Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:31:42 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005)  (Đọc 76493 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2024, 05:56:00 pm »


BỘ QUỐC PHÒNG
BỘ TƯ LỆNH QUÂN KHU 4


QUÂN KHU 4
LỊCH SỬ XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC
(1975 - 2005)



NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
Hà Nội – 2005



* Chỉ đạo nội dung:
ĐẢNG ỦY - BỘ TƯ LỆNH QUÂN KHU 4

* Tổ chức thực hiện:

PHÒNG KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG QUÂN KHU 4

* Tham gia biên soạn:
- Đại tá TRẦN NGỌC QUỲ
- Đại tá PHAN XUYẾN (THANH ĐỒNG)
- Đại tá TRẦN DOÃN YẾN
- Đại tá ĐẶNG ÍCH CHÍNH (Chủ biên)

* Hoàn chỉnh bản thảo:
Đại tá, Tiến sĩ DƯƠNG ĐÌNH LẬP


Lời nói đầu

Ngày 15 tháng 10 năm 1945, Chiến khu 4 nằm ở địa bàn phía Bắc Trung Bộ (gồm các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên) được thành lập. Từ đó, ngày 15 tháng 10 hàng năm trở thành ngày truyền thống của Quân khu 4 anh hùng. Trải qua 60 năm xây dựng và chiến đấu, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân Quân khu 4 đã khắc phục mọi khó khăn gian khổ, hy sinh, nỗ lực phấn đấu, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử mà Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân giao phó, cùng quân và dân cả nước lập nhiều thành tích to lớn và chiến công oanh liệt trong 30 năm chiến tranh giải phóng, cũng như 30 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thực hiện nghị quyết của Đảng ủy Quân sự Trung ương và chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về tổng kết chiến tranh và biên soạn lịch sử quân sự, thể theo nguyện vọng của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên địa bàn Quân khu, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 4 đã tổ chức biên soạn cuốn: "Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945-1954", xuất bản năm 1990 và cuốn: "Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975", xuất bản năm 1994. Mặc dù còn thiếu sót do tư liệu thu thập chưa thật đầy đủ, những năm qua, hai cuốn sách được xuất bản đã phục vụ tốt công tác tổng kết, nghiên cứu, học tập, giáo dục truyền thống, góp phần làm phong phú thêm các công trình tổng kết và lịch sử quân sự của Quân khu.

Nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống vẻ vang của Quân khu 4, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức biên soạn cuốn: "Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975-2005)", nhằm kế tiếp hai cuốn lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã xuất bản trước đây, ghi lại quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân khu trong 60 năm qua.

Hoạt động của Quân khu 4 thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa rất phong phú, đa dạng trên tất cả các mặt xây dựng, chiến đấu, công tác, làm nhiệm vụ quốc tế và thực hiện các nhiệm vụ khác. Trong những năm đầu của thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thống nhất, Quân khu 4 đã nỗ lực khắc phục hậu quả chiến tranh, điều chỉnh xây dựng lực lượng, cùng quân và dân cả nước ghi tiếp chiến công, giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, hoàn thành nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Campuchia và cách mạng Lào; đồng thời xây dựng nền quốc phòng toàn dân, tích cực lao động sản xuất, góp phần xây dựng kinh tế đất nước.

Trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, Quân khu 4 đã tập trung xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; đồng thời phối hợp với cấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể quần chúng phát huy sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân địa phương, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành vững mạnh, kết hợp xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân, gắn xây dựng cơ sở xã, phường với cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, góp phần phòng chống, làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trong quá trình sưu tầm thu thập tư liệu và biên soạn, Quân khu đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các đồng chí cán bộ lãnh đạo, chỉ huy Quân khu qua các thời kỳ, của các cơ quan, đơn vị và các tỉnh trên địa bàn Quân khu, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Nhân dịp cuốn sách được xuất bản, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu xin chân thành cảm ơn các cơ quan, đơn vị, các đồng chí và các bạn đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do tư liệu sưu tầm chưa thật đầy đủ, trình độ và khả năng người viết có hạn, cuốn sách khó tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp, phê bình để tiếp tục sửa chữa, bổ sung cho lần xuất bản sau có chất lượng tốt hơn.


THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY
BỘ TƯ LỆNH QUÂN KHU 4
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #1 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2024, 05:05:00 pm »


Chương một
QUÂN KHU 4 TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM THỐNG NHẤT (1975-1979)

Thắng lợi to lớn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng đã kết thúc vẻ vang 30 năm chiến tranh giải phóng của quân và dân ta, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Từ đây, Tổ quốc thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Cùng với quân dân cả nước, quân và dân Quân khu 4 bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; có nhiều mặt thuận lợi nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thách thức. Chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ và các thế lực phản động quốc tế tiếp tục chống phá cách mạng nước ta dưới nhiều hình thức, thủ đoạn mới. Chúng thực hiện “chiến tranh phá hoại nhiều mặt”, bao vây, phong tỏa, “cấm vận”, trả thù bằng các thủ đoạn thâm độc, trắng trợn; ra sức nuôi dưỡng, cài cắm lực lượng, đẩy mạnh “kế hoạch hậu chiến”. Chúng tiếp tục khơi sâu, lợi dụng các mâu thuẫn trong quan hệ quốc tế, kích động các thế lực thù địch gây hận thù dân tộc, mưu toan làm cho Việt Nam “chảy máu”, kiệt quệ, suy yếu.

Đế quốc Mỹ và các thế lực phản động chỉ đạo bọn tay sai lưu vong dựa vào đất Thái Lan, đưa lực lượng về ráo riết hoạt động, hòng gây chia rẽ, hoang mang, uy hiếp, khống chế nhân dân Lào trên nhiều địa bàn; uy hiếp, cô lập các thành phố lớn, nhất là ở thủ đô Viên Chăn, thị xã Sa Va Na Khẹt. Mục tiêu của chúng là gây bạo loạn, lật đổ chính quyền cách mạng Lào, tạo bàn đạp trực tiếp xâm nhập phá hoại cách mạng Việt Nam. Quân khu 4 là một trong những địa bàn trọng điểm chống phá quyết liệt của chúng. Đế quốc Mỹ và bọn phản động móc nối với các lực lượng, nhen nhóm các tổ chức, thực hiện “kế hoạch hậu chiến”, trong đó nổi rõ là:

1. Lợi dụng những khó khăn về kinh tế, xã hội sau chiến tranh, chúng tìm mọi cách gây bất ổn định về trật tự an toàn xã hội và an ninh chính trị; gây rối về giá cả trên thị trường, gieo rắc tâm lý hoang mang, lo lắng, thiếu tin tưởng trong nhân dân ta. Ở một số nơi vùng mới giải phóng Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của ta, chúng dùng mìn, lựu đạn, thuốc độc và các loại súng bộ binh cỡ nhỏ ám sát bộ đội, cán bộ, dân thường; phá kho tàng, cắt dây điện thoại, đốt nhà, thả tờ rơi1 tuyên truyền, xuyên tạc chính sách, chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước, Chính phủ ta.

Phần lớn những vụ gây rối trật tự, an ninh trên địa bàn Quảng Trị tập trung ở các vùng giáp ranh, đều do số ngụy quân, nhân viên ngụy quyền không chịu cải tạo gây nên. Riêng số vụ gây rối trong 11 tháng năm 1975 tăng gấp hai lần so với năm 1974.

2. Chúng lợi dụng sơ hở của một số cơ quan, cán bộ, tìm cách “chui” vào một số tổ chức trong hệ thống chính trị, tìm “vỏ bọc” hợp pháp, công khai, làm lạc hướng theo dõi, quản lý của cơ quan chức năng và chính quyền địa phương.

3. Bọn phản động đội lốt tôn giáo lợi dụng chiêu bài, vỏ bọc “tự do tín ngưỡng” tìm cách mê hoặc, lung lạc, lôi kéo quần chúng, phát triển tổ chức, tuyên truyền phát tán ảnh hưởng; cột chặt “tín đồ” vào các quy chế, quy định do chúng đặt ra nhằm đe dọa, hạn chế quần chúng tham gia các tổ chức yêu nước, các cuộc sinh hoạt, hoạt động cách mạng.

Bên cạnh đó, một số lớn ngụy quân, nhân viên ngụy quyền, thành viên các đảng phái phản động (trong số đó có nhiều ác ôn nguy hại, trước đây dính nhiều nợ máu nhân dân, tiếp tục âm mưu hoạt động chống phá Tổ quốc) đang tìm cách lẩn tránh, chưa chịu ra trình diện cách mạng2.

Tình hình trên đây thường xuyên diễn ra trên một số địa bàn, nhất là vùng mới giải phóng đã tác động tới an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở Quân khu 4.

Trong khi đó, những khối lượng công việc to lớn, nặng nề, dồn dập, khẩn trương sau 30 năm chiến tranh tàn phá ác liệt trên địa bàn 6 tỉnh và khu vực Vĩnh Linh tiếp tục đặt gánh nặng mới lên vai 4 triệu đồng bào và chiến sĩ Quân khu 4, một địa bàn đã từng đảm trách sứ mệnh lịch sử nặng nề: Nửa phía Bắc, từ Bến Hải trở ra “vừa là hậu phương trực tiếp của miền Nam, hậu phương trực tiếp của Trị Thiên Huế, của Trung - Hạ Lào; hậu phương chiến dịch của Mặt trận Đường số 9; vừa là tuyến đầu miền Bắc xã hội chủ nghĩa”. Nửa phía Nam, từ Bến Hải đến đèo Hải Vân “vừa là tiền tuyến của tiền tuyến lớn miền Nam, vừa là chiến trường lớn nhất thu hút, giam chân quân chủ lực Mỹ”. Đây là địa bàn đã trải qua 30 năm chịu đựng sự tàn phá khốc liệt dưới ách thống trị của hai đế quốc lớn là Pháp và Mỹ.

Sự tàn phá cực kỳ khốc liệt của chiến tranh và những di hại của chủ nghĩa thực dân cũ, chủ nghĩa thực dân mới để lại hậu quả rất nặng nề mà quân và dân Quân khu 4 phải ra sức khắc phục trong một thời gian dài.

Trước tình hình mới, Hội nghị lần thứ 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (9-1975) ra nghị quyết “về nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới”, về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, Trung ương Đảng xác định: “Ra sức bảo vệ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta... Ra sức xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng hùng hậu, có lực lượng thường trực mạnh, lực lượng dự bị to lớn được huấn luyện tốt, có quân đội nhân dân chính quy, hiện đại, có lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp và vững chắc”3.

Thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, cùng với quân dân cả nước, quân và dân trên dải đất từ Tam Điệp đến đèo Hải Vân, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy các địa phương, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Khu ủy, Quân khu ủy Trị Thiên Huế. Quân khu ủy Quân khu 4, Quân khu 3 và sự chỉ huy của Bộ tư lệnh ba quân khu, thực hiện điều chỉnh về tổ chức, bố trí sắp xếp lại lực lượng, giải quyết nhiều vấn đề sau chiến tranh.
______________________________________________
1. Từ tháng 4 đến tháng 12-1975, chúng gây ra 17 vụ, làm chết 20 người, bị thương 62; thực hiện 32 vụ cắt dây điện thoại, 135 vụ thả truyền đơn.
2. Theo số liệu báo cáo của Quân khu Trị Thiên, đến ngày 15-12-1975, số ngụy quân ở Thừa Thiên - Huế là 68.280, tăng 12.000 so với tài liệu nắm ban đầu. Địa phương đã cải tạo và trả tự do 11.108 người, còn 41.873 đang học tập, cải tạo; trong số này có 4.191 người thuộc diện học tập, cải tạo do cấp Quân khu quản lý. Như vậy, vẫn còn 15.299 người chưa tự giác trình báo. Số nhân viên cảnh sát lẩn tránh 3.100; số nhân viên ngụy quyền ở 40 cơ quan thuộc thành phố Huế là 4.546 người, có tới 728 lẩn tránh. Chưa tính số đảng viên thuộc các đảng phái phản động ra trình diện 31.877 người và hàng chục nghìn người đang “luồn", “lặn" chưa nắm hết.
3. Dẫn theo: 60 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 2004, tr.366.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #2 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2024, 05:07:53 pm »


I- CHUYỂN TỪ THỜI CHIẾN SANG THỜI BÌNH,
THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ QUÂN KHU HỢP NHẤT

Do tình hình chiến tranh và nhiệm vụ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, 6 tỉnh Liên khu 4 được tổ chức thành ba địa bàn chiến lược trực thuộc ba quân khu:

- Từ nam sông Bến Hải đến đèo Hải Vân thuộc Khu ủy, Quân khu ủy Trị Thiên lãnh đạo, chỉ đạo, Bộ tư lệnh Quân khu Trị Thiên chỉ huy.

- Từ bắc sông Bến Hải đến Khe Nước Lạnh Nghệ An thuộc Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 4.

- Tỉnh Thanh Hóa chuyển thuộc Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 3.

Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc (30-4-1975), lãnh đạo, chỉ huy ba quân khu tiếp tục động viên, tổ chức, phát động quân và dân trên mỗi địa bàn chiến lược chủ động vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Trên địa bàn Quân khu Trị Thiên (phía nam Bến Hải): Khu ủy, Quân khu ủy, Bộ tư lệnh Quân khu Trị Thiên khẩn trương triển khai chỉ đạo thực hiện 8 nhiệm vụ theo điện chỉ đạo của Quân ủy Trung ương 27-3-1975 và các chỉ thị của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. So với toàn miền Nam, Trị Thiên Huế được giải phóng sớm hơn một tháng 5 ngày. Ngày 25-3-1975 lá cờ cách mạng đã tung bay trên đỉnh cột Phu Văn Lâu (Huế)1. Khu ủy và Quân khu tăng cường lực lượng, phương tiện cho Quân đoàn 2 và các đơn vị tiếp tục tiến quân về phía Nam thực hiện các chiến dịch tiếp nối, tham gia giải phóng Đà Nẵng, thần tốc giải phóng các tỉnh Nam Trung Bộ và tiến vào giải phóng Sài Gòn. Đồng thời chỉ đạo một bộ phận lực lượng khẩn trương thực hiện nhiệm vụ tiếp quản vùng mới giải phóng.

Từ các căn cứ miền núi trở về đồng bằng, thành phố, thị xã, trên những đống đổ nát do chiến tranh tàn phá, giữa các khu vực bom mìn địch cài đặt lại hàng chục vạn quả; hàng chục vạn ngụy quân và nhân viên ngụy quyền cũ, số thì tan rã bỏ súng về nhà, số khác lén lút trốn tránh chờ thời cơ phá hoại cách mạng, các cấp lãnh đạo, chỉ huy, bình tĩnh, tỉnh táo nhanh chóng triển khai ngay hệ thống quân quản từ tỉnh, thành phố, thị xã, huyện đến xã, thôn, khối phố.

Các lực lượng vũ trang nhanh chóng tiếp quản các vùng mới giải phóng, cùng với bộ máy quân quản phát động quần chúng tổ chức trấn áp bọn phản cách mạng phá hoại hiện hành, xây dựng chính quyền cách mạng và các đoàn thể quần chúng, xây dựng, củng cố tăng cường lực lượng vũ trang nhân dân, an ninh nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự, an ninh địa phương.

Để kịp thời phổ biến chính sách của Mặt trận dân tộc giải phóng và Ủy ban quân quản, xưởng in Quân khu Trị Thiên Huế được giao nhiệm vụ phối hợp in ấn các tài liệu đột xuất, tiếp tục phát hành báo Quân khu Trị Thiên.

Nhiều tổ, đội công tác cơ sở đã cùng với các đơn vị bộ đội quân khu, tỉnh, thành phố, thị xã và lực lượng vũ trang địa phương đi sâu vào thôn xóm phối hợp tuyên truyền chiến thắng, giải thích rõ chủ trương, chính sách của Mặt trận; góp phần làm cho nhân dân phấn khởi, tự hào về sự đóng góp của mỗi người, mỗi gia đình và từng địa phương đối với cách mạng; quyết tâm phát huy truyền thống vẻ vang vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới; do hoàn cảnh chiến tranh chưa có dịp đóng góp với cách mạng, hoặc trót lỡ lầm, thì lúc này chính là cơ hội để tỏ rõ lòng trung với nước, hiếu với dân, đền đáp nghĩa tình với gia đình, quê hương.

Là một địa bàn bị thực dân, đế quốc chiếm đóng gần 30 năm, nên sự chia ly, phân rẽ diễn ra ngay từng gia đình. Nhiều gia đình phải trong cảnh cha mẹ, con cái, anh em chồng vợ bị chia cắt tình cảm; nhiều trường hợp đối địch nhau trên hai bờ chiến tuyến, cầm vũ khí chống lại nhau. Nhiệm vụ tuyên truyền giác ngộ cho nhân dân nhận thức được rõ hoàn cảnh lịch sử, khép lại quá khứ, xóa bỏ mặc cảm, hận thù, cùng nhau bắt tay đoàn kết xây dựng lại Tổ quốc, quê hương đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, trở thành yêu cầu bức bách hàng đầu trong triển khai chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn.

Tại các vùng mới giải phóng, đợt tuyên truyền, giáo dục, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước được đẩy mạnh. Những cuộc sinh hoạt, hội họp trong không khí chan hòa, cởi mở, dân chủ diễn ra khắp nơi, đem lại sự phấn khởi, niềm tin tưởng sâu sắc đối với cách mạng trong các tầng lớp nhân dân. Khí thế sẵn sàng quyết tâm thực hiện mọi nhiệm vụ công tác được phát động mạnh mẽ ở các cơ sở.

Dựa vào quần chúng và thông qua các phong trào hành động, các đơn vị tiếp quản và hệ thống quân quản tuyển chọn được lực lượng cốt cán bổ sung vào lực lượng dân quân tự vệ2. Các tầng lớp quần chúng đã góp phần tích cực vận động con em, bà con thành thật cải tạo, đồng thời phát hiện trừng trị những phần tử phản động ngoan cố trốn tránh, phá hoại3.

Các tiểu đoàn 10, 4, 2 bộ đội địa phương tỉnh, thông qua xây dựng cơ sở, tuyển chọn được 489 tân binh. Qua đó rút kinh nghiệm triển khai thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự ở vùng mới giải phóng trong những năm sau này.

Các lớp tập huấn cán bộ ngắn ngày (3-4 ngày) và tương đối dài ngày (1 tuần trở lên) được tổ chức ở khắp các đơn vị địa phương. Nội dung tập huấn gồm các chuyên đề về huấn luyện quân sự, phát triển lực lượng, củng cố, xây dựng tổ chức, quản lý bộ đội, bồi dưỡng chức trách nhiệm vụ, học tập điều lệnh, tập huấn kỹ thuật rà phá, tháo gỡ bom, mìn.
_____________________________________________
1. Ngày 25-3-1975, Tiểu đoàn 8 Quảng Trị trong cánh quân hướng Bắc tiến vào đã cắm cờ báo tin vui Thừa Thiên-Huế giải phóng. Một số tư liệu căn cứ vào sự kiện ngày 26-3-1975, Trung đoàn 6 cắm lá cờ to thay cho lá cờ trước nhỏ hơn, ghi lại là 26-3.
2. Đến cuối tháng 4-1975. bộ đội địa phương các huyện, thị, thảnh phố đã được tổ chức rộng khắp. Thừa Thiên - Huế giải phóng sau Quảng Trị, nhưng đến lúc này tổ chức được 18 đại đội (trong đó có Phong Điền, Phú Vang, Hương Thủy và thành phố Huế mỗi nơi 3 đại đội. 3 huyện khác mỗi nơi 2 đại đội). Tỉnh cũng đã tổ chức được 68 trung đội du kích xã; 5.312 du kích thôn, 399 tự vệ. Đây là đợt củng cố tổ chức, phát triển lực lượng vũ trang được tiến hành rộng khắp đầu tiên, trong đó có 2.444 tân binh được bổ sung vào bộ đội.
3. Theo báo cáo của Quân khu Trị Thiên, đến 14-7-1975, số lính ngụy bị bắt và trình diện 58.772 người (có 3.781 sĩ quan); 14.000 nhân viên ngụy quyền bị bắt và trình diện (nhân dân phát hiện 1.939 đối tượng hình sự nguy hiểm). Ngoài ra có 36.000 phòng vệ dân sự học tập cải tạo tại chỗ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #3 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2024, 05:11:57 pm »


Thực hiện chỉ thị ngày 4-5-1975 của Quân ủy Trung ương về công tác thu hồi, quản lý, bảo quản sử dụng các cơ sở vật chất kỹ thuật, và các tài liệu thu được của địch, các cấp đã tiến hành tổng kiểm kê, phân loại, đánh giá tình hình số lượng, chất lượng, phân cấp quản lý chặt chẽ theo chế độ, quy tắc quản lý tài sản Nhà nước, tài sản quân đội. Các đơn vị đều tổ chức học tập quán triệt ý nghĩa chiến lược quan trọng của công tác này đối với sự nghiệp xây dựng quân đội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

Ngoài số đạn pháo 130 ly, đạn Đ74, xe tăng, xe bọc thép, hơn 1.000 tấn gạo, hàng trăm tấn thực phẩm thu của địch ở căn cứ Phú Bài được chuyển giao cho Quân đoàn 2 làm nhiệm vụ giải phóng Đà Nẵng và tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng miền Nam. Tất cả các kho tàng, công trình công cộng đều được tự vệ, công nhân và lực lượng vũ trang canh gác, bảo vệ.

Nhà máy điện, nhà máy nước, bưu điện, đài phát thanh, bệnh viện Huế được giữ gìn bảo quản trang thiết bị và vận hành tốt, phục vụ kịp thời yêu cầu nhanh chóng ổn định đời sống và quốc phòng an ninh1.

Trung đoàn 6 Phú Xuân bộ binh Quân khu được giao nhiệm vụ quân quản thành phố Huế. Chỉ sau vài ngày giải phóng, trung đoàn đã góp phần tích cực ổn định nhanh chóng tình hình mọi mặt. Cán bộ, chiến sĩ trung đoàn dựa hẳn vào nhân dân, cùng các lực lượng vũ trang địa phương lập lại trật tự an ninh, phát động nhân dân tích cực phối hợp phát hiện, truy quét số tàn binh, gián điệp, mật vụ, đảng phái phản động đang lẩn trốn. Hệ thống chính quyền cách mạng, phần lớn là cán bộ quân sự chịu trách nhiệm chủ trì, đã tổ chức tiếp quản, quản lý xã hội đi vào nền nếp. Việc đăng ký hộ tịch, hộ khẩu được tổ chức nghiêm túc, tạo điều kiện theo dõi quản lý chặt chẽ cư dân trên địa bàn cư trú.

Được cách mạng và nhân dân giáo dục, giác ngộ, được hưởng chính sách khoan hồng của cách mạng, số ngụy quân và nhân viên ngụy quyền cũ lần lượt ra trình diện, nộp vũ khí, cung cấp những thông tin cần thiết cho chính quyền và cơ quan chức năng ngày càng tăng. Họ phấn khởi, tích cực tham gia công tác xã hội, tham gia các đội phòng, chống dịch bệnh, làm vệ sinh môi trường, thu nhặt vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch để lại, góp phần sửa chữa, hướng dẫn cách sử dụng một số trang bị, vũ khí thu được của Mỹ - ngụy.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ quân quản, các đơn vị bộ đội chủ lực được bố trí lại đội hình theo yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và sẵn sàng chiến đấu. Trung đoàn 6 trở lại vùng căn cứ kháng chiến chốt giữ địa bàn A Lưới, Trung đoàn 4 về Quảng Điền, Tiểu đoàn 814 về Đông Hà, Trung đoàn 16 pháo binh về vùng Quảng Lợi, Quảng Điền, Phong An, Phong Điền (huyện Quảng Điền), Lộc Sơn, Lộc An, Lăng Cô (Phú Lộc), Hương Bằng, Hương Phú (Hương Trà) xây dựng, huấn luyện, đáp ứng nhiệm vụ trong tình hình mới.

Sau bao nhiêu năm chiến tranh tàn phá, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Các cấp lãnh đạo, chính quyền phát động rộng rãi phong trào thi đua đẩy mạnh sản xuất, Ổn định đời sống, tổ chức giúp đỡ các gia đình neo đơn, thiếu đói; nhất là các gia đình thuộc diện chính sách. Chính quyền tỉnh, thành phố, huyện, huy động mọi lực lượng, phương tiện đón và vận chuyển hàng chục vạn người từ các nơi sơ tán, di tản, các “ấp chiến lược” trở về quê cũ2.

Vấn đề phức tạp, nặng nề cấp thiết nhất trong tổ chức sản xuất, ổn định đời sống nhân dân là giải quyết nơi ăn, ở, điều kiện, phương tiện sản xuất, sinh hoạt.

Trong chiến tranh, Trị Thiên Huế là nơi tập trung đối đầu quyết liệt giữa các lực lượng tinh nhuệ thiện chiến của Mỹ - ngụy với lực lượng vũ trang tại chỗ và bộ đội chủ lực miền Bắc. Tại đây, Mỹ - ngụy đã đưa đến sử dụng loại vũ khí tối tân hiện đại nhất. Hầu hết các loại vũ khí được quân Mỹ trang bị, từ các loại bom, mìn cải tiến đến lần thứ 4, thứ 5, các loại mìn nhện, mìn vướng, mìn Jíp, đạn pháo “nơm”, pháo “chụp”, bom tấn, bom B.52 “rải thảm”, bom xuyên sâu, chất độc hóa học.

Hậu quả tiềm ẩn khắp xóm thôn, đồng ruộng, vườn tược, khe suối, đường giao thông và ngay trên những nền nhà ở, trường học.

Bom cày, đạn xối nhiều lần cùng với nước xói, đất vùi làm cho bom, mìn, đạn, pháo chưa nổ chìm sâu vào các tầng đất, lấp kín dưới những vùng lá cây khô, bãi cỏ. Bom mìn, chất nổ, các loại chướng ngại vật địch dùng xây dựng đồn bốt, trong đó có tuyến “hàng rào điện tử Mắc Na-ma-ra” (mà Mỹ từng tuyên bố là một con chuột cũng khó lọt qua) đã cản trở nghiêm trọng công cuộc hồi cư, xây dựng đời sống, phát triển sản xuất. Chúng đe dọa tính mạng nhân dân từng giờ, từng phút.

Thực hiện chỉ thị của đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng, Bộ tư lệnh Quân khu Trị Thiên phát động chiến dịch rà phá, tháo gỡ bom mìn, thu hồi vật liệu chiến tranh và các loại chất nổ trên khắp hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế.

Trung đoàn 414 công binh chủ lực của Quân khu cùng các cơ quan công binh quân khu, tỉnh, thành phố, thị xã, huyện và các đơn vị bộ đội địa phương tổ chức các hạt nhân nòng cốt lực lượng vũ trang học tập rút kinh nghiệm cách rà phá, tháo gỡ, vô hiệu hóa bom mìn, thu hồi vật liệu nổ. Các hạt nhân nòng cốt vừa làm nhiệm vụ rà phá, vừa hướng dẫn đồng đội và nhân dân tìm kiếm phát hiện bom mìn, tạo nên phong trào thi đua rà phá các loại bom mìn diễn ra khắp nơi.

Để nhanh chóng khắc phục hậu quả bom mìn, Quân khu 4 tăng cường thêm lực lượng công binh, bộ đội chủ lực và dân quân tự vệ đã tích lũy nhiều kinh nghiệm rà phá bom mìn, thủy lôi Mỹ trong chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc tham gia.

Trong điều kiện phương tiện khí tài thăm dò, phát hiện rất hiếm, chủ yếu bằng các phương tiện thô sơ, cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch phải tận dụng mọi phương pháp rà phá, tháo gỡ bằng trí tuệ kết hợp lòng dũng cảm và kỹ thuật, kinh nghiệm thực tế. Phương tiện phổ biến nhất là dùng mũi thuốn để thăm dò. Họ phải chia ô, chia hàng, cắm mốc thật chính xác để dò. Hết ngày này sang ngày khác, trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, cuộc thi gan, đọ trí đã diễn ra hết sức căng thẳng trên từng mũi thuốn. Đối với những nơi phát hiện có bom từ trường cán bộ, chiến sĩ lại phải dùng phương pháp rà phá khác.

Trên mặt trận thầm lặng, căng thẳng kéo dài nhiều tháng này, một số cán bộ, chiến sĩ đã ngã xuống vì cuộc sống thanh bình, hạnh phúc của nhân dân.

Trong điều kiện đất nước đã có hòa bình, nhân dân vui vầy trong cảnh sum họp, các đơn vị và mỗi cán bộ, chiến sĩ phải thường xuyên động viên nhau và tự động viên mình, đã vượt qua những suy tính riêng tư, so sánh hơn thiệt, tiếp tục xả thân trên mặt trận rà phá bom mìn. Tinh thần, ý chí “Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh” được nhắc nhở trong mỗi buổi sinh hoạt, trên từng mét vuông đất được cắm mốc, phân ô. Thực sự bảo đảm an toàn, không để sơ suất gây tai nạn cho mình đã khó khăn căng thẳng; bảo đảm an toàn tuyệt đối cho nhân dân sản xuất, ổn định và phát triển, tạo lập niềm tin đối với bà con, lại càng đòi hỏi sự tỷ mỷ, cẩn trọng, trách nhiệm đến cùng.
_____________________________________________
1. Bệnh viện Huế có 1.200 giường chỉ sau vài ngày đã tiếp nhận hàng trăm người bệnh. Ngay ngày đầu giải phóng, 9/15 tổng số máy của nhà máy điện và 50/127 công nhân đã hoạt động đều; sơ đồ đường dây điện được bảo vệ nguyên vẹn. Nhà máy nước 100% công nhân ở lại làm việc cung cấp 10.000m3/ngày. Đài phát thanh đưa tin đều đặn. Hệ thống bưu điện với 600 máy điện thoại liên lạc thông suốt.
2. Riêng Thừa Thiên - Huế phải tổ chức giải quyết một khối lượng công tác bảo đảm rất lớn để vận chuyển 32 vạn người hồi cư.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #4 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2024, 05:16:58 pm »


Trong đợt chỉ đạo tập trung từ ngày 8 đến ngày 17-6-1975 Bộ chỉ huy quân sự Thừa Thiên - Huế (phiên hiệu đơn vị 610) đã trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 10, Tiểu đoàn 4 bộ đội địa phương và dân quân du kích các huyện Hương Thủy, Hương Trà, Quảng Điền, Phong Điền, Phú Lộc (có sử dụng một số binh lính, nhân viên kỹ thuật chế độ cũ có hiểu biết về bom mìn) đột phá vào vùng trọng điểm như Thủy Biều (Hương Thủy), Vinh Mỹ và nam bắc sông Truồi (Phú Lộc), Hương Bằng (Hương Trà), Phong Hiền (Quảng Hiền cũ), Phong An, Phong Sơn (Phong Điền). Trong 10 ngày, các lực lượng tham gia chiến dịch đã tháo gỡ được 2.921 quả bom mìn, phá nổ 900 quả, giải phóng 62km2 đất đai, vườn tược.

Trong đợt rà phá này, 5 chiến sĩ đã anh dũng hy sinh (trong đó có 2 bộ đội, 2 du kích, 1 cựu binh sĩ chế độ cũ), 4 đồng chí bị thương. Tấm gương mưu trí, dũng cảm của những dũng sĩ đã cổ vũ mạnh mẽ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tiếp tục đúc rút kinh nghiệm mở các đợt rà phá những năm sau này.

Do tính chất đặc thù của Trị Thiên Huế, ngay sau ngày giải phóng, lưu lượng người qua lại công tác và lưu trú tăng lên nhanh. Công tác giữ gìn an ninh trật tự xã hội được chú trọng. Nhiều đoàn khách quan trọng dự nhiều hội nghị và lễ hội được bảo đảm an toàn tuyệt đối.

Trong lúc tập trung khắc phục hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại, Trị Thiên Huế lại phải đương đầu với đợt lũ lụt lớn diễn ra trên diện rộng, gây nên những thiệt hại nghiêm trọng. Từ ngày 17 đến ngày 30-10-1975, các tiểu đoàn 10, 2 và ba trung đoàn 6, 16, 414 cùng lực lượng dân quân tự vệ, bộ đội địa phương huyện, thành phố liên tục vật lộn với sóng nước, hiểm nguy, đói rét, cứu 151 người bị trôi, ngập, tổ chức đưa 1.772 gia đình ra khỏi vùng ngập lụt; bốc chuyển di dời 4.140 tấn lương thực, cứu tài sản cho 87 gia đình, chuyển hàng cứu tế 193 tấn (đường sữa 52kg). Bộ đội còn tổ chức nấu cơm vắt hơn 2.600 nắm, sản xuất 4.750 chiếc bánh mì và đóng góp 12 tấn gạo chuyển đến vùng đồng bào gặp nạn nhanh chóng ổn định cuộc sống.

Hình ảnh những cán bộ, chiến sĩ “Bộ đội Cụ Hồ” đã khắc sâu vào tình cảm nhân dân thông qua công tác quân quản, qua những ngày đi sâu sát tuyên truyền vận động quần chúng, qua chiến dịch tháo gỡ bom mìn. Giờ đây, hình ảnh cao đẹp ấy lại tỏa sáng qua những hành động quên mình cứu giúp nhân dân khắc phục hậu quả bão lụt.

Nước vừa rút; các chiến sĩ lực lượng vũ trang lại giúp dân sửa chữa và làm lại nhà cửa, làm vệ sinh môi trường; phát động trồng rau màu ngắn ngày1.

Cùng thời gian này căn cứ vào quyết định của Thường vụ Quân ủy Trung ương (13-5-1975), Khu ủy, Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức triển khai hai đề tài: Tổng kết cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 và tổng kết các mặt công tác lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Trị Thiên Huế.

Trong những tháng đầu đất nước thống nhất, khối lượng công việc nhiều và khẩn trương, nhưng lãnh đạo, chỉ huy Quân khu Trị Thiên đã chú trọng đẩy mạnh các biện pháp nhanh chóng ổn định các vùng mới giải phóng, tạo tiền đề, điều kiện thuận lợi cho hợp nhất quân khu đáp ứng giai đoạn cách mạng mới.

Trên địa bàn Quân khu 4 (từ Vĩnh Linh đến Nghệ An)2. Hòa chung với niềm vui toàn thắng, ngày 29 và 30-4-1975, Thường vụ Quân khu ủy 4 kiểm điểm đánh giá kết quả hai tháng chấp hành nhiệm vụ tham gia cao trào tổng tiến công và nổi dậy cùng miền Nam; đồng thời xác định luôn luôn “bám sát yêu cầu phía trước, sẵn sàng về tư tưởng và tổ chức, phát huy thuận lợi và khắc phục khó khăn mới, chấp hành vô điều kiện mọi yêu cầu của miền Nam cũng như các nhiệm vụ mà Quân ủy Trung ương giao cho”.

Nhờ lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sát đúng và phát huy bản lĩnh của các lực lượng vũ trang và nhân dân được tích lũy, rèn luyện trong quá trình cách mạng đầy gian khổ, hy sinh, các đơn vị, địa phương chủ động triển khai thực hiện 6 công tác chính do Quân khu đề ra. Một trong những công tác quan trọng được xác định là "Tiếp tục quán triệt tình hình, nhiệm vụ mới, tận dụng điều kiện thuận lợi mới, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, động viên khí thế cách mạng tiến công, nâng cao ý chí chiến đấu, ý thức tổ chức kỷ luật".

Khắp nơi nô nức, nhộn nhịp tổ chức các cuộc mít tinh trọng thể, báo công, mừng công, biểu dương, tuyên truyền sâu rộng ý nghĩa chiến thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu, trong đó có sự đóng góp xứng đáng của mỗi đơn vị, địa phương vào thắng lợi chung của dân tộc. Tất cả các cuộc mít tinh, lễ hội đều nhằm phát động thi đua phát huy thắng lợi, tiếp tục biến chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu hướng công tác tư tưởng vào yêu cầu xây dựng tinh thần tiếp tục tiến công, chủ động phòng chống tư tưởng thỏa mãn, dừng lại, xả hơi, chủ quan, công thần, kiêu binh... mà các đội quân chiến thắng trong lịch sử thường vấp phải. Một trong những biện pháp hiệu quả là sớm đưa lực lượng vũ trang quân khu vào phong trào hành động cách mạng mới, không xả hơi, dừng lại.

Trên cơ sở ý kiến lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng trong các văn bản “chuyển từ thời chiến sang thời bình”; “về thực hiện nhiệm vụ tiếp quản và quân quản vùng mới giải phóng ở miền Nam”3, “về công tác thu hồi, quản lý, bảo quản, sử dụng các cơ sở vật chất - kỹ thuật lấy được của địch trong vùng giải phóng”4, “về một số công tác trước mắt của quân đội”5, Quân khu ủy (Thường vụ) và Bộ tư lệnh Quân khu tiến hành đồng bộ các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, nhằm tạo thế và lực chuyển biến mới trong bước ngoặt lịch sử ngay từ những ngày đầu đất nước thống nhất. Đồng thời, chuẩn bị dự kiến phương án, kế hoạch tham gia xây dựng đất nước.
_____________________________________________
1. Theo số liệu của Quân khu Trị Thiên và Bộ chỉ huy quân sự Thừa Thiên - Huế, bộ đội tham gia làm lại và sửa chữa được 390 nhà dân ngay sau khi nước rút.
2. Lúc này, tỉnh Thanh Hóa đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 3 về mặt quân sự quốc phòng.
3. Điện chỉ đạo đầu tháng 5-1975.
4. Chỉ thị của Quân ủy Trung ương ngày 4-5-1975.
5. Thường vụ Quân ủy Trung ương quyết định một số công tác trước mắt của quân đội (31-5-1975).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #5 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2024, 05:19:52 pm »


Ngày 3-8-1975, Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Quyết định số 315/TTg giao cho quân đội thực hiện một số nhiệm vụ xây dựng kinh tế. Quân khu 4 được giao tham gia làm các công trình đường sắt Thống Nhất đoạn Minh Cầm - Tiên An; làm đường giao thông giúp bạn Lào trên các tuyến quốc lộ 7, 8, 9; trồng rừng, khai thác, kinh doanh tổng hợp về lâm nghiệp ở Nam Long Đại (Quảng Bình) và ở Tây Nghệ An. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên của Chính phủ giao nhiệm vụ cho Quân khu 4 tham gia xây dựng kinh tế.

Thực hiện nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ giao ngày 7-8-1975 Bộ tư lệnh Quân khu họp do Thiếu tướng Đàm Quang Trung, Tư lệnh Quân khu chủ trì. Hội nghị xác định những vấn đề then chốt về phương hướng, nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang quân khu là: "Sẵn sàng chiến đấu, chuẩn bị cho công cuộc phòng thủ đất nước lâu dài; tích cực xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh, tiến lên chính quy hiện đại là nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên. Đồng thời, tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế là nhiệm vụ cách mạng lâu dài và là yêu cầu quan trọng trong giai đoạn hiện nay"1.

Quân khu xác định rõ nhiệm vụ cho các đơn vị sẵn sàng chiến đấu phải luôn chuẩn bị tốt cả về tư tưởng và tổ chức để bảo vệ vững chắc vùng biển, vùng trời, biên giới, hải đảo và những địa bàn chiến lược do Quân khu phụ trách.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng được Quân khu chủ động triển khai là chuẩn bị xây dựng tuyến đường sắt (đoạn Minh Cầm - Tiên An), giao cho các cơ quan Quân khu cử người chuyên trách theo dõi, đề xuất cách giải quyết giúp Đảng ủy và Bộ tư lệnh kịp thời giải quyết những vấn đề mới nảy sinh. Cục sản xuất Quân khu là cơ quan vừa làm tham mưu kế hoạch giúp Bộ tư lệnh, vừa chỉ huy, lãnh đạo các đội xây dựng, vừa bảo đảm khối lượng vật tư, kỹ thuật, công cụ lao động cho toàn công trình, đồng thời, chịu trách nhiệm hạch toán với Nhà nước2.

Về công tác chính trị tư tưởng, Quân khu chỉ đạo các cơ quan và đơn vị quán triệt sâu sắc cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, toàn Quân khu phải ra sức khắc phục mọi khó khăn, tranh thủ thời gian, sớm triển khai mọi mặt lao động xây dựng.

Các trung đoàn 167 pháo binh, 233 và 222 cao xạ, 89 công binh, 80 thông tin, Đoàn 22B huấn luyện quân tăng cường, Sư đoàn 341B3 được giao nhiệm vụ làm đường sắt khẩn trương chuyển vào Quảng Bình - Vĩnh Linh, trải dài theo địa bàn được phân công phụ trách.

Cục Hậu cần Quân khu tổ chức các đội vận tải, trạm sửa chữa, trạm quân y do Cục Quản lý trực tiếp cùng một ban tài vụ do một Phó trưởng Phòng Tài vụ Quân khu phụ trách chuyên lo giải quyết ngân sách cho công trình đường sắt Thống Nhất, đoạn Minh Cầm - Tiên An.

Quân khu phải thực hiện công trình mang tính chất đặc biệt "vừa thiết kế, vừa thi công", “vừa hành quân, vừa xếp hàng” mọi mặt ngân sách, vật tư, kỹ thuật, kinh nghiệm, nhân viên, cán bộ kỹ thuật đều rất thiếu, thời gian lại rất gấp. Trước tình hình đó ngày 11-8-1975, Thường vụ Quân khu ủy ra Nghị quyết chuyên đề số 358, do đồng chí Đàm Quang Trung, Bí thư Quân khu ủy ký, xác định rõ ý nghĩa, mục đích, tính chất, yêu cầu về chất lượng, thời gian hoàn thành từng công đoạn và toàn công trình, cùng các chủ trương lớn và biện pháp thực hiện. Nghị quyết nhấn mạnh: Đây là một nhiệm vụ "có ý nghĩa rất quan trọng và cấp bách, cả về chính trị, quốc phòng, kinh tế, cả trước mắt và lâu dài đối với công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, cũng như đối với Quân khu; đáp ứng nguyện vọng, tình cảm bức thiết của nhân dân cả nước".

Đường sắt Thống Nhất đoạn Minh Cầm - Tiên An dài 144km là một trong số ít đoạn đường bị chiến tranh phá hoại nặng nề nhất. Nhiều quãng không còn nền đường, do bom đạn tàn phá ác liệt. Cầu cống hoàn toàn bị phá hủy. Công trình thuộc loại trọng điểm lớn của Nhà nước. Yêu cầu kỹ thuật rất cao, phức tạp, khối lượng rất lớn. Thời gian được xác định rõ: tháng 6-1976 hoàn thành đoạn Thuận Lý - Tiên An. Đầu tháng 12-1976 hoàn chỉnh toàn tuyến từ Minh Cầm đến Tiên An, bảo đảm thông xe đúng dịp khai mạc Đại hội lần thứ IV của Đảng Lao động Việt Nam.

Quân khu phân công Đại tá Chu Thanh Hương, Phó chính ủy Quân khu (nguyên Chính ủy Bộ tư lệnh Binh chủng Công binh) chuyên trách theo dõi giúp Thường vụ Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu kịp thời chỉ đạo giải quyết những vấn đề phát sinh. Đồng chí Trần Lư, Cục trưởng Sản xuất cùng các cán bộ cơ quan Quân khu được tuyển chọn những đồng chí có quyết tâm cao, năng lực tổ chức thực hiện tốt, tác phong chỉ đạo sâu sát, gương mẫu "đứng mũi chịu sào" bổ sung vào cơ quan chỉ đạo, chỉ huy xây dựng công trình.
_______________________________________________
1. Quân khu 4 - Sự kiện hàng năm (1975-1985), lưu tại Phòng Khoa học - Công nghệ và Môi trường Quân khu 4, tr.7.
2. Ngày 10-3-1975, Quân khu đề nghị Bộ Quốc phòng cho phép thành lập Cục Sản xuất trực thuộc Bộ tư lệnh Quân khu.
3. Lúc này, Sư đoàn 341B mới có 4 trung đoàn theo biên chế chiến đấu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #6 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2024, 07:20:33 pm »


Ngày 22-11-1975, sau một quá trình nghiên cứu, chuẩn bị, Bộ tư lệnh đề nghị tổ chức biên chế Sư đoàn 341B theo hướng chuyên môn hoá, đảm nhận vai trò đơn vị chủ quản. Sư đoàn tổ chức 7 trung đoàn, 7 phòng, 5 đơn vị trực thuộc, bao gồm khảo sát, thông tin, huấn luyện, xưởng sửa chữa. Quân số của sư đoàn là 10.000 người, trong đó có 50% sĩ quan, 81% lao động trực tiếp. Bên cạnh các đơn vị lao động phổ thông, sư đoàn tổ chức huấn luyện các trung đoàn chuyên môn kỹ thuật: khai thác – nghiền sàng đá; làm cầu; đặt đường ray; thiết kế thi công hệ thống thông tin, tín hiệu. Chiến dịch xây dựng tuyến đường sắt Thống Nhất, đoạn Minh Cầm - Tiên An tiến hành vào mùa mưa lụt lớn ở Bình Trị Thiên, tiếp đó là các đợt rét cắt da, bộ đội phải vận dụng phương châm "Lao động bốn mùa, thi công mọi thời tiết”. Nhiều lúc, 12 giờ trong ngày, cán bộ chủ trì sư đoàn còn phải lặn xuống nước sâu để kiểm tra mố cầu. Có những công đoạn mặt bằng chuẩn bị xong, nhưng phương tiện, vật tư kỹ thuật Nhà nước chưa cung cấp kịp. Bộ đội phải tăng cường độ lao động theo tinh thần "Làm ngày chưa đủ, tranh thủ làm đêm", "ngày không giờ, tuần không thứ".

Cùng với việc tăng cường những cán bộ lãnh đạo, chỉ huy có kinh nghiệm, năng nổ về chủ trì sư đoàn1, Thường vụ Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu duy trì chế độ giao ban, theo dõi chỉ đạo tiến độ thi công như chỉ đạo tác chiến. Ngày 29-10-1975, Quân khu họp thông qua bước đầu kế hoạch làm đường sắt, giao cho Sư đoàn 341B chuyên quản; rà soát lại tất cả các công việc cụ thể liên quan đến chức năng từng cơ quan Quân khu, định rõ yêu cầu và thời gian giải quyết2. Tại cuộc họp này, Quân khu phê chuẩn những nội dung cơ bản của dự án kế hoạch; những mốc chính của tiến độ thi công được khẳng định lại như giờ "G", ngày "N” trong chiến đấu.

Quân khu giao cho Cục Sản xuất và Sư đoàn 341B tiếp tục bàn bạc với Bộ Giao thông vận tải, Tổng cục Bưu điện và các cơ quan của Chính phủ liên quan ký kết các hợp đồng kinh tế, đặc biệt là yêu cầu cung cấp kịp thời, đầy đủ thiết kế.

Quân khu quyết định tăng cường Trung đoàn 79 công binh, Trung đoàn 185 Quảng Bình, Trung đoàn 214 cao xạ, Xưởng cơ khí 47, Đội điều trị 44, đại đội ô tô của Cục Hậu cần tham gia chiến dịch xây dựng tuyến đường sắt Thống Nhất.

Ngày 10-12-1975, Quân khu trình lên Bộ Quốc phòng tình hình triển khai thực hiện nhiệm vụ và kiến nghị một số việc cần sự giúp đỡ của Bộ. Sau ba tháng ra quân, thi công đồng loạt giữa mùa mưa lũ, khó khăn chồng chất, kể cả hiểm nguy trong rà phá, tháo gỡ bom mìn, nhưng các đơn vị đã triển khai bảo đảm đúng tiến độ thi công nền đất. Trong quá trình xây dựng, cán bộ kỹ thuật, vật tư, thiết bị chuyên dùng, máy nghiền sàng sản xuất đá và công tác bảo đảm kỹ thuật làm nhà ga, làm cầu, đặt ray, vận chuyển còn rất thiếu thốn.

Quân khu kiến nghị với các Bộ, ngành, nhất là Bộ Giao thông Vận tải, sớm bảo đảm vật tư, thiết bị, công nhân kỹ thuật theo đúng yêu cầu hợp đồng đã ký kết. Đồng thời, xin cấp 10 xe vận tải đường sắt cỡ lớn chuyên dùng vận chuyển các loại xe máy loại nặng, 5 xe tải D7E, 2 xe xúc lật, 2 xe khoan đá cỡ 100mm, gồm những xe máy thu được của Mỹ - ngụy ở miền Nam, 10 máy kinh vĩ, 10 máy thủy chuẩn để đo đạc.

Trên các tuyến đang thi công, Quân khu cử cán bộ đến trực tiếp động viên chúc Tết bộ đội ngay trên công trường. Thường vụ Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu tăng cường chỉ đạo công tác đảng, công tác chính trị theo một quy trình chặt chẽ đúng tầm "nhiệm vụ chính trị trung tầm trước mắt", đúng yêu cầu đối với "một mặt trận tiến công mới của toàn Quân khu, phải quyết tâm lãnh đạo, chỉ đạo như một chiến dịch" như nghị quyết của Thường vụ Quân khu ủy đã xác định.

Quân khu cử các đoàn cán bộ chuyên ngành trực tiếp nghiên cứu, kiểm tra, rút kinh nghiệm kịp thời, phát hiện đề xuất những vấn đề về tổ chức, chỉ huy điều hành lao động, quản lý, sử dụng nhân lực, tài lực, vật lực phù hợp với điều kiện hạch toán kinh tế, định mức về quy trình kỹ thuật, chất lượng công trình, phân bố lao động trực tiếp, lao động gián tiếp; kiện toàn tổ chức từng bước nâng cao hệ thống mức tiền lương cho bộ đội.

Ngày 10-2-1976, Quân khu tổ chức hội nghị sơ kết công tác đảng, công tác chính trị trong thực hiện nhiệm vụ làm đường sắt, nhằm "tiếp tục phát huy truyền thống vốn có của công tác tư tưởng, công tác tổ chức trong quân đội vào mặt trận mới"; "tạo chuyển biến nhận thức, tư tưởng, tình cảm trong cán bộ lãnh đạo, chỉ huy; đặc biệt là cán bộ chủ trì trung cấp, tạo chuyển biến mạnh mẽ về hành động, tập trung vào lãnh đạo xây dựng, nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện nhiệm vụ ngày càng khoa học"3; và quyết định tổ chức thật tốt phong trào thi đua Quyết thắng do Quân ủy Trung ương phát động.

Ngày 2-3-1976, Quân khu chỉ thị các cấp cần đôn đốc, nhắc nhở các đơn vị tham gia làm nhiệm vụ xây dựng đường sắt làm tốt công tác bảo vệ an ninh: "Mỗi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên nêu cao trách nhiệm, giữ vững sự nhất trí, phấn khởi, nhiệt tình với công tác, giữ vững quyết tâm, làm cho chính trị - tư tưởng trong đơn vị luôn lành mạnh. Phát hiện, khắc phục mọi biểu hiện tiêu cực nảy sinh".

Cũng thời gian này, Bộ Giao thông vận tải cùng các cơ quan chức năng của Chính phủ và Bộ Quốc phòng kịp thời giúp Quân khu giải quyết một số khó khăn về vật tư.
______________________________________________
1. Thượng tá Nguyễn Cận - Phó Tham mưu trưởng Quân khu (nguyên Tư lệnh Phòng không Quân khu) làm Sư đoàn trưởng, Đại tá Nguyễn Địch Sơn làm Bí thư Đảng ủy - Chính ủy sư đoàn. Trung tá Vũ Bá Tước - Kỹ sư chuyên trách kỹ thuật đươc bổ nhiệm làm Phó sư đoàn trưởng.
2. Cuộc họp do Thiếu tướng Đàm Quang Trung - Bí thư Quân khu ủy - Tư lệnh Quân khu chủ trì. Tham dự có Đại tá Đặng Hoà - Phó Bí thư Quân khu ủy - Phó chính ủy Quân khu, Đại tá Phan Văn Đường, Ủy viên thường vụ Quân khu ủy - Chủ nhiệm Chính trị Quân khu; Đại tá Nguyễn Văn Thuận - Ủy viên Thường vụ Quân khu ủy - Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu; Đại tá Lê Thanh - Phó tư lệnh Quân khu và Thủ trưởng cơ quan cục (Tham mưu, Chính trị, Hậu cần. Sản xuất) và 6 phòng (Tác chiến, Tài vụ, Quân lực, Tổ chức, Cán bộ, Tuyên huấn).
3. Hồ sơ 136/KQU - Lưu trữ Quân khu 4.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #7 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2024, 07:22:32 pm »


Sau khi Bộ Quốc phòng ngừng việc điều động Sư đoàn 316B vào Tây Nguyên, Quân khu quyết định tăng cường sư đoàn vào đoạn bắc Đồng Hới (Quảng Bình) để đẩy nhanh tiến độ xây dựng tuyến đường sắt Thống Nhất. Lúc này, lực lượng tham gia chiến dịch đường sắt lên gần 30.000 người, bao gồm Sư đoàn 341B (7 trung đoàn); Sư đoàn 316B (4 trung đoàn); 8 trung đoàn (185, 214, 167, 79, 89, 80, 233, 222) và Tiểu đoàn Nguyễn Viết Xuân.

Trong không khí lao động khẩn trương, hăng say thực hiện 4 yêu cầu: "Đúng thiết kế kỹ thuật, chất lượng nâng cao; hoàn thành đúng thời gian đã định; năng suất cao, tiết kiệm nhiều, an toàn tuyệt đối; xây dựng bộ đội trưởng thành trong quá trình triển khai nhiệm vụ"; các đơn vị được vinh dự đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đến thăm. Đại tướng ra công trường thăm hỏi, động viên cán bộ, chiến sĩ, cầm từng chiếc xẻng, chiếc cuốc xem chất lượng công cụ lao động; tiếp đó đến thăm một số nơi ăn, ở, sinh hoạt của bộ đội, nhắc nhở lãnh đạo, chỉ huy quan tâm đúng mức đời sống tinh thần, vật chất của bộ đội trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn. Lời nhắc nhở của Đại tướng đã động viên cổ vũ mạnh mẽ phong trào thi đua của các đơn vị, khắp nơi mở lò rèn, thu nhặt sắt vụn, rèn sửa xẻng cuốc, cải thiện công cụ lao động để đạt năng suất cao.

Trải qua hơn 400 ngày đêm lao động gian khổ và quyết liệt, được Trung ương Đảng, Chính phủ quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và sự phối hợp hiệp đồng của Bộ Giao thông vận tải, Tổng cục Bưu điện, các Bộ, ngành Trung ương cùng sự giúp đỡ trực tiếp của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các địa phương, (tổ chức bảo đảm lương thực, thực phẩm, dành nơi ăn, chốn ở, động viên, cổ vũ tinh thần), sáng ngày 7-12-1976, lễ thông xe nội bộ đường sắt Thống Nhất đoạn Minh Cầm - Tiên An được tổ chức trọng thể tại ga trung tâm Thuận Lý (Đồng Hới, Quảng Bình).

Đây là công trình có ý nghĩa lớn của quân dân Quân khu, của các cơ quan, xí nghiệp Trung ương và địa phương chào mừng Đại hội lần thứ IV của Đảng.

Để hoàn thành công trình có ý nghĩa lịch sử này, các sư đoàn 341B, 316B, các trung đoàn 185, 167, 79, 89, 80, 214, 233 222, các cơ quan, phân đội trực thuộc Quân khu và Tiểu đoàn Nguyễn Viết Xuân anh hùng đã đóng góp hơn 2 triệu ngày công, đào đắp hơn 1 triệu mét khối đất, hoàn chỉnh 144km nền đường, đặt hơn 150km đường ray (kể cả đường tránh ở các ga), xây dựng 12 khu ga (trong đó có nhà ga Phúc Tự xây vĩnh cửu); xây mới và sửa chữa 322 cầu cống loại vừa và loại nhỏ; sản xuất hơn 100.000m3 đá; xây dựng tuyến đường dây thông tin 277km; phá gỡ 29.300 quả bom mìn trên tuyến đường sắt; tham gia xây dựng các cầu lớn: Yên Xuân, Cửa Rào, Tân Đức, Kim Lũ I, Kim Lũ II; gia cố, tu sửa 3 đường hầm ở Minh Cầm.

Trải qua quá trình lao động, hoàn thành đoạn đường sắt Minh Cầm - Tiên An, Quân khu đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật có tay nghề; cán bộ lãnh đạo, chỉ huy được bồi dưỡng một bước quan trọng về điều hành, quản lý lao động trong xây dựng kinh tế. Đáng chú ý là Sư đoàn 341B với 7 trung đoàn và một số trạm, xưởng được xây dựng và trang bị theo hướng chuyên sâu làm kinh tế, vừa làm, vừa học, tích luỹ vốn và kinh nghiệm, mua sắm được một số máy móc tương đối hiện đại. Sư đoàn được đánh giá là binh đoàn xây dựng kinh tế mạnh, đơn vị chủ lực đột phá trên mặt trận mới. Sau khi Sư đoàn 341B hoàn thành nhiệm vụ làm đường sắt, Bộ Quốc phòng quyết định điều động Sư đoàn rời Quân khu đi xây dựng tuyến đường chiến lược phía Bắc, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo quyết định của Bộ, Sư đoàn được mang toàn bộ cơ sở vật chất - kỹ thuật mua sắm trong quá trình xây dựng tuyến đường sắt. Đại tá Dương Bá Nuôi - Phó tư lệnh Quân khu và Đại tá Chu Thanh Hương-Phó Chính ủy Quân khu thay mặt bên giao và Thượng tá Phan Quang Tiệp - Cục trưởng Cục cầu đường, thừa ủy nhiệm Tổng cục Xây dựng kinh tế, thay mặt bên nhận, cùng Thượng tá Nguyễn Cận - Sư đoàn trưởng, Đại tá Nguyễn Địch Sơn - Chính ủy Sư đoàn 341B ký biên bản bàn giao.

Quân khu coi việc chuyển Sư đoàn 341B làm nhiệm vụ mới là vinh dự, là trách nhiệm được đóng góp vào sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Đó cũng là một dấu ấn của sự trưởng thành về khả năng, tiềm lực của các lực lượng vũ trang quân khu trong những năm đầu xây dựng đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh, mang lại phồn vinh cho đất nước, hạnh phúc cho đồng bào1.

Song song với chiến dịch đường sắt Thống Nhất, các lực lượng vũ trang quân khu từ Vĩnh Linh đến Nghệ An, cả bộ đội làm đường sắt, đều tập trung thực hiện 6 công tác chính: 1. Tiếp tục quán triệt tình hình, nhiệm vụ mới, đẩy mạnh tuyên truyền, động viên khí thế cách mạng, nâng cao ý chí hành động, năng lực tổ chức thực hiện; 2. Tập trung xây dựng các sư đoàn chủ lực cơ động; 3. Tập trung huấn luyện bộ đội; 4. Tập trung chỉ đạo tuyển quân, tuyển sinh, tuyển dụng lao động; 5. Tiếp tục giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; 6. Kiên quyết tạo chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức thực hiện.

Khắp nơi, từ thôn xã, khối xóm đến huyện, thị, thành, tỉnh lỵ đều tổ chức lễ phát động tiến quân vào mặt trận xây dựng quê hương, đất nước trong giai đoạn mới. Cờ đỏ sao vàng rợp trời, tiếng loa truyền dậy đất. Người người chạy đua với thời gian, khẩn trương làm việc vì quê hương, đất nước đẹp giàu.

Cùng thời gian này, Quân khu chỉ đạo các đơn vị củng cố, kiện toàn, sáp nhập, giải thể, bổ sung quân số, giải quyết cho những cán bộ, chiến sĩ ra quân theo chính sách cho hàng chục đầu mối; hoàn thành việc tổ chức 4 tiểu đoàn và 1 đại đội huấn luyện, đào tạo tiểu đội trưởng binh chủng pháo binh, công binh, cao xạ, thông tin; 1 đại đội huấn luyện trinh sát. Chấn chỉnh 2 tiểu đoàn đào tạo sĩ quan bộ binh, 2 đại đội bổ túc cán bộ trung đội, đại đội quân sự địa phương, 4 đại đội bổ túc các binh chủng, 1 tiểu đoàn đào tạo quản trị trưởng, làm cho phân hiệu Lục quân 1 chuyển hướng nhiệm vụ đào tạo, bổ túc cán bộ phù hợp với yêu cầu mới. Thành lập thêm tiểu đoàn thứ hai cho Trung đoàn 206 xe tăng; tiểu đoàn thứ ba cho Trung đoàn 167 pháo binh và tổng đội công trình 29 (bao gồm 2.600 người) thuộc Cục Hậu cần Quân khu. Sáp nhập Tiểu đoàn 29 và Tiểu đoàn 8 cao xạ; chuyển đại đội "chốt" ở Hồng Lĩnh, và đèo Ngang về Tiểu đoàn 7 công binh Hà Tĩnh; đại đội "chốt" Thần Vũ về Tiểu đoàn 4 công binh Nghệ An; đại đội "chốt" Phú Thiết về đại đội "chốt" Hòn Bung (Quảng Bình). Tất cả các đơn vị này được chuyển sang làm nhiệm vụ xây dựng công trình.

Trong khi đó, 5.130 chiến sĩ mới ở Đoàn 22B huấn luyện quân tăng cường được chuyển bổ sung cho Bộ tư lệnh Hải quân 3.400 người; Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân 1.000 người và Bộ Công an 730 người.
______________________________________________
1. Sư đoàn 341B là đơn vị có cơ sở vật chất - kỹ thuật, có đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyên môn và thợ vận hành máy móc được đào tạo, trưởng thành đứng hàng mạnh nhất Quân khu. Trước yêu cầu nhiệm vụ chung, Quân khu tự nguyện, phấn khởi chấp hành.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #8 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2024, 07:25:51 pm »


Trong năm 1975 kế hoạch "ra quân'' của Quân khu là 18.000 cán bộ, chiến sĩ. Ngay trong những tháng 6, 7, 8, 9, Quân khu đã triển khai hàng loạt khâu chuẩn bị về tư tưởng, tổ chức, chính sách, hậu phương quân đội, bảo đảm cho 12.841 đồng chí phục viên, chuyển ngành, xuất ngũ, chiếm 60% tổng quân số chuyển ra trong cả năm 1975. Đoàn an dưỡng thương bệnh binh 874, T (trại) 372, đoàn huấn luyện quân tăng cường 22A, T575 (quản lý giáo dục tù binh), các trung đoàn cao xạ dự nhiệm 281, 283 hoàn thành công việc giải thể trước và trong tháng 9. Đoàn 70 an dưỡng thương binh, bệnh binh ở Khe Cò (Hà Tinh), do điều kiện quân đông, quê quán ở khắp các tỉnh miền Bắc, việc đi lại liên hệ với địa phương giải quyết chính sách kéo dài hơn, nhưng đến ngày 15-10-1975 cũng hoàn tất công việc giải thể.

Về Đảng, Thường vụ Quân khu ủy đã họp xem xét kịp thời khôi phục lại sinh hoạt Đảng cho 51 đảng viên và 1 tự khai là đảng viên, bị địch bắt trao trả lại cho ta.

Trước sự tăng lên đột biến do nhu cầu đi lại thăm hỏi giữa hai miền, trong đó mật độ bộ đội qua lại cũng tăng lên đột xuất, Quân khu tổ chức ba trạm đón tiếp quân nhân từ chiến trường miền Nam ra (gồm trạm 31 thuộc Bộ chỉ huy quân sự Quảng Bình, trạm 16 thuộc Bộ chỉ huy quân sự Hà Tĩnh, trạm 21 thuộc Bộ chỉ huy quân sự Nghệ An). Sự ra đời của các trạm đón tiếp trên địa bàn Quân khu 4 giúp cho quân nhân có nơi dừng chân ăn nghỉ, đón đợi xe tàu, ra Bắc vào Nam thuận lợi.

Để có dữ liệu lập kế hoạch tổ chức, xây dựng lực lượng trong thời kỳ mới, 0 giờ ngày 1-8-1975, toàn Quân khu tiến hành tổng kiểm tra quân số theo Chỉ thị 84/CT-TM của Bộ Tổng Tham mưu. Trong điều kiện công việc dồn dập, công tác tổ chức có nhiều biến động, toàn Quân khu đã chấp hành nghiêm chỉnh, hoàn thành tốt việc kiểm tra đúng nội dung quy định trong thời gian 2 ngày. Tất cả quân nhân thuộc bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, công nhân quốc phòng và nhân viên phục vụ trong quân đội, kể cả số người đi công tác, học tập ở các tổ chức Nhà nước ngoài quân đội và nước ngoài, đều thuộc phạm vi và đối tượng tổng kiểm tra. Ngày 3-8-1975, việc phúc tra được tiến hành xong, bảo đảm số liệu chính xác báo cáo về Bộ1.

Cùng việc tổng kiểm tra quân số, Quân khu tiến hành tổng thống kê vũ khí, xe cộ, trang bị kỹ thuật; đồng thời tiến hành từng bước việc thu hồi vũ khí, đạn dược, trang bị ở các địa phương; thu hồi trang bị ở các đơn vị giải thể và trang bị thừa ở các trung đoàn pháo cao xạ 233, 214 tập trung về các kho bảo quản.

Đối với các đảo, ngày 31-8-1975, Bộ tư lệnh Quân khu ra Chỉ thị số 645/CT gửi Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh nêu rõ 5 việc cần làm để chuyển sinh hoạt cho phù hợp tình hình mới:

1. Tổng lau chùi vũ khí, tra dầu mỡ, tiến hành niêm cất những vũ khí tập thể không dùng đến trong nhiệm vụ trực chiến đấu.

2. Tiến hành ngay việc thu dọn đạn dược hư hỏng, rơi vãi trên đảo; thu hồi, khôi phục vũ khí bị hư hỏng.

3. Điều chỉnh trú quân theo hướng sinh hoạt tập trung, tối thiểu lấy đơn vị trung đội ở một khu vực.

4. Ưu tiên xây dựng kho ở đảo, củng cố chỗ ở theo hướng tập trung.

5. Xúc tiến nghiên cứu quy hoạch xây dựng đảo một cách toàn diện.

Thực hiện chỉ thị của Bộ tư lệnh, các cơ quan, đơn vị của quân khu và các tỉnh tăng cường các đội, tổ sửa chữa trang bị ra đảo; vận chuyển vật chất, trang bị kỹ thuật, bảo đảm cải thiện sinh hoạt cho các đảo hoàn thành nhiệm vụ trong tình hình mới.

Quân khu chỉ đạo tiếp tục xây dựng các công trình chốt ở đèo Ngang, Hòn Bung, làm trường bắn của xe tăng ở Kỳ Anh, xây dựng 2 kho cho Tổng cục Kỹ thuật ở Lệ Thủy và Đô Lương, hoàn thành đặt 94km đường ống dẫn dầu từ Đức Thọ đến Quảng Bình2.

Vừa kết thúc chiến tranh, nhu cầu về nhà ở cho bộ đội, nhà kho vũ khí khí tài vững chắc đáp ứng yêu cầu bố trí sắp xếp lại lực lượng theo nhiệm vụ mới phát sinh với khối lượng rất lớn. Trước tình hình đó, Quân khu huy động 68.921 công làm đường, xây dựng 15.416m2 nhà kho, bảo quản 4.863 tấn đạn, kê kích, dồn dịch 1.400 tấn đạn ở các kho. Với tinh thần lao động khẩn trương đến cuối 1975, các đơn vị đã xây dựng được 32.705m2 nhà ở và 252m2 nhà kho cho đơn vị mình, tự túc 358.500 cây tre nứa, 76.430 cái tranh, đóng 254.000 viên gạch, 205.230 viên ngói, xây nhà xe, nhà pháo, giảm bớt lượng xe pháo dãi nắng, dầm mưa, hoặc che phủ bằng bạt rách nát. Quân khu còn sử dụng 8.808 công xây xong mạng lưới điện cao thế và 8.130 công tu sửa, xây dựng nhà cơ quan Quân khu bộ.

Trong khi tập trung chỉ đạo chiến dịch đường sắt Thống Nhất, xây dựng doanh trại, kho tàng, Quân khu luôn bám sát tình hình, chỉ đạo nhiệm vụ cơ bản thường xuyên là xây dựng lực lượng bộ đội sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc.
______________________________________________
1. Tổng quân số toàn Quân khu là 78.367 người (trong biên chế 51.805, ngoài biên chế 26.562, bao gồm lực lượng của Cục sản xuất).
2. Từ sau ngày 30-4-1975 đến cuối năm 1975, Quân khu đào 376 mét đường hầm phòng thủ, xây dựng được 61 công sự lắp ghép, 12 công sự chốt, đổ 139m3 bê tông, làm 734m3 đá, với 93.126 công.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #9 vào lúc: 14 Tháng Mười Một, 2024, 05:13:44 pm »


Nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện Quân khu tổ chức quán triệt nhiệm vụ, yêu cầu phương châm, huấn luyện cho các đơn vị, nắm vững khâu trung tâm là huấn luyện cán bộ. Theo phương hướng đó, toàn Quân khu đã tổ chức được 127 lớp cán bộ bộ binh với 11.810 lượt người từ tiểu đội trưởng (phó) đến cấp sư đoàn và cán bộ cơ quan Quân khu; 171 lớp cán bộ binh chủng với 10.946 lượt tiểu đội, khẩu đội đến trung đoàn đã được tập huấn, bồi dưỡng về các nội dung, khoa mục huấn luyện năm 1975. Về thời gian đối với bộ binh có lớp 2 ngày, lớp 45 ngày; cấp binh chủng từ 2 ngày đến 60 ngày. Sư đoàn 31 (từ Lào về), Sư đoàn 316B, Trung đoàn pháo binh 167, Trung đoàn 222 cao xạ, Đoàn 22B là những đơn vị tổ chức bồi dưỡng cán bộ đạt kết quả khá nhất Quân khu.

Đối với huấn luyện phân đội, do nhiều mặt công tác và lao động đột xuất chi phối, nên mức độ hoàn thành và chất lượng huấn luyện gồm có 3 loại:

Loại 1, đảm bảo học hết chương trình, có kiểm tra, đánh giá kết quả, gồm Sư đoàn 316B, Sư đoàn 31, các trung đoàn pháo cao xạ 222, 214, 233, Tiểu đoàn 14 Nguyễn Viết Xuân, Tiểu đoàn 54, Tiểu đoàn 31 đặc công.

Loại 2, gồm Sư đoàn 341, Trung đoàn 206 xe tăng, Trung đoàn 167 pháo binh, Trung đoàn 80 thông tin, hoàn thành 2/3 chương trình.

Loại 3, gồm những đơn vị mới học được các khoa mục chung, điều lệnh và một số ít nội dung về kỹ thuật, chiến thuật cơ bản như các tỉnh Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, các trung đoàn 79 và 89 công binh.

Trong ba loại nói trên, loại 1 chất lượng huấn luyện tương đối khá. Trong số 48 tiểu đoàn bắn súng bộ binh lần 1 có 11 tiểu đoàn giỏi, 35 tiểu đoàn khá, 1 tiểu đoàn trung bình, 1 tiểu đoàn không đạt. Bắn súng bộ binh lần 2 có 15 tiểu đoàn được kiểm tra thì 100% đạt yêu cầu, 12 tiểu đoàn khá. Bắn súng lần 3 có 16 tiểu đoàn tham gia thì 3 tiểu đoàn giỏi, 13 khá. Các môn kỹ thuật khác đều khá và giỏi.

Về chiến thuật: Loại 1 hoàn thành học tập các nội dung, đạt các yêu cầu đề ra. Loại 2 nắm được một số nội dung chiến thuật và kỹ thuật cơ bản. Loại 3 chưa học đủ các nội dung nên không đánh giá kết quả.

Đối với quân tăng cường, nhờ tập trung chỉ đạo thường xuyên, nên hoàn thành tốt các nội dung chương trình, tất cả các môn kiểm tra đều đạt kết quả tốt. Riêng bắn đạn thật lần 1 có 6 tiểu đoàn giỏi, 10 tiểu đoàn khá, 1 tiểu đoàn đạt, 1 tiểu đoàn không đạt.
Phân hiệu Lục quân 1 Quân khu đào tạo được 557 trung đội trưởng, 74 đại đội trưởng, 235 quản trị trưởng đại đội.

Đối với dân quân tự vệ, toàn Quân khu tổ chức được 122 lớp gồm 7.715 cán bộ (trong đó có 144 cán bộ quân sự huyện, 4.733 cán bộ tiểu đội đến đại đội và xã đội, 1.280 cán bộ tự vệ và 1.554 cán bộ binh chủng).

Về huấn luyện cơ sở, 830/845 xã và 246 cơ sở tự vệ trong toàn Quân khu đã huấn luyện theo chương trình1. Đáng chú ý là việc huấn luyện quân sự cho học sinh các trường cấp III và sinh viên Đại học sư phạm Vinh được các địa phương chú trọng. Trong số 69.212 người, có 900 sinh viên hoàn thành nội dung quy định. Nổi bật nhất là Hà Tĩnh, 100% xã huấn luyện có 211/247 xã học xong chương trình, 140/152 cơ sở tự vệ huấn luyện, có 70 cơ sở xong chương trình.

Các địa phương đã củng cố dân quân tự vệ theo kế hoạch đề ra được 832/845 xã (98,8%) và 457/581 cơ sở tự vệ2. Tại tỉnh Hà Tĩnh, kiểm tra 70% số xã, 100% số huyện, kết quả về mọi mặt đều khá hơn năm 1974. Tỷ lệ đảng viên trong dân quân tự vệ chiếm 18,3%, đoàn viên thanh niên lao động Hồ Chí Minh là 42,98%, quân nhân phục viên là 11,83%. Số lượng dân quân tự vệ tham gia huấn luyện ngày càng đông nơi thấp nhất đạt 50 - 60%, nơi cao đạt 80%.

Ở Nghệ An, kiểm tra chất lượng huấn luyện lớp cán bộ tỉnh tại thành phố Vinh bắn súng bài 2 đạt 81,8% (43% giỏi, 21% khá); Quảng Bình kiểm tra 9 lớp cán bộ bắn súng bài 2 đạt 83,8% (34,6% giỏi, 38,9% khá); kiểm tra bắn đạn thật 99 xã đạt 100% (40% giỏi, 55% khá). Hà Tĩnh kiểm tra bắn đạn thật ở xã Cẩm Long đạt 97% (46% giỏi, 13,3% khá). Vĩnh Linh kiểm tra bắn đạn thật bài 2 ở 10 xã đạt 100% khá giỏi trong đó có 60% giỏi.

Kiểm tra bắn súng lần 1: Tiểu đoàn 47 đạt giỏi; lần 2: Đại đội 13 pháo binh và Đại đội 25 cao xạ đạt khá, đảo Cồn Cỏ đạt giỏi; lần 3: Tiểu đoàn 54 đạt giỏi, đảo Cồn Cỏ đạt khá; lần 4: Tiểu đoàn 54 đạt khá.

Công tác quân sự địa phương có nhiều chuyển biến tốt, cả về nhận thức, quan điểm tư tưởng và tổ chức. Ở Quảng Bình, Vĩnh Linh, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, các chế độ trực chỉ huy, trực ban, phân đội trực chiến, cả bộ binh và binh chủng từ Bộ chỉ huy đến cơ sở được duy trì chặt chẽ. Việc tuần tra của dân quân tự vệ ở ven biển và biên giới vẫn được duy trì nền nếp. Ở phía hậu phương tỉnh Nghệ An "tổ chức dân quân tự vệ trong điều kiện có hoà bình đã giữ vững và phát triển, từng bước đi vào chiều sâu, cơ bản, cân đối, ngày càng phù hợp với yêu cầu phát triển, củng cố, xây dựng lực lượng tác chiến, bảo vệ trị an và tổ chức mới trong giai đoạn hiện nay"3. Dân quân tự vệ ở Nghệ An phát triển tăng 0,3%, chiếm 11% dân số ở cả 3 vùng. Quỳnh Lưu là huyện đồng bằng: tỷ lệ dân quân tự vệ đạt 16,7% so với dân số Quỳ Châu là huyện miền núi: dân quân chiếm 13% dân số. Tỷ lệ đoàn viên vào dân quân tự vệ đạt 84% (tăng 8% so với năm 1974). Riêng Quế Phong, 100% đoàn viên vào dân quân tự vệ, quân nhân xuất ngũ chiếm tỷ lệ 75,2% trong dân quân tự vệ. Lực lượng tự vệ chiếm 43,2% tổng số công nhân viên chức. Đảng viên trong cán bộ đại đội dân quân du kích chiếm 72% và trung đội 35%. 100% chính trị viên xã đội ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh là Bí thư Đảng ủy; Nghệ An có một số là ủy viên thường vụ. Dân quân tự vệ chiếm 12,32% dân số (tăng 0,4%) gồm 106.128 người, trong đó có 18,33% là đảng viên, 43% đoàn viên. Toàn Quân khu, cán bộ dân quân tự vệ có 80,54% là đảng viên và 69% cấp ủy, 37,2% là quân nhân phục viên chuyển ngành, 13,7% là nữ.
______________________________________________
1. Nghệ An có 427/439 xã vả 108 cơ sở tự vệ, Hà Tĩnh có 247/247 xã và 70 cơ sở tự vệ, Quảng Bình 132/133 xã và 6 cơ sở tự vệ, Vĩnh Linh 24/26 xã và 12 cơ sở tự vệ.
2. Nghệ An có 434/439 xã và 144/268 cơ sở tự vệ, Hà Tĩnh 247/247 xã và 152/152 cơ sở tự vệ, Quảng Bình 133/133 xã và 139/139 cơ sở tự vệ, Vĩnh Linh 18/26 xã và 22/22 cơ sở tự vệ.
3. Tổng kết công tác quân sự địa phương năm 1975 của Bộ chỉ huy quân sự Nghệ An.
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM