỏi Huế.
Do yêu cầu phối hợp toàn miền Tổng tiến công đợt sau Tết được dự kiến vào ngày 25 tháng 2, nên Quân ủy Trung ương điện chỉ thị cho Bộ Tư lệnh quân khu: "Cố giữ, sẽ có tiếp tế, kể cả không quân".
Tử đêm 20 đến 23 tháng 2, những chiếc máy bay IL14 của không quân ta đã bay tới thả dù tiếp tế cho lực lượng ta ở Huế. Tuy hiệu quả còn thấp, song sự chi viện của không quân đã động viên tinh thần chiến đấu cho quân và dân ta trên chiến trường.
Ở Thành Nội ta vẫn tiếp tục cầm chân địch ở phía ngoài tường thành. Đêm đêm, các phân đội vượt thành ra ngoài tập kích gây cho địch nhiều thiệt hại. Các phân đội đặc công, biệt động bí mật phục kích các đoàn xe địch trên đường Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, cầu Tràng Tiền và bắn chìm nhiều tầu xuồng địch trên sông Hương. Ngày 21 tháng 2, tiểu đoàn 814 đánh thiệt hại nặng một đại đội xe tăng của sư đoàn 1 "kỵ binh bay" Mỹ vừa từ đường số 14 về tham gia phản kích, bắn cháy tám xe, diệt gần 100 tên. Tiểu đoàn 2 đặc công tiếp tục bám đường, đánh cắt giao thông địch từ cửa Thuận lên Huế, bao vây uy hiếp quận lỵ Phú Vang.
Đêm 22 tháng 2, tiểu đoàn 1 đặc công tập kích diệt một đại đội ngụy ở Tiên Non và một trung đội biệt động ngụy ở Vĩ Dạ.
Cùng ngày, trung đoàn 3 sư đoàn 325C đánh bại cuộc phản kích lớn của địch từ rú Lầu đánh vào Bồn Trì, Bồn Phổ, An Lưu, nhưng sáng hôm sau (23-2) địch phản kích tiếp và chiếm lại các vị trí này. Vòng vây của địch đã khép chặt quanh Thành Nội. Chúng chiếm giữ cống Thủy Quan, cửa An Hòa, cửa Thượng Tứ, đẩy lùi lực lượng ta về phía tây Thành Nội. Lúc này ta thương vong cao. Thương binh, liệt sĩ chưa di chuyển được, vũ khí, đạn dược, lương thực đã cạn... Nhìn chung, tình hình cánh bắc xấu đi nhanh chóng.
Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng về mọi mặt và được Quân ủy Trung ương đồng ý, ngày 24 tháng 2, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên - Huế ra lệnh rút lực lượng vũ trang ta ra khỏi thành phố để bảo toàn lực lượng, chuẩn bị cho các đợt tiến công sau này.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #61 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2024, 06:14:19 pm » |
|
Kế hoạch rút quân được bí mật triển khai. Mặt trận điều tiểu đoàn 815 về trung đoàn 9 ở cánh nam, tiểu đoàn 816 trụ lại ở Trúc Lâm, Nhan Biều, cùng với trung đoàn 3 sư đoàn 325C tăng cường hoạt động nghi binh, cầm chân địch. Tiểu đoàn 810 trụ lại vùng Gia Hội, tiếp tục đánh địch bảo vệ các đơn vị rút an toàn. Ngày 25 tháng 2, trong lúc ta đang gấp rút chuẩn bị, hai tiểu đoàn Mỹ có xe tăng yểm trợ từ An Cựu đánh ra Vân Dương, chợ Cống, nơi đặt sở chỉ huy cánh nam. Quân địch đã bị tiểu đoàn 810 đặc công cùng với tiểu đội nữ du kích Thủy Thanh chặn lại ở khu Đập Đá suốt buổi sáng. Nhiều đợt phản kích của địch bị đẩy lùi.
Ngày 25 tháng 2, các đơn vị đang chiến đấu trong nội thành được lệnh rút khỏi Huế.
Chiều 25, địch dùng lực lượng rất mạnh để phản kích, lực lượng ta phải rút qua sông Vân Dương và dựa vào bờ sông chặn đánh quyết liệt, kéo dài thời gian cầm giữ chân địch, bảo đảm cho sở chỉ huy rút an toàn. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt dọc đường Nguyễn Công Trứ. Nhiều chiến sĩ lần lượt hy sinh, bốn cô gái trong tiểu đội nữ du kích đã vĩnh viễn nằm lại với mảnh đất quê hương. Trong trận đánh không cân sức này, hàng trăm tên địch bị diệt, năm xe tăng Mỹ bị bắn cháy.
Chiến công của 11 cô gái sông Hương1 tiêu biểu cho khí phách anh hùng của quân và dân Huế trong những ngày Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968).
Được tin từ tiền tuyến báo về, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư khen 11 cô gái sông Hương và tặng máy vần thơ:
Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường. Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường. Bác khen các cháu dân quân gái. Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương.
Đêm 25 tháng 2, các đơn vị lần lượt bí mật rút ra khỏi thành phố Huế. Trung đoàn 6 lùi về hậu cứ ở huyện Hương Trà. Trung đoàn 8 rút về Quảng Điền. Trung đoàn 9 về Phú Vang. Tiểu đoàn 804 cùng cơ quan chỉ huy cánh nam rút về hậu cứ ở Phú Vang.
Trên đường rút quân, các đơn vị vừa đánh địch vừa di chuyển quân, ưu tiên đưa liệt sĩ, thương binh ra trước, bố trí, sắp xếp lại cán bộ cơ sở bám địa bàn để tiếp tục hoạt động sau này. Những người bị lộ phải rút ra ngoài, hoặc bố trí sang hoạt động ở các địa bàn khác.
Trong lúc các đơn vị rút ra ngoài an toàn thì tiểu đoàn 810 nhanh chóng củng cố lại trận địa chốt. Sáng 26 tháng 2, hai đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ và một đại đội biệt động ngụy được xe tăng, thiết giáp, pháo binh, máy bay chi viện từ Bao Vinh phản kích vào vùng Gia Hội, nhưng chúng không qua được trận địa chốt của tiểu đoàn 810. Cả tám đợt phản kích của chúng đều bị đánh lui, gần 100 tên bị diệt, một máy bay bị bắn rơi, hai xe tăng bị bắn cháy.
Cuối ngày, địch mở một đợt phản kích dữ dội. Tiểu đoàn 810 rút ra phía Phú Mỹ và đêm hôm đó vượt đò Chợ Dinh về căn cứ Phú Vang. Đây là đơn vị cuối cùng rút khỏi Huế.
Đợt 1 Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân kết thúc. Cùng với bốn thành phố, 37 thị xã và hàng trăm quận lỵ, thị trấn trên toàn miền Nam, quân và dân Trị - Thiên - Huế đã tiến công nổi dậy mãnh liệt và đều khắp với khí thế chưa từng có. Ngay ngày đầu đã đánh trúng 40 mục tiêu địch trong và ngoài thành phố Huế, 34 quận, huyện, thị trấn, chi khu ở nông thôn, đồng bằng... phá vỡ phần lớn bộ máy ngụy quân, ngụy quyền, các tỉnh đoàn bình định, các ty, sở cảnh sát, chi khu quân sự của địch.
Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy tại Trị - Thiên - Huế, ta đã giải phóng 227.000 dân, 40 xã và 296 thôn. Ủy ban nhân dân cách mạng ở một số huyện và thành phố Huế được thành lập. Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam thành phố Huế ra đời.
Cuộc chiến đấu anh dũng, liên tục 25 ngày đêm của quân dân thành phố Huế là mốc nổi bật về chiến thắng của cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân, đã làm cho "cả nước tự hào về Huế, mảnh đất yêu thương của Tổ quốc đã góp phần rất vẻ vang vào thắng lợi mở đầu cuộc tổng tiến công và nổi dậy của miền Nam anh hùng”. Huế trở thành một chiến trường nổi bật và xuất sắc nhất. Quân và dân Trị - Thiên - Huế vinh dự được đón nhận tám chữ vàng của Trung ương Cục và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trao tặng: TIẾN CÔNG – NỔI DẬY - ANH DŨNG - KIÊN CƯỜNG, ghi thêm truyền thống vẻ vang và thành tích chói lọi của Đảng bộ cùng quân, dân Trị - Thiên - Huế trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân trên chiến trường Trị - Thiên - Huế góp phần cùng quân và dân ta trên chiến trường miền Nam thực hiện cuộc Tổng tiến công chiến lược, giáng một đòn mạnh làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, thể hiện sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân Việt Nam ngay tại trung tâm, sào huyệt của Mỹ - ngụy, buộc đế quốc Mỹ phải đưa chiến tranh xâm lược vào bước ngoặt mới. Bộ trưởng quốc phòng Mac Na-ma-ra và tư lệnh bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam, Oét-mo-len được thay thế bằng Clác Clép-phớt và A.Bram. Chiến lược quân sự "quét và giữ" được thay cho chiến lược "tìm diệt" trước đây. Ngày 31 tháng 3 năm 1968, xuất hiện trên màn ảnh vô tuyến truyền hình toàn liên bang với vẻ thận trọng và đắn đo, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn tuyên bố ngừng ném bom một phần miền Bắc, sẵn sàng chấp nhận giải pháp kết thúc chiến tranh Việt Nam. Cuối cùng, Giôn-xơn quyết định không ra tranh cử nhiệm kỳ tổng thống tiếp theo. ______________________________________________ 1. Đây là tiểu đội nữ du kích thôn Vân Thê, xã Thanh Thủy, huyện Hương Thủy, gồm: Phan Thị Liên tiểu đội truởng, Đỗ Thị Cúc, tiểu đội phó và chín chiến sĩ: Nguyễn Thị Hoa, Đỗ Thị Hoa, Hoàng Thị Sao, Hoàng Thị Nở, Nguyễn Thị Hợi, Nguyễn Thị Xinh, Nguyễn Thị Diến, Hoàng Thị Sương, Hoàng Thị Xê.
Bước vào tổng tiến công, tiểu đội được giao nhiệm vụ bảo vệ sở chỉ huy cánh nam và làm nhiệm vụ chuyển thương, tiếp đạn. Khi địch chuyển sang phản kích giải vây Huế, tiểu đội xin được trang bị vũ khí, trực tiếp chiến đấu. Các nữ du kích đã bám trụ trận địa, giữ vững các vị trí ta chiếm giữ từ trước, tạo điều kiện cho tiểu đoàn 804 đột nhập vào khu vực nam cầu Tràng Tiền thay chân tiểu đoàn 1 đặc công lùi về sau củng cố.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #62 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2024, 06:17:30 pm » |
|
III. KIÊN CƯỜNG CHIẾN ĐẤU, KHÔI PHỤC THẾ TRẬN ĐÁNH ĐỊCH Sau khi lực lượng vũ trang ta rút khỏi Huế, quân và dân Trị - Thiên bước vào một thời kỳ chiến đấu ác liệt, chống sự phản kích điên cuồng của địch trên khắp chiến trường. Các đơn vị trụ bám ở Phú Lộc, vùng ven Hương Trà, Hương Thủy tiếp tục đánh cắt giao thông, gây cho địch nhiều thiệt hại. Các đơn vị còn trụ bám ở nam Quảng Trị phối hợp với chủ lực mặt trận B5 tiếp tục hoạt động nhằm thu hút lực lượng địch để giảm bớt sự phản kích của địch ở đồng bằng và đô thị. Được nhân dân che chở và dẫn đường, ngày 10 tháng 3, trung đoàn 270 bất ngờ tiến công căn cứ hậu cần Cửa Việt, diệt 140 tên địch, đốt cháy năm nhà kho chứa đầy hàng, phá hủy 30 xe quân sự. Cùng ngày, một bộ phận trung đoàn 1 sư đoàn 324 tiến công vào thị trấn Đông Hà, đánh trúng sở chỉ huy sư đoàn lính thủy đánh bộ, diệt gần 400 tên, đốt cháy 12 kho chứa hàng. Bộ đội địa phương các huyện phối hợp với sư đoàn 320 tiếp tục vây ép Cồn Tiên, Dốc Miếu, Quán Ngang, điểm cao 31, đánh cắt giao thông địch trên đường số 1, số 76... gây cho địch nhiều tổn thất. Về phía địch, mặc dù bị thất bại nặng trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, nhưng chúng vẫn tiếp tục đưa thêm quân vào Trị - Thiên - Huế. Đến tháng 4 năm 1968, số quân Mỹ và ngụy ở đây lên tới 140.000 tên 1. Với lực lượng lớn được tăng cường, chúng tiến hành phản kích điên cuồng để "quét trong và giữ ngoài", phòng ngự chiều sâu bằng hai biện pháp chính "ngăn chặn từ xa" và "bình định cấp tốc" nhằm giải tỏa đô thị và bình định nông thôn, đồng bằng. Chúng tập trung đại bộ phận quân ngụy có quân Mỹ tham gia, tiến hành "bình định" bằng mọi thủ đoạn dã man, tàn bạo nhất, liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét ác liệt vùng nông thôn, đồng bằng, đánh phá hết vùng này sang vùng khác, chà đi xát lại hàng chục lần. Ở Phú Vang, chúng tập trung 30 tiểu đoàn càn quét suốt ba tháng liền. Ở Quảng Trị, chúng dồn dân vào các khu tập trung Cửa Việt, Quán Ngang, Vĩnh Đại, Tân Tường, Hoàn Cát... Dồn dân xong, chúng lập đoàn bình định tiến hành giám sát, thanh tra, thanh lọc, phân loại quần chúng, tổ chức lại "liên gia", củng cố ngụy quyền các cấp, đưa nhiều tên ác ôn khét tiếng vào bộ máy thôn, xã, thiết lập các phân chi cảnh sát xã, tổ chức phòng vệ dân sự, phát triển lưới điệp ngầm, mật vụ, cộng tác viên, tuyên truyền xuyên tạc kích động, gây hoang mang, nghi ngờ lẫn nhau giữa cán bộ với quần chúng, giữa quần chúng với nhau, đi đến vô hiệu hóa chính quyền cơ sở của ta. Ở Hương Thủy, chúng đốt phá hơn 1.000 ngôi nhà xã Thủy Phượng, triệt hạ hoàn toàn thôn Thủy Chánh xã Thủy Thanh, dồn dân các xã Phong Sơn, Phong Nguyên, Hương Đồng, Hương Thọ xuống phía đông đường số 1, lùa dân Quảng Thụ, Quảng Thọ, Quảng Phước vào các khu tập trung ở Thư Lễ, Cồn Sắn. Chúng dùng máy bay bắn phá, săn lùng vây chụp cán bộ ta trên các trảng cát và cửa khẩu. Song song với các biện pháp tàn bạo, địch còn sử dụng viện trợ kinh tế để lừa bịp và khống chế nhân dân, đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, chiêu hồi, chiêu hàng. Chúng tăng cường bắt lính, đôn quân. Chỉ ba tháng quý 2 năm 1968, chúng lập thêm 11 đại đội bảo an, 57 trung đội dân vệ, 24 đoàn bình định, thành lập thêm trung đoàn 54 bộ binh để củng cố tuyến ngăn chặn Mac Na-ma-ra ở giới tuyến và tuyến phòng thủ sông Bồ (tây bắc Huế). Sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ phối hợp với sư đoàn 101 không vận và sư đoàn 82 dù liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét dọc sông Cửa Việt, đường số 1 (từ Đông Hà vào Quảng Trị) và vùng giáp ranh đồng bằng, rừng núi hai tỉnh Trị - Thiên. Tiếp theo cuộc hành quân Đi-lơ-ce (Lam Sơn 216) của sư đoàn 1 "kỵ binh bay", sư đoàn 101 không vận, lữ đoàn 198 bộ binh Mỹ và sư đoàn 1 ngụy vào thung lũng A Sầu (từ ngày 19 tháng 4 đến 17 tháng 5 năm 1968), sư đoàn 1 "kỵ binh bay" Mỹ mở tiếp cuộc hành quân từ 17 tháng 4 đến 3 tháng 11 vào dọc biên giới Việt - Lào thuộc địa phận hai tỉnh Trị - Thiên, kết hợp với máy bay (cả máy bay B52 ném bom), rải chất độc hóa học phá kho tàng, căn cứ miền núi, mùa màng của nhân dân, chốt giữ các cao điểm để khống chế ta, đồng thời ngăn chặn tuyến chi viện chiến lược của ta. Phối hợp với các cuộc hành quân lên vùng Trị - Thiên, bộ chỉ huy Mỹ tiến hành thủ đoạn "ném bom hạn chế", tập trung máy bay, pháo hạm đánh vào giải đất hẹp Khu 4 hòng chặt đứt đường chi viện của ta vào Nam, đánh phá địa bàn tập kết là Quảng Bình, Vĩnh Linh, phá các cuộc chuẩn bị tiến công của ta trong thời gian tới. Trước sự đánh phá ác liệt của địch, ta bị tổn thất và gặp nhiều khó khăn. Cơ sở cách mạng ở các huyện đồng bằng và nội thành Huế bị phá, không nắm và không liên hệ được với quần chúng. Lực lượng vũ trang ta bị đẩy khỏi vùng giáp ranh. Nhiều đơn vị phải rút lên miền tây, thậm chí bật sang phía tây Trường Sơn, có đơn vị phải ra miền Bắc. ______________________________________________ 1. Quân Mỹ ở Trị - Thiên - Huế lúc này có ba sư đoàn: sư đoàn 1 và sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ, sư đoàn 101 không vận, trung đoàn 26 lính thủy đánh bộ và 28 thiết đoàn xe tăng. Tổng quân số là 98.000 tên.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #63 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2024, 06:21:17 pm » |
|
Ngày 24 tháng 4, Bộ Chính trị họp đánh giá tình hình tổng tiến công và nổi dậy đợt 1, quyết định mở tiếp đợt 2. Ý đồ chiến lược của ta trong đợt này là vây hãm Khe Sanh, kìm chân và tiêu diệt địch ở đường số 9, Trị - Thiên, Tây Nguyên. Trọng điểm tổng tiến công và nổi dậy là Sài Gòn - Gia Định. Điểm tiến công quan trọng là Huế - Đà Nẵng. Thời gian hoạt động thống nhất toàn miền Nam từ ngày 4 tháng 5 đến hết tháng 6 năm 1968.
Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, ngày 4 tháng 4 năm 1968, Bộ Tổng tư lệnh điện chỉ thị cho Quân khu Trị - Thiên - Huế chuẩn bị đánh vào Huế đợt 2, chiếm lĩnh một thời gian càng lâu càng tốt1 và xác định: "Đánh chiếm Huế là một yêu cầu quan trọng trong kế hoạch phối hợp chung với toàn miền"2.
Mặc dù lúc này chiến trường Trị - Thiên đang rất khó khăn, lực lượng chưa được bổ sung, yếu tố bất ngờ đã mất, nhưng vì yêu cầu phối hợp với toàn miền và chấp hành nghiêm mệnh lệnh của Bộ, ngày 4 tháng 4 năm 1968, Khu ủy Trị - Thiên họp để ra kế hoạch tổng tiến công và nổi dậy đợt 2: các địa phương sử dụng lực lượng tại chỗ tăng cường tập kích, phục kích vừa đánh phá "bình định" của địch, tạo điều kiện để đưa lực lượng chủ lực tăng cường cho Huế thực hành tổng tiến công và nổi dậy. Các đơn vị đặc công tập kích các căn cứ địch ở phía nam Huế, mở đường đưa lực lượng vào nội thành.
Chấp hành Nghị quyết Khu ủy, các đơn vị đã khắc phục khó khăn, động viên bộ đội nổ súng đúng quy định.
0 giờ 30 phút ngày 5 tháng 5, bộ binh, pháo binh, đặc công cùng lúc tiến công vào các mục tiêu ven Huế, thị xã Quảng Trị, Đông Hà, tám quận lỵ và 12 căn cứ hành quân của địch.
Ngày 6 tháng 5, ba tiểu đoàn thuộc sư đoàn 1 "kỵ binh bay" Mỹ có xe tăng, thiết giáp yểm trợ từ Đông Hà phản kích vào vùng giải phóng Gio - Cam. Bộ đội địa phương Gio Linh, Cam Lộ dựa vào các trận địa chốt được xây dựng trong tổng tiến công đợt 1 đã liên tục chặn đánh, diệt trên 150 tên, bắn cháy hai xe tăng.
Ngày 8 tháng 5, tiểu đoàn 7 đặc công tập kích địch trên điểm cao 552 (bắc Quảng Trị), diệt gần 300 tên. Cùng ngày, tiểu đoàn 33 đặc công được tăng cường một đại đội bộ binh đánh vào trận địa pháo địch ở điểm cao 520, diệt trên 100 tên, phá bảy khẩu pháo.
Ngày 21 tháng 5, tiểu đoàn 10 đặc công bí mật luồn vào Khe Xá phá hủy hơn 25 xe tăng, thiết giáp.
Ngày 22 tháng 5, trung đoàn 2 sư đoàn 324 phục kích diệt đoàn xe địch trên đường số 1 đoạn từ Mỹ Chánh vào Huế, diệt trên 100 tên, bắn cháy 16 xe quân sự. Cùng ngày, tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 12 đặc công cùng tiểu đoàn pháo hỗn hợp tiến công căn cứ trung đoàn thiết giáp Mỹ ở động Tòa, phá hủy hơn 100 xe quân sự, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 300 tên. Đây là trận sử dụng nhiều lực lượng đặc công, kết hợp pháo binh, được du kích địa phương chuẩn bị tốt, đánh một căn cứ của một trung đoàn Mỹ giành thắng lợi. Phối hợp với trận đánh động Tòa, tiểu đoàn 2 đặc công tập kích trận địa pháo Mỹ ở Phú Bài, diệt và làm bị thương hơn 150 tên, phá hủy 10 khẩu pháo. Chiến sự có tiếng vang lớn trong tháng 5 là trận phản kích đánh bại cuộc hành quân của Mỹ - ngụy tại thung lũng A Sầu.
Ngày 16 tháng 5, sư đoàn 101 kỵ binh bay, lữ đoàn 196 bộ binh Mỹ và sư đoàn 1 ngụy mở cuộc hành quân càn quét vào thung lũng A Sầu, A Lưới nhằm đánh phá kho tàng và ngăn chặn đường vận tải chiến lược của ta. Hai trung đoàn 6 và 9 chủ lực quân khu lợi dụng địa hình rừng núi, bằng các trận đánh nhỏ, tập kích, phục kích ban đêm vào các cụm trú quân của địch, đã gây cho chúng nhiều tổn thất. Chỉ bốn ngày đầu của cuộc hành quân, 12 đại đội Mỹ đã bị ta đánh thiệt hại nặng, hơn 20 máy bay bị bắn rơi... Ngày 28 tháng 5 địch phải kết thúc cuộc hành quân và rút bỏ A Lưới
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy đợt 2 diễn ra đều khắp trên toàn quân khu nhưng quy mô không lớn, chủ yếu đánh bằng đặc công và pháo. Bộ đội chủ lực ít đánh được những trận tiêu diệt lớn. Hướng nam Huế bị địch phong tỏa, nên ta không đưa được lực lượng vào, do đó kế hoạch đánh chiếm Huế không thực hiện được.
Tiếng súng tổng tiến công đợt 2, rộ lên rồi nhanh chóng lắng xuống, chỉ còn cuộc chiến đấu ở Khe Sanh - đường số 9 vẫn tiếp diễn và ngày càng quyết liệt.
Ngay từ tháng 3 năm 1968, địch tổ chức các đợt trinh sát, tung biệt kích lùng sục dọc đường số 9 từ Rào Quán xuống Tân Lâm. Tiếp đó, chúng cho máy bay, pháo binh bắn phá cấp tập xuống Cà Lu, Tà Cơn và tập trung toàn bộ lực lượng sư đoàn 1 "kỵ binh bay” chuẩn bị cho cuộc hành quân giải tỏa khu vực Khe Sanh.
Ngày 1 tháng 4, sư đoàn 1 "kỵ binh bay” Mỹ phối hợp với chiến đoàn 3 dù ngụy, sáu tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ và một tiểu đoàn biệt động ngụy đang phòng ngự Khe Sanh mở cuộc hành quân lớn mang tên "Ngựa bay" và "Lam Sơn 207” do hai tên tướng Mỹ là Rốt-sơn và Quyt-man chỉ huy. Chúng tập trung 17 tiểu đoàn chiến đấu cả Mỹ lẫn ngụy tiến hành cuộc đổ bộ bằng máy bay lên thẳng, kết hợp với tiến công bằng đường bộ theo đường số 9 lên hướng Khe Sanh.
Cuộc chiến đấu nơi đây diễn ra vô cùng quyết liệt. Dưới bom đạn chi viện liên tục của không quân và pháo binh địch, quân ta vẫn lấn ép căn cứ Khe Sanh, đồng thời ngăn chặn lực lượng giải tỏa của địch. Các trận đánh giằng co ác liệt diễn ra trên các điểm cao 845, 832, 689, 471, Tà Cơn, làng Troài, làng Cát gây cho địch nhiều tổn thất.
Sáng 3 tháng 4, một tiểu đoàn "kỵ binh bay" đổ bộ xuống khu vực điểm cao 471 cách ngã ba Ku Bốc hai ki-lô-mét, kết hợp cùng bọn ở Tà Cơn nống ra định đánh chiếm ngã ba Ku Bốc. Sáu chiến sĩ cảnh giới của ta kiên cường chặn đánh địch, bẻ gãy cánh quân giải tỏa này của chúng. Chiều ngày 3 tháng 4, địch lại đổ một tiểu đoàn "kỵ binh bay” xuống điểm cao 471. Nhưng vừa tới đất, chúng đã bị quân ta bao vây và tiêu diệt hai đại đội, bắn rơi năm máy bay lên thẳng.
Sáng ngày 7 tháng 4, trung đoàn 45 pháo ĐKB, kết hợp với trung đoàn 2 sư đoàn 325C, tiến công chiến đoàn 3 dù ngụy vừa đổ xuống chiếm điểm cao 460, diệt gần 600 tên. _______________________________________________ 1. Điện số 4648, ngày 4 tháng 4 năm 1968, đồng chí Văn Tiến Dũng ký. 2. Điện số 592B, ngày 19 tháng 4 năm 1968, các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Song Hào ký.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #64 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2024, 06:25:33 pm » |
|
Phối hợp với hướng tây đường số 9, các trung đoàn 270, 27, các tiểu đoàn, đại đội địa phương Quảng Bình, Vĩnh Linh, Do Linh, Cam Lộ, tiếp tục bao vây Cồn Tiên và liên tục đánh phá giao thông địch.
Từ ngày 2 tháng 4, Quân khu quyết định thành lập cụm pháo gồm 44 khẩu từ 85 đến 130 ly do trung đoàn 164 chỉ huy, chi viện cho các trung đoàn 270, 27 và lực lượng địa phương đánh vào một loạt căn cứ địch ở Đại Độ, Kim Đậu, Hoàng Hà... trên một diện rộng 20 ki-lô-mét và sâu tới 25 ki-lô-mét.
Bị uy hiếp liên tục, ngày 10 tháng 5, một tiểu đoàn quân Mỹ phải nống ra để giải tỏa. Chúng lọt vào thế trận chuẩn bị của trung đoàn 1 sư đoàn 320 và bị ta đánh thiệt hại nặng ở Lâm Xuân. Địch vội vã điều hai tiểu đoàn "kỵ binh bay" từ Khe Sanh về ứng cứu.
Ngày 17 tháng 5, tiểu đoàn 2 trung đoàn 84 tập kích hỏa lực gây thiệt hại nặng cho một tiểu đoàn Mỹ đang đổ xuống vùng Hồ Khê, Bái Sơn.
Do liên tục bị tập kích, phục kích và bị thiệt hại lớn về sinh lực và phương tiện chiến tranh, ngày 19 tháng 4, sau khi nối thông được với căn cứ Khe Sanh, địch phải kết thúc cuộc hành quân giải tỏa "Ngựa bay"1 và đưa trung đoàn 4 sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ lên Khe Sanh mở tiếp cuộc hành quân "Scốt-len II” nhằm tiêu diệt lực lượng ta ở khu vực xung quanh Khe Sanh. Tại đây, trong trận đánh ở điểm cao 689, ngày 28 tháng 6 năm 1968, trung đội trưởng Phạm Ngọc Khánh, đại đội 10 tiểu đoàn 3 trung đoàn 246, mặc dầu bị thương nặng, vẫn bình tĩnh chỉ huy đơn vị. Hai chân bị dập nát, anh dùng hai tay còn lại bò đến hỏa điểm địch, ném liền hai thủ pháo diệt địch và đã anh dũng hy sinh. Trong trận này, một mình Phạm Ngọc Khánh đã diệt bốn ụ súng, 26 tên địch. Phạm Ngọc Khánh được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Ở phía đường số 9, địch cũng mở liên tiếp hai cuộc hành quân mang tên "Na-pô-lê-ông" và "Sta-lin" dọc sông Cửa Việt nhằm giữ giao thông tiếp tế từ Cửa Việt lên Đông Hà.
Tuy đã giải vây được cho căn cứ Khe Sanh, nhưng trước thế cô lập và luôn luôn bị uy hiếp của căn cứ này, ngày 9 tháng 7, địch buộc phải rút chạy khỏi vùng này. Lực lượng vũ trang ta được lệnh chuyển sang đánh địch rút chạy.
Trung đoàn 46 vây chặt các điểm cao 832, 845 và 689, kiềm chế địch hót quân bằng máy bay lên thẳng, buộc chúng phải tăng thêm ba đại đội để đối phó.
Trung đoàn 88 đánh chặn cánh quân địch rút chạy về phía nam đường số 9, tiêu diệt được bộ phận bảo vệ. Trong thời gian này, pháo binh ta hoạt động có hiệu quả, gây cho địch nhiều tổn thất trên đường rút chạy.
Ngày 15 tháng 7, địch rút hết về khu vực Cà Lu - Tân Lâm, Đường số 9 từ Cà Lu lên biên giới Việt - Lào dài trên 40 ki-lô-mét hoàn toàn giải phóng. Đường vận tải chiến lược thông suốt cả đông và tây Trường Sơn.
Sau 170 ngày đêm giao tranh quyết liệt ở đường số 9 - Khe Sanh, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 17.000 tên địch, bắn rơi, bắn cháy 400 máy bay, kìm chân một bộ phận lớn lực lượng cơ động chiến lược của chúng, giải phóng toàn huyện Hướng Hóa. "... Thắng lợi của ta ở Khe Sanh tỏ rõ mưu lược và sức mạnh vô địch của quân, dân và cán bộ ta, nó góp phần xứng đáng vào thắng lợi to lớn của toàn miền Nam từ đầu Xuân đến nay..."2.
Tháng 8 năm 1968, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp quyết nghị về tiến hành đợt 3 tổng công kích – tổng khởi nghĩa.
Nhiệm vụ của đường số 9 và Trị - Thiên được xác định là: tiếp tục tác chiến phối hợp, thu hút giam chân địch.
Thời gian nổ súng vào ngày 17 tháng 8, kết thúc vào ngày 28 tháng 9 năm 1968.
Lúc này Trị - Thiên có sự thay đổi về cơ cấu tổ chức. Tháng 8 năm 1968, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Mặt trận Trị - Thiên (B5 - T8)3 thay Quân khu Trị - Thiên và cử đồng chí Vũ Yên làm Tư lệnh, đồng chí Nguyễn Quyết làm Chính ủy. Ban Bí thư Trung ương Đảng cử đồng chí Hoàng Anh vào làm Bí thư Khu ủy, đồng chí Trần Văn Quang ra Bắc nhận nhiệm vụ mới. Theo quyết định của Bộ, chủ lực của mặt trận Trị - Thiên gồm sư đoàn 308, sư đoàn 324, một số đơn vị cao xạ, xe tăng và toàn bộ lực lượng vũ trang của B4; khi được ủy nhiệm sẽ chỉ huy cả lực lượng thuộc B5. Địa bàn của mặt trận từ đường số 9 đến giáp Đà Nẵng.
Sự thay đổi cơ cấu tổ chức và sắp xếp lực lượng góp phần tăng cường hơn nữa sự đoàn kết, thống nhất trong lãnh đạo, chỉ huy và có thêm lực lượng để tiến hành đợt 3 tổng tiến công và nổi dậy. Song ta vẫn gặp nhiều khó khăn, tình hình vẫn không được cải thiện.
Sau khi rút chạy khỏi Khe Sanh, địch chuyển hẳn vào phòng ngự, tập trung bình định cấp tốc vùng đồng bằng. Mặt trận Trị - Thiên chỉ thực hiện được một số trận pháo kích, chống càn nhỏ, tác động không lớn đối với tình hình. Trong lúc đó, địch càng thấy rõ nhược điểm của ta, tiếp tục phản kích, đẩy chủ lực ta lên giáp biên giới Việt - Lào. Địch đóng chốt ngăn chặn, chia cắt miền núi với đồng bằng và thành phố. ______________________________________________ 1. Sau 47 ngày đánh quân cứu viện (từ 1 tháng 4 đến 7 tháng 5), chủ yếu là đánh bại cuộc hành quân giải tỏa "Ngựa bay", quân và dân ta loại khỏi vòng chiến đấu 5.200 tên địch, tiêu hao 15 đại đội Mỹ, một chiến đoàn và hai tỉểu đoàn ngụy, bắn rơi 82 máy bay, bắn cháy 21 xe quân sự. 2. Trích thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi luật sư Nguyễn Hữu Thọ và Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam, ngày 13 tháng 7 năm 1968. 3. Mặt trận B5 - T8 chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn vì không phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ. Tổ chức chiến trường trở về cơ cấu cũ là Quân khu Trị - Thiên.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #65 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2024, 06:28:43 pm » |
|
Tháng 8, mùa mưa đến, khó khăn càng gay gắt. Địch dồn lực lượng liên tục phản kích đẩy chủ lực ta lên vùng rừng núi. Không quân, pháo binh địch bắn phá dữ dội hành lang vận chuyển tiếp tế lương thực. Các toán biệt kích, thám báo gia tăng hoạt động lùng sục, tập kích kho tàng, căn cứ của ta. Trên thực tế, chúng đã phân tuyến, kiểm soát được đồng bằng, ngăn chặn được giáp ranh, liên tục đánh phá và uy hiếp căn cứ vùng rừng núi của ta. Mùa mưa lũ địa hình rừng núi bị chia cắt, việc tiếp tế hậu cần của ta càng trở nên khó khăn. Tháng 10 năm 1968, đại bộ phận chủ lực quân khu phải rút ra Quảng Bình củng cố; một bộ phận ở lại tiếp tục chiến đấu giữ địa bàn, giữ thế.
Cuối năm 1968, do địch rải chất độc hóa học và do thiên tai, mùa màng bị mất nặng. Miền núi Trị - Thiên lâm vào thiếu đói nghiêm trọng. Địch tăng cường phục kích vùng giáp ranh nhằm khống chế, ngăn chặn ngặt nghèo luồng tiếp tế lương thực từ đồng bằng lên miền núi, gạo phải đổi bằng mồ hôi và cả máu của cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta.
Trước tình hình ngày càng khó khăn, quần chúng lo lắng, một số ra đầu hàng, đầu thú; hoặc bỏ vào vùng địch. Khu ủy đã không kịp thời đề ra nhiệm vụ phương châm, biện pháp nhằm làm chuyển biến tình hình, không phản ánh và đề đạt lên cấp trên những khó khăn mà chấp hành mệnh lệnh một cách thụ động.
Cuối tháng 8, Khu ủy Trị - Thiên họp dưới sự chủ trì của Bí thư Hoàng Anh đánh giá lại tình hình, xác định lại nhiệm vụ và phương châm hành động. Sau một tuần làm việc, hội nghị quyết định: không tiếp tục tổng công kích - tổng khởi nghĩa, mà phải đẩy mạnh tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, giữ gìn và xây dựng lại cơ sở, xây dựng lại thế ba vùng liên hoàn có lợi cho ta, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, đấu tranh hợp pháp với nửa hợp pháp ở vùng địch kiểm soát, nhằm từng bước vượt qua khó khăn, khôi phục lại thế và lực của ta trên chiến trường.
Hội nghị cho rằng: cần triển khai ngay thế đứng mới ở miền núi, phát động phong trào sản xuất, tự túc, phấn đấu trồng cho được 15 triệu gốc sắn để chống đói. Để bảo vệ sản xuất phải đẩy mạnh phong trào săn máy bay, hạn chế máy bay rải chất độc, đồng thời kiên quyết chặn đánh các cuộc hành quân "nhảy cóc", "chốt giữ điểm cao" của địch, bảo vệ tốt kho tàng, căn cứ và đường vận chuyển chiến lược.
Ở đồng bằng và thành phố, phải khẩn trương tập hợp lực lượng, phát triển lực lượng mới, chuyển dần sang đấu tranh chính trị thích họp, kết hợp với đấu tranh vũ trang, từng bước phá kế hoạch "bình định" của địch.
Thực hiện chủ trương của Khu ủy, Bộ Tư lệnh quân khu và các huyện, xã, phường... khắc phục gian khổ, bám dân, bám đất, cùng quần chúng từng bước vượt qua khó khăn, khôi phục dần thế trận.
Ở miền nùi, từ đồng chí Lê Hành, Bí thư Đảng ủy miền Tây đến từng cán bộ, đảng viên vào từng bản làng, từng gia đình vận động nhân dân đóng góp lương thực, thực phẩm nuôi quân trong bốn tháng và ra sức phát rẫy trồng ngô, khoai, sắn.
Nhân dân huyện Hướng Hóa đã góp 250 tấn lương thực cho lực lượng vũ trang cách mạng. Mỗi gia đình nhận nuôi từ ba đến năm chiến sĩ. Trong tháng 10, toàn huyện đã trồng trên ba triệu gốc sắn.
Lúc này, Đảng bộ và nhân dân Quảng Bình đã đưa sáu tiểu đoàn bộ binh, sáu đại đội đặc công, ba tiểu đoàn phòng không, ba tiểu đoàn pháo cối, một số lớn thanh niên xung phong và dân công vào đường số 9 thay chân các đơn vị B5 ra hậu phương củng cố. Kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Quảng Trị, các đơn vị vừa vào đã tập kích, phục tích trên đường giao thông, bắn pháo cối vào các căn cứ 241, Cồn Tiên, Dốc Miếu; phục kích tàu địch trên sông Cửa Việt, gây cho địch nhiều thiệt hại.
Ở Triệu Phong và Hải Lăng, lực lượng vũ trang ta đẩy mạnh phong trào bắn máy bay của lữ đoàn "kỵ binh bay" Mỹ. Chiều ngày 19 tháng 8, lực lượng vũ trang huyện Triệu Phong bắn rơi 19 máy bay lên thẳng.
Ở Nam Lào, các tiểu đoàn 2, 3 và 927 quân tình nguyện Việt Nam kết hợp với bạn tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm của địch ở thị trấn Thà Teng, giải phóng một vùng rộng từ Mường Phìn tới thị xã Pắc Xoòng, giữ vững hành lang vận chuyển tây Trường Sơn, tạo điều kiện để ta đưa lực lượng chủ lực trở lại chiến trường, chuẩn bị cuộc chiến đấu mới.
Lợi dụng địch tập trung lực lượng mở các cuộc hành quân lên vùng núi và giáp ranh, lực lượng vũ trang ta đẩy mạnh hoạt động vùng đồng bằng. Bộ đội địa phương các huyện Hương Thủy, Phú Vang, Phú Lộc tăng cường phục kích, tập kích, diệt nhiều tên ác ôn, cảnh sát có nhiều nợ máu.
Ngày 6 tháng 8, một phân đội trinh sát do mũi trưởng Đỗ Nam chỉ huy bí mật tập kích bất ngờ vào tiểu đoàn "bình định" của địch ở chợ Cống, gây cho chúng nhiều thiệt hại.
Tiếp theo trận tập kích chợ Cống, ngày 12 tháng 8, đại đội 3 đặc công do đại đội trưởng Nguyễn Trung Thành chỉ huy tập kích hai đại đội Mỹ ở Mũi Né, loại khỏi vòng chiến đấu 250 tên, phá sáu khẩu pháo 105 ly, 10 xe quân sự, đốt cháy, nổ hàng chục tấn đạn. Huyện ủy các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Thủy đưa dần lực lượng về bám trụ địa bàn để đánh địch, giữ thế, xây dựng và phát triển cơ sở. Một số cơ sở Đảng ở huyện, xã đã dựng lại đến lần thứ năm, thứ sáu. Ở Quảng Điền, chỉ trong một đêm có hai phần ba số huyện ủy viên hy sinh, sáng hôm sau đã được kiện toàn, bổ sung.
Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị - Trương Công Kỉnh; Phó bí thư Nguyễn Hoành; thành ủy Huế - Trần Anh Liên,... và biết bao đồng chí khác nêu tấm gương kiên trung bất khuất: "Đảng bám dân, dân bám đất, du kích bám giặc để đánh giặc". Nữ du kích Trần Thị Tâm, Nguyễn Thị Lài, Chế Thị Mừng, Đoàn Thị Trâm..., chưa một ngày rời dân, cùng đội du kích liên tục đánh địch.
Chi bộ làng Mai Xá (Quảng Trị) suốt từ năm 1954 đến năm 1968 chưa bao giờ bị bật khỏi dân. "Gan Mai Xá - đá Hảo Sơn" đã trở thành bản sắc của địa phương mà kẻ thù không dễ gì khuất phục được.
Thành ủy Huế (bộ phận cánh nam) trong tổng tiến công và nổi dậy chủ trương đảng viên không công khai hoạt động, vì vậy, sau đợt 1 đã vững vàng trụ lại ở địa phương, tiếp tục bám cơ sở, tập hợp và hướng dẫn nhân dân đấu tranh chống địch bình định. Đến cuối tháng 8, các đồng chí Hoàng Lanh, Hoàng Kim Loan (thành ủy viên Huế) đã tổ chức được hai đội biệt động ở quận Hữu và các đội công tác ở vùng Vĩ Dạ, An Cựu tiếp tục đánh địch... Tiếng súng của cách mạng không bao giờ ngừng trong nội thành Huế, kể cả lúc khó khăn nhất.
Ở vùng ven, mặc dù hoạt động trong hoàn cảnh thiếu cơm, lạt muối, ốm đau, thường xuyên phải đối phó với mọi âm mưu thủ đoạn tàn bạo của địch, nhưng lực lượng vũ trang các huyện ngoại thành chưa ngày nào rời địa bàn, duy trì và phát triển lực lượng lên nhiều lần. Đến cuối tháng 10 năm 1968, mỗi huyện đã có một tiểu đoàn trinh sát, một đại đội trinh sát đặc công. Thành phố Huế phát triển được 500 chiến sĩ biệt động. Tháng 11 năm 1968, Khu ủy họp để ra biện pháp kiên quyết khắc phục khó khăn về hậu cần, đưa lực lượng trở lại chiến trường tiến công địch, khôi phục lại thế trận chiến tranh nhân dân ở ba vùng chiến lược; trước hết là vùng rừng núi.
Tháng 12 năm 1968, các đơn vị sau khi ra hậu phương củng cố đã lần lượt trở lại chiến trường hoạt động.
Chiến trường Trị - Thiên - Huế đang từng bước vươn lên, khôi phục dần thế trận và lực lượng. Tuy nhiên nhiều khó khăn vẫn chưa khắc phục được, thế liên hoàn ba vùng vẫn bị địch chia cắt và chiến trường chưa được tổ chức lại, do vậy chưa tạo được thế chủ động tiến công địch.
Qua tám tháng thực hành tổng tiến công và nổi dậy (từ 31 tháng 1 đến hết tháng 9 năm 1968) quân dân Trị - Thiên - Huế đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 200.000 tên địch (chưa tính chiến trường Khe Sanh - đường số 9) bắn rơi và phá hủy hơn 200 máy bay, phá hỏng 400 xe quân sự, 48 tầu xuồng chiến đấu, 13 kho đạn, 70 khẩu pháo các loại, phá sập 30 cầu, cống; diệt, bức hàng, bức rút 34 đồn, bốt và chi khu1.
Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968 ở Trị - Thiên - Huế là to lớn. Mặc dù ta bị tổn thất khá lớn, thương vong cao, mất nhiều cơ sở vùng đồng bằng, đô thị, để lại những khó khăn cho những năm sau, song nó vẫn nổi lên là một chiến công xuất sắc của quân và dân Trị - Thiên trong chiến đấu chống chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ; những thành tích đạt được trong năm 1968 đã khẳng định ý chí kiên cường và bất khuất của Đảng bộ cùng quân và dân Trị - Thiên - Huế. _____________________________________________ 1. Theo số liệu thống kê trong tổng kết chiến tranh của tỉnh Bình - Trị - Thiên (cũ).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #66 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2024, 06:30:43 pm » |
|
IV. ĐÁNH BẠI THỦ ĐOẠN NÉM BOM HẠN CHẾ CỦA KHÔNG QUÂN MỸ, GIỮ VỮNG MẠCH MÁU GIAO THÔNG Trong khi chiến trường Trị - Thiên - Huế đang trải qua thời kỳ đầy gian lao, thử thách, thì ở phía bắc vĩ tuyến 17, các tỉnh trên địa bàn Khu 4 hàng ngày, hàng giờ đối phó quyết liệt với sự đánh phá liên tục và dữ dội của không quân, hải quân Mỹ. Ngay sau tuyên bố của tổng thống Mỹ Giôn-xơn ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra, máy bay, tàu chiếu Mỹ tập trung đánh mạnh, ác liệt ở Quân khu 4, với mục đích ngăn chặn toàn bộ hệ thống giao thông, phá các phương tiện vận tải, hòng cắt đứt sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho miền Nam tổng tiến công và nổi dậy. Trung bình mỗi ngày, máy bay địch xuất kích trên 300 lần chiếc, nhằm đánh vào các đầu mối giao thông, các điểm hiểm yếu. Không quân, hải quân Mỹ liên tục khống chế việc vận chuyển và sửa chữa giao thông của ta 24 giờ trên 24 giờ mỗi ngày. Pháo tàu chiến Mỹ tăng cường mật độ đánh phá các đoạn đường số 1 chạy dọc ven biển gấp hai lần so với thời gian trước. Trên giải đất hẹp bằng một phần tư miền Bắc, chỉ trong vòng bảy tháng, mật độ bom đạn địch giội xuống tăng gấp 20 lần, số trận ném bom của máy bay Mỹ tăng 2,6 lần so với toàn bộ năm 1967. Ngoài số lần xuất kích và khối lượng bom đạn tăng lên nhiều lần, địch thay đổi thủ đoạn, tập trung đánh phá các trọng điểm trong từng khu vực: cầu Cấm, Phương Tích, rú Nguộc, truông Bồn, phà Nam Đàn, phà Bến Thủy (Nghệ An); bến Linh Cảm, ngã ba Đồng Lộc, Thượng Gia, Hạ Vàng, Khe Út, bến Ràng, Còi Sâu (Hà Tĩnh); bến Roòn phà sông Gianh, Xuân Sơn, Long Đại, Quán Hàu, Phong Nha (Quảng Bình). Trên các tuyến đường số 10, 12, 20 và đường số 8... những cửa khẩu như Nam Thôn, Seng Phan, Tà Lê và Đèo Dước liên tục bị máy bay Mỹ khống chế ngạt nghèo. Chỉ riêng khu vực ngã ba Đồng Lộc và Thượng Gia (Hà Tĩnh), không quân địch đã tập kích 5.300 lần chiếc, ném 37.500 quả bom phá và thả 5.000 quả bom từ trường. Giao thông vận tải giờ đây thực sự là mặt trận nóng bỏng; nơi thử thách quyết liệt về ý chí, quyết tâm giữa ta và địch. Bền lòng, vững chí, quân và dân Khu 4 nêu cao quyết tâm, kiên cường đánh trả không quân và hải quân Mỹ, giữ vững giao thông thông suốt. Ngay từ đầu năm 1968, lực lượng phòng không ba thứ quân trên địa bàn quân khu được tăng cường; thế trận chiến tranh nhân dân đánh trả không quân và hải quân Mỹ được củng cố. Bộ Tư lệnh phòng không quân khu giải thể; sư đoàn phòng không 375 được thành lập gồm các trung đoàn 214, 218, 284, bố trí đánh địch trên tuyến đường số 15, bảo vệ các mục tiêu phà Xuân Sơn, Long Dại, đồng thời bảo vệ lực lượng pháo binh triển khai trên đất Vĩnh Linh để đánh địch ở bờ nam sông Bến Hải, bảo vệ khu tập kết của bộ binh. Lực lượng phòng không các tỉnh, huyện và những đơn vị còn lại của quân khu được sắp xếp bố trí theo yêu cầu mới, vừa đảm bảo tác chiến bảo vệ địa bàn, vừa làm nòng cốt để thành lập thêm sáu trung đoàn, 11 tiểu đoàn, 9 đại đội phòng không trực thuộc quân khu. Những đơn vị mới thành lập là lực lượng làm nhiệm vụ đánh địch trên các tuyến giao thông bắc quân khu, tập trung vào các trọng điểm Nam Đàn, Linh Cảm, ngã ba Đồng Lộc... Cùng với quân khu, các tỉnh đã xây dựng 528 đội trực chiến của dân quân, trang bị súng 12,7 ly, 14,5 ly và 37 ly bảo vệ mục tiêu từng địa phương. Trong số 528 đội, các tỉnh chọn ra 245 đội được thoát ly sản xuất, cơ động phục kích đánh địch dọc các con sông lớn và dọc kênh nhà Lê, nhằm hạn chế máy bay địch săn tìm phương tiện vận tải của ta. Tăng cường khả năng tác chiến bảo đảm giao thông vận tải, các sư đoàn phòng không 367, 377, 368 và sư đoàn pháo binh 351 lần lượt vào đánh địch trên vùng trời, vùng biển Quân khu 4. Quân chủng Phòng không - Không quân quyết định sử dụng không quân tham gia đánh máy bay Mỹ trên vùng trời Nghệ An, Hà Tĩnh. Các đơn vị phòng không trên địa bàn quân khu gồm bốn trung đoàn tên lửa, 14 trung đoàn cao xạ, sáu tiểu đoàn và bốn đại đội cao xạ 37 ly, hai tiểu đoàn 12,7 ly và 500 đội dân quân trang bị súng 12,7 ly và 14,5 ly được giao bảo vệ từng mục tiêu cụ thể, có lực lượng trọng điểm và lực lượng cơ động; tạo thành lưới lửa phòng không nhiều tầng, nhiều lớp, bố trí trên nhiều hướng, nhiều vùng khác nhau. Lực lượng, thế trận được củng cố và tăng cường, quân dân Khu 4 kiên cường chiến đấu, đánh trả có hiệu quả không quân và hải quân địch, hạ nhiều máy bay, bắn cháy nhiều tàu chiến. Tháng 5 năm 1968, lập chiến công mừng Bác Hồ 78 tuổi, trung đoàn tên lửa 238 bắn rơi bảy chiếc. Ngày 31 tháng 5, không quân và hải quân Mỹ đánh phá đảo Cồn Cỏ suốt tám giờ liền. Bộ đội đảo Cồn Cỏ bám trụ trận địa, kiên cường chiến đấu bắn rơi bốn chiếc, giữ vững hòn đảo tiền tiêu của Tổ quốc, được Bác Hồ gửi thư khen ngợi: "Cồn Cỏ xứng đáng là đảo nhỏ anh hùng" và tặng các chiến sĩ Cồn Cỏ hai câu thơ: "Cồn Cỏ nở đầy hoa thắng trận Đánh cho tan xác giặc Hoa Kỳ" Trong dịp này, Quân khu ủy phát động đợt thi đua với đào Cồn Cỏ, quyết tâm bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 3.000 trên miền Bắc. Phong trào diễn ra sôi nổi khắp các trận địa. 19 giờ 45 phút ngày 25 tháng 6, các đội trực chiến của dân quân huyện Tuyên Hóa tỉnh Quảng Bình hiệp đồng chặt chẽ, bắn rơi tại chỗ một F4. Đây là chiếc máy bay Mỹ thứ 3.000 bị bắn rơi trên miền Bắc. Ngày 27 tháng 6, Bác Hồ gửi thư khen: "... Thế là Nam – Bắc hai miền đều đánh giỏi. ... Tôi nhiệt liệt khen ngợi quân và dân Quân khu 4 rất xứng đáng là tuyến đầu của miền Bắc, anh dũng đập tan mọi thủ đoạn dã man của giặc Mỹ...". Tháng 8, lực lượng phòng không ba thứ quân Quảng Bình lập thành tích mới, bắn rơi hai máy bay trong một ngày, trong đó có chiếc thứ 500 bị hạ trên vùng trời của tỉnh. Thi đua với Quảng Bình, ngày 5 tháng 8, quân và dân Vĩnh Linh bắn rơi cả tốp hai chiếc F4H trong đó có chiếc thứ 200 ở địa phương. Trong niềm vui chiến thắng, đồng bào và chiến sĩ Vĩnh Linh lại hân hoan đón nhận thư khen và hai câu thơ của Bác Hồ: "Đánh cho giặc Mỹ tan tành Năm châu khen ngợi Vĩnh Linh anh hùng". Ngày 28 tháng 8, tự vệ lâm trường huyện Hương Khê, Hà Tĩnh bắn rơi chiếc máy bay F111A của Mỹ đầu tiên trên miền Bắc. Đêm 20 tháng 9, trung đội lão dân quân xã Đức Ninh huyện Quảng Ninh, Quảng Bình với 30 viên đạn 12,7 ly diệt một A4. Dân quân xã Tiến Hóa huyện Tuyên Hóa đưa súng đại liên lên đỉnh lèn Bảng cao gần 1.000 mét lập trận địa và ngày 29 tháng 8, hạ tại chỗ một F4H. Tiểu đội dân quân gái xã Kỳ Phương, huyện Kỳ Anh do tiểu đội trưởng Tưởng Thị Diên chỉ huy, trong hai ngày cuối tháng 8 bắn rơi ba máy bay. Cô dân quân theo đạo Thiên chúa Nguyễn Thị Xuân xã Quảng Phúc (Quảng Bình), một mình, một súng, một trận địa bắn rơi một F4H. Trong tháng 8: trung đoàn 230 bắn rơi 15 chiếc, trung đoàn 233: sáu chiếc, trung đoàn 224: hai chiếc, trung đoàn 228: hai chiếc, trung đoàn 232: ba chiếc, trung đoàn 222: 12 chiếc, trung đoàn 214: 14 chiếc, tiểu đoàn 17: bảy chiếc.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #67 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2024, 06:32:05 pm » |
|
Ở các vùng ven biển, lực lượng pháo binh ba thứ quân kết hợp với bộ đội hải quân, đặc công nước, không quân, liên tiếp đánh bại các đợt tiến công của hải quân Mỹ, bảo vệ vùng biển và chi viện đắc lực cho các đơn vị bám trụ chiến đấu trên các đảo ngoài khơi. Các xã ven bờ tích cực tham gia xây dựng trận địa pháo và phục vụ chiến đấu. Các đội thuyền đánh cá, thuyền vận tải được trang bị hỏa lực mạnh để sẵn sàng đánh đuổi tàu biệt kích Mỹ, bảo vệ sản xuất của ngư dân. Các đơn vị pháo bờ biển hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị phòng không ở gần để đối phó có hiệu quả với kẻ địch ngoài biển và địch trên không.
Đêm 14 tháng 5, công an vũ trang đồn Cửa Tùng phối hợp với dân quân xã Vĩnh Quang cảnh giác cao, nổ súng kịp thời bắn chìm một tàu biệt kích Mỹ khi chúng tập kích thuyền đánh cá của dân.
Ngày 7 tháng 8, tàu biệt kích địch liều lĩnh bất ngờ lẻn sâu vào bờ biển huyện Quỳnh Lưu, nhưng không lọt qua được con mắt cảnh giác của quân và dân ta. Hai tàu biệt kích Mỹ bị hải quân phối hợp với dân quân bắn chìm. Những chiếc còn lại vội vàng tháo chạy. Cùng ngày, đội thuyền vận tải tiếp tế cho đảo Cồn Cỏ cũng anh dũng đánh trả tàu biệt kích ngụy, bắn chìm ba chiếc.
Mưu trí, dũng cảm, nghi binh giỏi, phòng tránh tốt, đại đội 13 pháo binh Vĩnh Linh trong ngày 26 tháng 7, đã đánh bại cuộc tiến công của 17 tàu chiến địch, bắn cháy hai chiếc.
Từ ngày 7 tháng 2 năm 1968 đến ngày 16 tháng 5 năm 1968, đội nữ pháo binh dân quân Ngư Thủy, Lệ Thủy (Quảng Bình) do đại đội trưởng Ngô Thị The chỉ huy đánh giỏi, ba lần nổ súng, ba lần bắn cháy tầu chiến Mỹ.
Trên mặt trận giao thông vận tải, Hội đồng Chính phủ quyết định thành lập Bộ Tư lệnh bảo đảm giao thông vận tải Khu 4 và cử đồng chí Phan Trọng Tuệ, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bộ trưởng Giao thông vận tải làm Tư lệnh và đồng chí Thiếu tướng Lê Quang Hòa, Chính ủy Quân khu 4 làm Chính ủy, để chỉ đạo tập trung và tổ chức hiệp đồng các lực lượng giao thông vận tải có mặt trên địa bàn Khu 4. Một số cán bộ các ngành giao thông vận tải, bưu điện, thương nghiệp, y tế, Trung ương Đoàn thanh niên lao động Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam và cán bộ Tổng cục Hậu cần được huy động vào Khu 4 trực tiếp chỉ đạo công tác giao thông vận tải.
Ở các tỉnh có bộ chỉ huy bảo đảm giao thông vận tải do Chủ tịch tỉnh làm chỉ huy trưởng. Các đồng chí tỉnh ủy viên, huyện ủy viên, chỉ huy cơ quan quân sự, công an... cũng tham gia ban chỉ đạo. Bộ Tư lệnh bảo đảm giao thông vận tải Khu 4 được quyền huy động tất cả lực lượng, phương tiện bảo đảm giao thông của quân đội và của Trung ương hoạt động trên địa bàn Quân khu 4. Hệ thống thông tin liên lạc cũng được quân sự hóa. Các ty bưu điện và đơn vị thông tin quân đội được bổ sung phương tiện và giành quyền sử dụng ưu tiên cho các trọng điểm. Tăng cường sức mạnh cho lực lượng bảo đảm giao thông vận tải có các đơn vị cầu đường của ngành vận tải trung ương, các trung đoàn công binh 229, 249, 239 của Bộ Quốc phòng, bảy tiểu đoàn công binh của Quân khu Tà Ngạn và Quân khu Hữu ngạn. Bộ còn điều thêm hai đại đội phá bom mìn của Cục Công trình Bộ Tư lệnh Công binh. Bộ Tư lệnh Quân khu 4 thành lập thêm hai tiểu đoàn công binh công trình. Mỗi tỉnh tổ chức thêm một đại đội công binh. Các huyện, xã trong quân khu có 500 đội công binh - dân quân thoát ly sản xuất.
Các lực lượng trên được biên chế thành hai bộ phận: một bộ phận chuyên rà phá bom mìn, san lấp hố bom, giải phóng đường, mở đường vòng tránh... bao gồm các đơn vị công binh và thanh niên xung phong... lấy lực lượng công binh chủ lực làm nòng cốt. Một bộ phận chuyên làm nhiệm vụ vận tải, lấy các đơn vị vận tải của Trung ương, các binh trạm, các tiểu đoàn xe ô-tô vận tải, các hợp tác xã vận tải biển và các đoàn thể phụ nữ, thanh niên, sinh viên, học sinh tham gia bốc vác vận chuyển. Trong lực lượng vận tải được tổ chức thành các đơn vị vận tải cơ giới, đường sắt, đường goòng, gùi thồ, các đội tàu, các đoàn thuyền của hợp tác xã... và được phân chia cung đoạn vận chuyển phù hợp với đặc điểm, tính chất từng đơn vị và hiện trạng của từng tuyến đường. Các ban công an giao thông được thành lập từ tỉnh đến xã, phường để điều phối phương tiện vận tải, lực lượng bốc vác và bảo vệ an ninh trật tự ở các bến vượt.
Được tăng cường và tổ chức hợp lý, các lực lượng bảo đảm giao thông vận tải trên địa bàn Khu 4 đã vượt qua đạn bom ác liệt để thực hiện nhiệm vụ. Trung đoàn 239 đảm nhiệm vận chuyển vượt sông Lam, sông La qua hai trọng điểm Nam Đàn và Linh Cảm trên trục đường số 15, dùng khung dây nam châm, bộc phá, hoặc lái ca-nô với tốc độ nhanh, rà phá hàng nghìn quả bom từ trường, đảm bảo cho hàng nghìn chuyến xe vượt sông an toàn, đưa hàng ra tiền tuyến.
Các bến phà Long Đại, Xuân Sơn, Gianh, địa hình phức tạp, vừa rộng, vừa sâu, trống trải..., đáy sông có nhiều sỏi cát; sau các trận mưa, nước sông chảy xiết rất khó neo cầu, lái phà, trong khi đó địch đánh phá liên tục suốt ngày đêm, rải hàng nghìn bom từ trường, bom nổ chậm. Sau mỗi lần địch đánh, trung đoàn 249 vừa tổ chức lực lượng phá bom vừa vận dụng nhiều phương thức lắp ghép cầu phà; rút ngắn thời gian, và giảm bớt thương vong, đảm bảo cho xe qua nhanh trọng điểm đánh phá của máy bay địch... Trong 100 ngày đêm chốt tại bến phà Long Đại, tiểu đoàn 1 trung đoàn 249 đã bảo đảm được yêu cầu cơ động binh khí, kỹ thuật và vận tải qua sông an toàn. Ngày 14 tháng 3, nhiều tốp máy bay thả hơn 300 quả bom từ trường xuống khu vực phà Quán Hàu. Đội tự vệ bến phà dùng khung dây rà quét gây nổ 122 quả. Cùng ngày, đội phá bom dân quân xã Đức Ninh dùng bộc phá áp vào bom, phá 250 quả bom nổ chậm dọc sông Nhật Lệ.
Là tỉnh địa bàn vừa hẹp, vừa dốc, có nhiều sông suối chia cắt, Hà Tĩnh trở thành địa bàn không quân, hải quân Mỹ chọn làm nơi "chẹn họng". Chúng đã tập trung gần 60 phần trăm số lượng đạn bom đánh vào khu vực bắc Hà Tĩnh. Chỉ riêng cầu Họ dài hơn chục mét trên đường số 1 đã phải chịu hơn 500 quả bom các loại.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #68 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2024, 06:34:09 pm » |
|
Từ tháng 2 năm 1968, Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã xác định quyết tâm: "Địch đánh ta sửa ta đi, đi trên nhiều tuyến đường với nhiều hình thức vận chuyển khác nhau. Hoàn thành gấp tuyến đường liên huyện, liên xã; sản xuất nhiều nguyên vật liệu dự phòng, cải tạo và mở mang nhiều bến bãi đậu xe, đóng thật nhiều phương tiện vận tải thô sơ, kiên quyết thông xe trong mọi tình huống".
Một lực lượng lớn dân quân được huy động cùng với công binh, thanh niên xung phong mở chiến dịch làm đường vòng tránh san lấp hố bom, sửa chữa đường sá, cầu phà, bến bãi. Hàng chục vạn lượt người được huy động tham gia đảm bảo giao thông vận tải.
Trên khu tam giác trọng điểm Nam Đàn - Linh Cảm - Bến Thủy, trung đoàn 239 và tiểu đoàn 27 phối hợp với các đội công binh - dân quân ngày đêm rà phá hàng nghìn bom từ trường, bom nổ chậm dọc sông Lam, sông La; ghép phà chở hàng dọc theo sông Lam, sông Ngàn Sâu trên tuyến dài 100 ki-lô-mét. Tiểu đoàn 27 đã thường xuyên rút kinh nghiệm phát huy sáng kiến cải tiến thao tác đã rút ngắn thời gian ghép phà từ ba giờ xuống hai giờ.
Tại ngã ba Đồng Lộc - khu vực rộng chừng 100 ki-lô-mét vuông giao điểm giữa hai tuyến đường số 15 và tỉnh lộ số 2 đi qua giữa ruộng lầy xen đồi trọc, cuộc đọ sức giữa đạn bom và ý chí con người diễn ra vô cùng quyết liệt.
Tại ngã ba này không lúc nào ngớt tiếng bom đạn, nhưng cũng không lúc nào vắng bóng người phá gỡ bom mìn, lấp hố bom, san sửa mặt đường. Lực lượng bảo đảm giao thông ở khu vực ngã ba Đồng Lộc có năm đại đội thanh niên xung phong, ba đại đội công binh giao thông, một đội cầu và một đại đội công binh phá bom thuộc tiểu đoàn 30. Ngoài ra, tiểu đoàn 500 công binh trạm 9 sẵn sàng chi viện trong những trường hợp cần thiết.
Tháng 5 năm 1968, địch đánh 158 trận, thả hơn 3.000 quả bom phá và 970 bom từ trường, cắt đứt đường số 1 ở khu vực Hà Tĩnh.
Các lực lượng bảo đảm giao thông vừa chống địch phá hoại, sửa chữa các đoạn bị hư hỏng, làm thêm 17 ki-lô-mét đường vòng tránh đoạn Thượng Gia - Hạ Vàng. Trên đường số 15, địch đánh 88 trận, thả 2.000 bom phá và 126 bom từ trường. Ta mở đường tránh dài bốn ki-lô-mét vòng qua ngã ba, nên đường vẫn thông. Phát hiện ta làm đường vòng tránh, địch đánh rộng ra với cường độ ngày càng lớn. Lực lượng phòng không bảo vệ Đồng Lộc được tăng cường tới 12 đại đội đã anh dũng đánh trả. Nhưng đường số 1 vẫn tắc từ cầu Nghèn đến cầu Già. Ta phải mở đường vòng tránh từ Tùng Cốc đến Khe Giao dài 16 ki-lô-mét vòng qua ngã ba.
Từ cuối tháng 7 trở đi, địch đánh phá ngày càng dữ dội, gây ra 10 điểm tắc trong khu vực này. Các lực lượng bảo đảm giao thông tập trung mở gấp đường 70B tránh xa khu vực trọng điểm, giải quyết được một phần khó khăn ở khu vực ngã ba Đồng Lộc. Suốt hơn 200 ngày đêm đọ sức với địch tại ngã ba này đã xuất hiện nhiều gương chiến đấu dũng cảm.
Dũng sĩ phá bom Vương Đình Nhỏ gần 200 ngày đêm bám trọng điểm, đảm nhiệm phá bom ở những vị trí quan trọng và nguy hiểm nhất. Với dụng cụ thô sơ, tự tạo, anh đã phá gỡ được 189 quả, trở thành người phá bom xuất sắc nhất ở ngã ba Đồng Lộc.
Công nhân Uông Xuân Lý với chiếc máy húc C100 của mình đã xúc gạt hàng trăm quả bom của địch ra khỏi mặt đường, vừa húc đẩy hàng nghìn mét khối đất đá để san đường, lấp hố bom.
Chị La Thị Tám ở đại đội 2 giao thông huyện Can Lộc, liên tục có mặt 86 ngày tại ngã ba Đồng Lộc, 30 ngày tại Thượng Gia, Cổ Ngựa, theo dõi từng quả bom rơi, nắm chắc từng thủ đoạn đánh phá của địch, cùng tổ đánh dấu 703 quả bom. La Thị Tám đã bị bom nổ vùi lấp 23 lần khi chị đang làm nhiệm vụ cắm tiêu đánh dấu bom chưa nổ.
Ở đây, còn có 10 cô thanh niên xung phong vào độ tuổi 20, gồm hai đảng viên, tám đoàn viên, có nhiệm vụ san lấp hố bom, làm đường, bảo đảm an toàn xe qua lại. Có ngày chỉ trong năm giờ, địch đánh xuống đây bốn trận liền, giội hàng trăm tấn bom, nhưng cả 10 chị em không rời vị trí. Ngày 24 tháng 7 năm 1968, cả 10 cô gái đã bám trụ kiên cường trên trọng điểm sau 18 lần địch đánh phá ác liệt và đã anh dũng hy sinh, cả tiểu đội thanh niên xung phong do Võ Thị Tần làm tiểu đội trưởng đã được Quốc hội, Chính phủ truy tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng.
Ở Nghệ An, sau quả bom từ trường đầu tiên do anh Nguyễn Văn Minh ở thành đội Vinh phá thành công, phong trào phá gỡ bom mìn nhanh chóng lan rộng. Với những công cụ thô sơ như viên nam châm, lưỡi cuốc, lưỡi cày, vỏ phuy xăng, khung dây, kết hợp với máy phóng từ gắn trên xe con... nhân dân Nghệ An phá hàng nghìn bom từ trường.
Đại đội 3 tiểu đoàn 30 công binh cùng với 10 cô gái thanh niên xung phong Đô Lương (trong tháng 8 ) đã phá gần 2.000 bom từ trường tại trọng điểm truông Bồn. Chiến sĩ dân quân Nguyễn Trọng Được ở xã Hưng Vĩnh, Hưng Nguyên trong bảy tháng phá 33 bom nổ chậm, 400 bom từ trường tại khu vực cầu Đước. Các chị Nguyễn Thị Tính ở Nam Giang, Nam Đàn, Trần Thị Cúc xã Hưng Hòa, Hưng Nguyên, Nguyễn Thị Vợi ở rú Nguộc, Thanh Chương, Vương Thị Hải xã Trung Sơn, Đô Lương... đều là những dùng sĩ phá bom từ trường xuất sắc. Chiếc ca-nô "Bất Khuất" của tiểu đoàn 27 do đồng chí Nguyễn Xuân Toán lái đã gây nổ hàng trăm bom từ trường ở sông Lam đoạn từ Nam Đàn xuống Bến Thủy.
Từ tháng 4 đến cuối tháng 10 năm 1968, lực lượng vũ trang và nhân dân các tỉnh Khu 4 đã phá được hàng chục nghìn bom Mỹ. Trong đó có 24.750 bom từ trường1.
Phà Bến Thủy, một bến vượt quan trọng trên đường số 1 từ Nghệ An vào Hà Tĩnh thường xuyên bị địch đánh phá. Không quản gian khổ, hy sinh, công nhân phà Bến Thủy luôn luôn có mặt tại bến. Tháng 8 là tháng địch đánh phá ác liệt nhất, cộng với mùa mưa lũ, nước sông Lam dâng lên cao, công nhân phà Bến Thủy đã vượt qua đạn bom, mưa lũ, đưa 4.200 lượt chuyến xe qua sông. Cứ mỗi lần đường tắc, phà trôi, nhân dân các xã Hưng Hòa, Hưng Dũng và thành phố Vinh lại kéo ra mặt đường, dùng sức người kéo phà, dùng trâu bò kéo xe cơ giới vượt lầy. ______________________________________________ 1. Công binh chủ lực phá 5.540 quả, dân quân phá 29.210 quả, phá bằng xe phóng từ: 2.200 quả, phá bằng phương tiện thô sơ 31.000 quả, phá dưới nước 3.142 quả.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #69 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2024, 06:36:04 pm » |
|
Nhân dân Hà Tĩnh, Quảng Bình tự nguyện dời nhà để làm đường vòng tránh, dỡ nhà để lấy gạch, gỗ, ván lát đường, chống lầy. Nhân dân xóm Trường Giang, xã Tiến Lộc, Can Lộc (Hà Tĩnh) đã bốc dỡ và sẵn sàng bốc dỡ hết cả xóm làng thân yêu của mình gồm (130 nóc nhà) để làm đường tránh cho xe qua. Đồng chí Phạm Đình Dương, bí thư Đảng ủy xã Võ Ninh huyện Quảng Ninh dỡ căn nhà ngói ba gian của mình ra để chống lầy giải phóng xe hàng. Các đồng chí trong đảng ủy, ủy ban và nhân dân toàn xã đã đăng ký hiến 300 ngôi nhà gạch. Trong tháng 8, xã đã có 37 căn nhà được tháo dỡ ra để chống lầy. Ban 67 giao thông vận tải cùng đơn vị cầu đường 4 và tổng đội thanh niên xung phong Quảng Bình đã đào đắp gần một triệu mét khối đất đá để san đường, mở 48 ki-lô-mét đường vòng tránh qua các trọng điểm, sửa chữa 1.033 mét cầu gỗ, làm mới 230 mét cầu cáp, đóng mới 22 phà. Từ tháng 4 đến tháng 10 đã bảo đảm cho 30.400 lượt xe qua các trọng điểm phà Gianh, Long Đại và Xuân Sơn.
Tỉnh Hà Tĩnh mở đường Phan Đình Giót và đường 57 với tổng chiều dài 26 ki-lô-mét, sửa chữa 170 mét cầu gỗ, 135 mét cầu phao và đóng mới 55 chiếc phà.
Tỉnh Nghệ An làm mới tuyến đường truông Sắt - truông Bồn dài 20 ki-lô-mét, mở 49 ki-lô-mét đường vòng tránh, sửa chữa 600 mét cầu gỗ, đóng 50 chiếc phà và sửa chữa 9 ca-nô.
Do thời tiết đã chuyển sang mùa mưa và địch đánh phá ác liệt, nên dù các lực lượng bảo đảm giao thông vận tải đã dũng cảm tận tụy ngày đêm ra sức khắc phục, giao thông đường bộ vẫn cứ bị tắc nghẽn dài ngày, không bảo đảm được kế hoạch chi viện chiến trường.
Trước tình hình đó, cuối tháng 8, Quân khu ủy họp quyết định: tận dụng nhiều phương tiện, hợp lý hóa tổ chức vận chuyển, nâng tốc độ, tăng trọng lượng, giảm thời gian, củng cố và điều chỉnh lực lượng kho, trạm vùng và cả trên đường đi, theo phương châm: xa trước, gần sau, đạn hỏa lực trước, đạn bộ binh sau, hàng quý hiếm trước, hàng thường sau, nhà dân là kho đạn, chủ nhà là thủ kho. Thực hiện quyết định trên, Cục Hậu cần quân khu thành lập thêm đại đội 5 vận tải, bốn binh trạm rút xuống còn hai. Binh trạm 1 phụ trách từ bắc sông Gianh trở ra và các tuyến qua Lào. Binh trạm 2 phụ trách từ nam sông Gianh trở vào.
Bốn ngày đầu tháng 8, binh trạm 1 đã vận chuyển gần 800 tấn hàng phân tán vào bảy xã xung quanh thành phá Vinh.
Trung đoàn 239 rút một phần lực lượng ở hai bến phà Nam Đàn, Linh Cảm, sử dụng bốn ca-nô kéo, một ca-nô rà phá bom và một số sà lan tổ chức thành lực lượng vận tải đường sông từ Dùng (Nghệ An) vào Địa Lợi (Hà Tĩnh) dài 115 ki-lô-mét, đồng thời bố trí sáu chốt dọc tuyến vận tải để quan sát, rà phá bom, khơi thông luồng lạch. Mỗi tiểu đoàn còn tổ chức một đội phá bom cơ động hộ tống đoàn sà lan. Đến ngày 24 tháng 10, trung đoàn đã vận chuyển được 350 tấn hàng vào Hà Tĩnh. Lợi dụng kênh Nhà Lê (kênh đào có từ thời nhà Lê) từ Thanh Hóa vào Nghệ An, tiểu đoàn 1 ca-nô Hồng Hà và các đội thuyền nan, thuyền gỗ có trọng tải từ một đến ba tấn đã bền bỉ đêm ngày vận chuyển hàng vào các bến bãi quy định.
Trung đoàn 249 dùng xe lội nước K61 chuyển tải hơn 1.000 tấn gạo qua sông Gianh. Tiểu đoàn 27 dùng xe K61 "cõng” 60 xe ô-tô vận tải vượt trọng điểm Thượng Gia, Hạ Vàng.
Bộ đội xăng dầu cũng lắp đặt xong tuyến đường ống từ Nghệ An vào bắc Hà Tĩnh.
Ngày 1 tháng 9, Ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hóa huy động hàng trăm thuyền nan của nhân dân để thành lập đoàn vận tải Điện Biên và cử đồng chí Đào Đức Bình phó Ty Giao thông làm trưởng đoàn. Đoàn được biên chế thành các đại đội vận chuyển trên từng cung đoạn. Riêng đại đội 28 (Tĩnh Gia) và đại đội 2 (Hoằng Hóa) đảm nhiệm đưa hàng theo kênh Nhà Lê vào Nghệ An, Hà Tĩnh. Trong tháng 8, hai đại đội đã chuyển được 3.000 tấn. Thanh Hóa còn huy động 2.216 chiếc xe đạp thành lập đoàn xe thồ Lam Sơn để vận chuyển từng cung đoạn ngắn. Trong tháng 10, đoàn Lam Sơn đã chuyển giao cho Hà Tĩnh 4.000 tấn. Các đồng chí Ngọ, Tứ, Tường, sử dụng xe thồ đã lập kỷ lục vận chuyển mỗi chuyến 700 ki-lô-gam.
Để tăng lực lượng bảo đảm giao thông, ngày 28 tháng 10, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Bộ Tư lệnh 500 bảo đảm giao thông vận tải trên địa bàn Khu 4 thay thế cho cơ quan tiền phương Tổng cục Hậu cần. Lực lượng của Bộ Tư lệnh 500 có hai trung đoàn và 35 tiểu đoàn công binh, một sư đoàn, ba trung đoàn, 23 tiểu đoàn cao xạ, 14 tiểu đoàn ô-tô vận tải, hai tiểu đoàn đường ống.
Cuối tháng 10, Thủ tướng Chính phủ huy động của Thanh Hóa 2.000 xe đạp thồ (cả người), 500 thuyền nan, 800 thuyền biển vào tăng cường cho Quảng Bình, Hà Tĩnh.
Tỉnh nghệ An tổ chức đoàn xe đạp thồ 7.000 chiếc, đoàn xe ba gác 8.500 chiếc, đoàn xe "cút kít" 11.600 chiếc, đoàn xe trâu 6.400 chiếc để đưa hàng chục nghìn tấn hàng vượt từng cung đoạn vào Hà Tĩnh, Quảng Bình. Trong tháng 8, tỉnh Hà Tĩnh huy động 2.000 xe đạp thồ, 800 thuyền nan, vận dụng phương thức vận chuyển liên huyện, liên xã, chuyển vào chiến trường 37.340 tấn hàng các loại.
Lực lượng vận tải huyện Kỳ Anh dùng thuyền độc mộc ngược sông, suối, thác nước miền tây, đưa 3.000 tấn hàng vào Quảng Bình. Tháng 9, đường bị tắc nghẽn nhiều ngày, tỉnh vận động nhân dân quyên góp thóc, gạo, chi viện chiến trường. Riêng ba huyện Hương Sơn, Hương Khê, Kỳ Anh đã cho Nhà nước vay 900 tấn lương thực.
Dù lực lượng giao thông vận tải nỗ lực rất lớn, song do địch đánh rất ác liệt, cộng với mưa lũ lớn, nên các tuyến đường bị tắc nhiều ngày, phương tiện vận tải không đủ bổ sung số bị hư hỏng, khối lượng vận chuyển không đạt kế hoạch. Hàng từ Thanh Hóa vào Khu 4 đạt 86 phần trăm kế hoạch năm 1968, từ Khu 4 vào chiến trường đạt 84 phần trăm. Mức ăn của bộ đội ở chiến trường trong tháng 5 được 500 gam một ngày, tháng 6 được 300 gam, tháng 7 là 200 gam, sang tháng 8 chỉ còn 150 gam. Cầu hỏng, đường tắc..., chiến trường từng phút từng giờ mong đợi. Cả Quân khu 4, từ Bí thư tỉnh ủy các tỉnh đến đảng viên và từng người dân, tất cả vì chiến trường, tất cả ra mặt đường bảo đảm giao thông vận tải. Hầu hết lực lượng thanh niên, trung niên được huy động triệt để cho chiến dịch vận tải "Vì miền Nam ruột thịt". Bộ Tư lệnh đoàn 500 tổ chức nhiều đội gùi cõng từng bao gạo, từng can xăng vượt qua trọng điểm. Đã có hơn 200 nữ thanh niên xung phong, dân công hy sinh trong chiến dịch gùi xăng qua Cổng Trời trên đường số 12. Tiểu đoàn 1 (Quảng Bình) suốt hai tháng cõng gạo, xăng vượt trọng điểm Chà Là, Phu La Nhích. Bác Đặng Văn Chước ở thị trấn Cầu Giát huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) có ba con đang chiến đấu trên chiến trường, vẫn hăng hái cùng thanh niên địa phương tham gia chiến dịch vận tải. Chỉ trong tháng 9, chiếc xe trâu do bác sử dụng đã chuyển được 200 tấn hàng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|