Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:22:44 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)  (Đọc 57135 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #80 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2024, 08:41:27 pm »


III. THAM GIA CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO, KHÔI PHỤC THẾ CHIẾN LƯỢC BA VÙNG (NĂM 1971)

Hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương và cũng để thử thách vai trò quân ngụy trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", tháng 2 năm 1971, địch mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719", đánh ra đường số 9 - Nam Lào. Ý đồ của địch là triệt phá kho tàng dự trữ chiến lược của ta ở đây và cắt đứt tuyến chi viện 559, ngăn chặn cuộc tiến công của quân giải phóng miền Nam.

Mỹ - ngụy đã tập trung một lực lượng lớn bao gồm tất cả lực lượng dự bị chiến lược, cùng lực lượng cơ động của quân khu 1. Bộ binh và thiết giáp Mỹ phối hợp tác chiến ở phía nam. Mỹ trực tiếp chi viện hỏa lực pháo binh và không quân. Quân ngụy Lào phối hợp hoạt động ở tây đường số 9 và Mường Noòng. Địch dự tính chỉ trong ngày thứ hai của cuộc hành quân là chiếm được Sê Pôn và sau đó tiến về Xa Va Na Khét, hình thành tuyến ngăn chặn chia cắt Đông Dương.

Để đập tan bước phiêu lưu quân sự mới của Mỹ - ngụy, ta quyết tâm tập trung lực lượng kiên quyết tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, bảo vệ bằng được tuyến vận tải Trường Sơn. Bộ Chính trị đã chỉ thị cho Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng “Nhất thiết phải đánh thắng trận này, dù có phải động viên sức người, sức của như thế nào” vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược.

Bộ Tổng Tham mưu điều động lực lượng cho chiến dịch gồm Binh đoàn 70, lực lượng vũ trang Mặt trận B5, sư đoàn 2 Quân khu 5, sư đoàn 324 chủ lực Quân khu Trị - Thiên, bốn tiểu đoàn thiết giáp, bốn trung đoàn pháo mặt đất, ba trung đoàn cao xạ, ba trung đoàn công binh, một số tiểu đoàn đặc công của Bộ và lực lượng Đoàn 559.

Là hậu phương trực tiếp của chiến dịch nên bước vào giai đoạn chuẩn bị, nhiệm vụ các lực lượng vũ trang Quân khu 4 rất nặng nề và khẩn trương. Cuối năm 1970, Thường vụ Quân khu ủy họp xác định lại một lần nữa vị trí, nhiệm vụ chính trị của quân khu: tiếp tục làm bốn nhiệm vụ trên ba chiến trường, chi viện Mặt trận Đường số 9 - Nam Lào là nhiệm vụ hàng đầu.

Các đơn vị công binh của quân khu, của các tỉnh đội; các đại đội thanh niên xung phong Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đã làm việc suốt ngày đêm để sửa đường, sửa ngầm, sửa cầu, bắc cầu phao, sửa chữa các bến vượt bảo đảm cơ động cho các lực lượng, binh khi kỹ thuật từ hậu phương đến vị trí tập kết đúng thời gian quy định. Đường số 15 dành cho binh khí kỹ thuật hạng nặng cơ động. Trung đoàn công binh 249 cùng với các tiểu đoàn công binh vượt sông 27, 37 bảo đảm các bến vượt Nam Đàn, Đò Trai, Long Đại... Các bến ngầm từ Phú Quý vào Lệ Ninh do đại đội 8 trung đoàn 249 đảm bảo. Lực lượng bộ binh, binh khí kỹ thuật nhẹ cơ động trên các trục đường số 1, 10, 18, 20... Đến ngày 5 tháng 1 năm 1971 trên 200 xe cơ giới các loại, 80 nghìn tấn lương thực, đạn dược, thuốc chiến thương đã được tập kết ở nam Long Đại.

Càng gần đến ngày hành quân ra đường số 9 - Nam Lào địch tung nhiều tốp máy bay các loại tiến hành trinh sát, đánh phá dữ dội các tuyến hành lang vận chuyển.

Nam Quảng Bình, Vĩnh Linh là nơi tập kết lực lượng phương tiện vật chất kỹ thuật, là địa bàn xuất phát tiến công của các binh đoàn chủ lực, các binh chủng. Với tinh thần: "Chiến trường cần gì, hậu phương sẵn sàng đáp ứng", đảng ủy chính quyền địa phương động viên nhân dân bỏ ra hàng trăm nghìn ngày công phục vụ chiến đấu, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các đơn vị chuẩn bị bước vào chiến dịch. Phong trào tòng quân, đi dân công hỏa tuyến rầm rộ sôi nổi khắp các địa phương trong quân khu1. Tiểu đoàn pháo binh 25 (Nghệ An), tiểu đoàn 8 pháo cao xạ (Hà Tĩnh), tiểu đoàn 46 bộ binh (Quảng Bình), đại đội 361 (huyện Lệ Thủy), đại đội 362 (huyện Quảng Ninh) các phân đội súng 12,7 ly của các huyện Thiệu Hóa, Nông Cống, Ngọc Lạc (Thanh Hóa)..., hăng hái xung phong vào chiến đấu ở đường số 9 - bắc Quảng Trị. Với khẩu hiệu: "Đưa nhiều hàng kịp thời phục vụ chiến dịch", đầu tháng 1 năm 1971, các đại đội dân công hỏa tuyến của Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đã vận chuyển vào chiến trường hàng vạn tấn vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm.

Ở Quảng Bình, bảy đoàn dân công hỏa tuyến của các huyện Lệ Thủy, Quảng Ninh, thị xã Đồng Hới, Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa và bốn đại đội dân công hỏa tuyến của các cơ quan cấp tỉnh, các trường trung cấp sư phạm, nông nghiệp, trường sỹ quan... chỉ hai ngày sau khi có lệnh đã lên đường với khí thế phấn khởi sôi nổi.

Ngày 30 tháng 1 năm 1971, chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào bắt đầu. Trong lúc các đơn vị chủ lực của Bộ căn cứ vào nhiệm vụ tác chiến cơ động vào vị trí qui định, các lực lượng của B5 được giao nhiệm vụ ngăn chặn bước triển khai lực lượng tiến công của địch. Trung đoàn 27, đơn vị chủ lực của B5 có nhiệm vụ luồn sâu vào đường số 9 để phục kích địch. Ngày 6 tháng 2, đơn vị phục kích quân địch trên đường Bông Kho, bắn cháy chín xe, diệt 90 tên dịch. Những ngày tiếp sau, đơn vị cùng các đơn vị đặc công tập kích vào đội hình lữ đoàn 1, sư đoàn 5 bộ binh cơ giới Mỹ ở các khu vực Kế Sóc, Ba Lào. Ngày 7 tháng 2, đại đội 5 tiểu đoàn 33 đặc công tập kích phá hủy tám ô-tô, diệt trên 30 tên địch.
______________________________________________
1. Cuối năm 1970, toàn quân khu đã tuyển 11.846 tân binh. Thanh Hóa: 8.045 người, nhiều hơn năm 1969: 976 người, Nghệ Tĩnh: 8.175 người.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #81 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2024, 08:42:39 pm »


Vào đợt 2 chiến dịch (từ ngày 8 tháng 2 đến ngày 11 tháng 3) trong khi ở phía trước các đơn vị chủ lực của Bộ đang tập trung bẻ gãy cánh quân phía bắc với những trận đánh nổi tiếng (trung đoàn 102 sư đoàn 308 diệt gọn tiểu đoàn 39 biệt động quân ở điểm cao 500, trung đoàn 64 sư đoàn 320 vây lấn bắt toàn bộ bọn chỉ huy lữ đoàn 3 dù ở điểm cao 543, trong đó có tên đại tá Nguyễn Văn Thọ, lữ đoàn trưởng); thì ở phía nam, các lực luợng của B5 đánh địch ngày càng dồn dập hơn, bằng những trận pháo kích và tập kích vào các căn cứ hậu cần, các sở chỉ huy của địch ở Khe Sanh, Sa Mưu, Đông Hà, Ái Tử, Cửa Việt gây cho địch tổn thất về sinh lực và phương tiện chiến tranh. Ngày 28 tháng 2 đại đội 2 tiểu đoàn 33 đánh kho Sa Mưu, đốt cháy 240 nghìn lít xăng.

Cùng ngày, tiểu đoàn đặc công của Bộ cùng với đại đội 5 tiểu đoàn 53 đánh kho Ái Tử, đốt cháy 1,5 triệu lít xăng. Tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 2 trung đoàn 27 cùng với tiểu đoàn 7, tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị đánh quân địch nống ra ngoài ở Ba Lào, Tà Cơn tiêu diệt hàng trăm tên địch. Lực lượng của mặt trận bắc Quảng Trị đánh mạnh vào các đường giao thông, tập kích sân bay, kho tàng, bến cảng buộc địch phải tăng thêm hai lữ đoàn Mỹ và ba tiểu đoàn pháo binh để giải tỏa.

Tại khu vực phía tây, để phối hợp chặt chẽ với cánh quân ngụy Sài Gòn, địch dự kiến điều các đơn vị quân ngụy Lào GM30 tiến ra khu vực Pha Dô Tuya và Mường Noòng; tiếp đó, ngày 29 tháng 2, sẽ phá kho xăng, ngăn chặn tiếp tế và lực lượng cơ động của ta. MG33 tiến xuống Mường Phìn nối với cánh quân ngụy Sài Gòn cùng phối hợp lùng sục phá kho tàng cho đến ngày 1 tháng 3 năm 1971. Nhưng địch không thực hiện được âm mưu nói trên. Sư đoàn 968 phối hợp với các đơn vị bạn Lào lần lượt đánh thiệt hại nặng MG30 ở Pha Dô Tuya và MG33 ở Pha Lan, buộc chúng phải rút về hướng Đồng Hến. Ta giải phóng vùng phía đông cao nguyên Bô Lô Ven, giải phóng Pắc Xoòng, Huội Sai, Tha Teng, đuổi địch chạy về hướng Pac Xan, giải phóng thị xã Pắc Xoòng, mở rộng tuyến hành lang chiến lược, đẩy mạnh truy quét bọn thổ phỉ. Ngày 7 tháng 2, địch điều thêm ba tiểu đoàn: 781, BC101, BC303, tiến công ra Pha Lan. Sư đoàn 968 đã hỗ trợ cho bộ đội, dân quân du kích bạn bẻ gãy đợt tiến công của địch, loại khỏi vòng chiến đấu 408 tên, bắt 254 tên.

Phối hợp với chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Quân khu Trị - Thiên đang chuẩn bị chiến dịch tiến công ở vùng giáp ranh và đồng bằng theo kế hoạch, thì nhận được lệnh của Bộ điều sư đoàn 324 trực tiếp tham gia chiến dịch phản công. Sư đoàn 324 nhận được chỉ thị của quân khu trong lúc đơn vị đang gấp rút triển khai thế trận chuẩn bị đánh địch ở phía bắc đường 12 (tây bắc Huế), đã nhanh chóng cơ động ra khu vực Mường Noòng. Ngày 16 tháng 2 năm 1971, sư đoàn trưởng Chu Phương Đới thông qua phương án tác chiến với Bộ Tư lệnh tiền phương Quân khu Trị - Thiên và Bộ Tư lệnh chiến dịch, nhằm tiêu diệt trung đoàn 3 sư đoàn 1 ngụy ở điểm cao 619, góp phần tiêu diệt lực lượng địch ở cánh nam, cùng các đơn vị bạn hình thành thế bao vây chiến dịch, không cho địch tiến xuống Sa Đi, Mường Noòng. Ngày 24 tháng 2, sư đoàn bắt đầu tiến công. Trung đoàn 29 tiêu diệt quân địch bên ngoài, trung đoàn 812 vây lấn tiến tới tiêu diệt quân trong căn cứ. Trong hai ngày 27, 28 tháng 2, sư đoàn 324 (thiếu) đã diệt gọn tiểu đoàn 2, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 3 sư đoàn 1 ngụy ở điểm cao 619. Một trong những chốt quan trọng cánh nam của địch bị bẻ gãy.

Đến ngày 3 tháng 3. Binh đoàn 70 và sư đoàn 324 đã bẻ gãy cánh quân phía bắc, đánh thiệt hại nặng cánh quân phía nam của địch. Kế hoạch tiến công của địch bị đảo lộn. Toàn bộ đội hình địch bị ta đánh cả phía trước, phía sau, buộc chúng phải điều chỉnh lực lượng. Trên đà thắng lợi lớn, ta quyết tâm sử dụng lực lượng lớn không cho địch lên Sê Pôn, hình thành thế bao vây chia cắt đánh đòn tiêu diệt quét địch ở hướng Bản Đông, tiếp tục tiêu diệt sư đoàn 1 ngụy, tiêu diệt lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến ở hai điểm cao 550, 532.

Ngày 12 tháng 3 (ngày đầu của đợt ba chiến dịch từ ngày 12 tháng 3 đến ngày 23 tháng 3) Bộ Tư lệnh chiến dịch điện cho sư đoàn 324: "Hiện tượng địch rút bỏ các điểm cao phía nam đường số 9 đã rõ, nhiệm vụ của sư đoàn là bao vây tiêu diệt lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến ở điểm cao 550". Để tiêu diệt địch ở điểm cao này, sư đoàn 324 được tăng cường một phân đội xe tăng, một phân đội cao xạ, một phân đội công binh. Các lực lượng của hai binh trạm 56, 51; đại đội địa phương huyện Hướng Hóa, dân quân du kích các bản Lào - Việt phối hợp chiến đấu và phục vụ chiến đấu tiếp tế đạn dược lương thực, thực phẩm.

Sau năm ngày vây chặt quân địch tại điểm cao 550, đêm 22 tháng 3, được sự phối hợp chiến đấu chặt chẽ của xe tăng, pháo phòng không, sư đoàn 324 đã tiến công mãnh liệt, đánh thiệt hại nặng lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến. Tuy vậy, do lực lượng vây lấn không bám sát địch, công tác tổ chức chiến đấu chậm, địch đã nghi binh rút được một phần lực lượng ra khỏi điểm cao 550 và rút chạy bằng máy bay.

Cùng với những trận đánh của sư đoàn 2 tiêu diệt trung đoàn 1, thiết đoàn 11 ngụy ở Phu Rệp; trận diệt trung đoàn 2, thiết đoàn 11 ngụy ở điểm cao 650, trận diệt lữ đoàn 3 dù ở điểm cao 543 của trung đoàn 64 sư đoàn 320, trận đánh của sư đoàn 324 ở điểm cao 550 là một trong những trận đánh xuất sắc ở chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào.

Cùng thời gian này, trong lúc các đơn vị đang tập trung đánh địch rút chạy, Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ thị: "Các đơn vị ở cánh đông tiếp tục áp sát đường số 9 để chặn đánh địch rút chạy". Ngày 14 tháng 3, sau bảy ngày vận chuyển gạo, đạn, phục vụ chiến dịch, tiểu đoàn 3 trung đoàn 27 do tiểu đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu và chính trị viên Trần Xuân Gứng chỉ huy, được lệnh cơ động đánh địch ở động Na, Kế Sóc, Ba Lào. Trên đường số 9, từng đoàn xe địch chở bọn tàn binh từ Nam Lào vội vã chạy về. Cứ mỗi lần xe đi qua là mỗi lần máy bay địch rải bom hai bên đường. Với sở trường đánh gần, xung phong dũng mãnh, tiểu đoàn 3 đã tiêu diệt đoàn xe 30 chiếc từ Nam Lào chạy về Sa Mưu, đốt cháy 28 chiếc, diệt 120 tên địch. Bộ đội địa phương Quảng Trị phối hợp với các phân đội đặc công của quân khu đánh chìm bốn tàu, làm dòng sông từ Đông Hà đến Cửa Việt bị tắc nghẽn bảy ngày liền. Đặc biệt ngày 23 tháng 3, tiểu đoàn đặc công của Bộ và tiểu đoàn 33 đặc công quân khu tập kích vào Tà Cơn diệt hàng trăm tên địch chủ yếu là nhân viên kỹ thuật, phá 42 máy bay lên thẳng và năm xe tăng. .

Trong quá trình chiến dịch, phối hợp với lực lượng của B5, các phân đội bộ binh, súng máy 12,7 ly, các tổ bắn tỉa của các địa phương chiến đấu ở bắc Quảng Trị tiêu diệt nhiều sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của chúng. Hai đại đội 12,7 ly của dân quân các huyện Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Đức Thọ bắn rơi ba máy bay Mỹ. Các đoàn dân công hỏa tuyến Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày đêm vượt suối, trèo đèo, vượt qua bom đạn ác liệt chuyển gạo, đạn kịp thời cho các đơn vị chiến đấu ở phía trước và chuyển thương binh về tuyến sau. Đoàn dân công cơ quan tỉnh Quảng Bình đạt kế hoạch vận chuyển 135 phần trăm. Đại đội dân công hỏa tuyến huyện Bố Trạch đạt năng suất 121 phần trăm. Đồng chí Dương Văn Tiên (xã Phú Trạch) thường xuyên gùi một tạ hàng. Đại đội 2 do đồng chí Hồ Thị Thu Hiền chỉ huy, sau đợt phục vụ chiến dịch được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng hai. Các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh ủng hộ cán bộ, chiến sĩ đường số 9 trên 500 con trâu, bò. Đoàn xe đạp thồ của tỉnh Thanh Hóa đạt năng suất vận chuyển cao. Chiếc xe đạp thồ của anh Nguyễn Đức Thọ (huyện Đông Sơn) chở được 750 ki-lô-gam hàng trong một chuyến.

Những chiến công của nam, nữ dân công hỏa tuyến các địa phương Quân khu 4 đã góp phần không nhỏ vào thắng lợi lịch sử của chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #82 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2024, 08:45:55 pm »


Phối hợp với Nam Lào, Quân khu Trị - Thiên sử dụng trung đoàn 6 đánh địch và tạo địa bàn mới ở đường số 12. Trung đoàn 6 đã chiến đấu liên tục, kiên cường, có tác dụng hỗ trợ cho đồng bằng và phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính. Ở đồng bằng, vì lực lượng ta còn yếu nên không lợi dụng được thời cơ đẩy mạnh chiến tranh du kích và đấu tranh chính trị.

Ở hậu phương, các lực lượng vũ trang quân khu đã cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc địa bàn quân khu, bảo vệ đường hành lang vận chuyển. Từ ngày 1 tháng 2 đến ngày 23 tháng 3, quân và dân trong quân khu đã bắn rơi 14 máy bay, bắn chìm ba tàu biệt kích Mỹ - ngụy.

Ngày 23 tháng 3 năm 1971, chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi1. Ta đã thực hiện đánh tiêu diệt lớn, tiêu diệt gọn nhiều đơn vị tính nhuệ thuộc lực lượng dự bị chiến lược của địch. Thắng lợi của chiến dịch đã bảo vệ được tuyến vận chuyển chiến lược, góp phần bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, ngăn chặn âm mưu địch tiến công hạn chế ra nam Quân khu 4.

Thắng lợi của chiến dịch đã đánh dấu bước trưởng thành của bộ đội chủ lực, thể hiện bước phát triển mới nghệ thuật tác chiến chiến dịch Việt Nam, mở đầu thời kỳ quân ta mở các chiến dịch đánh tập trung hiệp đồng binh chủng quy mô lớn.

Cùng với việc đánh bại cuộc hành quân lớn trên chiến trường Cam-pu-chia và Lào, thắng lợi của chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào tạo một bước ngoặt quan trọng, mở ra triển vọng hiện thực đánh bại hoàn toàn chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh” – sản phẩm đầu tiên của học thuyết Ních-xơn.

Các lực lượng vũ trang quân khu vui mừng phấn khởi vì đã: "... góp phần xứng đáng vào chiến thắng Đường 9 - Nam Lào"2. Các lực lượng vũ trang quân khu tham gia chiến đấu trong chiến dịch này đã tiêu diệt nhiều sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của chúng3, tích cực phục vụ chiến đấu, có bước trưởng thành toàn diện...

Sau cuộc hành quân lớn ra đường 9 - Nam Lào, thế và lực của Mỹ - ngụy bị suy sụp, nội bộ quân Mỹ cũng như quân ngụy ngày càng lủng củng. Ở Trị - Thiên, sư đoàn 1 bộ binh ngụy tổn thất quá lớn (5 tiểu đoàn bị thiệt hại nặng nề từ 33 đến 50 phần trăm quân số). Thiết đoàn 7 bị thiệt hại nặng trên 50 phần trăm quân số. Ngụy quân, ngụy quyền hoang mang giao động, tâm lý thất bại sợ chết lan tràn. Để thăm dò ngăn chặn ta tiếp tục phát triển thắng lợi đánh sâu vào Trị - Thiên, đồng thời nhằm trấn an dư luận, ổn định tình hình cho ngụy quân, ngụy quyền, địch tổ chức các cuộc hành quân lên miền tây Quảng Trị, tây Thừa Thiên; tổ chức lễ ăn mừng giả tạo cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Chúng tiếp tục bình định gắt gao đồng bằng, ráo riết hoạt động tuyên truyền cho việc bầu tổng thống ngụy, xoa dịu làn sóng phản đối chiến tranh của dư luận và nhân dân Mỹ, lấy lòng cử tri trong kỳ bầu cử tổng thống Mỹ sắp tới.

Về phía ta, sau những thắng lợi to lớn trong chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, các lực lượng vũ trang tranh thủ tiến công không cho địch có điều kiện củng cố.

Địch mở các cuộc hành quân “Lam Sơn 720” lên vùng động Ché, Đá Bàn (Quảng Trị), Tà Lương, A Tây (Thừa Thiên) đã bị ta đẩy lùi và gây cho chúng nhiều thiệt hại. Ngày 2 tháng 6, ta đánh thiệt hại nặng lữ đoàn 369 thủy quân lục chiến, buộc chúng phải đưa về Sài Gòn củng cố. Ngày 30 tháng 6, trong trận động Ché, tiểu đoàn 7 lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến cũng bị tổn thất nặng nề.

Sau chiến thắng Nam Lào, Bộ Tổng tư lệnh chấn chỉnh lại mặt trận bắc Quảng Trị, rút một số đơn vị bộ đội chủ lực của Bộ ra cũng cố, giải thể Bộ Tư lệnh chiến dịch 703, B70, tăng cường sư đoàn 304 cho mặt trận B5 (cũ).

Cuối tháng 5, Khu ủy Trị - Thiên họp đã đề ra các chủ trương:

- Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị trên cả ba vùng, giữ vững địa bàn giáp ranh, đánh bại các cuộc hành quân lên miền tây của địch.

- Tiếp tục xây dựng thế và lực ở đồng bằng, đẩy lùi kế hoạch bình định của địch, khôi phục thế chiến lược ba vùng.

- Xây dựng củng cố lực lượng vũ trang ba thứ quân.

- Tiếp tục đẩy mạnh công tác tổ chức chiến trường, làm đường cơ giới, sản xuất tự túc.

Ngày 1 tháng 6, Bộ Tư lệnh mặt trận bắc Quảng Trị mở chiến dịch A2. Chiến địch kéo dài đến ngày 30 tháng 6, ta đã diệt và bức rút một số vị trí của địch ở Bến Ngự, Bến Xanh (Gio Linh) áp sát tuyến sông Cửa Việt, đánh vỡ từng khúc và uy hiếp mạnh tuyến phòng ngự của chúng. Trong chiến dịch này, nổi bật nhất là trận diệt vị trí 544 do một tiểu đoàn bộ binh ngụy đóng giữ, có công sự phòng ngự vững chắc, được chi viện tối đa của không quân, pháo binh địch. Trung đoàn 27 do trung đoàn trưởng Phạm Minh Tâm và chính ủy Nguyễn Võ Hiển chỉ huy (đơn vị chủ công của mặt trận bắc Quảng Trị) được tăng cường một đại đội đặc công, một đại đội súng 12,7 ly của đoàn 75 pháo cao xạ, một đại đội công binh, một đại đội súng phun lửa, một đại đội súng cối 120 ly. Các đơn vị có nhiệm vụ vây ép địch từ ngày 20 tháng 6. Đánh vây ép là hình thức tác chiến rất táo bạo và cũng là sở trường tác chiến của bộ đội chủ lực Quân khu Trị - Thiên. Trong quá trình vây ép dài ngày, cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 27 và các đơn vị bạn phải chịu đựng muôn vàn gian khổ ác liệt, hy sinh. Có ngày địch sử dụng 154 lần chiếc máy bay cường kích và 12 lần chiếc B52 ném bom quanh cao điểm 544. Các chiến sĩ bộ binh, đặc công bám thắt lưng địch mà đánh, xung phong dũng mãnh, táo bạo, thọc sâu đạt hiệu suất chiến đấu cao, hạn chế được mức thương vong thấp nhất do phi pháo địch gây ra. Ngày 30 tháng 6 năm 1971, ta làm chủ hoàn toàn vị trí 544. Chiến thắng ở cao điểm 544 của trung đoàn 27 và các đơn vị bạn thể hiện rõ sức mạnh chiến đấu của một trung đoàn bộ binh tham gia nhiều chiến dịch mà vẫn sung sức, thể nghiệm phương hướng tác chiến hiệp đồng binh chủng, đánh tiêu diệt từng tiểu đoàn địch chốt giữ trên điểm cao, phòng ngự tương đối vững chắc, thể nghiệm phương châm vừa chiến đấu, vừa xây dựng của quân khu là đúng đắn.
______________________________________________
1. Qua 32 ngày đêm diễn biến chiến dịch (31 tháng 1 đến 23 tháng 3) ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 21.102 tên địch, trong đó giết và làm bị thương 19.900 tên, bắt 1.147 tên. Trong số địch bị diệt có những đơn vị bộ binh tinh nhuệ và binh khí kỹ thuật như sư đoàn 3 dù, trung đoàn 1 sư đoàn 1 bộ binh, lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến, tám tiểu đoàn pháo, bốn thiết đoàn. Ta thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch, thu hai máy bay lên thẳng, 24 xe các loại, bắn rơi và phá hủy 550 máy bay, phá hủy và đánh chìm 43 tàu, xà lan.
2. Trích lời phát biểu của đồng chí Văn Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng trong buổi nói chuyện với cán bộ trung, cao cấp cơ quan quân khu: Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào ta thắng lớn, Quân ủy Trung ương nhiệt liệt biểu dương các lực lượng vũ trang, đồng bào Quân khu 4 đã góp phần xứng đáng chiến thắng đường 9 - Nam Lào.
3. Sư đoàn 324 đã tiêu diệt: 3.900 tên, bắt 176 tên, bắn rơi và phá hủy 154 máy bay, 150 xe, 45 khẩu pháo. B5 đã tiêu diệt 4.756 tên, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Sư đoàn 968 tiêu diệt 408 tên, bắt 284 tên, gọi hàng 612 tên, thu 770 súng trường, bảy súng cối 106,6 ly, bảy khẩu ĐKZ 76...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #83 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2024, 08:46:47 pm »


Sau chiến dịch A2 thắng lợi, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho Đảng ủy và Bộ Tư lệnh mặt trận bắc Quảng Trị tiếp tục đẩy mạnh tác chiến để phối hợp với chiến trường toàn miền. Từ 11 tháng 8 đến 30 tháng 8, các lực lượng vũ trang mặt trận bắc Quảng Trị đã hoạt động sôi nổi, diệt quận lỵ Cam Lộ và Gio Linh, vị trí đồi Tròn... loại khỏi vòng chiến 1.687 tên, bắt 24 tù binh, bắn rơi 42 máy bay, phá hủy 66 xe, 15 tàu và 10 kho xăng, kho đạn. Ta đánh thiệt hại lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến và trung đoàn 2 sư đoàn 1 ngụy. Địch phải điều thêm trung đoàn 54 ra đường số 9.

Trên mặt trận đánh phá kế hoạch "bình định" của địch sau chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, tình hình đồng bằng đô thị có bước phát triển mới, chiến tranh du kích được đẩy mạnh ở nhiều nơi. Để chỉ đạo có hiệu quả phong trào chiến tranh nhân dân ở địa phương, tháng 6 năm 1971, Trung ương Đảng quyết định thành lập lại Tỉnh ủy Quảng Trị và Tỉnh ủy Thừa Thiên.

Từ tháng 6 đến tháng 9, bộ đội và dân quân du kích các huyện thuộc đồng bằng đã đánh nhiều trận, có những trận đánh đau, đánh hiểm vào trụ sở ngụy quân, ngụy quyền, diệt các tụ điểm ác ôn. Lực lượng vũ trang huyện Quảng Điền diệt một trung đội ngụy ở An Lỗ, đánh tan trụ sở ngụy quyền xã Phong Điền, diệt một trung đội dân vệ ở Đồng Lâm, bọn ác ôn ở Phò Nam. Nhân dân xã Phong Thu làm công tác binh vận, tuyên truyền giác ngộ một trung đội phòng vệ dân sự mang súng trở về với cách mạng. Dân quân, du kích huyện Hương Thủy diệt các tụ điểm ác ôn ở La Sơn. Dân quân du kích Thủy Phương phá ống dẫn dầu của địch từ cửa Thuận về Phú Bài và vận động nhân dân quyên góp được trên 2.000 tấn lương thực chi viện cho lực lượng vũ trang vùng giáp ranh. Lực lượng vũ trang Quảng Trị đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị, diệt ác phá tề, giành quyền làm chủ ở nhiều địa bàn quan trọng. Đội biệt động Gio Linh diệt trên 200 lính bảo an và nhiều đoàn bình định, đánh bại kế hoạch bình định của địch tại địa phương. Lực lượng dân quân xã Gio Hải do đồng chí Trương Quang Thọ làm xã đội trưởng, đã chiến đấu dũng cảm, nhiều lần táo bạo xông vào hang ổ của bọn ngụy quyền đánh hàng chục trận, tiêu diệt chín xe tăng, đánh chìm bảy tàu trên sông Cửa Việt; ngày 23 tháng 11 năm 1971, giết tên ác ôn khét tiếng Hồ Chánh Thi ở trong vùng. Tổ du kích xã Triệu Thượng do đồng chí Lê Thị Tám chỉ huy, hoạt động ở một địa bàn vùng sâu nằm lọt trong lòng địch, đã kiên trì bám dân, bám đất xây dựng hàng chục cơ sở ở nông thôn và năm cơ sở ở thành cổ Quảng Trị. Tổ du kích đã vận động bà con đòi về làng cũ làm ăn, rải hàng vạn tờ truyền đơn, chống tăng thuế, và vét lúa gạo, đòi bãi bỏ phòng vệ dân sự, chống bắt thanh niên đi lính làm bia đỡ đạn cho Mỹ - ngụy. Gắn liền với đấu tranh quân sự, chính trị, mũi binh vận cũng phát huy tác dụng rộng khắp ở nhiều nơi. Lực lượng dân quân, du kích vận động nhân dân lên trụ sở ngụy quyền, ngụy quân đòi chồng, con, đòi bồi thường tính mệnh cho những gia đình có người đi lính ngụy bị chết ở chiến trường, vận động binh lính địch chống lệnh hành quân, mang súng trở về với cách mạng.

Tổ du kích xã Hải Phú do đồng chí Văn Thị Xuân chỉ huy, đã dũng cảm xông vào tận hang ổ của bọn bình định giết một tên ác ôn khét tiếng. Du kích chủ trương lấy súng địch, đánh địch, làm vũ khí tự tạo, bom, mìn, cạm bẫy diệt nhiều địch; vận động một trung đội lính ngụy mang súng trở về với nhân dân; vận động bà con ủng hộ bộ đội 150 tấn lương thực.

Đi đôi với nhiệm vụ tiêu diệt quân ngụy, làm tan rã bộ máy ngụy quyền, ta tích cực tuyên truyền vận động nhân dân ủng hộ cách mạng, chống mọi âm mưu thủ đoạn bình định của địch, làm chủ nhiều thôn, xã, đưa tỷ lệ các thôn tranh chấp với địch ngày càng cao. Ta làm chủ ban đêm trên 40 xã ở vùng giáp ranh, mỗi xã có trung bình khoảng 15 du kích hoạt động bí mật và công khai.

Phong trào đấu tranh chính trị tiếp tục phát triển mạnh mẽ ở thành phố, thị xã, nhất là ở thành phố Huế với các khẩu hiệu đòi "hòa bình hòa hợp dân tộc", đòi "Mỹ rút hết quân", đòi "Thiệu từ chức"... ủng hộ bảy điểm của phái đoàn Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại cuộc hội đàm ở Pa-ri. Phong trào diễn ra sôi nổi trong đợt chống trò hề bầu cử tổng thống và phó tổng thống chính quyền Sài Gòn. Sinh viên Huế dùng gạch, đá, chai xăng ném cảnh sát. Nhân dân chợ Đông Ba, sinh viên trường Đại học Văn khoa biểu tình chống bầu cử gian lận. Tỉnh hội Phật giáo Quảng Trị làm lễ cầu siêu để chống bầu cử, chống tăng thuế, chống văn hóa đồi trụy, chống các tệ nạn xã hội, do đó đã tập hợp được lực lượng rộng rãi kể cả binh sĩ ngụy cùng tham gia. Phong trào đã liên kết thành mặt trận chống Mỹ - ngụy rất rộng rãi. Nhiều tổ chức yêu nước, chống Mỹ - ngụy ra đời làm cho hậu phương địch ngày càng hỗn loạn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #84 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2024, 08:50:56 pm »


Thi đua với tiền tuyến, ở hậu phương, các lực lượng vũ trang Quân khu 4 ra sức nâng cao chất lượng, chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, công tác. Lực lượng dân quân, du kích - nòng cốt, xung kích trong sản xuất. Vụ đông - xuân năm 1970 - 1971, các tỉnh được mùa lớn. Nghệ An vượt sản lượng vụ đông - xuân 1969 - 1970 là 32.688 tấn. Năng suất chung toàn tỉnh đạt trên 2,6 tấn một héc-ta. Nhiều hợp tác xã đạt năng suất trên bốn tấn một héc-ta1. Hà Tĩnh vượt sản lượng vụ đông - xuân 1969 - 1970 là 2.500 tấn. Đức Thọ là huyện được mùa nhất, đạt năng suất 2,5 tấn một héc-ta. Ở Quảng Bình tuy thủy lợi gập nhiều khó khăn, nhưng nhiều hợp tác xã đạt năng suất cao. Hợp tác xã Đại Phong (Lệ Thủy) đạt 4,8 tấn một héc-ta. Sản lượng lúa tỉnh Quảng Bình tăng 3.380 tấn so với vụ đông - xuân năm 1969 - 1970.

Sau thất bại nặng nề ở đường số 9, Mỹ - ngụy lo sợ một cuộc tiến công lớn của ta. Chúng tăng cường dùng không quân đánh phá ác liệt bến bãi, kho tàng, các cửa khẩu trên các trục đường chính. Máy bay trinh sát lùng sục vị trí tập kết, sự chuyển vận của các binh đoàn chủ lực để phán đoán hướng tiến công của ta.

Thấu suốt hơn nữa vị trí chiến lược của quân khu "Hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam và trước hết là với Trị - Thiên - Huế ruột thịt", nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang quân khu lúc này là nắm vững tư tưởng chỉ đạo "phía trước mạnh, phía sau vững"2, không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng đi bất cứ nơi nào, sẵn sàng đập tan mọi hành động phiêu lưu quân sự của giặc Mỹ và tay sai, dốc lòng chi viện chiến trường ngày càng đánh to thắng lớn.

Trên địa bàn hậu phương quân khu, quân và dân ta tiếp tục đánh trả các hành động phá hoại của không quân Mỹ và đẩy mạnh hoạt động chi viện cho chiến trường.

Ngày 21 tháng 9, trung đoàn 280, trung đoàn 218 bắn rơi hai máy bay Mỹ.

Ngày 10 tháng 10, đoàn Hoa Lư phối hợp với dân quân Quảng Bình bắn rơi tại chỗ một F4.

Ngày 31 tháng 10 năm 1971, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng vào Quảng Bình làm việc với Bộ Tư lệnh đoàn 559 và Quân khu 4. Sau khi nghe các đơn vị báo cáo tình hình, Đại tướng trực tiếp xem cách phá bom từ trường của một đơn vị dân quân - công binh. Đồng chí căn dặn các đơn vị phải chuẩn bị tốt mọi mặt cho chiến dịch đông - xuân 1971 - 1972.

Cùng thời gian này, thực hiện khẩu hiệu "đánh địch mà đi, mở đường mà tiến" các đơn vị vận tải phấn đấu vượt mức kế hoạch vận chuyển. Tính đến cuối tháng 10 năm 1971, binh trạm 2 vận chuyển vượt 11 phần trăm khối lượng hàng. Các đơn vị thuộc trung đoàn 271, tiểu đoàn 3 trung đoàn 27; các đơn vị bộ đội địa phương, thanh niên xung phong Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình hoàn thành nhiều đoạn đường phục vụ cho việc cơ động lực lượng binh khí kỹ thuật.

Nhằm động viên lực lượng lớn bổ sung kịp thời đáp ứng theo yêu cầu của chiến trường, trong ba ngày 9, 10, 11 tháng 11, Quân khu mở hội nghị trao đổi kinh nghiệm công tác động viên tuyển quân. Đại biểu các tỉnh ủy, ủy ban hành chính tỉnh, các tỉnh đội, đại biểu các huyện, xã làm tốt công tác động viên tuyển quân về dự hội nghị. Trong hội nghị, các đại biểu đều hứa hẹn quyết tâm: "Chiến trường cần gì, hậu phương sẵn sàng đáp ứng đầy đủ nhất, tốt nhất". Nhân dịp này Bộ Tư lệnh quân khu đã trao tặng các phần thưởng cao quý mà Chính phủ dành cho nhiều địa phương3. Quân khu còn đề nghị tặng huân chương các loại cho 60 xã làm tốt công tác động viên tuyển quân, và các địa phương làm tốt công tác giao thông vận tải, chi viện chiến trường năm 19714.

Do yêu cầu phát triển nhiệm vụ, Bộ Tư lệnh quân khu quyết định thành lập trung đoàn 271B. Trung đoàn gồm các tiểu đoàn bộ binh của ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình có truyền thống và có nhiều kinh nghiệm chiến đấu ở chiến trường Lào và chiến trường bắc Quảng Trị. Sau khi được thành lập, trung đoàn tham gia làm đường chiến lược rồi hành quân nhanh, gọn vào chiến trường miền Đông Nam Bộ đảm bảo quân số, sức khỏe, triển khai kịp thời nhiệm vụ chiến đấu.

Các lực lượng phòng không của Bộ gồm sư đoàn 361, 363, 365 được điều động vào Quân khu 4 để bảo vệ các đầu mối giao thông quan trọng, các kho tàng, chân hàng và đường hành lang chiến lược.

Công tác quân sự địa phương trên địa bàn quân khu được đẩy mạnh. Trong hai ngày 14, 15 tháng 11 năm 1971, các đồng chí đại diện các tỉnh và khu vực Vĩnh Linh họp hội nghị liên tịch. Hội nghị đã thảo luận và đề ra những biện pháp cụ thể để thực hiện tốt các nhiệm vụ chi viện chiến trường, tuyển quân, huy động dân công phục vụ chiến dịch, về giao thông vận tải, phòng không nhân dân, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu.
_____________________________________________
1. Hợp tác xã Liên Sơn, Bùi Chu, Hồng Long, Phú Thanh, Minh Châu... hợp tác xã Liên Thành (Yên Thành) vượt năng suất vụ đông - xuân 1969 - 1970: 620 ki-lô-gam một héc-ta.
2. Phương châm chỉ đạo hành động của các lực lượng vũ trang Quân khu 4 (Nghị quyết Quân khu ủy đầu năm 1971).
3. Chính phủ đã tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhất cho sáu xã: Lam Sơn, Lưu Sơn, Lạc Sơn (Đô Lương), Nam Tiến (Nam Đàn), Kỳ Sơn (Kỳ Anh), Lâm trường Hương Sơn; Huân chương Kháng chiến hạng hai cho 10 xã: Quỳnh Hậu (Quỳnh Lưu), Thanh Liên (Thanh Chương), Bài Sơn (Đô Lương), Xuân Hải, Xuân Lam, Xuân Mỹ, Xuân Thành (Nghi Xuân), Hương Lộc (Hương Khê), Song Lộc (Can Lộc), thị xã Hà Tĩnh.
4. Năm 1971 Nghệ An, Hà Tĩnh, Vĩnh Linh vận chuyển 340.420 tấn hàng, Thanh Hóa vận chuyển 96.500 tấn trong đó có 32.013 tấn cho chiến trường miền Nam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #85 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2024, 08:51:50 pm »


Ngày 2 tháng 12 năm 1971, đồng chí Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí rhư Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng vào làm việc với Bộ Tư lệnh Quân khu 4 và đi kiểm tra tình hình của chiến trường Trị - Thiên - Huế. Đồng chí Trần Văn Quang - Bí thư Quân khu ủy Trị - Thiên báo cáo tình hình địch, ta và triển vọng phong trào Trị - Thiên.

Chiến dịch đông - xuân 1971 - 1972 càng đến gần, các loại máy bay Mỹ càng tăng cường, trinh sát, đánh phá nhiều nơi hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương đối với tiền tuyến1. Trên cơ sở tổng hợp tình hình, phán đoán âm mưu thủ đoạn của địch, ngày 15 tháng 12 năm 1971, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 họp nhận định địch sẽ tập trung đánh thành phố Vinh, cảng Bến Thủy, cảng Gianh và quyết định triển khai nhiệm vụ chiến đấu ở các trọng điểm đó. Ban chỉ huy cụm chiến đấu ở Vinh được thành lập. Bộ Tư lệnh quân khu trực tiếp thông qua kế hoạch tác chiến và kiểm tra tỷ mỷ các đơn vị bố trí hỏa lực. Ngày 30 tháng 12, đế quốc Mỹ huy động một lực lượng lớn không quân, đánh thành phố Vinh, Bến Thủy và nhiều khu vực khác. Trung đoàn 222, trung đoàn 233, một số đơn vị của sư đoàn 367, 361 (tên lửa), tiểu đoàn 14 Nguyễn Viết Xuân, các phân đội súng máy cao xạ 12,7 ly của dân quân xã Hưng Dũng, tự vệ thành phố Vinh đã kịp thời nổ súng. Bảy chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi, có năm chiếc rơi tại chỗ.

Cùng ngày, các đơn vị bảo vệ cảng Gianh bắn rơi hai chiếc, đơn vị bảo vệ cầu Hàm Rồng bắn rơi một chiếc.

Cuối năm 1971, các địa phương trong quân khu đã nỗ lực lớn, huy động mọi lực lượng, phương tiện, làm tốt công tác động viên tuyển quân. Lực lượng vũ trang quân khu được tăng cường số lượng, chất lượng. Bảo đảm vừa có lực lượng phòng thủ vững chắc quân khu, vừa có lực lượng bổ sung đầy đủ, kịp thời cho chiến trường. Quân khu đã tổ chức lực lượng gồm một sư đoàn, sáu trung đoàn, 17 tiểu đoàn, 17 đại đội bao gồm các đơn vị bộ binh, pháo binh, công binh, đặc công, pháo cao xạ, bảy đại đội súng máy 12,7 ly, sẵn sàng chi viện cho chiến trường. Trường Quân chính quân khu khẩn trương mở lớp bồi dưỡng bổ túc cho hàng nghìn cán bộ và kịp thời bổ sung 400 đồng chí cho Quảng Trị. Bốn tiểu đoàn dân công hỏa tuyến của Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, chuyển gấp hàng trăm tấn lương thực, vũ khí, đạn dược, thuốc men, phục vụ chiến dịch. Quân khu còn tổ chức thêm 12 tiểu đoàn pháo cao xạ, tám tiểu đoàn công binh dự nhiệm.

Trong vòng ba năm (từ 1969 - 1971), các lực lượng vũ trang trong quân khu cùng với quân và dân cả nước giành được những thắng lợi to lớn toàn diện, vững chắc. Quân và dân Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh đã có sự nỗ lực lớn trong xây dựng và bảo vệ vững chắc hậu phương, dốc lòng, dốc sức chi viện chiến trường. Quân và dân Trị - Thiên chiến đấu trong điều kiện vô cùng khó khăn, gian khổ, ác liệt đã kiên trì bám đất, bám dân khôi phục thế chiến lược ba vùng.

Quân và dân trong quân khu đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, đánh bại bước thí điểm "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ.

Các lực lượng vũ trang, cả ba thứ quân vừa đánh địch, vừa xây dựng lực lượng, vừa làm nhiệm vụ dân tộc, vừa làm nhiệm vụ quốc tế. Hậu phương ngày càng vững mạnh, chiến trường ngày càng ổn định và có đà tiến công mới.

Tuy nhiên có thời kỳ ở Trị - Thiên do chưa nắm vững nguyên tắc xây dựng Đảng, đoàn kết nội bộ hạn chế, phương hướng, chủ trương tác chiến không rõ ràng, nên chiến trường có lúc gặp nhiều khó khăn, tổn thất. Những nhược điểm, khuyết điểm trên đã được Khu ủy, Quân khu ủy từng bước uốn nắn, sửa chữa. Với quyết tâm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác: "Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn", toàn quân khu lại dấy lên cao trào hành động cách mạng, chuẩn bị sẵn sàng thế trận và lực lượng đón thời cơ mới trong năm 1972.
______________________________________________
1. Từ ngày 26 tháng 12 đến 30 tháng 12 năm 1971, có 1.090 lần chiếc máy bay địch ném bom bến bãi, kho tàng dọc các trục đường chính trên địa bàn Quân khu 4.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #86 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2024, 08:54:53 pm »


CHƯƠNG VI
THAM GIA GIẢI PHÓNG QUẢNG TRỊ, GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ 2
VÀ CÙNG BẠN MỞ RỘNG VÙNG GIẢI PHÓNG TRUNG LÀO (1972)



I. THAM GIA GIẢI PHÓNG QUẢNG TRỊ

Sau những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của các chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, đông bắc Cam-pu-chia và Tây Nguyên, cục diện chiến trường miền Nam chuyển biến có lợi cho ta. Tháng 5 năm 1971, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã xem xét tình hình mọi mặt, sớm đề ra quyết tâm chiến lược cho năm 1972: "Kịp thời nắm lấy thời cơ lớn trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu dài, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị, ngoại giao, phát triển thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường miền Nam và trên cả chiến trường Đông Dương, đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, đánh bại một bước quan trọng kế hoạch xâm lược của chúng ở Cam-pu-chia và Lào, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thuạ, đồng thời sẵn sàng chuẩn bị kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến trong trường hợp chiến tranh còn kéo dài".

Quyết tâm chiến lược đó đã được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng triển khai thực hiện. Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 4, Mặt trận Đường số 9 - bắc Quảng Trị (B5), Quân khu Trị - Thiên (B4) nhận nhiệm vụ chuẩn bị kế hoạch cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên hướng Trị - Thiên. Quân và dân toàn quân khu, từ hậu phương đến tiền tuyến, lại được vinh dự đón nhận nhiệm vụ lịch sử mới nặng nề nhưng rất vẻ vang.

Vùng chiến thuật 1 mà trong đó Trị - Thiên là "khu vực phòng thủ mạnh nhất, kiên cố nhất" là "con đê ngăn chặn rắn nhất" của địch. Tại đây địch đã bố trí phần lớn binh lực của quân đoàn 1 ngụy gồm hai sư đoàn bộ binh và hai lữ đoàn thủy quân lục chiến, cùng ba trung đoàn thiết giáp (184 xe, có 93 xe tăng), 15 tiểu đoàn pháo binh (258 khẩu), hai đội giang thuyền... Số quân chủ lực ngụy lên tới 35.200 tên. ,

Quân địa phương trong vùng có 18.000 tên (4 tiểu đoàn, 90 đại đội bảo an, 502 trung đội dân vệ và 5.100 cảnh sát vũ trang). Tổng số quân cả chủ lực và địa phương lên tới 53.200 tên. Riêng quân chủ lực sư đoàn 1, sư đoàn 3 bộ binh, các lữ đoàn 147 và 258 thủy quân lục chiến... đều là những đơn vị sừng sỏ của quân ngụy, lại rất thông thạo chiến trường này.

Cùng với lực lượng quân sự, hệ thống ngụy quyền tay sai và lực lượng kìm kẹp bình định được sàng lọc xây dựng từ lâu, cắm sâu xuống tận thôn ấp với hàng trăm đội phòng vệ dân sự, đội "bình định", đội "phượng hoàng", đội "trường sơn lôi hổ" (ở miền núi), nhiều đảng phái phản động và hàng nghìn ác ôn, gián điệp chỉ điểm... Bình quân mỗi xã trong vùng địch kiểm soát có hơn 300 tên các loại này.

Địch tổ chức phòng thủ trên hai hướng: Quảng Trị và Thừa Thiên, lấy Quảng Trị làm trọng điểm. Chúng bố trí ở đây năm trung đoàn bộ binh, bảy tiểu đoàn thiết giáp, chiếm hai phần ba lực lượng bộ binh và thiết giáp trên chiến trường Trị - Thiên. Hệ thống phòng thủ hình thành ba tuyến theo chiều sâu gồm:

- Tuyến ngoài (phạm vi giáp ranh giữa ta và địch từ biển Đông đến sát biên giới Việt - Lào).

- Tuyến phòng thủ cơ bản (lợi dụng các điểm cao bắc đường số 9 và phía tây quốc lộ số 1).

- Tuyến sau (chủ yếu là các thị xã, thị trấn đông dân cư, vùng nông thôn đồng bằng ven biển và các hậu cứ quan trọng).

Với một lực lượng phòng thủ ken dày trên một địa bàn không rộng, lại được chuẩn bị công phu và thường xuyên củng cố trong nhiều năm, thuận tiện cho không quân và hải quân Mỹ chi viện khi bị uy hiếp, chúng có cơ sở tin là đủ sức đối phó với bất cứ cuộc tiến công nào.

Đấu năm 1972, khi nói về khả năng hoạt động mùa khô 1971 - 1972 của ta, bộ trưởng quốc phòng Mỹ Men-vin Le-dơ phán đoán "Việt Cộng" định làm một cái gì đó ở Tây Nguyên, ở Trị - Thiên và Đông Nam Bộ. Riêng ở Trị - Thiên, chúng cho rằng ta có thể dùng khoảng bốn sư đoàn bộ binh và một số binh chủng mở một đợt tiến công nhằm giam chân, thu hút chủ lực của chúng, tạo điều kiện cho các hướng khác hoạt động.

Trên đường hành lang chiến lược, địch tăng cường độ trinh sát, oanh tạc bằng không quân để chặn phá trước khi phát hiện ta có những hoạt động vận chuyển lớn. Từ tháng 9 năm 1971 đến tháng 3 năm 1972, địch mở rộng phạm vi đánh phá ra phía bắc giới tuyến đến tận Vinh - Bến Thủy (Nghệ An) thành từng đợt tập trung với quy mô lớn, cường độ cao.

Mãi đến gần cuối tháng 8 năm 1972, Tết Nhâm Tý đã qua, mùa khô sắp hết mà không thấy có hoạt động gì đáng kể của ta trên toàn miền Nam, Nhà Trắng huênh hoang tuyên bố: chương trình "Việt Nam hóa" đã thành công vượt cả dự kiến (AP ngày 20 tháng 3 năm 1972). Tổng thống Thiệu hủy bỏ lệnh báo động ở nhiều nơi.

Trong khi đó mọi công tác chuẩn bị chiến dịch và chiến đấu trên mọi nẻo đường của Quân khu 4 và suốt dọc vùng rừng già tây Trị - Thiên... của quân và dân ta được tiến hành khẩn trương, bí mật.

Tất cả dồn sức cho Quảng Trị. Các tỉnh hậu phương Quân khu 4 sẵn sàng đội ngũ cán bộ, nhân viên, dành cho Quảng Trị1.
____________________________________________
1. Tháng 9 năm 1971, các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An tổ chức tuyển đột xuất 6.000 tân binh bổ sung cho bộ đội địa phương Trị - Thiên. Tổ chức biên chế trang bị đầy đủ bảy đại đội bộ binh đưa trực tiếp vào bộ chỉ huy quân sự Quảng Trị. Đến cuối năm 1971, bộ đội địa phương Quảng Trị đã có hai tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn đặc công, một đại đội hỏa lực của tỉnh, ba đại đội bộ binh, năm đại đội đặc công, ba trung đội bộ binh độc lập, 13 đội biệt động của huyện, thị. Du kích toàn tỉnh có 2.597 đội viên, trong đó 510 du kích Vĩnh Linh đưa vào hoạt động lâu dài, 406 du kích mật hoạt động hợp pháp. 74 phần trăm số thôn có cơ sở cách mạng, 40 phần trăm số thôn có đảng viên, 20 phần trăm số thôn có chi bộ Đảng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #87 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2024, 08:56:20 pm »


Nhiệm vụ hàng đầu, trực tiếp lúc này của Quân khu 4 là phối hợp với lực lượng của Bộ bảo đảm giao thông vận tải, mở đường chiến dịch, triển khai cơ sở hậu cần, kỹ thuật, bảo đảm tập kết cơ động cho các lực lượng chiến dịch. Từ Nghệ An đến Vĩnh Linh hàng chục nghìn dân công đã được huy động để tu sửa, nâng cấp, mở thêm đường sá, cầu cống; đường goòng được khai thác triệt để. Đến cuối năm 1971, với lực lượng chủ yếu của Bộ và Đoàn 559, sự tham gia tích cực của các tỉnh hậu phương quân khu, đường vận tải chiến lược qua địa bàn quân khu đã được cải thiện khá. Từ miền Bắc vào hành lang 559 đã có sáu hướng vượt khẩu với 13 tuyến đường. Đoạn đầu hành lang qua Trị - Thiên, ta mở thêm tuyến đường số 14 đông Trường Sơn, kết hợp với các tuyến tây Trường Sơn. Lần đầu tiên ta tổ chức "chạy lấn mùa" phá thế độc tuyến, bớt lệ thuộc vào thời tiết, đẩy nhanh tốc độ và khối lượng vận chuyển Bắc - Nam.

Trong nhiệm vụ vận tải chiến dịch, phối hợp chặt chẽ với đoàn vận tải 571 bộ đội vận tải 559 các địa phương Quân khu 4 thành lập các ban chỉ huy giao thông vận tải thống nhất ở cấp tỉnh. Mọi khả năng của địa phương được huy động. Tỉnh Quảng Bình đã sử dụng cả 100 phần trăm lao động ngành thủy sản, hàng chục nghìn lao động nghề cá làm nhiệm vụ vận tải quân sự trên các tuyến sông biển. Hàng chục nghìn thanh niên xung phong, dân công và nhân dân các xã ven các tuyến đều lên mặt đường. Hầu hết nhà dân, đền chùa, còn sử dụng được trở thành kho hàng, bến bãi. Những vùng gần địch, việc vận chuyển phải tổ chức hết sức bí mật. Trên 15.000 dân công Quảng Bình, Vĩnh Linh và các huyện Hướng Hóa, A Lưới của Quảng Trị, Thừa Thiên được huy động suốt ba tới bốn tháng, miệt mài, cần mẫn gồng gánh, gùi thồ vật chất, đạn dược luồn sâu đưa hàng tận các kho chiến dịch. Trong số những thành viên người dân tộc Vân Kiều tham gia vận chuyển, có em bé 13 tuổi cũng tự nguyện xung phong. Hồ Côn, một thanh niên Vân Kiều giữ mức gùi 40 ki-lô-gam hàng suốt mấy tháng liền. Do yêu cầu đột xuất, có lúc anh đã gùi tới 120 ki-lô-gam.

Cùng một lúc, Quân khu 4 đã sử dụng hai phần ba lực lượng bộ đội công binh và hàng nghìn thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến cùng lực lượng công binh Đoàn 559, của Bộ làm nhiệm vụ mở đường chiến dịch. Từ tháng 6 năm 1971 đến tháng 3 năm 1972, bộ đội công binh và thanh niên xung phong hỏa tuyến phải vật lộn với bão lũ, mưa rét, rừng sâu. Vừa mở đường, vận chuyển, vừa đối phó với địch thường xuyên trinh sát chặn phá, nhưng các lực lượng thi công đã kiên cường, mưu trí và sáng tạo, bí mật hoàn thành 400 ki-lô-mét đường cơ động xuyên qua địa hình phức tạp có 264 ki-lô-mét đường mới làm) gồm chín trục đường dọc chiến dịch áp sát các căn cứ chủ yếu của địch.

Việc hoàn thành mở đường cơ động và chuẩn bị hậu cần - kỹ thuật cho chiến dịch đúng thời gian, bí mật, an toàn; bảo đảm cho lực lượng lớn bộ đội và binh khí kỹ thuật cơ động, triển khai trên một khu vực hẹp, eo thắt nhất của miền Trung là yếu tố quyết định để bộ đội thực hành chiến dịch tiến công đúng thời gian.

Công tác chuẩn bị hậu phương chiến dịch được chỉ đạo khẩn trương, nhất là nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ hậu phương mà Quảng Bình, Vĩnh Linh - hậu phương trực tiếp là trọng điểm số một. Trên cơ sở kế hoạch phòng thủ đã có từ trước nhằm chủ động đối phó với ba tình huống dự kiến, từng cấp tiến hành việc rà soát và bổ sung phương án tác chiến cho phù hợp với tình hình khi ta mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam, trực tiếp là Trị - Thiên. Quán triệt những nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo phòng thủ khu vực, để phát huy ngay từ đầu vai trò của chiến tranh nhân dân địa phương trong tình huống phải đối phó với một cuộc tiến công hạn chế vào địa bàn quân khu, các địa phương đã dốc sức xây dựng lực lượng, chuẩn bị thế trận mới, củng cố và nâng cao sức mạnh tại chỗ về mọi mặt.

Bộ đội địa phương, dân quân tự vệ các tỉnh được phát triển với số lượng lớn hơn bất cứ thời kỳ nào trước đó, chất lượng cũng cao hơn.

Lực lượng bộ đội địa phương từ Vĩnh Linh đến Nghệ An tính đến đầu năm 1972 có 11.807 cán bộ, chiến sĩ; biên chế 16 tiểu đoàn bộ binh, tám đại đội bộ binh độc lập, ba trung đội chốt, ba đại đội đặc công; năm tiểu đoàn, 19 đại đội pháo mặt đất, tám tiểu đoàn, hai đại đội pháo và súng máy cao xạ. Trang bị vũ khí kỹ thuật tương đương với bộ đội chủ lực cùng cấp. Dân quân tự vệ chiếm 14,8 phần trăm số dân, có gần 300 nghìn cán bộ đội viên, nòng cốt là 150 nghìn du kích, tự vệ, trong đó có hơn 80 phần trăm số đảng viên. Hàng chục nghìn súng bộ binh được trang bị thêm. Bình quân mỗi xã có một đại đội du kích cơ động, mỗi cụm xã chiến đấu hoặc khu công nghiệp có một tiểu đoàn tự vệ cơ động. Du kích, tự vệ chiến đấu vùng trọng điểm có hơn 30 phần trăm quân nhân phục viên, xuất ngũ. Hầu hết cán bộ, đội viên dân quân đã dày dạn trong chiến đấu, được trang bị 100 phần trăm súng các loại.

Trên các khu vực tác chiến trọng điểm toàn quân khu đều thực hiện quân sự hóa, "công sự hóa" cao. Hàng trăm cuộc tập trận lớn nhỏ từ xã, xí nghiệp đến toàn khu vực hoặc hiệp đồng nhiều khu vực trên một hướng đã được tiến hành. Có xã, cụm xã, cụm chốt diễn tập từ hai đến ba lần. Quyết tâm của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh quân khu được quán triệt sâu rộng đến từng cán bộ, chiến sĩ, từng người dân, "bất cứ tình huống nào, kẻ địch nào, thời gian nào, quy mô nào, địch đến cũng quyết đánh và quyết thắng" (Nghị quyết ngày 11 tháng 2 năm 1972 của Thường vụ Quân khu ủy).

Để tăng cường lãnh đạo chỉ huy hậu phương, tháng 11 năm 1971, đồng chí Vương Thừa Vũ - Phó Tổng tham mưu trưởng được cử giữ chức Tư lệnh Quân khu 4. Các đồng chí Cao Văn Khánh, Lê Tự Đồng giữ chức Tư lệnh và Chính ủy mặt trận B5, nay kiêm Phó tư lệnh và Phó chính ủy Quân khu 41.

Theo kế hoạch tạo thế và nghi binh chiến dịch, liền trong ba tháng, lực lượng vũ trang tại chỗ ở Quảng Trị và Thừa Thiên tiến hành đợt hoạt động tác chiến vừa rộng khắp, vừa có trọng điểm. Các lực lượng của tỉnh Quảng Trị trong đợt này đã đánh hơn 300 trận, tiêu biểu là trận tiêu diệt cứ điểm đồi 31 (tháng 1 năm 1972), tập kích chi khu quân sự Mai Lĩnh (tháng 3 năm 1972)... Ở Thừa Thiên rộ lên các hoạt động nhỏ lẻ đánh tiêu hao, vũ trang tuyên truyền, diệt ác phá kìm ở khắp đồng bằng và vùng ven đô. Trong khi đó, Bộ Tư lệnh B4 chỉ đạo một bộ phận chủ lực quân khu và các lực lượng vũ trang Thừa Thiên tiến công vào tuyến phòng thủ của sư đoàn 1 ngụy trên đường số 11 tây Huế, đánh địch ở Tà Lương, Cù Mông, Sơn Na, Chìa Vôi. Các hoạt động trên vừa làm cho thế kìm kẹp của địch lỏng bớt, cài thêm lực lượng của ta vào vùng sâu, vừa giữ được bí mật cho chiến dịch, đánh lạc hướng phán đoán của chúng.
_____________________________________________
1. Đến tháng 3 năm 1972 đồng chí Vương Thừa Vũ chuyển về cơ quan Bộ, đồng chí Nguyễn Đôn - Phó Tổng tham mưu trưởng được cử làm Tư lệnh quân khu trong thời gian đồng chí Đàm Quang Trung vắng mặt. Đồng chí Lê Quang Hòa vẫn giữ chức Chính ủy quân khu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #88 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2024, 08:58:15 pm »


Ngày 11 tháng 3 năm 1972, sau khi soát xét lại kết quả chuẩn bị trên các hướng, Thường vụ Quân ủy Trung ương quyết định "tiến hành cuộc Tiến công chiến lược năm 1972, hướng chủ yếu là chiến trường Trị - Thiên"1. Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp chỉ đạo chiến dịch tiến công Trị - Thiên. Đây là "một chiến dịch quy mô lớn, là một trong những hướng chiến lược rất quan trọng, một chiến dịch hiệp đồng binh chủng, một chiến dịch tổng hợp cả về quân sự và chính trị". Mục tiêu của chiến dịch nhằm "góp phần tích cực cùng với các chiến trường khác thực hiện Nghị quyết lần thứ 20 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đánh bại về cơ bản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và "học thuyết Ních-Xơn" của đế quốc Mỹ ở Đông Dương, góp phần làm chuyển biến cục diện chiến tranh, đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta và nhân dân các nước Đông Dương tiến lên một bước mới" (điện động viên của Quân ủy Trung ương gửi các đơn vị, địa phương tham gia chiến dịch).

Ngày 13 tháng 2 năm 1972, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh chiến dịch tiến công Trị - Thiên (lấy phiên hiệu là B702) được thành lập. Đồng chí Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Đạo làm Chính ủy. Các đồng chí Hồ Sĩ Thản (Bí thư tỉnh ủy Quảng Trị) và Trần Đồng (Bí thư Đảng ủy khu vực Vĩnh Linh) được chỉ định tham gia Đảng ủy chiến dịch do đồng chí Lê Quang Đạo làm Bí thư.

Tham gia trực tiếp với chủ lực của Bộ trên hướng chủ yếu của chiến dịch là toàn bộ lực lượng vũ trang và nhân dân tỉnh Quảng Trị.

Quyết tâm chiến dịch ở thời kỳ đầu là trong khoảng 20 đến 25 ngày tiến công tiêu diệt cho được từ bốn đến năm trung đoàn địch, phát động quần chúng nổi dậy và giải phóng Quảng Trị, sau đó tiếp tục phát triển vào hướng Thừa Thiên. Các lực lượng của chiến dịch cùng với quân và dân Quảng Trị sẽ đột phá vào tuyến phòng thủ của địch ở Quảng Trị trên ba hướng: bắc, tây – bắc và tây Quảng Trị (tây-bắc và tây được chọn làm hướng tiến công chủ yếu). Các lực lượng vũ trang, chính trị của tỉnh ngoài việc phối hợp với bộ đội chủ lực trong các hoạt động quân sự lớn, còn đẩy mạnh hoạt động du kích, tiêu diệt các lực lượng kìm kẹp, đập tan bộ máy chính quyền tay sai, tạo điều kiện đưa quần chúng nổi dậy, thành lập chính quyền cách mạng, làm chủ địa phương, chống địch bắt dân, lùa dân đi nơi khác, hỗ trợ chính quyền các cấp từng bước làm trong sạch địa phương, ổn định sinh hoạt vùng mới giải phóng.

Đối với Quảng Trị, trong giờ phút lịch sử này tuy còn nhiều khó khăn và hạn chế của một tỉnh bị chiếm đóng lâu ngày, lực lượng vũ trang, chính trị hoạt động phân tán, cơ sở ta xen cài với địch, ở những vùng sâu, cơ sở nội tuyến của ta không được phổ biến chuẩn bị trước, khả năng hậu cần tại chỗ mỏng yếu... nhưng Tỉnh ủy, cơ quan quân sự tỉnh vững tin vào thắng lợi chung, vào sức mạnh tổng hợp và áp đảo của chiến tranh nhân dân trên một hướng có ý nghĩa quyết định nhất. Tỉnh ủy chủ trương: "Phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công của chủ lực, phát huy cao độ đòn nổi dậy của quần chúng, tiêu diệt và làm tan rã hệ thống kìm kẹp của địch, hình thành mặt trận tiến công địch rộng khắp để phối hợp với đòn tiến công của chủ lực nhằm tiêu diệt, làm tan rã lực lượng bảo an dân vệ, ngụy quyền, từng bước giải phóng đất đai, tiến lên giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Trị".

Tỉnh ủy quyết định tổ chức chỉ đạo chỉ huy và phân chia lực lượng địa phương theo hai cánh.

- Cánh bắc gồm hai huyện Gio Linh, Cam Lộ và thị xã Đông Hà do đồng chí Nguyễn Thư, Ủy viên Thường vụ tỉnh ủy, chỉ huy trưởng quân sự tỉnh phụ trách.

- Cánh nam gồm hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng và thị xã Quảng Trị do các đồng chí Nguyễn Đức Dũng, Phó bí thư tỉnh ủy và Nguyễn Văn Lương, Ủy viên Thường vụ tỉnh ủy phụ trách.

Mỗi cánh tùy theo nhiệm vụ, mục tiêu tính chất của địa bàn mà chia thành cụm (khu) để sử dụng lực lượng, tổ chức hiệp đồng giữa đấu tranh vũ trang và chính trị, tiến công và nổi dậy, chủ lực và địa phương... theo ý định chung của chiến dịch, lấy hoạt động của chủ lực làm trung tâm.

Thừa Thiên là hướng phối hợp sau lưng. Thường vụ, Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên một mặt chỉ thị cho các lực lượng vũ trang Quảng Trị chủ động phối hợp, mặt khác chỉ đạo các lực lượng vũ trang và nhân dân Thừa Thiên - Huế tích cực đánh phá bình định của địch trên diện rộng, đẩy mạnh phong trào ở thành phố, cài thế trận ba vùng để đón thời cơ, đồng thời mở chiến dịch địa phương của quân khu, trọng điểm trên đường số 12, phá vỡ tuyến phòng thủ của sư đoàn 1 ngụy ở phía tây. Khi có thời cơ thì áp sát Huế, chia cắt bao vây thành phố và các cụm còn lại của địch.

Ở hậu phương Quân khu 4, địa bàn "vừa là hành lang chiến lược, bàn đạp tiến công, vừa là đội hình và hậu phương chiến dịch của Trị - Thiên", Thường vụ Quân khu ủy xác định quyết tâm huy động "toàn bộ lực lượng quân khu bước vào chiến dịch của năm 1972... Tất cả các lực lượng, các địa phương, tất cả các đơn vị và cơ quan dấy lên một cao trào hành động cách mạng với khí thế hào hùng sôi nổi của cả quân khu lên đường". (Nghị quyết hội nghị Thường vụ Quân khu ủy họp ngày 12 tháng 2 năm 1972).

Chiến trường đã chuẩn bị, hậu phương đã sẵn sàng, quyết tâm và khí thế của quân và dân đang lên cao. Trong những đêm ngày sôi động của tháng 3 năm 1972, hàng chục nghìn bộ đội, hàng nghìn xe pháo cùng với toàn thể lực lượng vũ trang, chính trị trên chiến trường Quảng Trị đã bí mật chiếm lĩnh trận địa, triển khai đội hình chờ lệnh nổ súng, giữ được bí mật bất ngờ đến phút cuối cùng.
_____________________________________________
1. Chủ trương của Thường vụ Quân ủy Trung ương được Bộ Chính trị thông qua ngày 23 tháng 2 năm 1972.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #89 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2024, 09:01:03 pm »


Chiến dịch tiến công Quảng Trị bắt đầu vào 11 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1972. Hàng trăm nòng pháo các cỡ mở đợt tập kích hỏa lực vào toàn bộ các căn cứ pháo binh, sở chỉ huy địch ở nam – bắc đường số 9.

Quân ngụy ở những nơi bị tiến công ra sức chống đỡ. Những trận đánh quyết liệt diễn ra ngay từ đầu. Đêm 30 tháng 3, các chiến sĩ trung đoàn 27 tiến công trên cánh bắc, trong một trận đánh mưu trí lợi dụng lúc địch thay quân, đã chiếm được căn cứ địch ở điểm cao 544 do một bộ phận của trung đoàn 2 sư đoàn 3 ngụy đóng giữ (còn gọi là căn cứ Phu-lơ), bắt sống viên thiếu tá tiểu đoàn trưởng Hà Thúc Mẫn. Sáng sớm hôm sau, ta chiếm tiếp cứ điểm Đồi Tròn gần đó. Đây là trận đánh tiêu diệt, bắt sĩ quan chỉ huy sớm nhất do cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 27 thực hiện, mở đầu thắng lợi cho toàn chiến dịch.

Cùng ngày, cũng ở cánh bắc ta chiếm cứ điểm Cồn Tiên sau khi địch tháo chạy về Miếu Bái Sơn.

Ở cánh tây, ta tiến công tuyến phòng thủ của lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến ngụy, đánh chiếm các cứ điểm Ba Tum, Ba Hồ.

Ở phía đông, các đơn vị đặc công hải quân ta phối hợp với lực lượng địa phương tiếp đánh thủy đội địch trên sông và tại cảng Cửa Việt. Ta làm chủ một khúc sông, chia cắt Cửa Việt với Đông Hà.

Ngày 21 tháng 3 năm 1972, một bộ phận của trung đoàn 56 ngụy đi giải tỏa và tăng viện bị ta chặn đánh và tiêu diệt ở Thiện Xuân. Nhân đà thắng lợi, ta phát triển đánh chiếm căn cứ Đầu Mầu.

Phát huy thế áp đảo của bộ đội chủ lực, các lực lượng vũ trang, chính trị của Quảng Trị ở cánh bắc kịp thời phát động quần chúng bao vây gọi hàng, tiêu diệt quân địa phương của địch ở các chi khu, thôn ấp, đập tan hệ thống kìm kẹp, giải phóng quận lỵ Gio Linh, khu tập trung Bến Ngự, Mai Xá Thị, Tuân Khánh, Hà Thượng. Thắng lợi đó tạo đà cho quần chúng cách mạng ở vùng sâu cùng với du kích các xã Gio Hà, Gio Lễ, Gio Mỹ và khu tập trung Quán Ngang nổi dậy bắt diệt bọn ác ôn, bảo an, dân vệ, giải tán phòng vệ dân sự, làm chủ thôn xã, cô lập các cụm còn lại của địch. Gio Linh là huyện đầu tiên được giải phóng (ngày 31 tháng 3 năm 1972).

Ngày 1 tháng 4 năm 1972, bộ đội chủ lực ta ở cánh tây chặn đánh và tiêu hao nặng mũi phản kích của một bộ phận thuộc lữ đoàn 147 ngụy ở đèo Cùa. Nhân đà thắng lợi, ta tiến công chiếm cứ điểm động Toàn, động Ngô, điểm cao 365. Tuyến phòng thủ của thủy quân lục chiến ngụy bị bóc một mảng lớn. Cùng lúc, ở cánh bắc, quân địch bỏ Dốc Miếu, Dốc Sỏi chạy về Quán Ngang.

Ngày 2 tháng 4 năm 1972, trung đoàn 24 (sư đoàn 304) xiết chặt vòng vây và mãnh liệt tiến công địch ở điểm cao 241, căn cứ sở chỉ huy trung đoàn 56 ngụy. Khiếp đảm vì hỏa lực pháo binh của ta và bị bao vây, toàn bộ quân ngụy trong căn cứ gồm chỉ huy, cơ quan tham mưu trung đoàn cùng một tiểu đoàn bộ binh và đơn vị trực thuộc do viên trung tá trung đoàn trưởng Phạm Xuân Đính, thiếu tá trung đoàn phó Vĩnh Phong cầm đầu phải chấp nhận đầu hàng. Ta chiếm căn cứ, tiếp nhận hàng binh và mọi vũ khí phương tiện. 12 giờ 45 phút ngày hôm đó toàn bộ khu vực phòng thủ của trung đoàn 46 ngụy bị phá vỡ, cũng là trung đoàn ngụy đầu tiên bị diệt gọn trong chiến dịch.

Cùng ngày, bộ đội chủ lực cùng với lực lượng địa phương Quảng Trị ở cánh bắc đánh chiếm chi khu quân sự Cam Lộ. Các lực lượng tại chỗ phối hợp tiến công dồn dập giải phóng hoàn toàn Cam Lộ. Nhiều cứ điểm của địch bị cô lập buộc chúng phải rút bỏ. Quân địch ở Miếu Bái Sơn, Quán Ngang tháo chạy về Đông Hà. Thủy quân lục chiến ngụy bỏ căn cứ chỉ huy ở Mai Lộc rút về phía sau. Toàn bộ hai huyện Gio Linh, Cam Lộ được gỉải phóng. Các khu vực phòng thủ mạnh của bộ binh và thủy quân lục chiến ngụy ở phía bắc và tây-bắc bị phá vỡ. Phần lớn thủy quân lục chiến và trung đoàn 57 ngụy lùi về tuyến Đông Hà.

Ngày 4 tháng 4, ở hướng tây - nam quân địch bỏ cứ điểm động Ông Do co về giữ động Chiêm Dòng, một vị trí án ngữ phía tây quốc lộ số 1 và căn cứ La Vang. Cùng ngày, ở hướng đông ta phát hiện địch ở căn cứ Cửa Việt có hiện tượng rút chạy. Chớp thời cơ, một bộ phận hải quân ta, phối hợp với lực lượng địa phương, dựa vào cơ sở cách mạng nhanh chóng bao vây, gọi hàng, kết hợp tiến công áp đảo đã diệt và bắt gọn địch trong căn cứ. Ta giải phóng và làm chủ khu vực Cửa Việt lúc 16 giờ ngày 4 tháng 4 năm 1972.

Qua gần sáu ngày đêm mở đầu chiến dịch, với sức mạnh tiến công áp đảo, các lực lượng chủ lực và địa phương đã hiệp đồng, phối hợp chặt, phá vỡ toàn bộ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch ở bắc Quảng Trị. Ta diệt gọn một trung đoàn, đánh thiệt hại nặng ba trung đoàn khác và thiết đoàn 20, bốn căn cứ trung đoàn, bảy căn cứ tiểu đoàn. Toàn tuyến "ngăn chặn" của Mỹ đã bất lực. Hai huyện Gio Linh, Cam Lộ gồm 100 nghìn dân được giải phóng, cùng với vùng giải phóng cũ ở miền tây đã nối thông với hậu phương Quảng Bình - Vĩnh Linh của miền Bắc.

Trong thắng lợi mở đầu chiến dịch, các lực lượng vũ trang, chính trị tỉnh Quảng Trị (chủ yếu là các lực lượng thuộc cánh bắc1, cơ sở cách mạng ở khắp thôn xã, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đã tích cực phối hợp với nỗ lực cao nhất. Quân và dân bắc Quảng Trị vừa phát động quần chúng, tích cực vận động binh lính địch, vừa tiến công các đồn bốt bảo an, trụ sở tề ấp, phá bỏ các khu tập trung, quét sạch bộ máy ngụy quyền tay sai, thiết lập ngay chính quyền cách mạng. Nhân dân xã Gio Hải phá bỏ khu tập trung bắc Cửa Việt, bắt sống 150 lính ngụy và ác ôn, thu vũ khí, vận động hàng trăm tên khác nộp súng trở về với cách mạng. Gần mười nghìn đồng bào Kinh, Thượng ở các khu tập trung Cùa, Ba Lòng trở về làng bản cũ, tuyên truyền lôi kéo cả lính bảo an, dân vệ. Nhiều đảng viên, cán bộ cơ sở, chiến sĩ biệt động đã dũng cảm kiên cường quên mình diệt địch giành dân. Đồng chí Hồ Thảo, một cán bộ cơ sở người Vân Kiều đã dùng xe lấy được của địch chạy gọi loa vận động binh lính và đồng bào dân tộc theo cách mạng. Trong cuộc chiến đấu này, cán bộ cơ sở, đội viên du kích Nguyễn Xuân Cân, Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Thị Hoài Thu và nhiều đồng chí khác đã anh dũng hy sinh2.

Tuy về toàn cục, khi mở đầu chiến dịch thành tích chưa cao, các lực lượng địa phương ở cánh nam, phần lớn là các tiểu đoàn chủ lực của tỉnh Quảng Trị (hai tiểu đoàn 8, 14 bộ binh, tiểu đoàn 10 đặc công, đại đội 34 pháo cối...) bị địch chặn lại ở vùng giáp ranh, không thực hiện được ý định luồn sâu xuống đồng bằng; phong trào nổi dậy chưa hòa nhịp với đòn tiến công áp đảo của chủ lực, nhưng thắng lợi ở bắc Quảng Trị là rất to lớn.
______________________________________________
1. Lực lượng vũ trang Quảng Trị ở cánh bắc lúc này gồm có: đại đội 10 bộ binh, đại đội 11 đặc công, 10 đội biệt động, một đội an ninh vũ trang của huyện Gio Linh, các đại đội 14, 15 bộ binh, đại đội 12 đặc công, bốn đội biệt động của huyện Cam Lộ. Trực thuộc ban chỉ huy cánh bắc có tiểu đoàn 10 đặc công (thiếu đại đội 11), tiểu đoàn 47 bộ binh khu đội Vĩnh Linh, hai đại đội 12,7 ly của Nghệ An, Nam Hà vào tăng cường trước chiến dịch.
2. Riêng các lực lượng địa phương và nhân dân cánh bắc đã đánh 62 trận, diệt 623 địch, bắt 206 tên (có 115 ác ôn ngụy quyền thôn xã). Một số đơn vị nhỏ quân ngụy gồm một đại đội lính cộng hòa, hai ban chỉ huy liên đội bảo an, bảy trung đội dân vệ, một trung đội và ba đại đội bảo an bị diệt gọn, phá hủy 21 xe quân sự các loại, thu hàng nghìn súng, phá 12 đồn bốt, chi khu quân sự, bốn khu tập trung, vận động ba trung đội dân vệ, một trung đội bảo an ra hàng tập thể, gọi hàng hàng trăm tên khác.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM