Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:19:07 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)  (Đọc 57157 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #110 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2024, 08:34:06 pm »


Triển khai nhiệm vụ quân sự, tháng 4 năm 1974, Quân khu ủy chủ trương đẩy mạnh tiến công của lực lượng vũ trang hướng về khu vực giáp ranh và đồng bằng; lấy đánh bình định chống lấn chiếm làm trung tâm. Nhiệm vụ trong thời gian tới của các lực lượng vũ trang quân khu là:

- Tập trung đánh phá bình định, chống lấn chiếm, giành dân, giành quyền làm chủ, xây dựng thực lực cách mạng ở nông thôn đồng bằng và thành phố Huế.

- Tích cực xây dựng thế và lực mới, đặc biệt chú trọng tổ chức chuẩn bị chiến trường, trọng tâm là làm đường cơ giới.

- Ra sức xây dựng vùng giải phóng và căn cứ địa vững mạnh toàn diện.

Thực hiện chủ trương của Khu ủy và Quân khu ủy, từ tháng 3 năm 1974, các lực lượng vũ trang của ta đã mở đợt hoạt động tiến công địch trên dọc tuyến giáp ranh từ Hải Lăng đến Hải Vân, đánh phá "bình định", chống địch lấn chiếm, cải thiện thế trận và hỗ trợ cho phong trào ở đồng bằng mà trọng tâm là nam – bắc đường số 14 thuộc nam Thừa Thiên.

Mở đầu cho đợt hoạt động ở nam - bắc đường số 14, tiểu đoàn 8 trung đoàn 271 đánh chiếm các điểm cao 144, 273 và 300 buộc địch phải rút khỏi Ly Hy. Tiếp đó, từ ngày 12 đến ngày 16 tháng 6, ta đánh địch phản kích ở bắc điểm cao 100 (nam Khe Thai, huyện Hương Trà), tiêu diệt 90 lính dù.

Trên các hướng khác, lực lượng vũ trang ba thứ quân của ta liên tiếp đánh địch, chiếm lại các điểm cao 58, 61 và ba điểm cao khác ở tây Cổ Bi thuộc hai huyện Phong Điền và Quảng Điền. Cùng lúc, lực lượng phòng thủ bắc Quảng Trị liên tiếp tiến công địch ở Tích Tường, Như Lệ, cao điểm 367, tiêu diệt hàng trăm tên địch, giữ vững tuyến phòng thủ.

Phối hợp với hoạt động ở vùng giáp ranh, các đơn vị đặc công, biệt động cùng với bộ đội chủ lực quân khu, bộ đội các huyện và du kích ở vùng sâu đồng bằng và thành phố Huế liên tiếp tiến công địch, hỗ trợ cho đấu tranh chính trị của quần chúng và móc nối xây dựng lại cơ sở cách mạng. Bộ đội đặc công cùng với bộ binh quân khu liên tiếp đánh địch phản kích ở điểm cao 273, đánh cắt giao thông đường số 1 (từ ngày 19 đến ngày 21 tháng 6), tập kích kho xăng Đồng Lâm và kho đạn Phú Bài (ngày 29 tháng 6), gây cho địch nhiều thiệt hại.

Các đội vũ trang công tác, biệt động tích cực diệt ác, trừ gian, tuyên truyền vận động quần chúng đấu tranh ở vùng sâu địch hậu, tiêu biểu là ở các xã Phong Nhiêu, Phong Thái, Hương Bình, Hải Thủy, Diên Lộc, Tân Lộc và Nguyệt Biều; hạn chế sự lùng sục của địch. Kết quả đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc cài cắm lực lượng, xây dựng và phát triển cơ sở, chuẩn bị cho quần chúng nổi dậy khi có thời cơ.

Kết thúc đợt hoạt động, Quảng Trị mở được hai khu "lõm", hai đường hành lang về đồng bằng. Tại Thừa Thiên, ta xây dựng thêm 15 khu "lõm" cùng một số hành lang.

Với những thắng lợi ở giáp ranh và vùng sâu đồng bằng, ta đã tạo được thế xen kẽ với địch ở một số khu vực trên tất cả các tuyến đồi trọc từ tây đường số 1 đến đèo Hải Vân. Nơi đây trở thành khu vực tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển của chiến trường, ngày 17 tháng 5 năm 1974, chấp hành chỉ thị của Quân ủy Trung ương, các lực lượng vũ trang trên chiến trường Trị - Thiên được tách thành Quân đoàn 2 và Quân khu Trị - Thiên1.

Phát huy thắng lợi trong đợt hoạt động xuân - hè 1974, đồng thời phối hợp với chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức (Quân khu 5), theo lệnh của Bộ, Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 mở đợt tấn công hè - thu ở tây nam Thừa Thiên với mật danh là chiến dịch K18 (chiến dịch La San).

Lực lượng tham gia chiến dịch gồm sư đoàn 324 (thiếu trung đoàn 3) của Quân đoàn 2, trung đoàn 6 và K4 của Quân khu Trị - Thiên cùng một số đơn vị binh chủng trực thuộc, do bộ tư lệnh sư đoàn 324 trực tiếp chỉ huy.

Địa bàn chiến dịch là khu vực đường số 14 - La Sơn, Mỏ Tàu ở tây nam Huế. Là khu vực rất quan trọng để bảo vệ giao thông chiến lược Huế - Đà Nẵng và căn cứ sân bay Phú Bài, quân khu 1 ngụy đã bố trí ở đây phần lớn lực lượng sư đoàn 1 và các đơn vị bảo an chiếm giữ các vị trí có lợi, đề phòng ta tiến công.

Được sự giúp đỡ của nhân dân và sự phối hợp của các lực lượng vũ trang địa phương, sư đoàn 324, trung đoàn 6 và các đơn vị tham gia chiến dịch nhanh chóng tổ chức trinh sát nắm địch, xây dựng kế hoạch tác chiến, vận chuyển gần 1.000 tấn lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược và gần 3.000 viên đạn pháo, mở đường bí mật kéo pháo và hành quân vào khu vực tập kết an toàn. Cuối tháng 8, mọi công việc chuẩn bị đã hoàn thành.

5 giờ ngày 28 tháng 8 năm 1974, chiến dịch La Sơn bắt đầu. Các chiến sĩ trung đoàn 78 pháo binh bắn phá dữ dội vào các trận địa pháo địch ở điểm cao 41, căn cứ Bạch Thạch, Phú Bài. Cùng lúc, lực lượng luồn sâu cài thế sẵn của sư đoàn 324 đồng loạt nổ súng tiến công chiếm lĩnh các điểm cao 75, 76, 303, 144, 224, 204 và 273. Sau hơn ba giờ chiến đấu quyết liệt, ta đã làm chủ hầu hết các điểm cao này. Riêng ở điểm cao 273, cuộc chiến đấu kéo dài đến sáng 29 tháng 8 mới kết thúc. Ta hoàn toàn làm chủ trận địa, tiêu diệt tiểu đoàn 3 trung đoàn 3 và tiểu đoàn 219 bảo an (thiếu một đại đội) của địch, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 2, bắt hơn 300 tù binh.

Bị mất một loạt vị trí quan trọng ở khu vực đường số 14, tư lệnh sư đoàn 1 ngụy vội vàng điều tiểu đoàn 3 trung đoàn 51 lên tăng cường cho trung đoàn 3; điều hai tiểu đoàn khác của trung đoàn 1 ra tăng cường cho căn cứ La Sơn, gấp rút điều chỉnh lại thế trận, hình thành tuyến phòng thủ mới để ngăn chặn ta tiến công.
______________________________________________
1. Quân đoàn 2 gồm: sư đoàn 304, sư đoàn 324, sư đoàn 325 và một số đơn vị binh chủng. Quân khu Trị - Thiên gồm tất cả các lực lượng còn lại trên chiến trường này.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #111 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2024, 08:37:39 pm »


Phát huy thắng lợi ngày đầu chiến dịch, đồng thời nắm vững tư tưởng liên tục tiến công và đánh tiêu diệt, sư đoàn 324 quyết định tổ chức ngay đợt tiến công thứ hai đánh thẳng vào giữa tuyến phòng thủ của địch, áp sát đường số 1, uy hiếp tuyến giao thông Huế - Đà Nẵng của chúng.

Với quyết tâm đó, các chiến sĩ sư đoàn gấp rút dò gỡ mìn, làm đường kéo pháo lên hai cao điểm 75 và 76 đánh địch chi viện cho bộ binh.

5 giờ 10 phút ngày 3 tháng 9, các chiến sĩ trung đoàn 1 sư đoàn 324 đồng loạt nổ súng tiến công địch ở khu vực điểm cao 31 do tiểu đoàn 3 trung đoàn 51 ngụy chiếm giữ. Sau 45 phút chiến đấu, tiểu đoàn 3 ngụy bị thiệt hại nặng, hai đại đội bị diệt, 91 tên bị bắt làm tù binh. Sáng 7 tháng 9, trang đoàn 2 sư đoàn 324 đánh chiếm các điểm cao 121, 141, núi Bông, núi Nghệ do tiểu đoàn 2 trung đoàn 3 ngụy chiếm giữ. Trước sức tiến công mạnh mẽ của ta, tiểu đoàn 1 ngụy hoảng sợ bỏ chạy tán loạn về phía sau. Thừa thắng, sư đoàn 324 cùng các lực lượng vũ trang địa phương nhanh chóng truy kích địch xuống sát đường số 1, bắt gần 200 tên.

Từ ngày 14 tháng 9, ta bước vào đợt 3 của chiến dịch. Sư đoàn 324 và trung đoàn 6 tiến công cứ điểm Hồng Hà (điểm cao 31) và các trận địa của địch ở phía đông các điểm cao 52, 41 do các đơn vị của trung đoàn 1 và trung đoàn 51 sư đoàn 1 ngụy chiếm giữ. Sau gần một ngày giành đi giật lại với địch, ta hoàn toàn làm chủ trận địa, đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn địch, bắt 500 tên.

9 giờ ngày 27 tháng 9, sư đoàn 324 và trung đoàn 6 mở đợt tiến công cuối cùng của chiến dịch La Sơn, đánh vào khu vực Mỏ Tàu do tiểu đoàn 2 trung đoàn 51 ngụy chiếm giữ. Sau hơn hai ngày chiến đấu quyết liệt, đến 10 giờ 30 phút ngày 29 tháng 9, ta tiêu diệt đại bộ phận quân địch, hoàn toàn làm chủ Mỏ Tàu. Chiến dịch La Sơn kết thúc thắng lợi.

Sau hơn 30 ngày đêm chiến đấu liên tục, sư đoàn 324 và lực lượng vũ trang Quân khu Trị - Thiên đã giành thắng lợi vẻ vang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Ta đã tiêu diệt và bắt 1.800 tên địch, diệt gọn hai tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng chín tiểu đoàn khác, thu 2.734 khẩu súng các loại và bắn rơi năm máy bay địch; thu hẹp được vùng chiếm đóng của địch, phá vỡ một mảng lớn hệ thống phòng ngự của chúng ở tây nam Huế. Với chiến thắng La Sơn, ta đã mở rộng được vùng giải phóng, hỗ trợ tích cực cho phong trào cách mạng ở vùng sâu đồng bằng.

Phối hợp với đòn tiến công của bộ đội chủ lực, lực lượng vũ trang và nhân dân Trị - Thiên đẩy mạnh hoạt động trên toàn tuyến giáp ranh từ huyện Hải Lăng đến đèo Hải Vân. Tiểu đoàn 4 và bộ đội huyện Phú Lộc tiến công địch ở khu vực đèo Phú Gia; tiểu đoàn 2 trung đoàn 6 đánh chiếm điểm cao 16 và mỏm A đồi Bạch Đàn, liên tiếp đánh phá giao thông gây cho địch nhiều thiệt hại. Đường sắt Huế - Đà Nẵng hoàn toàn bị cắt đứt từ ngày 18 tháng 8, đường số 1 bị cắt đứt năm lần, làm cho hậu phương và các hoạt động của địch ngày càng khó khăn nghiêm trọng.

Cùng với hoạt động quân sự, phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân và sinh viên Trị - Thiên - Huế cũng phát triển.

Tại Huế, ngày 21 tháng 3 năm 1974, nhân việc chính quyền tay sai Thừa Thiên - Huế can thiệp thô bạo vào các hoạt động của sinh viên, lập tức sinh viên Huế phát động một cuộc đấu tranh chống ngụy quyền Sài Gòn vi phạm Hiệp định Pa-ri.

Phong trào đấu tranh của sinh viên đã thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia sôi nổi và liên tục từ tháng 3 đến tháng 9 năm 1974; đặc biệt, trong tháng 8 năm 1974, hàng chục nghìn nhân dân và sinh viên rầm rộ xuống đường biểu tình giương cao biểu ngữ chống Nguyễn Văn Thiệu độc tài, đòi thực hiện hòa bình, hòa giải dân tộc và tự do dân chủ.

Được phong trào ở Huế cổ vũ, nhân dân nông thôn đồng bằng Trị - Thiên liên tục đấu tranh, đòi dân sinh dân chủ, cải thiện đời sống, chống các luật lệ hà khắc của địch. Ở nhiều địa phương Thừa Thiên, quần chúng nhân dân đứng lên phản đối bầu cử gian lận, chống tham nhũng, hối lộ của chính quyền địch. Đến tháng 8 năm 1974, phong trào đấu tranh rộ lên đòi lật đổ tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, chống thiết quân luật, đòi tự do đi lại làm ăn. Tháng 9, nhân dân các xã Quảng Lợi, Hướng Bằng và khu 3 huyện Phú Lộc đấu tranh đòi về làng cũ. Khí thế đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng khiến cho địch lúng túng, buộc phải nhượng bộ để cho hàng trăm người dân ở khu vực Đồng Lâm, khu 1 và khu 4 huyện Hương Thủy, khu 2 huyện Phú Lộc tự do lên rừng làm ăn.

Từ thực tế đấu tranh quân sự và chính trị ngày càng phát triển, Khu ủy và Quân khu ủy Trị - Thiên quyết định: "mùa mưa 1974 là mùa mưa tiến công" và "phải đẩy mạnh tiến công trên cả ba vùng" để giành thắng lợi lớn nhất khi có thời cơ đến và thiết thực chuẩn bị cho mùa khô 1975.

Khi mùa mưa sắp đến, các cấp khẩn trương và kiên quyết đưa lực lượng vũ trang địa phương, an ninh, biệt động, du kích và cán bộ từ căn cứ miền tây về tăng cường cho vùng sâu đồng bằng và thành phố; vừa làm nhiệm vụ đánh địch, xây dựng cơ sở, vừa chuẩn bị mục tiêu đón thời cơ lớn. Đến cuối năm 1974, cơ sở cách mạng ở đồng bằng Trị - Thiên và thành phố Huế được củng cố và phát triển cả về số lượng và chất lượng. Đặc biệt, ta đã xây dựng được hàng trăm cơ sở nội tuyến trong binh lính, tề ngụy và phòng vệ dân sự ở thôn, ấp1.

Song song với việc củng cố và phát triển cơ sở cách mạng ở đồng bằng và thành thị, Khu ủy và Quân khu ủy quyết định tổ chức 150 đội vũ trang công tác với trên 3.000 tay súng chuẩn bị đưa về đồng bằng hoạt động khi có thời cơ, đồng thời phải mở cho được hành lang về đồng bằng, nhất là hướng nam Thừa Thiên, tây - nam Huế, nhằm đảm bảo đưa một số lớn lực lượng và vật chất từ căn cứ xuống vùng sâu địch hậu để đánh địch, hỗ trợ cho quần chúng đánh phá "bình định".

Thực hiện chủ trương của Khu ủy, sau hè - thu 1974 đến đầu năm 1975, lực lượng vũ trang quân khu vẫn duy trì các hoạt động quân sự trên toàn tuyến giáp ranh, nhất là ở khu vực đường số 14 thuộc tây nam Huế2 để thu hút, kìm chế tiêu hao sinh lực địch. Cuộc chiến đấu diễn ra dai dẳng và quyết liệt. Cuối cùng, địch đã chiếm lại Mỏ Tàu và cao điểm 303, ngăn chặn đường tiến xuống đồng bằng của ta. Mặc dù ta không giữ được Mỏ Tàu và cao điểm 303, nhưng đã thu hút được lực lượng và tiêu hao nặng sinh lực chúng ở khu vực này, khiến cho sư đoàn 1 ngụy không có thời gian củng cố và chấn chỉnh, nên cũng không nống ra để củng cố thế phòng thủ được. Trong khi đó, trên toàn chiến trường Trị - Thiên, ta vẫn bám trụ đồng bằng, tích cực xây dựng cơ sở chuẩn bị lực lượng và mục tiêu cho thời cơ lớn, đồng thời mở thêm một số hành lang về đồng bằng thành phố. Nhờ vậy, các đơn vị chủ lực quân khu, tỉnh đã hành quân về áp sát các mục tiêu, hàng chục nghìn tay súng, hàng trăm cán bộ chủ chốt các cấp, hàng chục nghìn tấn vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm đã được đưa về đồng bằng, thành phố một cách an toàn.

Đáp ứng yêu cầu tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng, Quân khu tiếp tục huy động hàng chục nghìn bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân, du kích cùng với cán bộ và nhân dân hai tỉnh làm mới, tu sửa và nâng cấp các con đường số 15N, 71, 72, 73A, 73B và 74 từ miền núi vươn dài xuống đồng bằng, thành phố, tiến sát tới đường số 1 và căn cứ địch. Cuối năm 1974, ta đã có mạng đường tương đối hoàn chỉnh từ bắc vào nam, từ miền tây xuống miền đông quân khu, nhất là hướng Phong Điền, Hương Thủy và hướng nam quân khu bảo đảm cho việc cơ động lực lượng và các đơn vị pháo binh, xe tăng, vận tải tiến sát về phía trước chuẩn bị tiến công địch3.

Cùng với việc xây dựng mạng đường, công tác bảo đảm hậu cần cũng được các chiến sĩ hậu cần thuộc các cụm kho triển khai, bao gồm việc chuẩn bị hệ thống kho tàng, trạm dự trữ xăng dầu, trạm sửa chữa xe cơ giới, vũ khí, khí tài và tổ chức tiếp nhận hàng từ hậu phương miền Bắc chi viện cho chiến trường Trị - Thiên. Đồng thời lực lượng vận tải quân khu cùng với Đoàn 559 chuyển hàng chục nghìn tấn vật chất cho các lực lượng hoạt động trên các hướng chiến dịch và vùng sâu đồng bằng ở Trị - Thiên, đảm bảo kịp thời và đầy đủ cho chiến đấu, có dự trữ theo yêu cầu của kế hoạch năm 1975.

Ngoài ra, Quân khu còn huy động hàng nghìn cán bộ và nhân dân hai tỉnh Trị - Thiên đi dân công phục vụ cho chiến dịch.

Trong những năm chống Mỹ, cứu nước, chưa bao giờ ở chiến trường Trị - Thiên có được lượng lương thực, vũ khí, đạn... dự trữ nhiều như lúc này.

Những kết quả trong chiến đấu, xây dựng lực lượng và thế trận mà quân và dân Trị - Thiên giành được trong hai năm 1973 - 1974 đã tạo ra các yếu tố cơ bản, vững chắc để tiếp tục phát huy thế tiến công, hoàn thành nhiệm vụ đánh phá "bình định" của địch, cùng cả nước tiếp tục giành những thắng lợi mới to lớn hơn.
_______________________________________________
1. Tại Quảng Trị: có 310 cơ sở các loại ở 36 thôn, xã, hai chi bộ, 200 du kích mật. Tại Thừa Thiên: có 2.749 cơ sở các loại của 216 trên 435 thôn, 43 chi bộ mật và 417 du kích mật trên tổng số 1.589 du kích ở sáu huyện đồng bằng. Thành phố Huế: có 15 chi bộ với 59 đảng viên và 1.270 cơ sở các loại.
2. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ đánh chiếm La Sơn, ngày 13 tháng 10 năm 1974, sư đoàn 324 rút về A Lưới để củng cố, giao khu vực đường số 14, Mỏ Tàu. La Sơn lại cho Quân khu Trị - Thiên đảm nhiệm.
3. Năm 1974, Quân khu đã làm được 210 ki-lô-mét đường, chủ yếu là đường số 74.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #112 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2024, 07:47:26 pm »


II. TĂNG CƯỜNG LỰC LƯỢNG, ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG CHI VIỆN CHIẾN TRƯỜNG VÀ LÀM NHIỆM VỤ QUỐC TẾ (1973 - 1974)

Hiệp định Pa-ri được ký kết, cả miền Bắc dồn hàng cho Quân khu 4, nhất là vào các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh, nhằm tạo chân hàng dồi dào để vận chuyển bổ sung kịp thời cho các chiến trường. Việc bảo đảm giao thông thông suốt liên tục từ hậu phương ra tiền tuyến càng bức thiết. Trong những năm chiến tranh phá hoại, mạng đường sá, hệ thống cầu, cống trên địa bàn Khu 4 bị đánh phá nặng nề, phải nhiều năm mới có thể khôi phục lại. Nhưng trước yêu cầu cấp bách của chiến trường, để đảm bảo giao thông, hàng trăm nghìn người mà nòng cốt là dân quân, tự vệ và phần lớn lực lượng công binh, bộ đội toàn quân khu đã được huy động, phối hợp với công binh của Bộ tập trung sửa chữa các tuyến đường giao thông chiến lược, trước hết là đường số 1 và đường số 15 cũng như làm đường đông Trường Sơn nhằm phục vụ kịp thời cho việc cơ động lực lượng và vận tải Bắc - Nam. Dọc các tuyến đường chiến lược từ Thanh Hóa đến khu vực Vĩnh Linh, các lực lượng bảo đảm giao thông Quân khu 4 ngày đêm rà phá thủy lôi, tháo gỡ bom, mìn nổ chậm, san lấp hố bom, tu sửa đường sá cầu cống và bắc thêm cầu phao qua sông.

Chỉ sau một tuần, kể từ ngày Mỹ ngừng ném bom đánh phá miền Bắc lần thứ hai, hầu hết cầu phao qua sông ở các vùng trọng điểm đã được công binh và nhân dân địa phương hoàn thành. Đặc biệt, trên địa phận tỉnh Quảng Bình, quân và dân địa phương đã khẩn trương chở đất đá san lấp cầu Dài qua sông Kiến Giang, sửa đường và bắc cầu qua các sông Long Đại, sông Ròn và Lý Hòa. Đến ngày 21 tháng 1 năm 1973, cầu phao đã bắc xong, đường thông xe. Riêng cầu phao qua sông Gianh có khó khăn hơn, nhưng đến ngày 22 tháng 2, cũng đã nối liền. Cũng thời gian này, việc sửa chữa đường sá, bắc cầu phao Hàm Rồng, Ghép (Thanh Hóa), Bến Thủy (Nghệ An) và nhiều cầu khác cũng được hoàn thành nhanh chóng. Số xe ô-tô vận tải chở hàng ra tiền tuyến từ 300 chiếc tăng lên 900 chiếc và cao điểm có ngày lên tới 1.500 chiếc, tạo thuận lợi cho chiến dịch vận tải năm 1973 (chiến dịch "ĐB3")1 của Bộ qua địa bàn Quân khu 4 được nhanh chóng, an toàn.

Tháng 1 năm 1973, các đơn vị vận tải của Bộ và quân khu gấp rút chuyển hàng vào miền Nam theo đường số 1 và đường số 15... Các đoàn xe của Cục Vận tải đường bộ và Tổng cục Hậu cần chở các loại vũ khí, khí tài, đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men và các loại hàng phục vụ dân sinh vào nam Quân khu 4 để tạo chân hàng, trong đó có các đoàn xe chạy thẳng vào chiến trường Trị - Thiên.

Chỉ trong 35 ngày tham gia chiến dịch vận tải "ĐB3", nhân dân và các lực lượng vận tải tỉnh Quảng Bình đã tiếp nhận và chuyển tiếp được trên 120.000 tấn hàng cho chiến trường Trị - Thiên và miền Nam, bằng 80 phần trăm khối luợng hàng hóa mà tỉnh đã vận chuyển trong năm 1972; khối lượng vận chuyển trong 10 ngày của chiến dịch này đã bằng một tháng của chiến dịch "VT5" năm 1968.

Tháng 2 năm 1973, quân và dân Quảng Bình lại tập trung hoàn thành vận chuyển 100 nghìn tấn hàng lên Khương Hà, Phong Nha giao cho Đoàn 559 chuyển tiếp cho chiến trường Lào. Trên tuyến đường số 7, lực lượng vận tải quân khu cũng hoàn thành sớm khối lượng hàng hóa vận chuyển sang Lào, đồng thời tạo được chân hàng dự trữ ở Nậm Cắn, Bản Ban để chuyển giao tiếp cho bạn.

Kết thúc đợt vận tải đầu năm 1973, quân khu đã hoàn thành vượt mức chỉ tiêu cả về khối lượng và thời gian, đạt 120 phần trăm kế hoạch trên giao, đạt 50 phần trăm so với tổng khối lượng hàng vận chuyển của cả mùa khô 1972 - 1973.

Vừa dồn sức đẩy mạnh hoạt động chi viện chiến trường, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh quân khu vừa chú trọng công tác xây dựng lực lượng vũ trang quân khu, nhằm đáp ứng yêu cầu tình hình nhiệm vụ mới.

Ngày 31 tháng 5 năm 1973, Bộ Tổng Tham mưu chỉ thị cho các lực lượng vũ trang là: xây dựng và huấn luyện đòi hỏi cấp thiết và khẩn trương, nhằm nâng cao chất lượng chiến đấu của lực lượng vũ trang, bảo đảm đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu trước mắt, đồng thời phải ra sức chuẩn bị mọi mặt để xây dựng và rèn luyện bộ đội theo hướng chính quy, hiện đại, cơ bản, hệ thống và toàn diện.

Chấp hành chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, ngày 12 tháng 6 năm 1973, Hội nghị Quân khu ủy 4 đề ra chủ trương: ra sức củng cố chấn chỉnh lực lượng ba thứ quân, phấn đấu nâng cao chất lượng, không tăng quân số, hợp lý hóa cơ cấu tổ chức, tăng thêm thành phần chiến đấu, kiện toàn đội ngũ cán bộ, tổ chức đảng và tăng cường trang bị kỹ thuật; đẩy mạnh huấn luyện cơ bản, tăng cường rèn luyện kỹ thuật cho bộ đội có sức chiến đấu cao; đồng thời ra sức xây dựng dân quân tự vệ mạnh, đảm bảo chiến đấu tại chỗ và làm các nhiệm vụ khác, xây dựng lực lượng hậu bị hùng hậu, phù hợp với yêu cầu xây dựng quân đội chính quy hiện đại, tác chiến hiệp đồng binh chủng.

Các lực lượng vũ trang quân khu đã khẩn trương ổn định biên chế tổ chức, trọng tâm là lực lượng vũ trang địa phương mà trước hết là các tỉnh phía nam quân khu và các đơn vị sẵn sàng chiến đấu.
_____________________________________________
1. Chiến dịch "ĐB3" là chiến dịch vận tải Điện Biên 3.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #113 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2024, 07:51:46 pm »


Đầu năm 1973, Quân khu đã kịp thời xây dựng sư đoàn 341 bộ binh (thiếu một trung đoàn) với đủ các bộ phận trực thuộc và hai tiểu đoàn pháo binh cơ giới, ổn định biên chế trung đoàn 167 pháo binh. Đồng thời, các tỉnh cũng tích cực xây dựng hoàn chỉnh các đơn vị bộ đội địa phương, đặc biệt là đã xây dựng xong trung đoàn 175 và tiểu đoàn 210 của Nghệ An, tiểu đoàn 361 và 365 của Quảng Bình và tiểu đoàn 271 của Hà Tĩnh. Đến quý 3 năm 1974, Quân khu thành lập thêm trung đoàn 80 thông tin, trung đoàn 89 công binh, trung đoàn 177 bộ binh. Công trường 774 được thành lập có nhiệm vụ xây dựng trường bắn phục vụ cho huấn luyện xe tăng. Quân khu còn tổ chức phân hiệu Lục quân 1 làm nhiệm vụ đào tạo sĩ quan. Nhờ tinh thần chủ động và tích cực đó, Quân khu đã thường xuyên đáp ứng kịp thời yêu cầu xây dựng, huấn luyện và bổ sung lực lượng cho các chiến trường trong mọi tình huống.

Từ đầu năm 1973, các tỉnh từ Thanh Hóa đến khu vực Vĩnh Linh đã xác định và xây dựng các trọng điểm phòng thủ trên từng khu vực. Bộ Tư lệnh quân khu cùng với cơ quan quân sự các tỉnh bố trí lại lực lượng, xây dựng thế trận phòng thủ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, với tinh thần ưu tiên cho các khu vực trọng điểm. Đến quý 3 năm 1974, Quân khu đã điều tiểu đoàn 14 Nguyễn Viết Xuân vào bảo vệ cảng Gianh thay trung đoàn 214 cao xạ vào bảo vệ Đồng Hới; điều một tiểu đoàn cao xạ của Quảng Bình vào ngã ba đường số 15 và đường số 10 thay cho trung đoàn 233 pháo cao xạ vào Hồ Xá để bảo vệ cầu Hiền Lương. Cuối năm 1974 đầu 1975, bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hóa đưa tiểu đoàn 4 cao xạ lên bảo vệ đập Bái Thượng, tiểu đoàn 7 cao xạ ra bảo vệ cầu Đò Lèn; bổ sung vũ khí, khí tài đạn dược cho đảo Mê, và đảo Nẹ; tăng cường lực lượng bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ cho các cụm phòng thủ của ba huyện Quảng Xương, Tĩnh Gia và Hoằng Hóa.

Song song với việc bố trí lại lực lượng, Quân khu và các tỉnh đội đã củng cố các đơn vị chiến đấu. Đến đầu năm 1975, Quân khu đã củng cố được 13 đại đội và 148 trung đội súng máy cao xạ, bốn đại đội cao xạ 37 ly, hai đại đội pháo bờ biển, 16 đại đội và 162 trung đội cơ động ở xã, cụm xã và huyện làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Đặc biệt, các tỉnh củng cố các đơn vị súng máy 12,7 ly sẵn sàng bắn máy bay bay thấp của địch. Nghệ An có 13 đại đội và 6 trung đội, Hà Tĩnh có 40 đại đội, Quảng Bình có 44 đại đội và Vĩnh Linh có 17 đại đội. Hệ thống quan sát, trạm gác, trạm báo động phòng không từ đèo Ngang đến Vĩnh Linh và đảo Cồn Cỏ đã được hoàn chỉnh. Các hệ thống công sự phục vụ cho phòng thủ, chiến đấu và sơ tán vũ khí, khí tài được củng cố chu đáo. Quân khu đã tăng cường cán bộ, nhân viên kỹ thuật cho các kho, trạm. Ngoài ra, các đoàn an dưỡng 405, 200 và đoàn 70 của quân khu, đoàn 585 và 595 của Thanh Hóa cùng được chấn chỉnh. Quảng Bình giải thể đoàn 80 và rút gọn đoàn 205, đáp ứng kịp thời và đầy đủ yêu cầu tiếp nhận, nuôi dưỡng thương bệnh binh từ chiến trường gửi ra.

Từ năm 1973 trở đi, theo yêu cầu tuyển quân bổ sung cho chiến trường, hàng năm các địa phương trong quân khu đã đưa hàng chục nghìn dân quân, tự vệ vào bộ đội, đồng thời thường xuyên tuyển chọn thanh niên, quân nhân phục viên và quần chúng tích cực bổ sung vào dân quân, tự vệ một cách kịp thời. Lực lượng dân quân, tự vệ thường xuyên có hàng trăm nghìn người, chiếm từ 10 đến 12 phần trăm dân số.

Hai năm 1973, 1974, Quân khu đã xây dựng được đội ngũ cán bộ tăng gấp 10 lần so với năm 1965, đảm bảo chất lượng đáp ứng kịp thời và đầy đủ cho xây dựng và phát triển lực lượng, bổ sung đi các hướng chiến trường.

Trong điều kiện luôn luôn biến động về quân số do phải thường xuyên bổ sung lực lượng lớn cho chiến trường, nên tổ chức đảng và đảng viên cũng biến động theo. Quân khu, các tỉnh đã chú ý bổ sung, kiện toàn, phát triển tổ chức đảng và đảng viên trong các đơn vị lực lượng vũ trang. Do đó, đến năm 1974, tổng số đảng viên trong lực lượng vũ trang quân khu có 22.433 đồng chí, chiếm tỷ lệ lãnh đạo chung là 38,8 phần trăm và được tổ chức thành 1.234 chi bộ. Tất cả các đơn vị cơ sở chiến đấu đều có chi bộ, 86,7 phần trăm số trung đội có tổ đảng, khẩu đội và tiểu đội có đảng viên.

Từ năm 1973 trở đi, cơ quan quân khu và các tỉnh, huyện, các đơn vị liên tiếp mở nhiều lớp huấn luyện cán bộ cho bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ, kể cả bộ binh và binh chủng dưới hình thức tập trung và tại chức. Đội ngũ cán bộ được bồi dưỡng về kỹ thuật, chiến thuật và phương pháp tổ chức huấn luyện. Bằng các hình thức phong phú, linh hoạt, Quân khu và các tỉnh đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ gồm hàng chục nghìn người kể cả bộ đội và dân quân, tự vệ, cả bộ binh và binh chủng1.

Để hoàn thành kế hoạch huấn luyện trong hai năm (1974-1975) tháng 2 năm 1974, Quân khu ủy họp xác định: phải đưa công tác huấn luyện thành một cao trào rèn luyện cán bộ, bộ đội thật sự có hiệu quả cao, tạo ra chất lượng mới, sức chiến đấu mới để xây dựng quân đội chính quy và hiện đại.

Các đơn vị bộ đội chủ lực và địa phương, kể cả bộ binh và binh chủng toàn quân khu đã dấy lên phong trào thi đua sôi nổi giành chất lượng huấn luyện cao nhất, hoàn thành và đạt kết quả 100 phần trăm trở lên, trong đó đa số đạt khá và giỏi2. Nổi bật trong phong trào huấn luyện là đại đội 21 Nghệ An, cả bốn môn kiểm tra đều đạt giỏi. Cùng với huấn luyện bộ đội, phong trào rèn luyện dân quân, tự vệ cũng được triển khai toàn diện và kịp thời.

Chiến trường đòi hỏi ngày càng lớn, yêu cầu tuyển quân và huấn luyện ngày càng nhiều, Quân khu chủ động tổ chức đoàn 22 huấn luyện quân, đưa từ sáu tiểu đoàn lên chín tiểu đoàn. Tỉnh Thanh Hóa cũng hoàn thành việc củng cố tám tiểu đoàn khung huấn luyện của trung đoàn 14.

Năm 1973, Quân khu 4 giao hơn 19.500 quân, đạt 127 phần trăm chỉ tiêu. Tỉnh Thanh Hóa giao gần 14.600 quân, đạt 106,5 phần trăm chỉ tiêu.

Năm 1974, Quân khu giao trên 17.900 quân và Thanh Hóa giao 13.000, đạt chỉ tiêu trên giao.
______________________________________________
1. Kết quả bồi dưỡng huấn luyện cán bộ của quân khu qua các năm:
- Năm 1973, bồi dưỡng huấn luyện trên 22.000 cán bộ các cấp gồm bộ đội, du kích và cả bộ binh, binh chủng.
- Năm 1974, huấn luyện tập trung cho 358 cán bộ, bộ đội bộ binh từ cấp tiểu đoàn tới cấp sư đoàn, cán bộ tỉnh đội, huyện đội và 310 cán bộ các binh chủng. Các tỉnh và huyện huấn luyện cho 685 cán bộ bộ địa phương từ cấp trung đội đến cấp tiểu đoàn, trên 10.000 cán bộ dân quân và tự vệ từ xã đội phó đến huyện đội phó.
- Năm 1975, Quân khu bồi dưỡng được gần 7.000 cán bộ, bộ đội và dân quân, tự vệ.

2. Năm 1974, kiểm tra bắn súng bộ binh bài 1, có 23 trên 26 tiểu đoàn đạt kết quả tốt và 110 trên 175 đại đội bộ binh đạt loại giỏi; 11 trên 45 tiểu đoàn và 16 trên 50 đại đội binh chủng đạt loại giỏi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #114 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2024, 07:54:03 pm »


Bước vào năm 1975, Bộ Quốc phòng giao cho Quân khu 4 và tỉnh Thanh Hóa đảm bảo tuyển quân và huấn luyện với chỉ tiêu rất lớn, chủ yếu tập trung vào đợt đầu năm.

Quân khu ủy và các tỉnh ủy xác định: công tác tuyển quân năm 1975 được coi như một chiến dịch, phải được chuẩn bị rất chu đáo và tổ chức chặt chẽ. Từ nhận thức đó, Quân khu cùng với các tỉnh và huyện đã tập trung mọi khả năng, phương tiện và huy động tối đa cán bộ và các ngành các cấp xuống tận cơ sở, đi vào quần chúng để tuyên truyền giáo dục, trên cơ sở đó phát động quần chúng nêu cao tinh thần làm chủ trong công tác tuyển quân.

Được phát động, nhân dân khắp các tỉnh trong quân khu đâu đâu cũng rộ lên các phong trào: đăng ký ghi tên tòng quân, viết đơn tình nguyện đi bộ đội. Thời kỳ này xuất hiện phong trào "ba cử, ba nguyện" trong các đoàn thể, trong hợp tác xã và từng gia đình. Đến ngày 15 tháng 6 năm 1975, hậu phương Khu 4 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giao quân cả năm trong một đợt, vượt chỉ tiêu trên giao và bằng năm 1965 là năm cao nhất về tuyển quân trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước1.

Bộ Tư lệnh quân khu đã huy động trung đoàn 185 tỉnh Quảng Bình và trung đoàn 273 sư đoàn 341 chủ lực của quân khu làm đường tránh ở Long Đại, điều một tiểu đoàn của trung đoàn 270 bổ sung cho công trường 71 làm đường số 22C. Đồng thời, lực lượng vũ trang cùng nhân dân địa phương còn phối hợp với Đoàn 559 và lực lượng công binh của Bộ làm đường đông Trường Sơn để hoàn chỉnh mạng giao thông Bắc - Nam, phục vụ kịp thời cho các chiến trường.

Cùng với làm đường chiến lược, các địa phương đã huy động hàng trăm nghìn dân quân, du kích, tự vệ và bộ đội địa phương mở các con đường trong tỉnh, phục vụ cho vận chuyển hàng hóa và cơ động lực lượng. Vĩnh Linh khôi phục được 32 ki-lô-mét, tiểu đoàn 7 Quảng Bình làm mới 75 ki-lô-mét đường rú Bung...

Trên cơ sở hệ thống giao thông chiến lược Bắc - Nam ngày càng mở rộng, năng lực vận chuyển đường bộ, đường biển năm 1973 được tăng thêm, nên khối lượng hàng vận chuyển từ trung ương vào Quân khu 4 và đến các chiến trường tăng lên gấp bội. Ở Quảng Bình, hàng từ trung ương đưa vào đã tăng lên tới 330.000 tấn. Các đoàn xe ô-tô chở hàng chục nghìn tấn hàng đã qua Quân khu 4 vào tận vùng giải phóng Đông Hà, Cam Lộ tỉnh Quảng Trị, tạo chân hàng dồi dào cho Đoàn 559 chuyển tiếp vào chiến trường xa.

Từ năm 1974 đến đầu năm 1975, trên các trục đường chiến lược, xe vận tải nối đuôi nhau chạy suốt ngày đêm chở quân, dồn hàng vào chiến trường. Các đơn vị vận tải tranh thủ thời gian, phấn đấu tăng chuyến, tăng khối lượng vận chuyển, đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch vận chuyển chi viện của Trung ương giao2. Lực lượng vũ trang quân khu và nhân dân một số địa phương (chủ yếu là Quảng Bình) đã phối hợp cùng bộ đội xăng dầu Đoàn 559 củng cố và phát triển tuyến đường ống xăng dầu đi qua địa bàn quân khu.

Cùng với vận tải chi viện chiến trường, nhân dân và các lực lượng vũ trang quân khu đã tạo được lượng vật chất dự trữ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu cho mọi lực lượng hoạt động ở nội địa cũng như ở chiến trường Lào. Năm 1973, lượng vật chất dự trữ của quân khu đạt trên 5.000 tấn. Năm 1974, lượng vật chất dự trữ đảm bảo cho các đơn vị hoạt động trên đất liền là 15 ngày và ở hải đảo được sáu tháng, cho các đơn vị hoạt động ở Lào là 1.815 tấn các loại, đủ cho 3.000 quân hoạt động liên tục.

Năm 1973, các tỉnh hậu phương Khu 4 lại tiếp tục bổ sung cho các chiến trường và các đơn vị của Bộ gần 14.000 quân. Năm 1974, bổ sung cho chiến trường 20 tiểu đoàn, cho Bộ một tiểu đoàn, một đại đội và 300 quân. Đồng thời, các đoàn an dưỡng của quân khu, của tỉnh đội đã tổ chức tiếp nhận, nuôi dưỡng hàng chục nghìn thương bệnh binh từ các chiến trường gửi về một cách tận tình, chu đáo. Được sự chăm sóc tận tình của hậu phương, thương binh, bệnh binh nhanh chóng khỏi bệnh, chóng lành vết thương. Một số người sau khi phục hồi sức khỏe đã trở lại chiến trường tiếp tục chiến đấu. Những người không đủ sức khỏe phục vụ trong các lực lượng vũ trang, được giải quyết chính sách đầy đủ để trở về xây dựng hậu phương.
_____________________________________________
1. Năm 1965, tỉ lệ tuyển quân so với dân số là 1,4 phần trăm. Từ 1965 đến 1975, các tỉnh hậu phương từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh đã đưa trên 452.400 người vào bộ đội, trong đó Thanh Hóa có gần 196.000 người. Riêng 1975, Thanh Hóa tuyển được gần 21.000 quân, vượt chỉ tiêu 10 phần trăm.
2. Trong hai năm 1973-1974, Quân khu 4 tiếp tục vận chuyển hàng cho các hướng chiến trường: Quảng Trị đạt 150 phần trăm, Thừa Thiên 110 phần trăm, Quân khu 5 đạt 145 phần trăm...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #115 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2024, 07:56:35 pm »


*

*       *

Cùng với thắng lợi của nhân dân ta, cuộc chiến đấu anh dũng của quân và dân Lào cũng giành được thắng lợi to lớn; đánh bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt tăng cường" của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải ký Hiệp định Viêng Chăn "về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Lào", ngày 21 tháng 2 năm 1973.

Không cam chịu thất bại, đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục đeo đuổi chính sách thực dân kiểu mới ở Lào, hỗ trợ cho lực lượng phái hữu Viêng Chăn bằng mọi cách phá hoại Hiệp định, tiến công lấn chiếm vùng giải phóng, hòng làm suy yếu lực lượng cách mạng Lào. Cuộc đấu tranh cách mạng ở Lào vì thế còn tiếp diễn; nhiệm vụ giúp Lào của nhân dân Việt Nam mà trực tiếp là Quân khu 4 vẫn rất nặng nề.

Theo yêu cầu của bạn, ngày 2 tháng 3 năm 1973, Quân ủy Trung ương đề ra nhiệm vụ cho lực lượng tình nguyện Việt Nam ở Lào là: "Phải phối hợp cùng bạn bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, nhất là ở các địa bàn quan trọng, giúp bạn bảo vệ những thành quả cách mạng đã giành được". Đồng thời, Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Quân khu 4 giúp bạn ở khu vực Trung Lào gồm các tỉnh Khăm Muộn, Bô Ly Khăm Xay và huyện Mường Mộc thuộc tỉnh Xiêng Khoảng.

Ngày 23 tháng 4 năm 1973, Thường vụ Quân khu ủy 4 họp xác định: đoàn kết chặt chẽ với đảng bộ, với quân và dân bạn đấu tranh buộc địch thi hành hiệp định đã ký kết, tình huống nào cũng phải kiên quyết giúp bạn đánh bại mọi cuộc lấn chiếm của địch, bảo vệ và củng cố vùng giải phóng vững mạnh toàn diện, đồng thời phải tập trung nhanh chóng nâng cao chất lượng và sức chiến đấu của ta.

Năm 1973, lực lượng tình nguyện của quân khu hoạt động ở Trung Lào gồm đoàn 128, trung đoàn 176, hai đoàn chuyên gia và các đơn vị tham gia chiến dịch 872 và 972. Lực lượng tình nguyện của quân khu đã hỗ trợ bạn đánh 70 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn bốn trăm tên địch, bắt 53 tên, gọi hàng 200 tên, bắn rơi bốn máy bay, thu một số vũ khí và phương tiện chiến tranh của chúng.

Chiến thắng của bạn trong năm 1973 là đòn trừng trị đích đáng hành động lấn chiếm của địch. Được sự hỗ trợ của lực lượng tình nguyện. Bạn giữ vững được vùng giải phóng, củng cố được thế phòng thủ ở giáp ranh.

Tháng 1 năm 1974, Bộ quyết định hợp nhất tiểu đoàn 43 Nghệ An đang hoạt động ở Lào vào trung đoàn 176 gồm 2.200 quân và 200 chuyên gia. Hai tháng sau, Quân khu sát nhập trung đoàn bộ trung đoàn 176 vào đoàn 128 với lực lượng biên chế là bốn tiểu đoàn bộ binh và các phân đội trực thuộc, tổng quân số là 3.000. Lúc này, lực lượng vũ trang của bạn đã trưởng thành, thế trận chiến tranh nhân dân được củng cố vững chắc, đủ khả năng độc lập phòng thủ trên tuyến tiếp xúc với địch. Vì thế, tháng 4 năm 1974, lực lượng bộ đội tình nguyện lùi về tuyến sau để củng cố, sẵn sàng hỗ trợ cho bạn đánh địch lấn chiếm, đồng thời giúp bạn xây dựng và huấn luyện lực lượng vũ trang, xây dựng cơ sở quần chúng cách mạng.

Lực lượng quân tình nguyện một mặt tiếp tục giúp bạn củng cố các chốt để giữ vững thế đứng chân ở phía trước, mặt khác vừa tranh thủ giúp cơ quân quân sự của bạn hoàn thành phương án, kế hoạch phòng thủ, vừa huấn luyện cho lực lượng vũ trang của bạn nâng cao sức mạnh chiến đấu. Sức chiến đấu của bộ đội Lào được nâng lên cả về kỹ thuật và chiến thuật, đủ khả năng độc lập đánh địch, giữ chốt, nhất là ở Khăm Muộn và Bô Ly Khăm Xay.

Sau khi kiện toàn biên chế, tổ chức, Quân khu đã đưa ba tiểu đoàn lên phía trước, bố trí trên ba hướng là đường số 7, đường số 8 và đường số 12 để làm nhiệm vụ giúp bạn phòng thủ, đánh địch lấn chiếm đồng thời bố trí một tiểu đoàn ở phía sau làm nhiệm vụ dự bị cơ động, sẵn sàng tăng cường cho các hướng đánh địch.

Giữa năm 1974, Quân ủy Trung ương giao thêm cho Quân khu 4 giúp bạn ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Để đảm bảo cho quân khu đủ sức đảm nhiệm địa bàn mới, Quân ủy Trung ương cũng giao cho quân khu lãnh đạo, chỉ huy toàn diện sư đoàn 31. Mọi công việc nhận bàn giao sư đoàn 31 đến ngày 1 tháng 8 năm 1974 đã được hoàn tất.

Đến tháng 8 năm 1974, các lực lượng tình nguyện của quân khu ở Lào đã ổn định về biên chế tổ chức, được bố trí phù hợp với nhiệm vụ mới, đảm bảo cùng lực lượng vũ trang của bạn đánh địch lấn chiếm, giữ vững vùng giải phóng và hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh buộc địch thi hành Hiệp định Viêng Chăn.

Vừa giúp bạn đánh địch lấn chiếm, bảo vệ vùng giải phóng, xây dựng lực lượng vũ trang, lực lượng chuyên gia và quân tình nguyện vừa tích cực bám sát quần chúng tuyên truyền vận động nhân dân bạn xây dựng và củng cố được chính quyền cách mạng ở Mường Mộc, bảy xã và 18 bản ở Noọng Bốc cùng với năm xã và 35 bản ở Thà Khẹt1.

Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh quân khu còn chỉ đạo, tổ chức lực lượng tình nguyện tranh thủ thời gian giúp bạn sửa chữa đường số 8A, đường số 8B, đồng thời mở thêm tuyến đường từ Căm Kớt đi Xa La Phu Khun dài 54 ki-lô-mét cho xe cơ giới cơ động ra tuyến trước và phục vụ vận chuyển.

Năm 1974 vừa củng cố lực lượng, vừa hỗ trợ cho bạn đánh địch lấn chiếm, tiễu phỉ, bộ đội tình nguyện còn huy động 310.000 ngày công và 1.438 kíp máy giúp bạn làm đường mới, tu sửa đường cũ trên các tuyến ở Khăm Muộn và Bô Ly Khăm Xây, mở con đường mới từ Căm Kớt đi Hin Bun, sửa chữa nâng cấp các đường số 8A, 8B, tu sửa các đường số 7 và 12. Trong năm 1974, ta đã giúp bạn xây dựng được 120 ki-lô-mét đường mới, sửa chữa 200 ki-lô-mét đường cũ.

Trên hướng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, được Bộ và quân khu tăng cường trung đoàn 229 và tiểu đoàn 27 công binh, sư đoàn 31 bộ binh đã chủ động sử dụng lực lượng bộ binh, binh chủng và phương tiện kỹ thuật để sửa chữa đường, đảm bảo cho đơn vị cơ động chiến đấu2.

Vừa giúp bạn xây dựng mạng đường, Quân khu vừa khắc phục mọi khó khăn gian khổ, tổ chức lực lượng vận chuyển vật chất các loại cung cấp cho chiến trường Lào, đảm bảo đầy dủ kịp thời yêu cầu tác chiến và dự trữ hậu phương của ta và bạn.

Để hoàn thành nhiệm vụ nặng nề đó, Cục Hậu cần quân khu xác định cho các ngành, các cấp và các lực lượng đẩy nhanh tốc độ vận chuyển, đảm bảo cung cấp đủ kịp thời và đúng chủng loại cho chiến trường Lào. Đồng thời, Quân khu nhanh chóng tổ chức lực lượng vận tải gồm tiểu đoàn 32 và trung đoàn 1 tỉnh Nghệ An. Lực lượng đảm bảo vận tải có binh trạm 1, tiểu đoàn 44 công binh...

Được giao nhiệm vụ, tất cả các lực lượng đã phát huy tinh thần chủ động, nỗ lực cao độ, nhanh chóng triển khai thực hiện nhiệm vụ với quyết tâm đạt kết quả cao nhất vận chuyển vật chất đủ nhất và kịp thời nhất cho chiến trường Lào. Lực lượng vận tải quân khu cùng với quân tình nguyện hoạt động ở Lào đã hoàn thành và hoàn thành vượt chỉ tiêu trên giao, đảm bảo đủ nhu cầu tác chiến và xây dựng của lực lượng ta và bạn3.

Những hoạt động của lực lượng tình nguyện Quân khu 4 trên chiến trường Trung - Hạ Lào góp phần củng cố tình đoàn kết chiến đấu Việt - Lào, là nhân tố hỗ trợ tích cực cho nhân dân các bộ tộc Lào đưa sự nghiệp cách mạng của bạn đến toàn thắng.

Kể từ sau khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, trong điều kiện có hòa bình, quân và dân các tỉnh từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh đã không quản hy sinh gian khổ, khó khăn, góp phần xứng đáng cùng cả nước phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc và làm tròn nhiệm vụ quốc tế.
______________________________________________
1. Lực lượng tình nguyện cùng bạn đưa 750 thanh niên nhập ngũ, phát triển 169 du kích ở Noọng Bốc và Thà Khẹt. Ở Mường Mộc ta giúp bạn xây dựng và huấn luyện hai trung đội bộ đội địa phương huyện với quân số 70 người, tổ chức được hai trung đội và một đại đội du kích gồm 221 người, ba xã có ban xã đội. Tất cả các lực lượng đều tích cực hoạt động đánh địch, tiễu phỉ, bảo vệ an toàn cho địa phương.
2. Quý 1 năm 1975, sư đoàn 31 huy động 18.600 công của hai trung đoàn bộ binh và ba đại đội trực thuộc, 6.300 ki-lô-gam thuốc nổ và một số nguyên vật liệu khác sửa chữa được 156 ki-lô-mét đường ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.
Quý 3 năm 1975, sư đoàn 31 huy động 60.000 công và nhiều nguyên vật liệu, phương tiện mở 60 ki-lô-mét đường từ Lạt Luông đi Sảm Thông để đưa xe, pháo đến Sảm Thông - Long Chẹng hỗ trợ cho bạn; đồng thời, bảo đảm đường số 7A và đường số 4 thông suốt trong mùa mưa.

3. Mùa khô 1973-1974, lực lượng vận tải của quân khu đã vận chuyển cung cấp cho chiến trường Lào 5.120 tấn hàng các loại, vượt chỉ tiêu trên giao là 443 tấn (riêng vận chuyển cung cấp cho lực lượng tình nguyện của quân khu 2.182 tấn).
Mùa khô 1974-1975, Quân khu hoàn thành việc tổ chức vận chuyển 7.500 tấn hàng cho chiến trường Lào.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #116 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2024, 07:59:16 pm »


III. GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN TRỊ - THIÊN,
CÙNG CẢ NƯỚC KẾT THÚC THẮNG LỢI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

Sau hai năm vừa đánh địch, vừa tạo thế tạo lực, quân và dân Trị - Thiên đã trưởng thành toàn điện và vững chắc. Lực lượng vũ trang Quân khu và Quân đoàn 2 đã được bố trí trên các địa bàn chiến lược quan trọng ở miền núi và vùng giáp ranh, hình thành thế xen kẽ với địch, tạo thế uy hiếp chung ở nông thôn đồng bằng và thành phố Huế. Vùng giải phóng được xây dựng vững mạnh toàn diện, chiến trường được tổ chức tương đối hoàn chỉnh, lại được sự chi viện tích cực của hậu phương mà trực tiếp là Quân khu 4 và Thanh Hóa, nên Trị - Thiên đã có lượng dự trữ vật chất lớn đủ đảm bảo cho tiến công và nổi dậy khi có thời cơ.

Bước phát triển về thế và lực của cách mạng ở Trị - Thiên là nhân tố góp phần quan trọng tạo nên sự thay đổi cục diện chiến trường miền Nam ngày càng có lợi cho ta, bất lợi cho địch.

Trên cơ sở so sánh thế và lực của ta và địch trên chiến trường, tháng 10 năm 1974 và tiếp đến tháng 1 năm 1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết lịch sử: giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 và 1976.

Tháng 10 năm 1974, Quân ủy Trung ương triệu tập Thường vụ Quân khu ủy Trị - Thiên ra Hà Nội nhận nhiệm vụ của chiến trường Trị - Thiên - Huế năm 1975. Quân ủy Trung ương chỉ rõ nhiệm vụ của Trị - Thiên là: "Đánh bại về cơ bản bình định của địch, tạo ra ở Trị - Thiên một tình thế mới có ý nghĩa quyết định để chuẩn bị cho giành thắng lợi trong năm 1976, giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên - Huế"1. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, Quân ủy Trung ương cho rằng: Trị - Thiên - Huế phải tiến hành một chiến dịch tổng hợp, nhằm tiêu diệt và làm tan rã một phần quan trọng sinh lực địch, tạo điều kiện đánh bại về cơ bản bình định của chúng ở đồng bằng, giành phần lớn nhân dân, giành quyền làm chủ, khi địch đã hoang mang giao động thì phải nhanh chóng chớp lấy thời cơ tiến lên hành động mạnh bạo, giành thắng lợi to lớn nhất. Phải có kế hoạch "cơ bản" và kế hoạch "thời cơ" để giành thắng lợi hoàn toàn.

Đầu tháng 12 năm 1974, Khu ủy Trị - Thiên họp đề ra nhiệm vụ năm 1975: đẩy mạnh tiến công tổng hợp trên cả ba vùng, tiêu diệt, tiêu hao lực lượng địch, phá hẳn thế phân tuyến và đánh bại về cơ bản kế hoạch bình định của địch, giành dân, giành quyền làm chủ ở nông thôn đồng bằng, nhằm làm thay đổi cục diện chiến trường trên toàn địa bàn quân khu. Nếu có thời cơ đột xuất thì tận dụng một cách có hiệu quả nhất, giành thắng lợi một bước nhảy vọt.

Khu ủy cũng nhấn mạnh: phá thế phân tuyến và đánh bại về cơ bản kế hoạch bình định của địch, giành dân, giành quyền làm chủ ở nông thôn, đồng bằng là nhiệm vụ trung tâm số một của Trị - Thiên - Huế.

Về nhiệm vụ quân sự, Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh quân khu xác định: "Tập trung toàn bộ lực lượng, tranh thủ thời cơ thuận lợi của năm 1975, đẩy mạnh tiến công tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, đánh bại về cơ bản kế hoạch bình định của địch ở Trị - Thiên, giành từ 35 vạn dân ở nông thôn đồng bằng, phát động cao trào đấu tranh chính trị ở thành phố, đánh mạnh kho tàng hậu cứ, triệt phá giao thông, tích cực sáng tạo thời cơ và sẵn sàng chớp thời cơ tiến lên giành thắng lợi lớn kể cả giải phóng Huế"2.

Quân khu dự kiến trong năm 1975 sẽ mở hai chiến dịch tiến công tổng hợp ở Trị - Thiên - Huế là: chiến dịch xuân - hè từ tháng 3 đến tháng 5 và chiến dịch mùa thu vào tháng 7 và tháng 8. Cùng với kế hoạch cơ bản, Quân khu còn dự kiến kế hoạch thời cơ, kế hoạch nghi binh địch và xác định: trong chiến dịch xuân - hè 1975, trọng điểm đánh phá bình định, giành dân là các huyện Phong Điền, Quảng Điền thuộc bắc Huế; trọng điểm quân sự và giành dân là các huyện Hương Thủy, Phú Vang, Phú Lộc thuộc nam Thừa Thiên.

Thực hiện quyết tâm và kế hoạch của quân khu, chiến trường Trị - Thiên - Huế hình thành hai mặt trận: đồng bằng và giáp ranh để hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau phát triển. Nhiệm vụ của mặt trận đồng bằng là trực tiếp phá bình định của địch và ở giáp ranh là tiêu hao tiêu diệt, thu hút và kiềm chế địch, thiết thực hỗ trợ cho mặt trận đồng bằng. Toàn bộ chiến trường Trị - Thiên được chia thành năm khu vực tiến công: khu vực Quảng Trị, khu vực bắc Thừa Thiên, khu vực thành phố Huế và ven đô, khu vực đồng bằng nam Huế, khu vực đánh giao thông trên trục đường số 1 từ động Truồi đến đèo Hải Vân thuộc huyện Phú Lộc. Theo kế hoạch, Quân đoàn 2 tập trung lực lượng đảm nhiệm tiến công địch trên hướng chủ yếu của chiến dịch - từ đường số 14, khu vực Mỏ Tàu, cao điểm 303 trở vào nam Thừa Thiên. Lực lượng vũ trang Quân khu Trị - Thiên chịu trách nhiệm đánh địch ở mặt trận đồng bằng và các hướng còn lại trên toàn tuyến giáp ranh. Khu vực Quảng Trị có trung đoàn 46 bộ binh, một đại đội xe tăng và tiểu đoàn 6 pháo binh quân khu, năm tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh cùng với bộ đội địa phương, du kích của năm huyện ở Quảng Trị và 51 đội vũ trang công tác.

Khu vực nam Thừa Thiên gồm các huyện Phong Điền, Quảng Điền và Hương Trà, sử dụng lực lượng trung đoàn 4 bộ binh, đại đội 25 đặc công quân khu, tiểu đoàn 10 chủ lực tỉnh và bộ đội địa phương ba huyện cùng với 11 đội vũ trang công tác.

Khu vực đồng bằng nam Huế gồm các huyện Hương Thủy, Phú Vang và ven đô: lực lượng có tiểu đoàn 4 bộ binh và một đại đội đặc công của tỉnh, bộ đội địa phương huyện và 31 đội vũ trang công tác.

Khu vực Phú Lộc: sử dụng tiểu đoàn 5 (thiếu một đại đội) và tiểu đoàn 21 bộ binh quân khu, một đại đội đặc công của tỉnh, bộ đội địa phương huyện Phú Lộc và 14 đội vũ trang công tác. Ngoài ra có bốn trung đội bộ đội địa phương và hơn 100 du kích của các quận 1 và 2 miền núi Thừa Thiên tăng cường xuống chiến đấu ở giáp ranh hai huyện Phú Lộc, Hương Thủy.
______________________________________________
1, 2. Lê Tự Đồng: Trị - Thiên - Huế Xuân 1975, Nxb Quân đội nhân dân. Hà Nội, 1983, tr.45.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #117 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2024, 08:01:20 pm »


Thời kỳ đầu chiến dịch, sở chỉ huy quân khu tách làm hai bộ phận – sở chỉ huy tiền phương đặt ở nam Thừa Thiên do các đồng chí Lê Tự Đồng, Nguyễn Chi trực tiếp chỉ huy toàn bộ cánh nam và trực tiếp hiệp đồng tác chiến với Quân đoàn 2. Sở chỉ huy cơ bản do các đồng chí Hồ Tú Nam, Dương Bá Nuôi, Trần Văn Ân trực tiếp chỉ huy chiến đấu ở cánh bắc Huế và Quảng Trị.

Để thống nhất lãnh đạo chỉ huy chung toàn mặt trận Trị - Thiên - Huế, ngày 8 tháng 2 năm 1975, Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định thành lập Đảng ủy mặt trận Trị — Thiên, thành phần gồm có Khu ủy và Quân khu ủy Trị - Thiên, Đảng ủy Quân đoàn 2, đồng thời chỉ định đồng chí Lê Tự Đồng, Bí thư khu ủy kiêm Bí thư quân khu ủy làm Bí thư Đảng ủy mặt trận1.

Thời gian mở màn chiến dịch thống nhất trên toàn miền Nam là ngày 5 tháng 3 năm 1975. Xuất phát từ tình hình thực tế của chiến trường Trị - Thiên và để phối hợp chặt chẽ với chiến dịch Tây Nguyên, Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đã thống nhất lấy ngày mở màn chiến dịch ở Trị - Thiên là ngày 8 tháng 3 năm 1975.

Toàn bộ kế hoạch chiến dịch xuân - hè 1975 ở Trị Thiên - Huế đã được hội nghị Đảng ủy mặt trận nhất trí thông qua ngày 21 tháng 2 năm 1975. Cuối tháng 2, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh thông qua lần cuối kế hoạch và chỉ thị cho Đảng ủy, Bộ Tư lệnh mặt trận phải có biện pháp để hiệp đồng thống nhất, ăn khớp giữa mặt trận đồng bằng và mặt trận giáp ranh, phải đưa được lực lượng lớn về đồng bằng và thành phố.

Đây là hai vấn đề rất quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với nhiệm vụ tiến công và nổi dậy vào xuân - hè 1975 trên toàn chiến trường Trị - Thiên - Huế. Trước vấn đề rất hệ trọng này, Thường vụ khu ủy đã quyết định:

- Phải đồng loạt tiến công địch trên cả hai mặt trận giáp ranh và đồng bằng, buộc địch phải bị động đối phó khắp nơi, không có khả năng tập trung lực lượng cùng một lúc phản kích lớn ở nhiều hướng, nhiều khu vực và nhiều mục tiêu. Tạo điều kiện cho mặt trận giáp ranh và đồng bằng phối hợp được chặt chẽ và hỗ trợ đắc lực cho nhau.

- Phải đưa lực lượng lớn của ta xuống đồng bằng ngay từ đầu chiến dịch để hành động đồng loạt, phối hợp chặt chẽ giữa hai mặt trận đồng bằng và giáp ranh.

Những ngày cuối tháng 2, đầu tháng 3 năm 1975, trong lúc cả quân khu đang gấp rút bước vào thực hiện kế hoạch chiến dịch thì cục diện chiến trường miền Nam chuyển biến hết sức mau lẹ. Đúng ngày 5 tháng 3 năm 1975, cuộc tiến công của quân và dân ta đồng loạt nổ ra trên khắp miền Nam.

Để kịp thời phối hợp với chiến trường toàn miền Nam và chiến dịch Tây Nguyên, Thường vụ khu ủy và Đảng ủy mặt trận Trị - Thiên - Huế quyết định chỉ đạo các lực lượng vũ trang đẩy mạnh hoạt động đánh địch tạo thế, kết hợp với diễn tập nghi binh và triển khai lực lượng phát triển về đồng bằng chuẩn bị cho tổng tiến công và nổi dậy.

Từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 3, các lực lượng vũ trang quân khu đã tổ chức nhiều trận đánh nhỏ, đều khắp trên chiến trường Trị - Thiên, gây cho địch nhiều thiệt hại. Tiểu đoàn 21 bộ binh liên tiếp đánh các đoàn xe địch trên đèo Hải Vân, làm tắc nghẽn giao thông Huế - Đà Nẵng của địch. Tiểu đoàn 8 Quảng Trị cùng với lực lượng du kích của các huyện phía sau, tiếp tục vây ép địch ở các điểm cao 367, động Ông Do trên tuyến phòng thủ của địch ở Quảng Trị, buộc chúng phải rút bỏ 11 chốt ở khu vực này. Đại đội 25 đặc công đánh sập cầu An Lỗ trên đường số 1. Lực lượng pháo binh quân khu và tỉnh liên tục bắn vào các mục tiêu của địch ở ấp 5, Đồng Lâm...

Cũng thời gian này, để đánh lạc hướng phán đoán của địch ở bắc Quảng Trị, lực lượng vũ trang tỉnh cùng với trung đoàn 9 sư đoàn 304 tiến hành cuộc diễn tập thực binh trên hai hướng. Hướng chủ yếu ở Thanh Hội, Cửa Việt, Long Quang. Hương thứ yếu ở Ái Tử, Như Lệ, Tích Tường.

Với cuộc diễn tập thực binh ở bắc Quảng Trị, một mặt ta đã bí mật rút sư đoàn 325 và trung đoàn 9 của sư đoàn 304 từ bắc Quảng Trị vào nam Thừa Thiên, tập trung lực lượng cho hướng chủ yếu của chiến dịch mà vẫn giữ vững được tuyến phòng thủ. Mặt khác, cuộc diễn tập đã làm cho địch hốt hoảng, bị động, không phán đoán nổi hướng tiến công chủ yếu của ta trên chiến trường Trị - Thiên. Do đó, địch vội vàng tăng cường lực lượng bố phòng trên tuyến tiếp xúc bắc Quảng Trị, tạo thuận lợi cho ta chuẩn bị tiến công trên hướng chủ yếu của chiến dịch ở nam Thừa Thiên.

Được hoạt động quân sự hỗ trợ, các lực lượng của ta phát triển về đồng bằng không quản gian khổ hy sinh, bí mật vượt qua các hệ thống phòng ngự ngăn chặn dày đặc của địch, móc nối xây dựng cơ sở và phát triển thực lực cách mạng. Đến ngày 7 tháng 3, khoảng 3.000 tay súng, trong đó có năm tiểu đoàn bộ binh, hai tiểu đoàn đặc công, gần 150 đội vũ trang công tác và các đội vũ trang địa phương từ quân khu đến cơ sở cùng với lực lượng chính trị và cơ quan lãnh đạo chỉ huy các cấp đã bí mật đột nhập chiếm các địa bàn quan trọng ở vùng sâu đồng bằng được an toàn2.

Các hoạt động tạo thế này khiến cho địch ngay từ đấu không phán đoán nổi quy mô và hướng tiến công chủ yếu của ta, chúng buộc phải căng lực lượng ra đối phó trong một thời gian dài, tạo điều kiện cho ta thực hành tiến công và nổi dậy đồng loạt trên cả hai mặt trận giáp ranh và đồng bằng trong bước 2, đợt 1 của chiến dịch.
_____________________________________________
1. Theo quyết định số 2328/NQ-N3-TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 8 tháng 2 năm 1975, Đảng ủy mặt trận Trị - Thiên có 11 đồng chí do đồng chí Lê Tự Đồng làm Bí thư. Thường vụ gồm năm đồng chí: Lê Tự Đồng, Lê Linh, Nguyễn Hữu An, Nguyễn Húng, Nguyễn Văn Thánh và sáu đồng chí ủy viên là: Nguyễn Chi, Nguyễn Công Trang, Hoàng Đan, Nguyễn Ngọc Thực, Dương Bá Nuôi, Trần Minh Đức.
2. Lực lượng về đồng bằng đến ngày 7 tháng 3 năm 1975, ở các khu vực gồm:
- Quảng Trị có: tiểu đoàn 8, lực lượng bộ đội địa phương các huyện Gio Linh, Triệu Phong, Hướng Hóa và 51 đội vũ trang công tác.
- Bắc Thừa Thiên có: các tiểu đoàn 10, 15, đại đội bộ đội địa phương và 41 đội vũ trang công tác.
- Nam Thừa Thiên có: các tiểu đoàn 4, 5, 21, hai đại đội đặc công, bộ đội huyện và 45 đội vũ trang công tác.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #118 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2024, 08:02:28 pm »


Ngày 8 tháng 3 năm 1975, theo kế hoạch thống nhất toàn mặt trận, chiến dịch xuân - hè 1975 ở Trị — Thiên — Huế bắt đầu.

Ở mặt trận giáp ranh, sáng ngày 8 tháng 3 năm 1975, bộ đội chủ lực quân khu và Quân đoàn 2 trên hướng chủ yếu của chiến dịch đồng loạt nổ súng tiến công địch ở khu vực đường số 14. Dưới sự chỉ huy của sư đoàn trưởng Nguyễn Duy Sơn và chính ủy Nguyễn Trọng Dần, sư đoàn 324 (thiếu trung đoàn 3) tiến công mãnh liệt vào khu vực Mỏ Tàu, điểm cao 303, hệ thống điểm cao liên hoàn khống chế toàn bộ đồng bằng nam Huế; địa bàn then chốt bảo vệ sân bay Phú Bài và trung tâm huấn luyện Đống Đa của địch.

5 giờ 45 phút, các chiến sĩ trung đoàn 78 pháo binh đã dồn dập dội bảo lửa xuống cứ điểm ở Mỏ Tàu, cao điểm 303. Sau 20 phút bắn cấp tập, pháo chuyển làn bắn xuống sân bay Phú Bài và các trận địa pháo địch ở Mũi Né, La Sơn, Chúc Mao. Cùng lúc trên hướng thứ yếu của sư đoàn, các chiến sĩ trung đoàn 1 bộ binh đồng loạt nổ súng, xung phong đánh chiếm các vị trí địch. Sau hai giờ chiến đấu quyết liệt, ta chiếm gọn các điểm cao 76, 75 và các đồi ven đường số 145, sau đó phát triển tiến công đánh chiếm núi Bông. Ở hướng chủ yếu của sư đoàn, trung đoàn 2 gặp khó khăn, không dứt điểm được các điểm cao 224 và 303 nên phải dừng lại để củng cố lực lượng. Đến 14 giờ ngày 10 tháng 3, các chiến sĩ trung đoàn 2 đã chiếm được điểm cao 224 và 303.

Đòn đánh phủ đầu của ta đã diệt gọn hai tiểu đoàn của trung đoàn 1 và trung đoàn 54 thuộc sư đoàn 1 bộ binh địch, chiếm một số vị trí quan trọng ở khu vực đường số 14. Bộ tư lệnh tiền phương quân đoàn 1 ngụy phải gấp rút tăng cường cho khu vực Mỏ Tàu, cao điểm 303 toàn bộ trung đoàn 1 và trung đoàn 54, tiểu đoàn 3 trung đoàn 3 thuộc sư đoàn 1 liên đoàn 15 biệt động, hai chi đoàn thiết giáp 27 và 37 tiểu đoàn 154 bảo an nhằm giữ vững những khu vực then chốt mà chúng đang chiếm đóng và tổ chức nhiều cuộc phản kích chiếm lại các vị trí đã mất. Từ 11 đến 17 tháng 3, cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra vô cùng ác liệt. Đến ngày 15 tháng 3, sư đoàn 324 đã phá vỡ một mảng lớn hệ thống phòng ngự của địch ở khu vực đường số 14, tiêu diệt gần 1.500 tên địch, thu hút phần lớn chủ lực địch vào khu vực trọng điểm này, tạo thuận lợi cho ta tiến công đều khắp trên toàn mặt trận Trị - Thiên.

Trong lúc sư đoàn 324 đánh Mỏ Tàu và cao điểm 303 thì trung đoàn 271 chủ lực Quân khu Trị - Thiên tiến công địch ở khu vực điểm cao 144 La Sơn. 5 giờ 30 phút ngày 8 tháng 3, tiểu đoàn 9 trung đoàn 271 nổ súng đánh chiếm căn cứ La Sơn. Sau 30 phút chiến đấu ta đã làm chủ hoàn toàn trận địa. Chiếm xong La Sơn, trung đoàn 271 đã chuyển về đường số 12 cùng trung đoàn 6 chủ lực quân khu tiến công về đồng bằng.

Phối hợp nhịp nhàng với hướng tiến công chính của Quân đoàn 2, các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương Quân khu Trị - Thiên trên các hướng khác dồn dập tiến công tiêu diệt địch trên toàn tuyến giáp ranh.

Tại khu vực Phong Sơn, 17 giờ ngày 8 tháng 3, trung đoàn 4 bộ binh được hỏa lực pháo binh của trung đoàn 16, trung đoàn 223 quân khu chi viện mạnh mẽ đã tiến công vào căn cứ Phổ Lại do tiểu đoàn 130 bảo an địch đóng giữ. Tiểu đoàn 2 trung đoàn 4 nhanh chóng đánh chiếm khu A của căn cứ. Từ khu A, ta dùng hỏa lực ĐKZ 82 và súng máy 12,7 ly phối hợp với bộ binh tiếp tục tiếp công tiêu diệt địch ở khu B và các mục tiêu còn lại ở căn cứ Phổ Lại.

Sau năm giờ chiến đấu quyết liệt, trung đoàn 4 đã hoàn toàn làm chủ căn cứ Phổ Lại. Tiếp đó, trung đoàn tổ chức lực lượng chốt giữ và chuẩn bị đánh địch phản kích.

Bị mất địa bàn chiến lược quan trọng, địch tập trung một lực lượng lớn pháo binh, máy bay và bộ binh, liên tiếp tổ chức phản kích trên nhiều mũi, nhiều hướng nhằm chiếm lại căn cứ Phổ Lại. Cán bộ và chiến sĩ trung đoàn 4 đã liên tiếp bẻ gãy mọi cuộc phản kích của địch, giữ vững trận địa.

Qua sáu ngày đêm tiến công và đánh địch phản kích, tiểu đoàn 2 trung đoàn 4 đã tiêu diệt trên 530 tên, bắn rơi một máy bay, phá hủy sáu xe quân sự và ba khẩu pháo, thu nhiều vũ khí.

Phối hợp với tiểu đoàn 2, các chiến sĩ tiểu đoàn 1 trung đoàn 4 luồn sâu về đồng bằng, liên tiếp tập kích quân địch ở các vị trí Trung Kiều, Đông Hồ và Sơn Tùng, diệt trên 170 tên, bắn cháy chín xe tăng, bắn rơi một máy bay lên thẳng, thu nhiều vũ khí. Đòn tập kích táo bạo của tiểu đoàn 1 ở đồng bằng đã hỗ trợ tích cực cho quần chúng nổi dậy phá bình định, giành quyền làm chủ.

Ở tây Hải Lăng: lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Trị và dân quân, du kích đồng loạt tập kích các điểm cao 122, 118, 90; tiếp đó, ta sử dụng pháo cối, phóng bom bắn chế áp các trận địa địch ở dốc Bàu, Tân Điền và các điểm cao 367, 235, động Ông Do..., buộc địch phải rút bỏ 21 chốt lẻ ở khu vực này.

Chi khu quân sự Mai Lĩnh là một mắt xích quan trọng trên tuyến phòng thủ của địch ở Quảng Trị. Nhằm ngăn chặn ta tiến công về đồng bằng, địch đã tập trung ở đây lực lượng ác ôn khét tiếng để kìm kẹp dân chúng, đánh phá cơ sở cách mạng một cách triệt để, gây cho ta nhiều khó khăn. Cuộc chiến giữa ta và địch diễn ra ở đây rất quyết liệt.

Sau khi bí mật vượt qua các vị trí bố phòng đày đặc của địch, áp sát các mục tiêu, đại đội 12 phối hợp với đại đội 30 trinh sát, tiểu đoàn 10 đặc công Quảng Trị đã nổ súng tiến công chi khu quân sự này vào lúc 0 giờ ngày 9 tháng 3. Địch ngoan cố kháng cự. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Các chiến sĩ đại đội 12 đã mưu trí, dũng cảm đánh địch, diệt hết tốp này đến tốp khác. Rạng sáng ngày 9 tháng 3, đại đội 12 đã san phẳng chi khu quân sự Mai Lĩnh, diệt hơn 100 tên ác ôn và bảo an.

Cùng với thắng lợi ở Phổ Lại, chiến thắng Mai Lĩnh đã gây tiếng vang lớn ở đồng bằng, hỗ trợ cho nhân dân trong vùng địch kiểm soát ở Quảng Trị và ba huyện bắc Thừa Thiên nổi dậy phá vỡ từng mảng hệ thống kìm kẹp của địch, giành quyền làm chủ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #119 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2024, 08:03:57 pm »


Trên khu vực đường số 12, trung đoàn 6 chủ lực được Bộ Tư lệnh quân khu giao nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ Chúc Mao và điểm cao 300. Ban chỉ huy trung đoàn cùng các đơn vị khẩn trương chuẩn bị mọi mặt. 3 giờ 30 phút ngày 13 tháng 3, cuộc tiến công căn cứ Chúc Mao bắt đầu. Đại đội 1 tiểu đoàn 6 sau 10 phút chiến đấu đã diệt gọn một trung đội địch, làm chủ hoàn toàn trận địa. Trong lúc đó, tại điểm cao 300, sau khi các giá mìn bấm của tiểu đoàn 2 nổ đồng loạt phá tung hàng rào, bộ binh xung phong tiêu diệt các ổ đề kháng và lô cốt địch. Sau 45 phút chiến đấu, tiểu đoàn 2 hoàn toàn làm chủ mỏm 1 và 2. Quân địch sống sót tháo chạy sang mỏm 3 cùng với lực lượng tại chỗ dùng hỏa lực chống trả quyết liệt gây cho ta thiệt hại nặng. Quyết tâm tiêu diệt địch, tiểu đoàn 2 liền tung lực lượng dự bị vào chiến đấu, nhanh chóng tiêu diệt địch ở mỏm 3, làm chủ hoàn toàn điểm cao 300.

Chiếm được Chúc Mao và điểm cao 300, trung đoàn 6 đã tạo được áp lực uy hiếp địch từ phía tây Huế, góp phần thiết thực hỗ trợ cho đồng bằng đẩy mạnh tiến công quân địch.

Thắng lợi của ta trên toàn tuyến giáp ranh, một mặt làm cho địch lúng túng, bị động đối phó và do đó không phán đoán được hướng tiến công chủ yếu của ta, mặt khác, đối với ta đây là cuộc tập dượt tiến công địch, tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ và chuẩn bị đón thời cơ tổng tiến công và nổi dậy giành chính quyền, đồng thời hỗ trợ cho lực lượng vũ trang và quần chúng ở vùng sâu đồng bằng tiến công và nổi dậy phá bình định, giành dân, giành quyền làm chủ.

Phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công của chủ lực ở mặt trận giáp ranh, đêm 8 tháng 3 năm 1975, ở mặt trận đồng bằng, từ nam sông Thạch Hãn đến vùng Lăng Cô bắc đèo Hải Vân, lực lượng vũ trang địa phương, các đội vũ trang công tác và các đoàn cơ sở của ta đồng loạt tiến công tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh vũ trang tuyên truyền xây dựng cơ sở quần chúng, chuẩn bị thực lực cách mạng và chuẩn bị mục tiêu đón thời cơ tiến công và nổi dậy.

Vào hồi 0 giờ ngày 8 tháng 3, ở đồng bằng Quảng Trị, tiểu đoàn 8 của tỉnh tập kích diệt gọn quân địch ở phân chi khu quân sự Hải Nhi. Phối hợp với tiểu đoàn 8, các đội vũ trang công tác cùng với bộ đội huyện và du kích đồng loạt tiến công các phân chi khu quân sự Hải Kinh, Hải Văn, Hải Vĩnh, Hải Lê, Hải Lâm và Hải Phú (huyện Hải Lăng), Triệu Sơn, Triệu Tài (huyện Triệu Phong), tiêu diệt các chốt Bích La Trung và điểm cao 11. Vừa tiến công địch, ta vừa phát động quần chúng nổi dậy ở 15 ấp. Cuộc tiến công nổi dậy của ta ở đồng bằng Quảng Trị đã giải phóng ba phân chi khu quân sự Hải Nhi, Hải Văn, Hải Vĩnh. Hệ thống kìm kẹp của địch tan rã ở nhiều nơi.

Tại đồng bằng bắc Huế, được chiến thắng quân sự ở Phổ Lại hỗ trợ, tiểu đoàn 10, tiểu đoàn 15 của tỉnh cùng với bộ đội tập trung huyện và các đội vũ trang công tác đã đồng loạt nổ súng tiến công giải phóng hơn một nửa phân chi khu quân sự địch1, đánh chiếm đồn bảo an và dân vệ ở cầu Đen, Tháp Nhuận, Đồng Hồ...; làm cho địch bị động lúng túng. Chớp thời cơ này, các tổ chức cơ sở đảng và các đội vũ trang tuyên truyền đã vận động quần chúng nổi dậy cùng với lực lượng vũ trang làm tan rã phòng vệ dân sự, khiến cho ngụy quyền ở nhiều thôn, xã phải giấu triện đồng, đốt tài liệu, bỏ chạy tán loạn.

Ở nông thôn đồng bằng nam Thừa Thiên, lợi dụng lúc chủ lực địch tập trung đối phó với Quân đoàn 2 tiến công trên khu vực đường số 14, các tiểu đoàn 4, 5, 21 bộ binh và hai đại đội đặc công cùng với lực lượng tại chỗ đá nổ súng tiến công đánh vào 11 phân chi khu quân sự của địch ở ba huyện: Phú Vang, Hương Thủy và Phú Lộc. Đồng thời, đặc công và bộ đội huyện tiến công vào các thôn Nam Đương, Trung Chiếm Chánh, Lô Xá Tây xã Phú Lương và thôn Lang Xe Bầu xã Phú Hồ. Cùng thời gian này tại Phú Lộc, một mũi của tiểu đoàn 4 cùng các đội vũ trang công tác đánh chiếm toàn bộ xã Vĩnh Phú, ba thôn của xã Phú Đa, bốn thôn của xã Vĩnh Thái và một thôn của xã Vĩnh Hải.

Cuộc tiến công bất ngờ, đồng loạt của ta ở khắp nông thôn đồng bằng Trị - Thiên trong hai ngày 8 và 9 tháng 3 là đòn đánh hiểm, đánh trúng vào kế hoạch bình định của địch, uy hiếp trực tiếp hậu phương của chúng. Ta đã tiến công trên 30 phân chi khu và một số chi khu là lực lượng kìm kẹp chủ yếu của địch, kết hợp đánh địch với vũ trang tuyên truyền ở 150 thôn, ấp thuộc 53 xã đồng bằng, hỗ trợ cho 200.000 quần chúng nổi dậy phá kìm kẹp, giành quyền làm chủ với những mức độ khác nhau.

Hòng ngăn chặn bước tiến công của ta và trấn an tinh thần quân ngụy đang hoang mang, rệu rã, một lực lượng hỗn hợp của chúng được huy động phản kích ta rất quyết liệt.

Ở Quảng Trị, địch đưa liên đoàn 913 và tiểu đoàn 120 bảo an, lữ đoàn 139 thủy quân lục chiến cùng 12 xe tăng đánh vào các xã Hải Kinh, Hải Vân, Hải Nhi (Hải Lăng) và xã Triệu Vinh (Triệu Phong), đàn áp phong trào nổi dậy của quần chúng ở đây và ngăn chặn hành lang về đồng bằng của ta.

Tại bắc Huế, địch tập trung một lực lượng hỗn hợp mạnh, có máy bay trực thăng yểm trợ, tổ chức phản kích quyết liệt vào các xã Phong Bình, Phong Hòa, Phong Chương huyện Phong Điền và xung quanh khu vực cầu An Lỗ.

Ở khu vực nam Huế, địch huy động các đơn vị thuộc trung đoàn 51, sư đoàn 1 bộ binh; lính dù, biệt động, bảo an, dân vệ, xe tăng, máy bay A37 bay đêm..., đánh phá mãnh liệt vào khu vực do tiểu đoàn 4 cùng các đội vũ trang tuyên truyền và bộ đội các huyện Phú Vang, Phú Lộc chiếm giữ.

Các cuộc phản kích điên cuồng của địch đã làm tiêu hao một phần lực lượng của ta, gạo và đạn dự trữ cạn dần. Tư tưởng giao động bi quan, thiếu tin tưởng vào khả năng thực hiện tiến công và nổi dậy ở đồng bằng đã xuất hiện trong một số ít cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, quần chúng nhân dân. Nhưng nhìn chung, cả lãnh đạo và quần chúng, cả lực lượng vũ trang và chính trị của ta đều quyết tâm bám trụ, đánh địch phản kích, giữ vững phong trào và địa bàn đứng chân ở đồng bằng. Đặc biệt, các tiểu đoàn tập trung của tỉnh được lệnh rút về phía sau chuẩn bị cho cuộc tiến công mới. Nhờ vậy khi thời cơ đến, ta đã kịp tiến công tiêu diệt địch, giành thắng lợi nhanh chóng.
_______________________________________________
1. Các phân chi khu bị ta tiến công gồm có: Phong Bình, Phong Hòa, Phong Chương, Phong Nhiêu và Phong An (Phong Điền); Quảng Lợi, Quảng Hòa, Quảng Phú (Quảng Điền); Hương Chữ, Hương Sỹ, Hương Xuân (Hương Trà).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM