Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:35:37 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)  (Đọc 57093 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #120 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2024, 08:04:44 pm »


Trong đợt hoạt động đầu năm 1975, nhân thời cơ Quân đoàn 2 tiến công thu hút một lực lượng lớn chủ lực của địch, quân và dân Trị - Thiên - Huế đã phối hợp ăn ý, đồng loạt nổ súng tiến công địch trên cả hai mặt trận giáp ranh và đồng bằng, thực hiện được một bước quan trọng quyết tâm phá lỏng, phá rã hệ thống kìm kẹp của địch ở đồng bằng, buộc chúng phải co cụm chiến thuật; gom chốt lẻ thành chốt lớn, tập trung lực lượng "be bờ" cố thủ ở giáp ranh. Những ngày cuối cùng của đợt 1 chiến dịch xuân - hè ở Trị - Thiên - Huế, địch đã phải rút hai lữ đoàn 369 và 258 thủy quân lục chiến từ Quảng Trị vào phía nam làm lực lượng cơ động. Do đó, thế phòng thủ của địch ở Trị - Thiên bị ảnh hưởng nghiêm trọng, lực lượng giảm sút nhiều, nội bộ dao động mạnh, phòng thủ ngày càng lỏng lẻo, kìm kẹp kém hiệu quả... Địch khó có thể giữ vững được địa bàn khi bị ta tiến công.

Trước tình hình đó, viên tiểu khu trưởng Quảng Trị triệu tập các liên đoàn trưởng 913 bảo an và 14 biệt động về họp bàn kế hoạch phòng thủ Quảng Trị, đồng thời lệnh cho các đơn vị thu gọn đội hình, các tiểu đoàn trưởng phải túc trực nhận lệnh trong ngày và sẵn sàng đối phó khi bị ta tiến công. Địch cũng bắt đầu dồn ép nhân dân Quảng Trị di tản vào Huế và Đà Nẵng. Điều này chứng tỏ địch có khả năng rút bỏ Quảng Trị vào co cụm lớn để bảo vệ Huế.

Căn cứ vào tình hình thực tế, ngày 17 tháng 3 năm 1975, Thường vụ khu ủy và Thường vụ quân khu ủy họp dưới sự chủ tọa của đồng chí Lê Tự Đồng - Bí thư khu ủy. Hội nghị nhận định: địch ở Trị - Thiên đang hoang mang giao động mạnh, thời cơ mới đã xuất hiện. Do vậy ta cần phải khẩn trương và mạnh bạo tiến công, dùng lực lượng tại chỗ đánh mạnh vào tuyến phòng thủ của địch, kết hợp với thọc sâu chia cắt, phá thế co cụm của chúng, giành thắng lợi lớn ở đồng bằng, tiến tới bao vây và cô lập Huế, không cho địch rút khỏi Quảng Trị một cách an toàn. Hội nghị quyết định:

- Kiên quyết, táo bạo dùng toàn bộ lực lượng vũ trang của Quảng Trị đang phòng ngự trên tuyến tiếp xúc, chủ động bất ngờ chuyển sang tiến công địch trên hai hướng: hướng đông từ Thanh Hội theo trục đường số 68 và hướng tây từ Tích Tường, Như Lệ theo trục đường số 1 tiến vào phía nam.

- Tập trung toàn bộ lực lượng đang chấn chỉnh, củng cố ở giáp ranh, kể cả trung đoàn 271 bộ binh hiện đang ở nam Thừa Thiên đưa về đồng bằng đánh địch, phát động quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ.

- Đưa trung đoàn 4 bộ binh ra đánh chia cắt địch ở cầu An Lỗ (bắc Huế) và tăng thêm lực lượng địa phương về đồng bằng. Hướng nam đánh cắt giao thông địch trên đường số 1 từ Lương Điền đến Đá Bạc huyện Phú Lộc.

- Thời gian chậm nhất là ngày 19 tháng 3, tất cả các lực lượng phải tiến công địch.

Trong khi tình hình ở Trị - Thiên đang diễn biến nhanh theo hướng có lợi cho ta thì chiến thắng Buôn Ma Thuột (Tây Nguyên) đã mở ra một cục diện mới hết sức thuận lợi của cách mạng miền Nam.

Trước sự phát triển mau lẹ của tình hình, ngày 18 tháng 3 năm 1975, Bộ Chính trị họp nhận định: "Thời cơ chiến lược lớn trong suốt 20 năm chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam đã bước sang giai đoạn nhảy vọt", và hạ quyết tâm chiến lược: "giải phóng miền Nam trong năm 1975”.

Cùng ngày, Bộ Tổng tư lệnh khẩn trương chỉ đạo các lực lượng chuẩn bị chiến dịch Huế - Đà Nẵng theo tinh thần Nghị quyết Bộ Chính trị, nhằm tiêu diệt quân đoàn 1 địch, không cho chúng co cụm lớn về Sài Gòn. Đồng thời, Bộ lệnh cho Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 phải hoạt động một cách táo bạo, khẩn trương, không cho địch rút bỏ vùng bắc Huế một cách an toàn; phải nhanh chóng đánh cắt giao thông đường số 1 của địch và đánh sân bay, kho tàng ở Phú Bài.

Chủ trương bao vây Huế, không cho địch rút khỏi Quảng Trị của Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy được truyền đạt nhanh xuống các đơn vị, địa phương trên toàn chiến trường Trị - Thiên. Lập tức, các cấp lãnh đạo, chỉ huy địa phương và đơn vị khẩn trương triển khai kế hoạch tác chiến. Công tác đảm bảo đã hoàn thành một khối lượng lớn công việc, nhất là hướng Quảng Trị và bắc Huế.

Đêm 18 rạng ngày 19 tháng 3 năm 1975, tất cả các lực lượng vũ trang hướng bắc đồng loạt nổ súng đồng loạt tiến công vào toàn bộ tuyến phòng thủ của địch ở Quảng Trị, mở màn cho đợt 2 của chiến dịch xuân - hè 1975.

Ở hướng đông, mờ sáng ngày 19 tháng 3 năm 1975, tiểu đoàn 3 Quảng Trị phối hợp với đại đội 7 xe tăng (lữ đoàn 203) và một đại đội pháo hỗn hợp, nhanh chóng chia làm hai mũi tiến công địch. Mũi chủ yếu có xe tăng đi cùng, nhanh chóng tiến công đột phá vị trí Trường Sơn và theo tỉnh lộ số 8 tiến công diệt địch ở Tài Lương, Đạo Đầu. Được du kích dẫn đường, các đơn vị tiếp tục thọc sâu đánh vào hậu phương của địch. Đến 15 giờ cùng ngày, đại đội 3 nổ súng tiến công địch ở Phù Lưu, đại đội 9 và đại đội 11 tiến đánh địch ở Triệu Dương. Ở mũi thứ yếu, một đại đội của tiểu đoàn 3 được pháo binh yểm trợ, tập kích tiêu diệt địch ở Thanh Hội, sau đó tiến ra Gia Đẳng, Mỹ Thủy, Thẩm Kế..., phối hợp cùng các lực lượng khác tiếp tục thọc sâu tiêu diệt địch.

Ở hướng Quảng Trị, tiểu đoàn 14 của tỉnh được tăng cường đại đội Lê Hồng Phong, chia làm ba mũi tiến công địch. Mũi 1 sau khi đánh chiếm điểm cao 15, tiếp tục truy kích địch đang rút chạy vào Phú Lương, đánh địch co cụm ở Đá Bạc và phát triển theo đường số 1 đánh chiếm Hải Sơn, Mỹ Chánh. Mũi 2 đánh vào Phước Môn, phát triển sang Long Hưng, Thường Xá, thọc sâu vào Diên Sanh, đánh chiếm Trung Sơn, Phước Điền, An Nhơn. Mũi cuối cùng tiến công tiêu diệt địch ở Tích Tường, Như Lệ, La Vang. Đúng 3 giờ ngày 19 tháng 3 năm 1975, tiểu đoàn 14 cắm lá cờ chiến thắng lên thành cổ Quảng Trị.

Cũng tại hướng này, tiểu đoàn 8 Quảng Trị tiến công theo dọc sông Nhùng rồi về Trường Thọ vào Mỹ Chánh. Tiểu đoàn 812 của tỉnh từ Hải Lăng truy kích tiêu diệt địch ở Dốc Bầu, tiến vào Mỹ Chánh, đánh địch co cụm ở các xã Hải Kinh, Hải Nhi, Hải Văn. Tiểu đoàn 10 đánh địch ở tây nam điểm cao 367, tiến vào uy hiếp khu vực Hồ Lầy. Lực lượng du kích Quảng Trị đang vây ép địch ở tây nam Hải Lăng cũng đồng loạt chuyển sang tiến công, truy kích tiêu diệt địch ở các điểm cao 235, 367, 222, động Ông Do và các mục tiêu khác ở tây Hải Lăng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #121 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2024, 08:06:04 pm »


Phối hợp với chiến trường Quảng Trị, ở khu vực bắc Thừa Thiên, tiểu đoàn 15 trung đoàn 4 chủ lực quân khu và đại đội 10 đặc công Thừa Thiên cùng với lực lượng tại chỗ chống trả quyết liệt các cuộc phản kích điên cuồng của địch, kiên trì bám trụ địa bàn, phát động quần chúng nổi dậy. Tại các xã Phong Hòa, Phong Bình, Phong Chương huyện Phong Điền, nhân dân chủ động đánh địch phản kích, giải phóng quê hương.

Cùng lúc, pháo binh của ta đánh mạnh vào các căn cử của địch ở Hiệp Khánh, cầu An Lỗ, khu Tây Lộc và Mang Cá, gây cho chúng tổn thất lớn, làm tăng thêm sự hoang mang giao động và rối loạn hàng ngũ địch. Riêng ở nam Thừa Thiên, ta hoạt động nhỏ, kìm chế tiêu hao địch để bộ đội chủ lực di chuyển đội hình chuẩn bị cho tổng tiến công giải phóng Huế.

Nhân lúc địch hoang mang giao động mạnh, nhân dân Quảng Trị và ba huyện bắc Thừa Thiên đồng loạt nổi dậy diệt ác, phá kìm, bung khỏi các khu tập trung, giành quyền làm chủ ở nhiều thôn, xã.

Bị đòn tiến công bất ngờ, dũng mạnh của lực lượng chủ lực của Bộ và lực lượng vũ trang Trị - Thiên cùng với đòn nổi dậy mạnh mẽ của quần chúng cách mạng, địch ở Quảng Trị vội vàng tháo chạy về phía nam. Cuối ngày 19 tháng 3 năm 1975, chúng co cụm ở Mỹ Chánh, Thanh Hương, lập tuyến phòng thủ mới.

Hơn một ngày tiến công dồn dập, bằng cả lực lượng quân sự và nổi dậy của quần chúng, quân và dân Quảng Trị đã giải phóng nốt phần đất còn lại của tỉnh. Thắng lợi to lớn của quân và dân Quảng Trị buộc địch phải co cụm lớn trong thế bị động, khốn quẫn và hoang mang cực độ. Thời cơ lớn đã đến, khả năng giải phóng hoàn toàn Thừa Thiên — Huế đã xuất hiện.

Ngay chiều 19 tháng 3, Bộ Tư lệnh quân khu họp nghiên cứu tình hình và đề ra phương án, kế hoạch giải phóng Thừa Thiên - Huế để trình Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy thông qua. Tối 19 tháng 3 năm 1975, Bộ Tư lệnh quân khu lệnh cho tỉnh đội Quảng Trị tiếp tục sử dụng các lực lượng vũ trang phát triển tiến công vào phía nam, bám địch mà đánh, thừa thắng xông lên, tuyệt đối không được dừng lại. Bộ Tư lệnh quân khu nhấn mạnh: "Dừng lại là một tội lỗi không thể tha thứ được".

Các lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Trị gấp rút tổ chức lực lượng cùng với quân và dân Thừa Thiên — Huế chuẩn bị thực hiện bước 2 giải phóng hoàn toàn Thừa Thiên - Huế.

Ngày 20 tháng 3 năm 1975, Bộ Tổng tư lệnh điện biểu dương thành tích giải phóng thị xã và phần đất còn lại của tỉnh Quảng Trị, đồng thời chỉ thị phải tiếp tục tiến công không được dừng lại.

Thực hiện quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm 1975 của Bộ Chính trị và chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh ngày 20 tháng 3, Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy họp quyết định: "Tranh thủ thời cơ, dốc toàn lực giải phóng Thừa Thiên - Huế bằng một cuộc tiến công tổng hợp, toàn diện, lấy chia cắt và bao vây chiến dịch kết hợp với các mũi thọc sâu của chủ lực làm biện pháp then chốt, đồng thời sử dụng lực lượng vũ trang địa phương trực tiếp tiến công địch hỗ trợ và vận động quần chúng nổi dậy giành dân và giữ dân, đưa chiến dịch đến thắng lợi. Hết sức chú ý không cho địch cụm lại trong thành phố Huế".

Hội nghị đã thông qua phương án, kế hoạch giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên; xác định, các hướng tiến công chính và sử dụng lực lượng ở từng hướng chiến dịch như sau:

- Hướng nam: Quân đoàn 2 sau khi đánh cắt giao thông đường số 1 dưới chân núi Kim Sắc - Lưỡi Hái sẽ phát triển tiến công theo hai mũi: một mũi từ bàn đạp cắt giao thông nhanh chóng thọc ra cảng Tân Mỹ, một mũi từ điểm cao 303 - La Sơn tiến ra Huế. Trong khi đó, hai tiểu đoàn 5 và 21 của quân khu sử dụng hỏa lực khống chế cửa Tư Hiền, đánh chiếm quận lỵ Vĩnh Lộc và phát triển ra cửa Thuận An.

- Hướng bắc, sử dụng hai tiểu đoàn bộ binh tỉnh Quảng Trị được tăng cường pháo binh, xe tăng đánh chiếm quận lỵ Hương Điền (cánh đông); trung đoàn 4 được tăng cường tiểu đoàn 8 Quảng Trị, trung đoàn 46 làm lực lượng dự bị tiến công lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến (cánh tây). Tiếp đó, hai cánh sẽ cùng phát triển tiến công vào cửa Thuận An và ngã ba Sình.

- Hướng đường số 12, trung đoàn 6 sau khi cùng trung đoàn 271 quân khu đánh chiếm các mục tiêu Đình Môn, Kim Ngọc, sẽ vượt qua sông Hương, tiến vào khu tam giác thành phố, chặn đánh trung đoàn 3 ngụy từ đường số 12 về. Trung đoàn 271 tiến về phía đông thành phố, chia cắt Huế - Phú Bài, phát triển về quận lỵ Phú Vang cùng với Quân đoàn 2 hợp vây diệt địch.

- Lực lượng pháo binh của quân khu, Quân đoàn 2 và K5 hải quân khống chế chặt của Thuận An, cửa Tư Hiền, đánh mạnh vào sở chỉ huy quân đoàn 1 ngụy ở Huế và khu vực cảng Tân Mỹ.

- Tất cả lực lượng còn lại của tỉnh, huyện, xã tiến xuống đồng bằng đánh địch và phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền.

Toàn bộ quyết tâm và phương án giải phóng Thừa Thiên - Huế của quân khu đều thống nhất với Quân đoàn 2 và đã được Bộ Tổng tư lệnh chấp nhận. Bộ chỉ thị thêm: ngày 21 tháng 3, phải cắt bằng được đường số 1 đoạn từ Huế đi Đà Nẵng.

Sáng 21 tháng 3 năm 1975, bước hai chiến dịch tiến công giải phóng Thừa Thiên - Huế bắt đầu.

Trên hướng chủ yếu của chiến dịch, sư đoàn 325 tiến công hướng phòng ngự của địch dọc theo dãy núi Kim Sắc với các điểm cao: 560, 494, 520... Sư đoàn 324 tiến công địch ở khu vực núi Bông, La Sơn, điểm cao 224... Sau một ngày đánh địch, giành giật với chúng từng điểm cao một, chiều ngày 21 tháng 3, tuyến phòng ngự của địch ở phía tây đường số 1 từ Lương Điền đến Phú Lộc đã bị đập tan. Cửa ngõ xuống đường số 1 đã mở. Thừa Thắng, các đơn vị thuộc Quân đoàn 2 đánh tràn xuống đồng bằng. Đến chiều 22 tháng 3, ta đã cắt được 10 ki-lô-mét đường số 1 từ Mũi Né đến Bái Sơn. Giao thông của địch từ Huế đi Đà Nẵng bị tắc nghẽn. Hàng nghìn xe cơ giới bị chặn lại ở Lương Điền. Địch ở Thừa Thiên - Huế hoang mang cực độ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #122 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2024, 08:09:11 pm »


Trước tình hình phát triển thuận lợi của chiến dịch, chiều 22 tháng 3, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 lệnh cho các sư đoàn tiếp tục tiến công quân địch.

Sáng 23 tháng 3, tiểu đoàn 8, trung đoàn 18 thuộc sư đoàn 325 tiến công địch ở Mũi Né. 14 giờ cùng ngày, ta hoàn toàn làm chủ trận địa. Sau khi đánh chiếm Mũi Né, trung đoàn 18 liên tiếp truy kích tiêu diệt địch ở Phú Lộc, Thừa Lưu, Phú Gia và Lăng Cô, làm chủ hoàn toàn khu vực sát đèo Hải Vân. Được đòn quân sự hỗ trợ, nhân dân hai xã Gio Lễ, Gio Hải, huyện Gio Linh, Quảng Trị bị địch cưỡng ép vào khu tập trung Phước Hưng huyện Phú Lộc đã nổi dậy vận động gọi hàng một trung đội bảo an, một trung đội dân vệ, vây bắt bọn ác ôn, giải tán toàn bộ ngụy quyền xã, ấp.

Trên đường tiến công Huế, để mở đường cho sư đoàn 324 tiến về đồng bằng, 8 giờ ngày 23 tháng 3, trung đoàn 101 sư đoàn 325 đã đánh chiếm nhanh gọn căn cứ Lương Điền.

Căn cứ Lương Điền bị tiêu diệt, cánh cửa phía nam đã mở. Lập tức, ngày 23 tháng 3, trung đoàn 1 và trung đoàn 2 sư đoàn 324 nhanh chóng vượt quốc lộ số 1, đánh địch và tiến về đồng bằng. Đêm 23 rạng ngày 24, hai trung đoàn 1 và 2 đã về tới đồng bằng Phú Thứ. Trung đoàn 1 cùng với các đội vũ trang công tác và du kích tích cực tiến công tiêu diệt sư đoàn 1 bộ binh ngụy tụ tập ở đây, hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy làm chủ hoàn toàn Phú Thứ, truy quét tàn binh địch. Sau đó, trung đoàn 1 cùng với trung đoàn 2 phát triển tiến công tiêu diệt địch ở Phú Vang, cảng Tân Mỹ, cửa Thuận An và phía đông thành phố Huế.

Sau khi đánh chiếm căn cứ La Sơn, trung đoàn 3 sư đoàn 324 cùng một đại đội xe tăng (lữ đoàn 203) nhanh chóng theo đường số 1, phối hợp với trung đoàn 1 sư đoàn 325 chuẩn bị tiến công thành phố Huế.

Với đòn tiến công thần tốc, táo bạo, đến ngày 25 tháng 3 năm 1975, từ phía nam Quân đoàn 2 đã hình thành hai hướng tiến công kẹp chặt quân địch ở Huế và cửa Thuận An.

Trên hướng bắc, ngày 22 tháng 3, tiểu đoàn 3 Quảng Trị nhanh chóng tiến công hai tiểu đoàn bảo an ở Xuân Viên và Thanh Hương. Cuộc chiến đấu ở Thanh Hương diễn ra rất quyết liệt suốt ngày 22. Cửa ngõ phía đông vào bắc Thừa Thiên chưa mở được. Ngày 23, được xe tăng của quân khu yểm trợ, tiểu đoàn 3 tiếp tục tiến công vị trí Thanh Hương. Trước sức tiến công mãnh liệt của bộ binh và xe tăng, địch phải rút về Đại Lộc. Thừa thắng, tiểu đoàn 3 truy kích, tiêu diệt địch ở Đại Lộc và các thôn Thế Chi Đông, Thế Chi Tây. Sáng 24 tháng 3, ta giải phóng hoàn toàn quận lỵ Hương Điền.

Lúc này, phá Tam Giang - con đường duy nhất của địch chạy ra cửa Thuận An bắt đầu bị ta uy hiếp mạnh ở phía đông. Từ Hương Điền, tiểu đoàn 3 cùng một xe tăng tiếp tục tiến công truy kích địch. 15 giờ 30 phút ngày 25 tháng 3, tiểu đoàn 3 đã làm chủ cửa Thuận An. Tại đây, tiểu đoàn 3 dùng pháo 85 ly và 57 ly liên tiếp bắn vào tàu và xà lan của địch đậu ở ngoài cửa biển.

Trong lúc tiểu đoàn 3 đánh xuống Thuận An, tiểu đoàn 14 vượt sông Ô Lâu đánh địch ở Phong Hòa, Phong Bình và truy kích chúng xuống Sịa, rồi chốt giữ ngã ba Sình1. Ngày 25 tháng 3, tiểu đoàn 14 đánh thẳng vào Mang Cá Nhỏ thuộc thành nội Huế.

Trên mũi thứ yếu của hướng bắc, từ ngày 21 tháng 3, tiểu đoàn 812 tiến công theo đường số 1, vượt sông Mỹ Chánh, diệt gọn địch ở xóm Bồ - Phò Trạch. Chiều 23 tháng 3, tuyến Mỹ Chánh vỡ, địch co về tuyến sông Bồ. Lập tức, tiểu đoàn 812 cùng với lực lượng vũ trang Phong Điền tiến công giải phóng quận lỵ Phò Trạch. Ngày 24, ta tiến đánh Lương Mai. Sáng 25, Bao Vinh, Mang Cá Nhỏ đã thuộc quyền kiểm soát của ta.

Trong lúc lực lượng vũ trang Quảng Trị tiến công trên tuyến Mỹ Chánh, ở phía tây vào 15 giờ ngày 23 tháng 3, trung đoàn 4 chủ lực quân khu vượt qua sông Bồ đánh quỵ tiểu đoàn 5 lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến. Lập tức địch tung liên chi đoàn 4 biệt động và một chi đoàn xe M.113 ra phản kích quyết liệt nhằm chặn đường tiến công của trung đoàn 4. Cuộc chiến đấu diễn ra dai dẳng suốt ngày 24. Đến 17 giờ cùng ngày, địch đánh sập cầu An Lỗ rồi rút chạy. Trung đoàn 4 chuyển sang truy kích tiêu diệt địch. Chiều 25, tiểu đoàn 1 đến động Ấp, phối hợp với tiểu đoàn 3 Quảng Trị chốt chặn cửa Thuận An, tiểu đoàn 2 chốt cầu Thanh Hà, tiểu đoàn 3 từ Hương Cần, ngã ba Sình phát triển vào Huế.

Phối hợp với đòn tiến công quân sự, các đội vũ trang công tác ở phía bắc thành phố Huế tích cực vận động quần chúng nhân dân nổi dậy tiến công hệ thống ngụy quyền, truy quét tàn binh địch, thu vũ khí. Nhân dân các xã Quảng Lợi, Quảng Ninh, Quảng Hòa, Quảng Đại huyện Quảng Điền dẫn đường cho bộ đội truy kích địch chạy ra cửa Thuận An. Các đội vũ trang công tác đã phát động quần chúng các xã: Hương Phú, Hương Thanh, Hương Sơn, Hương Xuân, Hương Cần, Hương Mai, Hương Chữ huyện Hương Trà và các xã Phong Nhu, Phong An, Phong Sơn huyện Phong Điền nổi dậy giành chính quyền, truy lùng ác ôn, kêu gọi người thân bỏ hàng ngũ địch về với gia đình, dẫn đường cho bộ đội tiến công vào thành phố Huế.

Trên hướng đường số 12, trung đoàn 6 và trung đoàn 271 đang đánh địch thì được lệnh hành quân cấp tốc tiến về Huế. Ngày 24 tháng 3, cả hai trung đoàn đã vượt qua tuyến phòng thủ của địch, tiến vào đánh chiếm hai làng Đình Môn và Kim Ngọc sát tả ngạn sông Hương, xây dựng thành bàn đạp uy hiếp trực tiếp thành phố Huế từ phía tây.

Phối hợp với đòn tiến công của các đơn vị bộ binh, bộ đội pháo binh liên tiếp giội đạn vào các mục tiêu của địch. Ngày 21 tháng 3, pháo ta bắn vào ấp 5, động Tòa, Phú Bài Mang Cá. Từ ngày 22 đến 25 tháng 3, cửa Thuận An, của Tư Hiền và cảng Tân Mỹ bị pháo bắn mãnh liệt. Cùng với pháo binh tầm xa, đêm 24 tháng 3, đặc công nước của K5 hải quân thả thủy lôi phong tỏa cửa biển Thuận An và Tư Hiền, không cho tàu biển địch cập bến bốc quân lính tháo chạy vào Đà Nẵng.
____________________________________________
1. Ngã ba Sình là nơi sông Bồ và sông Hương gặp nhau rồi chảy ra phá Tam Giang, tiếp giáp hai huyện Phú Vang và Hương Trà (xã Phú Mậu huyện Phú Vang và xã Hương Vinh, Hương Phong huyện Hương Trà) nằm ngay trên đường giao thông từ Thuận An lên Mang Cá - Huế.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #123 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2024, 08:09:45 pm »


Trước tình hình quân ngụy ở Thừa Thiên - Huế đang rối loạn, hoang mang cực độ do bị bao vây tiến đánh từ nhiều phía, bộ tư lệnh quân đoàn 1 ngụy quyết định bỏ Huế. Tối 24 tháng 3, từ các cấp úy chỉ huy đến binh lính địch tháo chạy thục mạng về cửa Thuận An, cửa Tư Hiền, định lên tàu biển vào Đà Nẵng.

Tình hình chuyển biến mau lẹ. Ngay trong đêm 24 tháng 3, các đồng chí lãnh đạo trực tiếp của Thành ủy Huế và huyện ủy Phú Vang đã quyết định phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền. Lập tức, các cơ sở mật cùng biệt động thành đẩy mạnh truy kích địch ở chi khu quân sự quận 2; vận động quần chúng các quận 1, 2, 3 nội thành Huế và quận Phú Vang nổi dậy tiến công địch. Sáng 25, lực lượng vũ trang Huế phối hợp với nhân dân đánh chiếm quận lỵ Phú Vang, chiếm xe địch, cắm cờ cách mạng chạy thẳng vào thành phố. Trong lúc đó, nhiều nơi nhân dân đã tổ chức đón và dẫn đường cho chủ lực ta tiến công vào thành phố, đánh chiếm các vị trí quan trọng ở An Hòa, Bao Vinh, Mang Cá, Tây Lộc, Phu Văn Lâu, tòa Khâm Sứ, các nhà máy điện, nước cùng các vị trí quan trọng khác. Các cửa Thuận An, cửa Tư Hiền đều bị bộ binh và pháo binh ta khóa chặt. Bộ binh ta từ các hướng tiến về hợp điểm tại Huế.

Trước đó, ngày 23 tháng 3, tiểu đoàn 8 Quảng Trị đang cùng với trung đoàn 4 hoạt động ở cánh tây thì được lệnh chuyển hướng tiến công theo đường số 1 đánh vào nam sông Mỹ Chánh. Tuyến phòng thủ của địch ở Mỹ Chánh nhanh chóng bị phá vỡ. Lập tức, tiểu đoàn 8 truy kích tiêu diệt địch ở An Lỗ, sau đó, theo đường số 1 đánh chiếm cầu An Hòa đang bỏ ngỏ. Vừa tới An Hòa, bộ phận đi đầu của tiểu đoàn 8 được tự vệ thành ra dẫn đường tiến vào đánh chiếm thành phố Huế. Cùng thời gian, trung đoàn 101 (trung đoàn Trần Cao Vân) sư đoàn 325 — đứa con chủ lực đầu lòng của nhân dân Thừa Thiên - Huế được nhân dân dùng xe lam, xe máy cơ động nhanh từ hướng nam vào thành phố.

10 giờ 30 phút ngày 25 tháng 3 năm 1975, lá cờ chiến thắng được các chiến sĩ giải phóng cắm trên cột cờ Phu Văn Lâu tung bay trong gió báo tin vui thành phố Huế được giải phóng.

Buổi trưa và chiều ngày 25 tháng 3, lực lượng vũ trang Trị - Thiên phối hợp cùng Quân đoàn 2 tiếp tục giải phóng những sào huyệt cuối cùng của địch ở Huế và cùng quần chúng cách mạng làm chủ hoàn toàn thành phố.

Từ sau ngày 25 tháng 3, các đơn vị chủ lực của Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 cùng với lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân tiếp tục truy quét tàn quân địch ở Huế, khu 3 Phú Lộc, khu vực từ Lăng Cô đến đèo Hải Vân, của Thuận An...

Sau 22 ngày đêm cùng Quân đoàn 2 chiến đấu liên tục khẩn trương, quân và dân Trị - Thiên - Huế đã giành được thắng lợi nhanh chóng và trọn vẹn. Đây là thắng lợi to lớn nhất, triệt để nhất, là chiến công rực rỡ nhất của quân và dân Trị - Thiên trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ. Tiếp theo chiến thắng của ta ở Quảng Trị, tại Thừa Thiên - Huế, quân địch đã bị quật ngã trước đòn tiến công quyết liệt, táo bạo và thần tốc của ta, khiến cho chúng tuy quân đông, vũ khí phương tiện hiện đại vẫn không kịp trở tay, chịu thất bại hoàn toàn. Với chiến thắng trên chiến trường Trị - Thiên - Huế, ta đã đập tan lá chắn mạnh nhất của địch ở phía bắc, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch ở đây1, giành và giữ được tuyệt đại bộ phận nhân dân ở lại quê hương, cùng với lực lượng vũ trang tiến công tiêu diệt địch; sau đó lại kịp thời đón hết số dân bị địch cưỡng ép di tản trở về quê hương thu hồi toàn bộ cơ sở vật chất, kỹ thuật, vũ khí, trang bị của địch.

Ngày 28 tháng 3 năm 1975, Quân ủy Trung ương gửi điện biểu dương các lực lượng tham gia chiến dịch giải phóng Trị - Thiên - Huế. Quân ủy Trung ương khẳng định: "Việc đánh chiếm và giải phóng thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược và chính trị rất lớn. Chiến công đó làm cho nhân dân cả nước nức lòng phấn khởi, làm cho địch suy yếu thêm một bước mới hết sức nghiêm trọng, các đồng chí đã góp phần làm rạng rỡ truyền thống đấu tranh anh dũng kiên cường của quân và dân cả nước ta".
______________________________________________
1. Số quân địch bị tiêu diệt và tan rã ở chiến trường Trị - Thiên - Huế xuân 1975 gồm: 59.000 tên, trong đó có 3.781 sĩ quan và 14.000 nhân viên ngụy quyền các cấp.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #124 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2024, 08:11:48 pm »


*

*       *


Chiến thắng vang dội ở Trị - Thiên - Huế hòa chung với chiến thắng Tây Nguyên, tạo ra thời cơ chiến lược lớn, dẫn tới thắng lợi trọn vẹn trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Trước thời cơ "nghìn năm có một" này, quân và dân Trị - Thiên cũng như Quân khu 4 với trách nhiệm to lớn và tình cảm sâu nặng đối với đồng bào miền Nam, bất chấp mọi gian khổ, hy sinh, dồn sức lực và của cải chi viện cho các cánh quân trên chiến trường đang thần tốc truy đuổi quân thù đến sào huyệt cuối cùng của chúng.

Quê hương vừa giải phóng, biết bao công việc bộn bề, phức tạp, song với tinh thần tất cả cho tiền tuyến, ngày 27 tháng 3 năm 1975, Đảng ủy mặt trận và Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên đã quyết định tăng cường phần lớn các đơn vị chủ lực của quân khu cùng vũ khí, trang bị và lương thực cho Quân đoàn 2 để tiếp tục tiến công địch1. Nhân dân Trị - Thiên — Huế lưu luyến tiễn đưa Quân đoàn 2 và con em mình vượt đèo Hải Vân vào phía nam, phối hợp cùng các đơn vị và nhân dân địa phương kịp thời giải phóng Đà Nẵng, các tỉnh duyên hải miền Trung, kịp thời tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Thời cơ lịch sử đã tới, đòi hỏi hậu phương phải dốc sức tăng cường lực lượng cho chiến trường. Nhiều đơn vị bộ đội của quân khu dồn dập lên đường vào miền Nam chiến đấu. Sau khi sư đoàn 316 vào Tây Nguyên tham gia tiến công Buôn Ma Thuột giải phóng Tây Nguyên, sư đoàn 341 lại hành quân thần tốc vào tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Ngoài hai sư đoàn bộ binh, trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, Quân khu 4 còn bổ sung cho chiến trường miền Nam 13 tiểu đoàn bộ binh, trung đoàn 166 và tiểu đoàn 12 pháo 130 ly, tiểu đoàn 2 xe tăng, 100 chiến sĩ lái xe giỏi.


Ở Lào, mặc dầu Hiệp định về lập lại hòa bình thực hiện hòa hợp dân tộc đã được ký kết, nhưng do bản chất xảo trá của lực lượng phản động phái hữu, sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của bạn vẫn diễn ra phức tạp. Theo yêu cầu của bạn, lực lượng vũ trang và chuyên gia tình nguyện của Quân khu 4 tiếp tục hỗ trợ cho Pa-thét Lào và quần chúng cách mạng tiến công địch và nổi dậy giành chính quyền.

Sư đoàn 31 tình nguyện của quân khu đã cử ba tổ trinh sát giúp bạn nắm địch ở Xa La Phu Khum, Sảm Thông, Long Chẹng, đồng thời cơ động trung đoàn 886 (thiếu tiểu đoàn 7), đại đội pháo 130 ly và đại đội súng máy 14,5 ly vào Sảm Thông, cơ động đại đội pháo nòng dài 85 ly hỗ trợ cho bạn hướng Bom Lọng...

Được sự hỗ trợ của quân tình nguyện, lực lượng vũ trang Pa-thét Lào liên tiếp tiến công lực lượng phái hữu Viêng Chăn, nổi bật là trận đánh lữ đoàn 2 của Vàng Pao ở ngã ba Xa La Phu Khum. Tiếp đó, với sự yểm trợ của pháo binh và xe tăng ta, bộ đội Lào liên tiếp truy kích địch dọc đường số 13, thu thắng lợi lớn. Bị thất bại nặng nề, Vàng Pao bỏ vị trí chỉ huy, để cho các đơn vị thuộc quyền "tùy nghi di tản". Thừa thắng, lực lượng Pa-thét Lào tiếp tục tiến sâu vào vùng địch kiểm soát. Đến ngày 31 tháng 5, lực lượng Pa-thét Lào và lực lượng trung lập yêu nước đã triển khai 40 trên 44 tiểu đoàn vào các khu vực thuộc lực lượng của chính phủ Viêng Chăn kiểm soát, tạo được thế vững chắc về quân sự trên những địa bàn quan trọng, làm chỗ dựa cho quần chúng nổi dậy giành chính quyền thắng lợi.

Tại Viêng Chăn, đầu tháng 5 năm 1975, hàng chục nghìn nhân dân liên tiếp đấu tranh chống bọn phản động Lào, ủng hộ cương lĩnh 18 điểm của Mặt trận yêu nước Lào. Phong trào từ Viêng Chăn lan nhanh ra các thành phố, thị xã, thị trấn và tỏa đến nông thôn. Chớp thời cơ thuận lợi này, các ban lãnh đạo nhân dân kịp thời đưa kiến nghị yêu cầu quân Giải phóng Lào vào bảo vệ các thành phố và bảo vệ nhân dân. Trước áp lực của quần chúng cách mạng, Hoàng thân Phu-ma buộc phải chấp nhận yêu sách để cho Quân giải phóng vào thành phố.

Dựa vào cơ sở pháp lý, Quân giải phóng Lào tiến nhanh vào các thành phố tước vũ khí quân đội phái hữu, từng bước đập tan bộ máy chính quyền phản động của địch, xóa bỏ sự can thiệp của Mỹ ở Lào, thành lập hệ thống chính quyền nhân dân cách mạng từ trung ương đến cơ sở. Nước Lào thực sự độc lập.

Chiến thắng của quân và dân Lào năm 1975 hoàn thành cách mạng dân chủ nhân dân trong cả nước là kết quả của quá trình chiến đấu bền bỉ, kiên cường và anh dũng của lực lượng vũ trang và nhân dân các bộ tộc Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào. Đó cũng là thắng lợi của tình đoàn kết đặc biệt thủy chung của cách mạng hai nước Lào - Việt Nam. Quân và dân Quân khu 4 tự hào đã kề vai, sát cánh thủy chung cùng bạn trong những năm tháng đấu tranh gian khổ, ác liệt, đầy hy sinh và thử thách; góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cách mạng Lào năm 1975.

*

*       *

Thực hiện quyết tâm chiến lược hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam, thống nhất Tổ quốc, quân và dân Quân khu 4, Quân khu Trị - Thiên dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng, đã vượt qua mọi hy sinh thử thách, hăng hái phục vụ chiến đấu và chiến đấu dũng cảm, liên tiếp đánh bại các bước tiến hành chiến tranh tàn bạo và các thủ đoạn phá hoại Hiệp định Pa-ri của địch, cùng với cả nước hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ giải phóng miền Nam và cùng với quân, dân Lào đưa sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc Lào đến thắng lợi trọn vẹn.

Thắng lợi của quân và dân Quân khu 4 trên mảnh đất truyền thống từ Tam Điệp đến đèo Hải Vân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ là sự thể hiện tinh thần yêu nước thiết tha và khả năng to lớn của nhân dân ta đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; đồng thời là cột mốc đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh đưa cách mạng đến thắng lợi, đánh dấu sự trưởng thành của lực lượng vũ trang ba thứ quân trong tác chiến trên một địa bàn chiến lược quan trọng của cả nước.
___________________________________________
1. Quân khu Trị - Thiên tăng cường cho Quân đoàn 2 gồm: ba trung đoàn bộ binh 4, 46 và 471, tiểu đoàn 403 pháo binh và toàn bộ đạn pháo 130 ly, 1.000 tấn gạo. Quân đoàn 2 được chọn xe vận tải GMC, xe tăng, xe bọc thép và các loại đạn chiến lợi phẩm còn sử dụng được để đảm bảo cho chiến đấu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #125 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:30:47 pm »


CHƯƠNG KẾT

Suốt 30 năm, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, quân và dân Quân khu 4 đã hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang, góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng cả nước, cũng như đối với nghĩa vụ quốc tế.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào các dân tộc trên địa bàn quân khu đã nêu cao tinh thần yêu nước, tự lực tự cường, vừa đánh địch vừa xây dựng và ổn định cuộc sống về mọi mặt, cùng cả nước tiến hành cuộc chiến tranh cực kỳ gian khổ, chịu nhiều mất mát, hy sinh nhưng đã giành thắng lợi vẻ vang.

Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh là phần đất của quân khu có được cuộc sống hòa bình. Công cuộc xây dựng cuộc sống mới trong hòa bình đã nhanh chóng tạo nên những biến đổi sâu sắc, toàn diện về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh... ở địa bàn quân khu, nâng cao được bàn lĩnh chính trị, tri thức quân sự của từng cán bộ, chiến sĩ, từng người dân. Đây là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho quân khu có thế đứng vững chắc để bước vào cuộc chiến đấu mới vô cùng gay go, quyết liệt.

21 năm chống Mỹ, cứu nước là chặng đường lịch sử đầy gian khổ, hy sinh, nhưng hết sức vẻ vang, oanh liệt của dân tộc. Trong suốt thời gian đó, Quân khu 4 cùng lúc thực hiện cả hai nhiệm vụ chiến lược: vừa tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng ở miền Nam, vừa tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa; vừa làm nhiệm vụ tiền tuyến, vừa làm nhiệm vụ hậu phương, vừa làm nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Lào, Cam-pu-chia.

Trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang ấy, tiền tuyến, hậu phương quân khu đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ.

Ở hậu phương lớn, giặc Mỹ gây chiến tranh phá hoại, mục đích là làm lung lay quyết tâm giải phóng miền Nam của quân và dân ta, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc.

Trong cuộc chiến đấu này, vị trí Quân khu 4 càng trở nên quan trọng. Việc đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch trên địa bàn Quân khu 4 là vấn đề có ý nghĩa chiến lược tác động lớn đến toàn bộ sự nghiệp bảo vệ miền Bắc và giải phóng miền Nam. Do đó, cuộc đọ sức giữa ta và địch diễn ra ở đây vô cùng quyết liệt. Giặc Mỹ đánh phá Quân khu 4 trước tiên và cũng là nơi chúng đánh phá đến phút cuối cùng trước khi kết thúc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Nhưng các mục tiêu mà Mỹ đề ra đã không đạt được, trái lại chúng còn bị thất bại nặng nề.

Trên tiền tuyến lớn miền Nam, Mỹ - ngụy chọn Trị - Thiên làm địa bàn chia cắt về chiến lược, chúng tổ chức tại đây hệ thống phòng ngự ngăn chặn hướng tiến công chiến lược của ta từ miền Bắc, đồng thời củng cố thực lực và khi có điều kiện thì tiến công xâm lược miền Bắc, trước hết là nam Quân khu 4. Trị - Thiên - Huế trở thành đầu cầu chiến lược quan trọng để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam và làm nhiệm vụ quốc tế, nơi thử thách sức mạnh hai chế độ, giữa lực lượng cách mạng và phản cách mạng, nơi tụ điểm quyết liệt của chiến tranh.

Để chiến thắng địch, quân dân Trị - Thiên - Huế đã phát huy sức mạnh tổng hợp, đánh địch bằng cả quân sự chính trị, trên cả ba vùng chiến lược, kết hợp giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhiệm vụ chính trị của địa phương với nhiệm vụ toàn cục, giữa hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam với bảo vệ miền Bắc.

Được sự chi viện to lớn của miền Bắc, của hậu phương trực tiếp Quảng Bình, Vĩnh Linh và Thanh - Nghệ - Tĩnh ruột thịt, quân và dân Trị - Thiên - Huế đã vượt qua muôn vàn khó khăn, hy sinh, gian khổ, giành được thắng lợi to lớn.

Từ tiền tuyến đến hậu phương, quân và dân Quân khu 4, được tôi luyện trong cuộc chiến đấu dài ngày. Các Đảng bộ ở đây trưởng thành về mọi mặt. Lực lượng vũ trang và nhân dân trưởng thành nhanh chóng cả về trình độ chính trị và năng lực tổ chức. Chiến tranh nhân dân phát triển cao, đã rèn luyện nên những con người mới, đánh giặc giỏi, sản xuất giỏi, có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần quốc tế vô sản cao cả, sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc, đoàn kết, tin tưởng vô hạn vào Đảng, vào Bác Hồ, vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.

Là một địa bàn có ý nghĩa chiến lược, bằng việc hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình qua hai cuộc kháng chiến, Quân khu 4 đã góp phần vào thắng lợi to lớn của cách mạng cả nước, cũng như đối với sự nghiệp cách mạng của Lào và Cam-pu-chia.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, kế thừa và phát huy truyền thống chống ngoại xâm, quân và dân Quân khu 4 đã lao động, chiến đấu sáng tạo, mưu trí, góp phần làm phong phú thêm nghệ thuật quân sự Việt Nam, nghệ thuật quân sự cách mạng trong thời đại Hồ Chí Minh.

Từ Xô-viết Nghệ - Tĩnh, hình thức chính quyền công nông phôi thai của cách mạng, quân và dân Quân khu 4 đã bền bỉ chiến đấu, thiết tha xây dựng một chế độ mới công bằng, không có người bóc lột người - một khát vọng lâu đời đã phải đánh đổi bằng sự hy sinh vô cùng to lớn. Vì vậy, dù phải trải qua bao thử thách, Đảng bộ, quân và dân quân khu vẫn trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa, với tư tưởng Hồ Chí Minh, với con đường mà Bác Hồ vô vàn kính yêu và nhân dân ta đã chọn.

Quân khu đã giành thắng lợi vẻ vang, nhưng trên chặng đường 30 năm của cuộc chiến tranh, cũng không tránh khỏi những vấp váp, sai sót, hạn chế đến bước tiến của sự nghiệp cách mạng. Đó là tư tưởng hữu khuynh trong đấu tranh giai cấp, ảo tưởng hòa bình trong thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ và Hiệp định Pa-ri; là sự kéo dài quan niệm "khu đệm" Trị - Thiên, tư tưởng thỏa mãn, dừng lại sau chiến thắng chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, chủ quan không dự kiến hết những tình huống khó khăn phức tạp diễn ra trên địa bàn quân khu sau cuộc Tổng tiến công nổi dậy tết Mậu Thân (1968) cũng như cuộc tiến công Quảng Trị (1972)... Tuy vậy, thực tiễn sống động của tình hình đã giúp lãnh đạo và chỉ huy các cấp kịp thời rút ra bài học, nhằm đảm bảo cho thắng lợi ngày càng vững chắc hơn.

Phần đất Quân khu 4 qua các thời kỳ lịch sử là điểm kẻ thù thường thực hiện âm mưu chia cắt đất nước ta. Vì vậy nhiệm vụ chống chia cắt, giữ vững sự thống nhất của đất nước, tạo bàn đạp cơ động tiến công kẻ thù luôn luôn là nhiệm vụ hàng đầu, là sứ mệnh chính trị của quân và dân Quân khu 4.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #126 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:31:52 pm »


Suốt 30 năm trong hai cuộc kháng chiến, dải đất này luôn thể hiện vai trò, vị trí vừa hậu phương, vừa tiền tuyến. Mối quan hệ nằm trong một thể thống nhất, hậu phương tiền tuyến cùng hỗ trợ lẫn nhau để chiến đấu, tồn tại và phát triển. Trong mối quan hệ tiền tuyến - hậu phương, vai trò hậu phương luôn luôn quyết định tính chất chiến lược của địa bàn. Ý thúc được tầm quan trọng vị trí chiến lược Quân khu 4, Đảng bộ và quân, dân quân khu đã ra sức xây dựng thành căn cứ hậu phương vững mạnh mà nội dung chủ yếu là xây dựng chế độ mới - chế độ Dân chủ nhân dân trong kháng chiến chống Pháp và xây dựng chế độ Xã hội chủ nghĩa trong kháng chiến chống Mỹ. Đó là động lực to lớn để phát huy hết khả năng, tiềm lực của địa phương trong chiến tranh.

Kháng chiến đi đôi với kiến quốc, phản đế đi đôi với phản phong; vừa làm nhiệm vụ giải phóng, vừa làm nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ; chiến đấu gắn liền với sản xuất..., giải quyết tốt mối quan hệ trên luôn là nhiệm vụ chiến lược nặng nề của Quân khu 4. Nét đặc thù về tính chất địa bàn luôn đòi hỏi quân và dân nơi đây nắm vững quy luật giành thế chủ động, chống thủ đoạn chia cắt của các thế lực ngoại xâm.

Thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả, với lợi thế về vị trí địa lý trong suốt 30 năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, quân và dân Quân khu 4 luôn kề vai sát cánh cùng bạn Lào chống kẻ thù chung. Mỗi bước trưởng thành của bạn không tách rời tình đoàn kết chiến đấu thủy chung Việt - Lào, đồng thời cũng chính là nhân tố bảo đảm sự vững chắc cho địa bàn quân khu trước mọi thủ đoạn tiến công đánh phá của kẻ thù.

Do vị trí địa lý, điều kiện thiên nhiên, vùng đất, con người ở đây đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình dựng nước và giữ nước. Một vùng đất mà ông cha ta xưa cho: "tiến có thế công - phòng có thế thủ", có đủ yếu tố "thiên thời, địa lợi, nhân hòa", là nơi "địa linh, nhân kiệt”. Không phải ngẫu nhiên hàng nghìn năm qua, mỗi khi đất nước đứng trước tai họa bị ngoại bang thôn tính, ông cha ta thường vào đây chiêu mộ nhân tài, tổ chức kháng chiến để thu phục non sông về một mối.

Thực tiễn sống động của cuộc kháng chiến chống Mỹ ở địa bàn Khu 4 càng thể hiện rõ một đặc trưng nổi bật: chiến tranh dẫu ác liệt, nhiều gian khổ hy sinh, người dân ở đây vẫn lạc quan tin tưởng. Tất cả đều nô nức lên đường, người già như trẻ lại, trẻ em khôn trước tuổi, thanh niên trùng điệp ra chiến trường, phụ nữ đảm đang từ việc nhà, việc sản xuất đến việc chiến đấu. Ngoài tiền tuyến người trước ngã, người sau tiếp bước. Ở hậu phương, tất cả già, trẻ, gái, trai..., triệu người như một, ra sức thi đua sản xuất, chiến đấu, phục vụ giao thông vận tải... Toàn dân cùng một mục tiêu là đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc.

Ý chí và niềm lạc quan cách mạng của người dân ở đây có cội rễ từ truyền thống chống ngoại xâm kiên cường từ hàng nghìn năm lịch sử, từ phong trào Xô-viết Nghệ - Tĩnh những năm 1930 - 1931 và đỉnh cao là tư tưởng Hồ Chí Minh - "Tinh hoa của dân tộc, lương tâm của thời đại”, nhưng cũng chính là con người rất bình dị của xứ sở này.

Luôn trung thành với Đảng, với Bác Hồ, với cách mạng, trong thử thách ác liệt của chiến tranh, biết bao người dân, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang quân khu đã thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng từ những hành động bình thường. Một bà mẹ ở bến phà Long Đại đã dành những quà trứng cho thương binh. Xóm Bàu xã Vĩnh Kim (Vĩnh Linh), dưới ách thống trị của thực dân Pháp đói nghèo cơ cực, sau Cách mạng tháng Tám đã "thay da đổi thịt". Khi không quân và hải quân Mỹ đánh phá quyết liệt, nhân dân ở đây sống chết bám làng, bám đất chiến đấu, sản xuất, quyết không chịu khuất phục trước quân thù. Gia đình cụ Ngân (Quảng Bình) có bốn con, mặc dầu trong một chuyến vận tải ba người đã hy sinh, cụ vẫn quyết cho người con cuối cùng "tiếp tục tay chèo, chở hàng ra tiền tuyến mà các anh nó còn bỏ dở".

Mẹ Diệm ở xã Lĩnh Sơn (Nghệ An) suốt cả cuộc đời tần tảo, gánh vác việc gia đình, hậu phương cho ba thế hệ: chồng, con, cháu đi đánh giặc. Mặc dù chống và con trai đã hy sinh trong kháng chiến chống Pháp, mẹ vẫn động viên đứa cháu độc nhất của mình đi đánh Mỹ...

Cùng với ý chí, lòng trung thành cách mạng, quân và dân Khu 4 luôn nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, tư tưởng cách mạng tiến công, dũng cảm, mưu trí, tự lực tự cường, đoàn kết trong chiến đấu.

Ngay từ những phút đầu, khi máy bay Mỹ tiến hành đánh phá, hủy diệt, gây bao tổn thất, thương đau ở hậu phương Quân khu 4, thì quân và dân nơi đây đã kiên cường đánh trả quyết liệt với mọi thứ vũ khí trong tay. Khẩu hiệu đầy khí thế tiến công - "Nhằm thẳng quân thù, bắn" của Nguyễn Viết Xuân đã trở thành hành động phổ biến. Dân quân xã Tiến Hóa (Quảng Bình) đã dùng thang mây, vượt lèn cao, dốc đứng, đưa súng máy lên đỉnh lèn Bảng cao gần 1.000 mét và bắn rơi tại chỗ một F4 Mỹ. Dân quân Quỳnh Long (Quỳnh Lưu - Nghệ An) dùng thuyền nan tiếp cận tàu chiến Mỹ và trừng trị lũ "cướp biển" này bằng súng B40. Nữ dân quân Nguyễn Thị Xuân, giáo dân xã Quảng Phúc (Quảng Bình), một mình, một súng, một trận địa bắn rơi tại chỗ một máy bay F4.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #127 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:33:37 pm »


Trên một trận giao thông vận tải, chỉ trong một thời gian ngắn, máy bay Mỹ đã ném xuống ngã ba Đồng Lộc hơn 30 nghìn tấn bom đạn, hòng hủy diệt mọi mầm sống nơi đây. Nhưng ở chính "túi bom" này vẫn ngân lên những lời tâm tình đầy lạc quân của những người con gái: "Ở đây vui lắm mẹ ạ, ban đêm chúng đến thắp đèn để chúng con làm đường, ban ngày chúng đem bom giết cá để chúng con cải thiện. Bom giặc có thể rung chuyển đồi núi, nhưng làm sao rung chuyển được trái tim chúng con...”1.

Mặc bom đạn giặc đánh phá ác liệt ngày đêm, quân và dân Quân khu 4 vẫn chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi, tổ chức đời sống vui tươi. Những cánh đồng cao sản ngày càng nhiều thêm, những cơ sở công nghiệp vẫn không ngừng cung cấp những mặt hàng cho nhân dân; khắp mọi miền quê, các em nhỏ vẫn cấp sách đến trường. Nghệ An có xã Diễn Kỷ với phong trào "đội bom đi học". Hà Tĩnh có xã Cẩm Bình, điển hình của ngành giáo dục cả nước về phát triển văn hóa giáo dục...

Dũng cảm, lạc quan trong chiến đấu; bền bỉ, sáng tạo trong khó khăn thiếu thốn, cũng là những biểu hiện rất đáng tự hào của quân dân Khu 4 trong những năm chiến tranh quyết liệt.

Để chiến thắng một tên đế quốc tàn bạo, có nhiều phương tiện kỹ thuật hiện đại như đế quốc Mỹ, cùng với quân và dân cả nước, quân và dân trong Quân khu 4 không những chiến đấu dũng cảm, mà còn phải thông minh, tài trí để tìm ra cách đánh tốt nhất, đạt hiệu quả cao nhất. Giặc Mỹ càng xảo quyệt, quân, dân ta càng mưu trí quyết giành thắng lợi ngày càng lớn hơn.

Để tạo nên sức mạnh tại chỗ, chiến đấu lâu dài, chủ động trong mọi tình huống, quân và dân Khu 4 luôn nêu cao tinh thần tự lực tự cường, khó khăn cùng nhau khắc phục, thiếu thốn cùng nhau chịu đựng, giữ vững nếp sống trong sạch lành mạnh, chắt chiu từng đồng tiền, bắt gạo, để nuôi sống con em ăn no đánh thắng. Trong những ngày chiến tranh khốc liệt, thiếu thốn nhất "hạt gạo phải cắn làm ba", nhân dân vẫn luôn bảo nhau giữ tròn đạo lý: "đói cho sạch, rách cho thơm", “của công cho không lấy, thấy bảo quản"...

Càng trong gian khổ ác liệt, tinh thần đoàn kết càng gắn bó keo sơn: "một miếng khi đói, bằng một gói khi no", "lá lành đùm lá rách", nhân dân đã nhường áo, sẻ cơm cho nhau khi hoạn nạn. Nơi nào địch đánh phá ác liệt thì nơi đó không ít tấm gương: hiến máu cho người bị thương, góp sữa nuôi các cháu mất mẹ; chia nhà, nhường hầm cho những gia đình bị địch tàn phá. Trong chiến đấu thì giành khó khăn nguy hiểm về mình, nhường thuận lợi cho bạn. Bộ đội chiến đấu ở đâu là ở đó có hình ảnh đồng bào giúp lấy lá ngụy trang, đào công sự, giặt giũ, vá may, cử người làm pháo thủ, anh nuôi... Nhiều mẹ, nhiều chị thức quạt suốt đêm cho thương binh ngủ; hàng tháng trời cõng thương binh đi đại tiện, tiểu tiện, dành cả vườn chè đun nước cho thương binh...

Trên tiền tuyến Trị - Thiên, tinh thần "Đảng bám dân, dân bám đất, du kích bám giặc, đánh giặc” là biểu hiện của cuộc đấu tranh anh hùng, đầy hy sinh, gian khổ, quyết liệt. Nhiều cấp ủy huyện, xã phải tổ chức lại hàng chục lần; nhiều chi bộ đảng mặc dầu bị kẻ thù chà xát khốc liệt vẫn kiên cường bám dân để đánh địch, nhiều gương anh hùng bám trụ nổi tiếng như Trần Thị Tâm, Nguyễn Thị Lài...

Tình đồng chí đồng đội, tình hậu phương - tiền tuyến, tình quân dân thắm thiết đều là những biểu hiện của mối quan hệ truyền thống đẹp đẽ, bình dị giữa những con người Việt Nam trong thời kỳ chống Mỹ.

Qua 30 năm chiến tranh, đặc biệt là những năm kháng chiến chống Mỹ, quân và dân Khu 4 càng thể hiện rõ sự trung thành vô hạn với Đảng, với cách mạng; dũng cảm, ngoan cường, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu; nhiệt tình, hăng say cần cù trong công tác; đoàn kết, giản dị, lành mạnh trong cuộc sống đời thường... Những đặc trưng cơ bản này là yếu tố chính trị - tinh thần của những con người trên vùng đất vốn có truyền thống đánh giặc, là cội nguồn tạo nên sức mạnh cực kỳ to lớn để chiến thắng kẻ thù.

Những nguyên nhân cơ bản để quân và dân Khu 4 giành được thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ là:

- Có đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng, có sự lãnh đạo sáng suốt của Ban Chấp hành Trung ương đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, có sự chỉ đạo kịp thời và sáng tạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng.

- Có sự chi viện đắc lực, sự phối hợp, cổ vũ to lớn của quân, dân miền Bắc và cả nước; sự giúp đỡ hết lòng của bè bạn quốc tế; sự liên minh chặt chẽ thủy chung với nước bạn Lào.

- Có sức mạnh to lớn của truyền thống cách mạng vẻ vang, cùng với sức mạnh tiềm tàng của chế độ mới - chế độ Dân chủ nhân dân trong kháng chiến chống Pháp và chế độ Xã hội chủ nghĩa trong kháng chiến chống Mỹ.

- Cán bộ, chiến sĩ thuộc các lực lượng vũ trang trong quân khu, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của các cấp bộ Đảng, đã nêu cao lòng trung thành vô hạn với Đảng với nhân dân, giữ vững vai trò nòng cốt, xung kích trong thế trận chiến tranh nhân dân vĩ đại.

- Trong các nguyên nhân trên, sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Trung ương Đảng; sự lãnh đạo, chỉ huy của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cùng với trình độ tổ chức, chỉ đạo, chỉ huy của các cấp trên các chiến trường và các địa phương là nguyên nhân bao trùm có ý nghĩa quan trọng nhất.
______________________________________________
1. Trích thư của Võ Thị Tần, tiểu đội trưởng nữ thanh niên xung phong (10 cô gái) ở ngã ba Đồng Lộc, gửi cho mẹ, ngày 20 tháng 7 năm 1968.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #128 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:35:02 pm »


Thực tiễn phong phú của 30 năm chống ngoại xâm dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đã cho Quân khu 4 những kinh nghiệm quý:

1. Bám sát đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước, nhận rõ đặc điểm, vị trí, nhiệm vụ, đánh giá đúng âm mưu thủ đoạn cụ thể của địch, để có chủ trương, quyết tâm đúng, làm cho các lực lượng của quân khu luôn nhận rõ vị trí, nhiệm vụ chính trị, mục tiêu hành động, đứng vững trên vị trí của mình.

Từ trước đến nay, trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm ở mỗi bước ngoặt hay bước phát triển mới của cách mạng đều có những thuận lợi mới, nhưng cũng nảy sinh những khó khăn mới.

Trong suốt quá trình lãnh đạo xây dựng và chiến đấu, Quân khu không ngừng bám sát đường lối, nhiệm vụ của Đảng đánh giá đúng âm mưu thủ đoạn của địch đối với địa bàn, để xác định nhiệm vụ cho các lực lượng vũ trang quân khu, cũng như của từng địa phương, đơn vị sát hợp với từng thời kỳ cách mạng.

Trong kháng chiến chống Pháp, sau khi mặt trận Huế vỡ, tình hình vô cùng phức tạp, nhưng Đảng bộ Thừa Thiên chủ trương: "Mất đất, chưa phải mất nước. Chúng ta quyết không để mất dân, chết không rời cơ sở. Chúng ta nhất định thắng", nên đã kịp thời ngăn chặn bước đi xuống của phong trào, đưa cuộc kháng chiến ở Thừa Thiên từng bước đi lên để cuối cùng giành thắng lợi.

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhờ sớm nắm bắt quan điểm bạo lực cách mạng, Bắc - Nam thống nhất, Đông Dương là một chiến trường, Quân khu đã chủ động ứng phó được trước mọi tình hình biến chuyển. Chủ trương T - 01 của Quân khu 4 trong thời điểm miền Bắc còn tạm thời hòa bình là chủ trương đúng đắn, là sự bắt mạch đúng nhiệm vụ, bảo đảm cho lực lượng vũ trang quân khu sẵn sàng trước mọi tình thế có thể xảy ra.

Khi ta mở mặt trận Đường số 9, Quân khu đã xác định vị trí nhiệm vụ chính trị của mình lúc này là: "Quân khu 4 cùng với Trị - Thiên, đường số 9 và Trung - Hạ Lào thành một chiến trường, nam Quân khu 4 cùng với đường số 9 là một mặt trận”. Từ nhận thức đó, các lực lượng vũ trang quân khu ở phía sau đã khẩn trương chuẩn bị tăng cường cho các hướng. Các lực lượng vũ trang trên đất Vĩnh Linh, Quảng Bình phối hợp chặt chẽ với mặt trận Đường số 9, vừa chống chiến tranh phá hoại, vừa làm tròn nhiệm vụ hậu phương chiến dịch, vừa sẵn sàng đối phó âm mưu tiến công bằng bộ binh của đế quốc Mỹ. Khi miền Nam bước vào giai đoạn Tổng tiến công, nổi dậy, Quân khu nhận rõ nhiệm vụ của mình lả: "Đội dự bị trực tiếp của Trị - Thiên và Đường số 9". Trung đoàn 27 ra đời trong hoàn cảnh đó. Vừa thành lập, trung đoàn đã trực tiếp đối đầu với Mỹ - ngụy và giành chiến thắng ngay từ trận đầu.

Trong bảy tháng địch tiến hành "ném bom hạn chế”, trước sự hủy diệt tàn khốc của bom đạn Mỹ, Quân khu đã xác định vị trí của mình lúc này là "đại biểu cho miền Bắc, quyết đánh thắng hoàn toàn chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ". Nhận rõ vị trí, trách nhiệm và vinh dự ấy, lực lượng vũ trang và nhân dân quân khu càng vững vàng trước mọi thử thách. Đây cũng là thời điểm xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân anh hùng trên mặt trận đánh địch, bảo đảm giao thông vận tải...

Ở Trị - Thiên, sau khi cơ sở cách mạng và phong trào đấu tranh của đồng bằng bị tổn thất nặng, nghị quyết của Tỉnh ủy Thừa Thiên (tháng 1 năm 1957) của Tỉnh ủy Quảng Trị (tháng 10 năm 1957) đều xác định nội dung quan trọng là phải xây dựng miền núi, lập căn cứ làm chỗ đứng chân và chỗ dựa để khôi phục lại đồng bằng. Chủ trương đúng đắn đó có ý nghĩa quyết định tới toàn bộ quá trình phát triển của phong trào cách mạng Trị - Thiên.

Đến năm 1962, phong trào ở Trị - Thiên phát triển còn chậm và yếu, một mặt do lực lượng địch đông và mạnh hơn ta nhiều, mặt khác, quan niệm "sách lược khu đệm", đã hạn chế tư tưởng tích cực tiến công. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, tỉnh ủy các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên đã quyết nghị: “Phải khẩn trương đưa phong trào lên một cách khéo léo, từng bước vững chắc, nắm vững đấu tranh chính trị là chủ yếu, đồng thời cần nâng cao hoạt động vũ trang... Khéo kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang...". Với chủ trương đúng đắn đó, phong trào ở Trị — Thiên — Huế năm 1963 đã có những bước phát triển mới.

Thực tế cho thấy, dù tình huống khó khăn phức tạp đến đâu, nếu lãnh đạo quán triệt quan điểm giai cấp, tư tưởng cách mạng tiến công, sẽ nắm bắt, đánh giá chuẩn xác tình hình, có chủ trương hành động đúng đắn, kịp thời giành thắng lợi. Ngược lại, để tư tưởng hữu khuynh chi phối, đề ra chủ trương không đúng, sẽ bỏ lỡ thời cơ, thậm chí còn phải chịu tổn thất.
_______________________________________________
1. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ quân khu lần thứ hai (1962) để ra chủ trương T = 0 (không còn thời gian, tất cả phải sẵn sàng).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #129 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:36:42 pm »


2. Động viên toàn dân phát huy vai trò chiến tranh nhân dân, góp phần đánh bại các loại hình chiến tranh xâm lược.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quần chúng nhân dân trong chiến tranh đã được khẳng định. Bước vào thời kỳ đánh Mỹ, chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại hoàn toàn mới, chưa có tiền lệ trong lịch sử chiến tranh ở nước ta. Nhưng trên cơ sở nắm vững quan điểm chiến tranh nhân dân, với ý chí quyết thắng cao, Đảng bộ Quân khu 4 đã lãnh đạo nhân dân và lực lượng vũ trang xây dựng ngay từ đấu thế trận chiến tranh nhân dân “đất đối không” đánh thắng trận đầu, thắng liên tục. Thực tiễn đó đã đưa lại niềm tin rất lớn trong nhân dân. Đảng tin quần chúng, càng tích cực giáo đục, tổ chức mọi lực lượng thành đội ngũ chiến đấu. Quần chúng tin Đảng, trước thử thách mới nặng nề, ác liệt, càng tỏ rõ sức mạnh phi thường cả về lòng dũng cảm và trí thông minh sáng tạo. Sự tác động qua lại đó, đã thúc đẩy phong trào quần chúng triển khai thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng phong phú, có hiệu quả.

Quần chúng vốn có sức mạnh tiềm tàng, nhưng phát huy được đến mức độ nào, tùy thuộc ở vai trò lãnh đạo, chỉ huy các cấp. Thực tiễn phong phú của cuộc chiến tranh nhân dân trên địa bàn Khu 4 trong kháng chiến chống Mỹ cho thấy: muốn phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân, không những phải làm tốt công tác phát động tư tưởng, mà còn phải biết phát huy sức mạnh của quần chúng một cách có tổ chức khoa học.

Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Quân khu 4 đã có một hậu phương lớn, sức mạnh quần chúng đã có chuyển biến về chất. Vì vậy, khi tiến hành kháng chiến chống Mỹ, Quân khu không chỉ chủ trọng yếu tố chính trị, tinh thần mà còn phải chú trọng cả yếu tố về tổ chức. Trong những năm kháng chiến, hệ thống tổ chức chính quyền các cấp và tổ chức quần chúng đã phát huy tính ưu việt của mình trong quá trình phát động toàn dân tham gia chiến tranh. Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp là nơi động viên tổ chức lực lượng chiến đấu, phục vụ chiến đấu, nơi giải quyết chính sách, đảm bảo đời sống, tiêu biểu cho sức mạnh, sự vững chắc của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nông thôn.

Các cơ quan Nhà nước như bưu điện, y tế, thương nghiệp đã trở thành một bộ phận của ngành thông tin liên lạc quân sự, của ngành quân y, của công tác hậu cần quân đội. Các đoàn thể quần chúng như phụ nữ, thanh niên, phụ lão, thiếu niên đều tìm được chỗ đứng để phát huy tác dụng hội viên, đoàn viên của mình tham gia kháng chiến. Các phong trào thanh niên "ba sẵn sàng", phụ nữ "ba đảm đang", các cuộc vận động "tay cày, tay súng", "hai giỏi", phát triển sôi nổi có chất lượng cao, biểu hiện vai trò của các tổ chức quần chúng trong chiến tranh.

Quá trình phát huy sức mạnh quần chúng, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh quân khu và các tỉnh ủy không ngừng tăng cường vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân, bao gồm cả ba thứ quân; thường xuyên coi trọng xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ, đảm bảo yêu cầu sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu tại chỗ, đảm bảo trật tự trị an. Nhờ đó, ngay từ những ngày đầu chiến tranh, ngoài hoạt động có hiệu quả của chủ lực, dân quân tự vệ đã tỏ rõ sức mạnh to lớn của mình. Trong đánh địch, từ tay cày, tay súng, tiến lên kết hợp với tổ chức trực chiến có trọng điểm; từ những đơn vị trang bị vũ khí bộ binh, tiến lên những đơn vị có nhiều loại vũ khí tương đối hiện đại... Trong đảm bảo giao thông vận tải, từ việc lấp hố bom, chỉ đường, thông xe, dân quân, tự vệ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Vĩnh Linh dần dần đảm nhiệm những công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật như phá bom nổ chậm, bom bi, bom từ trường, bắc cầu, ghép phà...

Ở Trị - Thiên - Huế, từ đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ phong trào du kích miền núi cũng được đẩy mạnh với khẩu hiệu "Mỗi người dân là một du kích, sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi". Các thôn, xã có phương án tác chiến. Quần chúng tham gia rào làng chiến đấu, làm chông, bẫy... Địch càn quét hoặc dùng không quân oanh tạc đều bị du kích chặn đánh, tiêu hao và bắn rơi máy bay. Trong đợt tiến công bao vây vị trí A Lưới, du kích đã diệt nhiều sinh lực địch. Khi Mỹ vào Trị - Thiên, trong tháng 7 năm 1965, tổ du kích ba người do đồng chí Nguyễn Việt Phong chỉ huy đã gây cho chúng nhiều tổn thất.

Thấu suốt đường lối chiến tranh nhân dân, với tư tưởng chiến lược tiến công của Đảng, quân dân Quân khu 4 đã sáng tạo nhiều hình thức tác chiến linh hoạt: chốt kết hợp cơ động, bố trí hỏa lực nhiều tầng, phục kích đón lõng, vận động phục kích, nghi binh lừa địch, theo dõi nắm chắc quy luật hoạt động địch... chủ động đánh bại mọi hành động của chúng. Trong số 2.183 máy bay Mỹ bắn rơi ở Quân khu 4, có 1.100 chiếc bị bắn rơi vì lưới lửa tầm thấp1.

Ngày 28 tháng 3 năm 1968, dân quân Hà Tĩnh với hỏa lực tầm thấp bắn rơi chiếc máy bay F.111A đầu tiên trên miền Bắc.

Trên mặt trận Đường số 9 và Trị - Thiên - Huế, với thế rộng và hiểm của chiến tranh nhân dân địa phương, kết hợp với hoạt động tác chiến của các binh đoàn chủ lực, ta đã tiến công địch bằng cả "hai chân, ba mũi" trên cả ba vùng chiến lược, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của địch; đập vỡ, tiêu diệt hệ thống phòng ngự vòng ngoài của chúng, tiến lên giải phóng quận lỵ, thị xã, giải phóng nhiều vùng đông dân cư ở đồng bằng.

Hai sư đoàn chủ lực lính thủy đánh bộ Mỹ vừa đưa sang Việt Nam làm nhiệm vụ tiêu diệt chủ lực ta, phải ra vùng rừng núi Trị - Thiên để đối phó với chủ lực miền Bắc và chiến tranh du kích đã như "cá voi mắc cạn". Quân khu 4 càng có thêm điều kiện để diệt Mỹ, chia lửa cho đồng bào miền Nam.

Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân trên chiến trường Trị - Thiên - Huế với thắng lợi 25 ngày đêm làm chủ thành phố Huế, 170 ngày đêm vây hãm - Khe Sanh, buộc Mỹ rút chạy, là thắng lợi rất lớn về quân sự, chính trị. Đó là kết quả của việc kết hợp hai phương thức tiến hành chiến tranh, là thế mạnh hai chân, ba mũi, ba vùng ở Trị - Thiên.

Trong Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân và chiến dịch tiến công Quảng Trị năm 1972, mặc dù phải huy động binh hỏa lực rất lớn, nhưng ta vẫn giữ được bí mật tuyệt đối, làm cho kẻ địch hoàn toàn bất ngờ. Đó là kết quả của nghệ thuật tổ chức chỉ huy và ý thức chính trị cao của nhân dân Khu 4.
______________________________________________
1. Tiểu đoàn 14 cao xạ 37 ly bắn rơi 121 chiếc. Tiểu đoàn 6 cao xạ 37 ly bộ đội địa phương Vĩnh Linh bắn rơi 109 chiếc. Dân quân, tự vệ toàn quân khu bắn rơi 288 chiếc.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM