Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:44:08 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005)  (Đọc 76494 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #10 vào lúc: 14 Tháng Mười Một, 2024, 05:14:57 pm »


Năm 1975 Quân khu có những biến động rất lớn về tổ chức. Ngoài việc bổ sung cho chiến trường 2 sư đoàn (316, 341), 1 trung đoàn pháo (166), 1 tiểu đoàn xe tăng, 4 tiểu đoàn tân binh gồm 24.075 người, toàn Quân khu còn tuyển thêm 42.770 chiến sĩ mới (trong đó có 5.678 nữ) bao gồm 25.515 quân chiến đấu, 13.241 quân làm kinh tế ở A (miền Bắc), 2.330 quân làm kinh tế ở B (miền Nam) và 1.690 nhân viên kỹ thuật, giáo viên.

Quân khu khẩn trương, tích cực chăm lo chỉ đạo tổ chức xây dựng lực lượng, đưa chất lượng ba thứ quân nhanh chóng trưởng thành, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Sau khi bổ sung quân cho phía trước, Quân khu tổ chức lại Sư đoàn 316B bộ binh, chuẩn bị cho Sư đoàn 316B đi làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế ở Tây Nguyên; tiếp nhận Sư đoàn 341 do Quân khu Hữu Ngạn xây dựng từ Ninh Bình - Thanh Hoá về đứng chân ở Quảng Bình - Vĩnh Linh, bao gồm Trung đoàn 57, Trung đoàn 154, Trung đoàn 3 và Trung đoàn 46 (đứng chân ở Cửa Việt).

Bộ tư lệnh Quân khu chỉ đạo các tỉnh và khu vực Vĩnh Linh xúc tiến việc tổng kết chiến tranh, lựa chọn, tập trung những cán bộ có năng lực, giao nhiệm vụ rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi để tổng kết có chất lượng. Nội dung tổng kết chủ yếu gồm: Công tác quân sự địa phương; công tác hậu cần và công tác động viên tuyển quân.

Giữa lúc quân dân Quân khu 4 đang khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ đề ra, thì trận lụt lớn diễn ra trên diện rộng khắp 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Căn cứ vào Chỉ thị số 88/CT-TM ngày 21-6-1975 của Bộ Tổng Tham mưu và kế hoạch phòng chống bão lụt của Quân khu, các lực lượng vũ trang Quân khu Trị Thiên và Quân khu 4 phối hợp chặt chẽ với các địa phương triển khai đồng bộ việc tham gia ứng cứu đê điều; bảo vệ cơ quan, tài sản Nhà nước; cấp cứu, bảo vệ tính mạng, tài sản nhân dân; ứng cứu giao thông; kết hợp với địa phương làm tốt công tác bảo vệ trật tự an toàn xã hội, an ninh chính trị, kịp thời phát hiện và đập tan mọi hành động của bọn phản động nội địa lợi dụng bão lụt để phá hoại. Ngoài lực lượng của hai Quân khu, các lực lượng của Bộ Quốc phòng và quân binh chủng đóng trên địa bàn như hai trung đoàn 229 và 249 công binh, Trung đoàn xe tăng 215 đều được huy động tham gia chống thiên tai.

Đối với nhân dân vùng Bắc sông Bến Hải, hình ảnh bộ đội quên mình lặn lội trong mưa bão, lũ lụt cứu dân đã trở thành quen thuộc. Với nhân dân vùng mới giải phóng, trước đây mỗi lần bão lụt là mỗi phen vừa lo đối phó với giặc trời, lại vừa nơm nớp bởi quân Mỹ - ngụy lợi dụng thiên tai, hùa vào càn quét, cướp phá, bắt bớ, bắn giết và nạn đầu cơ, tích trữ. Nhìn cảnh bộ đội dầm mình trong mưa gió hiểm nguy, đến từng nhà ngập lụt sơ tán người già, trẻ em, nhường cơm, xẻ muối, nhân dân rất cảm động và mến phục, càng tin yêu "bộ đội giải phóng", "Bộ đội Cụ Hồ".

Đồng chí Lê Quang Liễu - Chính trị viên Tiểu đoàn 403 Trung đoàn 16 pháo binh cũng như đông đảo cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị nhớ mãi một cụ già tại Phú Lộc, nơi lụt tràn qua, nghẹn ngào trong nước mắt: "Tôi đã trên tuổi 70. Tôi sống qua nhiều thời kỳ Pháp, Nhật, Mỹ có, quân Diệm, quân Thiệu - Kỳ đều đủ cả. Thời nào cũng độc ác, bất nhân. Chỉ có "Bộ đội Cụ Hồ" mới đúng là con em của nhân dân, vì nước, vì dân mà quên thân phục vụ".

Ngày 13-10-1975, các đồng chí trong Thường vụ Quân khu ủy dự hội nghị cán bộ quân sự cao cấp toàn quân, do Quân ủy Trung ương triệu tập. Tại hội nghị này, các cán bộ được nghiên cứu quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III về "Nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới" và Nghị quyết Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng "Về tình hình, nhiệm vụ quân sự và một sổ công tác quân sự cần kíp trong giai đoạn mới".

Về nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước ta, Trung ương Đảng xác định: "Hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; miền Nam phải đồng thời tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội".

Đối với nhiệm vụ quốc phòng và bảo vệ an ninh trong giai đoạn mới, Trung ương Đảng quyết nghị: "Ra sức bảo vệ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta, bảo vệ Nhà nước chuyên chính vô sản, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, biên giới và hải đảo của nước Việt Nam thống nhất; luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết đập tan mọi âm mưu xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và bè lũ tay sai. Tiếp tục truy quét tàn quân địch, các lực lượng phản cách mạng hiện hành, sẵn sàng đập tan mọi hành động bạo loạn, phá hoại, chống đối của chúng, giữ gìn trật tự, an ninh, bảo vệ chính quyền cách mạng. Các lực lượng vũ trang, kể cả các đơn vị thường trực, phải tích cực tham gia sản xuất, góp phần xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự đối với tất cả trai tráng và chế độ quân đội tham gia xây dựng kinh tế...".

Căn cứ vào nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ quốc phòng và bảo vệ an ninh trong giai đoạn mới, Nghị quyết Bộ Chính trị (số 157/QU-A ngày 3-10-1975) đã nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và nhiệm vụ quân sự: "Trong tình hình hiện nay, muốn có một nền quốc phòng mạnh, thì trước hết phải có một nền kinh tế mạnh, độc lập tự chủ". "Trên cơ sở đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước về mọi mặt, ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng các khu vực chiến lược quan trọng, xây dựng công nghiệp quốc phòng, bảo đảm cho đất nước có lực lượng ngày càng mạnh, sẵn sàng đánh bại mọi cuộc tiến công của bọn xâm lược...".

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Nghị quyết của Bộ Chính trị là những văn kiện chiến lược cơ bản đầu tiên của Đảng ta sau ngày đất nước thống nhất, đặt cơ sở cho việc xác định nhiệm vụ cơ bản của Quân khu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #11 vào lúc: 14 Tháng Mười Một, 2024, 05:17:52 pm »


Ngày 15-11-1975, Quân khu ủy 4 ra nghị quyết đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 1975, đề ra phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn mới và một số công tác trước mắt.

Đánh giá về những thắng lợi cơ bản của Quân khu năm 1975, nghị quyết nêu rõ:

1. Tập trung chi viện miền Nam, góp phần giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975; đồng thời, bảo đảm vững chắc hậu phương.

2. Thực hiện tốt nhiệm vụ quốc tế, góp phần giúp bạn Lào giải phóng hoàn toàn đất nước.

3. Công tác quân sự địa phương có những chuyển biến tiến bộ mới.

4. Các mặt xây dựng, huấn luyện bộ đội đáp ứng nhiệm vụ chính trị của quân khu.

5. Sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân khu được tăng cường cả về tư tưởng và tổ chức.

Nhìn chung, Quân khu đã chủ động chuyển nhiệm vụ, tư tưởng, tổ chức lực lượng vũ trang đúng hướng, bước vào giai đoạn mới của cách mạng và đã phát triển thêm truyền thống tốt đẹp của Quân khu, của các địa phương trong Quân khu, lãnh đạo cũng như quần chúng đều có tiến bộ mới, trưởng thành và tích luỹ thêm kinh nghiệm qua thử thách mới1.

Trên cơ sở đánh giá đúng tình hình, rút ra ưu điểm, khuyết điểm, tìm đúng nguyên nhân, kinh nghiệm, Quân khu ủy quán triệt, vận dụng Nghị quyết Trung ương Đảng và Bộ Chính trị vào vị trí, nhiệm vụ Quân khu trong giai đoạn mới: "Phát huy cao độ sức mạnh lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng bộ Quân khu, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa Đảng bộ Quân khu và các Đảng bộ địa phương trong Quân khu. Phát động một cao trào thi đua hành động cách mạng sôi nổi với quyết tâm mới, nỗ lực mới, ngang tầm với yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, phát huy truyền thống đoàn kết, quyết chiến quyết thắng, kết hợp chặt chẽ xây dựng Quân khu vững mạnh toàn diện, vững về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng với tốc độ nhanh, mạnh và vững chắc.

Ra sức xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân trong Quân khu theo hướng cách mạng, chính quy, hiện đại, ngày càng hùng mạnh, có lực lượng thường trực tinh mạnh, có lực lượng hậu bị to lớn, được huấn luyện tốt; có quân đội nhân dân chính quy, hiện đại, có lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp và vững chắc. Luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, giữ vững trật tự trị an, bảo vệ vững chắc chính quyền chuyên chính vô sản, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của địa bàn Quân khu và của Tổ quốc; giữ vững và phát huy truyền thống đoàn kết đặc biệt với bạn Lào, làm tròn nhiệm vụ quốc tế trong giai đoạn mới
2.

Quân khu ủy đề ra 4 nhiệm vụ cơ bản và 9 chủ trương công tác cần kíp trước mắt. Trong lúc chờ hình thành tổ chức mới của Quân khu, theo Nghị quyết số 157/QU-A của Bộ Chính trị, được sự chỉ đạo của cấp trên, Quân khu 4 cùng Quân khu Trị Thiên phối hợp chuẩn bị cho việc chấn chỉnh, tổ chức quân khu và các lực lượng vũ trang quân khu theo phương hướng tổ chức quân khu mới.

Từ ngày 20 đến ngày 30-11-1975, Thường vụ Quân khu ủy mở lớp học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết Bộ Chính trị (số 157/QU-A) cho 233 cán bộ cao cấp và trung cấp chủ trì toàn Quân khu. Tiếp đó, Quân khu mở lớp bồi dưỡng cho 56 phái viên đi chỉ đạo các đơn vị và trực tiếp chỉ đạo "điểm" lớp học của cán bộ trung cấp do Sư đoàn 316 tổ chức.

Qua học tập, cán bộ bước đầu nắm được nội dung cơ bản của các nghị quyết về thắng lợi và nguồn gốc thắng lợi; nhận thức rõ nhiệm vụ chiến lược của cách mạng trong giai đoạn mới, hiểu sâu hơn nhiệm vụ quân sự, mối quan hệ giữa nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng đất nước, giữa kinh tế và quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Điểm mới trong nhận thức, quan điểm lần này là tầm quan trọng của việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nền quốc phòng toàn dân, với lực lượng vũ trang nhân dân trong giai đoạn mới. Trải qua 30 năm chiến tranh, nhân dân ta đã xây dựng được một lực lượng vũ trang và một nền quốc phòng toàn dân hùng mạnh, đủ sức đánh bại hai đội quân viễn chinh xâm lược của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, quân đội ngụy tay sai và các đội quân chư hầu của chúng.

Tuy vậy, nền quốc phòng của ta còn những nhược điểm lớn, nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng phát triển chậm của nền kinh tế quốc dân. Nhìn chung nhân dân và các lực lượng vũ trang ta đã phát huy tinh thần tự lực rất cao chủ yếu là về sức người, về lương thực, thực phẩm, còn về vật chất, vũ khí, trang bị kỹ thuật thì một phần lấy của địch, một phần rất lớn nhờ sự chi viện của các nước xã hội chủ nghĩa.
_____________________________________________
1, 2. Nghị quyết số 481/QKU4 ngày 15-11-1975 - Lưu trữ Quân khu 4.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #12 vào lúc: 14 Tháng Mười Một, 2024, 05:20:41 pm »


Trước tình hình cả nước hoà bình thống nhất, nhiệm vụ trung tâm của Đảng chuyển từ đẩy mạnh kháng chiến sang xây dựng kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội, khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng" được thay thế bằng khẩu hiệu "Tất cả cho sản xuất, tất cả để xây dựng chủ nghĩa xã hội, tất cả vì Tổ quốc giàu mạnh, vì hạnh phúc của nhân dân”1.

Việc giải quyết mối quan hệ giữa kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế và củng cố quốc phòng, củng cố quốc phòng và xây dựng kinh tế trong điều kiện mới đòi hỏi rất nghiêm ngặt; phải kết hợp trên phương hướng và nhiệm vụ chung cũng như trong kế hoạch cụ thể; kết hợp trên phạm vi cả nước cũng như ở các địa phương, các ngành và từng đơn vị.

Đợt học tập, quán triệt Nghị quyết lần thứ 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Nghị quyết của Bộ Chính trị, đã góp phần nâng cao nhận thức làm cho đội ngũ cán bộ phấn khởi, tự hào, tin tưởng, biểu hiện quyết tâm sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ Đảng giao. Đó là cơ sở vững chắc để triển khai giáo dục, tuyên truyền nâng cao trình độ giác ngộ cho các lực lượng vũ trang quân khu. Đồng thời, tạo cơ sở và niềm tin để xây dựng quyết tâm, nâng cao trình độ trước yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.

Song đây là vấn đề rộng lớn, mới mẻ, thời gian học tập có hạn, nhận thức không đồng đều; những trang bị về hiểu biết chỉ là bước đầu, nên khi vận dụng cụ thể để giải quyết các mối quan hệ trong điều kiện mới, không tránh khỏi những lúng túng.

Tiếp tục thực hiện phương châm "bốn xây", "ba chống" trong công tác tư tưởng2, Quân khu tăng cường việc nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng, trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa của cán bộ, chiến sĩ, quán triệt sâu sắc hơn nữa đường lối, nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ quân sự của Đảng, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang, khẩn trương kiện toàn tổ chức vững mạnh, nâng cao trình độ mọi mặt của cán bộ các cấp, phát huy bản chất, truyền thống cách mạng, tăng cường đoàn kết, đề cao kỷ luật, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.

Ngày 28-11-1975, Thường vụ Quân khu ủy chỉ thị tiến hành đợt sinh hoạt chính trị trong các lực lượng vũ trang quân khu, quán triệt nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết của Bộ Chính trị và tình hình nhiệm vụ của Quân khu.

Ngày 26-12-1975, Thường vụ Quân khu ủy và Bộ tư lênh Quân khu chỉ thị phát động phong trào thi đua quyết thắng trong giai đoạn mới nhằm "tạo ra khí thế cách mạng mới và một cao trào thi đua yêu nước xã hội chủ nghĩa sôi nổi, mạnh mẽ, rộng khắp trong cả ba thứ quân, trong cán bộ và chiến sĩ, trong đảng viền và quần chúng, từ cơ quan đến đơn vị, trên mọi lĩnh vực hoạt động, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ"3. Thông qua việc xây dựng và nhân điển hình thi đua, góp phần tích cực rèn luyện người cán bộ, chiến sĩ cách mạng ưu tú, xây dựng tổ chức vững mạnh toàn diện.

Ở Thanh Hoá, từ tháng 5-1975 đến tháng 4-1976, dưới sự lãnh đạo, điều hành của Tỉnh ủy, Ủy ban hành chính tỉnh và sự chỉ đạo của Quân khu ủy, sự chỉ huy của Bộ tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn, các hoạt động thi đua đã diễn ra sôi nổi trong thời kỳ chuyển tiếp của cách mạng. Sau khi tổ chức bàn giao 9 tiểu đoàn hành quân thần tốc bổ sung cho chiến trường miền Nam, Bộ chỉ huy quân sự tiếp tục chỉ đạo Trung đoàn 14 làm mọi công tác tổ chức, huấn luyện, giao thêm 10 tiểu đoàn cho Quân khu và Bộ Quốc phòng.

Tháng 6-1975, Bộ chỉ huy quân sự điều tiếp 2 tiểu đoàn cho Bộ tư lệnh hải quân; tiếp đó là triển khai công tác kiểm tra, bảo quản các công trình quốc phòng trọng điểm ở Lau Chẹt, Sầm Sơn, Hoàng Hoá, đảo Mê. Năm chục bãi tre và hơn 80 cây phi lao đã được trồng làm vật che khuất, ngụy trang các công trình. Riêng ở đảo Mê, công trình chiến đấu F22 đã được giao cho Đại đội 4, Tiểu đoàn 25 và bộ đội trên đảo khởi công xây dựng vào ngày 1-8-1975.

Đối phó với bão lụt uy hiếp nghiêm trọng lưu vực sông Lèn, ngày 3-9-1975, Bộ chỉ huy quân sự huy động 3.570 lượt cán bộ, chiến sĩ bộ đội phối hợp với dân quân du kích, khẩn trương vật lộn với sóng nước, đào đắp 3.313m3 đất đá, đẩy lùi nguy cơ vỡ đê, bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản nhân dân.
_______________________________________________
1. Nghị quyết Quân khu ủy 4 số 481/QKU, ngày 15-11-1975 - Lưu trữ Quân khu 4.
2. Theo Nghị quyết 402 ngày 19-5-1975 của Thường vụ Quân khu ủy 4: "Bốn xây” là "xây" tinh thần cảnh giác cách mạng, tư tưởng cách mạng tiến công cách mạng triệt để; “xây" ý thức tự lực tự cường, lao động quên mình để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; “xây” ý thức tổ chức kỷ luật; “xây” đoàn kết nội bộ, quân dân, quốc tế. "Ba chống": Chống hòa bình chủ nghĩa, lỏng lẻo cảnh giác, lỏng lẻo ý chí chiến đấu, suy tính cá nhân, kém kỷ luật, kém đoàn kết, thiếu dân chủ; quét sạch tiêu cực lạc hậu và ảnh hưởng văn hoá thực dân mới; đề phòng sa sút, thoái hoá và ảnh hưởng chủ nghĩa cơ hội.
3. Hồ sơ 26/QKU - Lưu trữ Quân khu 4, Chỉ thị 509/CT.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #13 vào lúc: 14 Tháng Mười Một, 2024, 05:22:23 pm »


Bước sang năm 1976, trong không khí phấn khởi đón nhận vinh dự Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho 54 đơn vị, 42 cán bộ, chiến sĩ lập công đặc biệt xuất sắc trong chống Mỹ, cứu nước; trong đó, Thanh Hoá có 6 đồng chí, Quân khu Hữu Ngạn và tỉnh Thanh Hoá phối hợp khởi công xây dựng công trình tiêu thủy lớn trên địa bàn 2 huyện Đông Sơn, Thiệu Hoá và thị xã Thanh Hoá. Công trình mang tên Thống Nhất, gọi tắt là Đông - Thiệu - Thị.

Quân khu Hữu Ngạn và Tỉnh ủy Thanh Hoá giao nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang đảm nhiệm. Lực lượng tham gia gồm có Tiểu đoàn 27 công binh Quân khu Hữu Ngạn, Trung đoàn 14 bộ binh của tỉnh; 5 tiểu đoàn quân dự nhiệm của 5 huyện ven biển và thị xã Thanh Hoá; 13.000 dân quân tự vệ của 4 huyện và đội 202 (chuyên làm thủy lợi) của 8 huyện.

Trên công trường xây dựng tuyến kênh có 24.000 dân quân tự vệ. Tất cả đều tổ chức lao động theo hình thức "quân sự hoá". Cấp trên tăng cường thêm 700 người, trong đó có 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 46 (Quân khu Hữu Ngạn) và cán bộ, chiến sĩ của cơ quan quân sự tỉnh, công an vũ trang, cụm Tĩnh Gia, Đoàn 585 và bộ đội đảo Mê. Đồng chí Nguyễn Đình Bảng được cử làm chỉ huy trưởng công trình.

Trong số các hạng mục công trình, thì cống Quảng Châu thuộc loại tương đối lớn, đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao do Trung đoàn 14 đảm nhận. Qua một thời gian vật lộn với nắng mưa, khảo sát, thiết kế, thi công các phần việc chuẩn bị, ngày 3-6-1975, tại thôn Châu Lộc, xã Quảng Châu huyện Quảng Xương, sau khi Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hoá báo cáo quyết tâm và kế hoạch, Bộ tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn chính thức ký văn bản phê chuẩn kế hoạch xây dựng cống Quảng Châu.

Ngày 5 tháng 6 tại Sầm Sơn, Thượng tướng Hoàng Văn Thái, thay mặt Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng duyệt và phê chuẩn lần cuối phương án xây dựng công trình có ý nghĩa quan trọng mở đầu cho thời kỳ bộ đội tham gia xây dựng kinh tế theo Nghị quyết của Quân ủy Trung ương (12-1975) "mà lực lượng vũ trang địa phương của một tỉnh lần đầu tiên đảm nhận”, một công trình lớn ở tỉnh Thanh Hoá.

Trước khi chuyển trực thuộc Quân khu 4, theo sự chỉ đạo của Thường vụ Quân ủy Trung ương và thực hiện quy trình tổ chức Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, ngày 19-5-1976, Đại hội đại biểu Đảng bộ quân sự tỉnh Thanh Hoá lần thứ 3 được tiến hành tại thị xã. Các đồng chí lãnh đạo Quân khu ủy Quân khu Hữu Ngạn và Quân khu 4 đã đến dự Đại hội.

Biến thành công của Đại hội và thành quả trên toàn bộ công trình tiêu thủy thành hành động đỉnh cao chiến công, đột phá vào "trận then chốt cuối cùng", từ 18 giờ đến 19 giờ ngày 14-6-1976, lễ khởi công xây dựng cống Quảng Châu đã được tiến hành trọng thể tại thôn Châu Lộc.

Thiếu tướng Vũ Yên - Tư lệnh Quân khu 3; đồng chí Nguyễn Thanh Bình - Bộ trưởng Bộ Thủy lợi; đồng chí Lê Thế Sơn - Bí thư Tỉnh ủy; đồng chí Hoàng Văn Hiều - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và các đồng chí lãnh đạo tỉnh Thanh Hoá đã tới dự.

Sau 6 tháng liên tục "tranh nắng, thắng mưa", lao động miệt mài, khẩn trương theo những đòi hỏi khắt khe, nghiêm ngặt của quy trình kỹ thuật và xử lý các sự cố phát sinh, công trình cống Quảng Châu hoàn thành. 14 giờ ngày 30-8-1976, lễ khánh thành chính thức đưa công trình cống Quảng Châu vào sử dụng đã diễn ra trong không khí phấn khởi tự hào, tràn ngập niềm xúc động của cán bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trang địa phương.

Hai công trình xây dựng kinh tế có ý nghĩa trong dịp hợp nhất quân khu: đường sắt Thống Nhất đoạn Minh Cầm - Tiên An và công trình thủy lợi Thống Nhất, đỉnh cao kỹ thuật là cống Quảng Châu (Thanh Hoá), đánh dấu sự trưởng thành tính đột phá mở đầu của các lực lượng vũ trang Quân khu 4 trên mặt trận xây dựng đất nước. Đó là một trong những thành tựu cụ thể ghi mốc son lịch sử về tiềm năng, tiếm lực và khả năng của các lực lượng vũ trang nhân dân Quân khu thực hiện tốt lời Bác Hồ dạy "Đội quân chiến đấu và đội quân công tác".

Phát huy thành tựu đạt được, Trung đoàn 14 tiếp tục hoàn thành cầu Xuân Phương. Thực hiện Nghị quyết của Quân ủy Trung ương về lực lượng vũ trang làm kinh tế, Đảng ủy và Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá thành lập tiếp đơn vị làm đường Hồi Xuân - Pù Nhi, chuyển Tiểu đoàn 923 thành Đoàn 923 - tiền thân của Đoàn 74 sau này1.
_____________________________________________
1. Tháng 11-1976 Bộ Tổng Tham mưu quyết định thành lập Đoàn 74, biên chế 1.500 cán bộ, chiến sĩ, tổ chức thành 8 đội cầu đường, 2 đội xe, 1 bệnh xá và cơ quan đoàn bộ.
Những ngày đầu quân số chưa đủ, kinh nghiệm thiếu, phương tiện có hạn, năm 1976 đoàn mới làm được 4km nền đường (km 49 - km 53). Năm 1977, thông xe được 10km (km 62 - km 72).

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #14 vào lúc: 14 Tháng Mười Một, 2024, 05:24:03 pm »


Trong hai ngày 8 và 9-3-1976, Quân khu ủy họp quán triệt Nghị quyết Quân ủy Trung ương về phương hướng, nhiệm vụ quân sự năm 1976, chỉ thị về công tác quân sự năm 1976 của Bộ Tổng Tham mưu, kế hoạch công tác đảng, công tác chính trị của Tổng cục Chính trị và kế hoạch công tác hậu cần - kỹ thuật của Tổng cục Hậu cần.

Quân khu ủy xác định một số vấn đề lãnh đạo trước mắt làm cơ sở cho các cơ quan Quân khu chuẩn bị tiến hành họp hội nghị hợp nhất Quân khu.

Căn cứ vào Nghị quyết Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (số 39, ngày 3-10-1975) về việc phân chia địa giới hành chính trên phạm vi cả nước, trong đó có chủ trương hợp nhất các Quân khu trong cả nước, thì Quân khu Trị Thiên hợp nhất với Quân khu 4, thành Quân khu 4. Tỉnh Thanh Hoá được chuyển giao thuộc Quân khu 3 trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, nay trở về Quân khu 4.

Quân khu ủy nhất trí cao với chủ trương hợp nhất Quân khu, vì hoàn toàn phù hợp đặc điểm, vị trí, địa bàn, nhiệm vụ trong tình hình mới; phù hợp với lịch sử, truyền thống, nguyện vọng, tình cảm của Đảng bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân trên địa bàn1. Và đây là một công việc đặc biệt hệ trọng. Quá trình chuẩn bị giữa Quân khu Trị Thiên với Quân khu 4 đã có sự bàn bạc, quán triệt theo chủ trương của Trung ương Đảng, tiến hành các bước công tác một cách chu đáo, cẩn trọng, tỷ mỷ. Nay phải tiếp tục làm tốt mọi mặt công tác tư tưởng, tổ chức với tất cả tinh thần tự giác, chủ động, ý thức trách nhiệm chính trị cao và tình cảm sâu nặng. Đó là cơ sở chính trị - tinh thần vững chắc, bảo đảm khi Nhà nước chính thức ban hành sắc lệnh hợp nhất, Quân khu chấp hành thực hiện chu đáo theo các nội dung, yêu cầu đề ra.

Quân khu ủy nhất trí cao với kế hoạch tiến hành hợp nhất hai Quân khu: Quân khu Trị Thiên với Quân khu 4 thành Quân khu 4 rồi mới nhận bàn giao tỉnh Thanh Hoá từ Quân khu 3 về Quân khu 4.

Ngày 29-3-1976, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký sắc lệnh hợp nhất Quân khu Trị Thiên vào Quân khu 4.

Ngày 4-4-1976, Bộ Tổng Tham mưu họp với lãnh đạo, chỉ huy hai Quân khu về vấn đề hợp nhất.

Tham dự cuộc họp có các đồng chí Tổng Tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam - Trung tướng Trần Quý Hai, Thượng tướng Lê Trọng Tấn, Đại tá Giáp Văn Cương. Về phía Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu Trị Thiên có Đại tá Nguyễn Văn Thanh (Thanh Quảng) - Bí thư Quân khu ủy - Chính ủy Quân khu. Về phía Quân khu 4 có Thiếu tướng Đàm Quang Trung - Bí thư Quân khu ủy - Tư lệnh Quân khu; các đồng chí Phó tư lệnh Quân khu: Đại tá Lê Thanh (Tham mưu trưởng) và Đại tá Dương Bá Nuôi. Tham dự còn có đồng chí Đinh Thiện (Tổng cục Hậu cần), đồng chí Phúc (Tổng cục Kỹ thuật) cùng một số cán bộ Bộ Tổng Tham mưu và Phó Chủ nhiệm chính trị Quân khu 4 Lê Đình Sô (ủy viên Quân khu ủy).

Trong kết luận, hội nghị nhấn mạnh một số vấn đề đã làm được: Quân khu 4 và Quân khu Trị Thiên đã làm tốt công tác quân sự địa phương, các đơn vị chủ lực binh chủng hợp thành, thực hiện nhiệm vụ phòng thủ sẵn sàng chiến đấu trên địa bàn có bờ biển dài và nhiều đảo, tham gia xây dựng kinh tế; đồng thời, làm nhiệm vụ giúp cách mạng Lào.

Tại hội nghị này, một số vấn đề biên chế về tổ chức khác cũng được quyết định: Quân khu giữ lại Trung đoàn 6 (tức Trung đoàn Phú Xuân), trung đoàn chủ lực đầu tiên của Quân khu Trị Thiên, đơn vị cắm cờ lên đỉnh Phu Văn Lâu trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968. Trung đoàn 239 công binh chuẩn bị nhận nhiệm vụ sang Lào giúp bạn xây dựng đường giao thông. Bộ Tổng Tham mưu đồng ý cho Sư đoàn 324 cử tiền trạm về Quân khu 4 nhận vị trí đóng quân, chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để tháng 6-1976 hoàn thành toàn bộ công tác bàn giao sư đoàn về Quân khu. Quân khu khẩn trương chuẩn bị mọi điều kiện đón nhận 5.000 tù binh cấp tá, trong đó có nhiều tên ác ôn để cải tạo.

Trong khi chờ quyết định của Trung ương Đảng và Nhà nước, Quân ủy Trung ương chỉ định Thiếu tướng Đàm Quang Trung, nguyên Tư lệnh Quân khu 4 (cũ) làm Tư lệnh Quân khu 4 (hợp nhất); Thiếu tướng Lê Tự Đồng, nguyên Chính ủy Quân khu Trị Thiên đang đảm trách Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên làm Chính ủy Quân khu 4 (hợp nhất). Ngày 1-5-1976, mọi công tác hợp nhất hai Quân khu hoàn thành.

Đi đôi với việc sáp nhập các quân khu, Nhà nước tiến hành sáp nhập một số tỉnh. Riêng ở địa bàn Quân khu 4, từ 6 tỉnh và một địa phương tương đương cấp tỉnh nhập lại thành 3 tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh (Nghệ An, Hà Tĩnh) và Bình Trị Thiên (gồm Quảng Bình, khu vực Vĩnh Linh, Quảng Trị, Thừa Thiên).
______________________________________________
1. Sau Cách mạng Tháng 8-1945 và suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954) 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên thuộc Liên khu 4. Sau Hiệp nghị Giơnevơ 1954, phần phía nam sông Bến Hải của tỉnh Quảng Trị và tỉnh Thừa Thiên thuộc sự lãnh đạo, chỉ đạo của Liên khu 5. Tháng 5-1966, thuộc Khu ủy và Quân khu Trị Thiên. Ngày 3-6-1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập 6 quân khu ở miền Bắc. Theo sắc lệnh, tỉnh Thanh Hoá giao về Quân khu Hữu Ngạn (sau hợp nhất thành Quân khu 3). Khu vực Vĩnh Linh và các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình thuộc Quân khu 4.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #15 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2024, 11:03:05 am »


Trong khi tập trung chỉ đạo 2/3 lực lượng bộ đội đẩy mạnh tiến độ và chất lượng thi công trên công trình trọng điểm đường sắt Thống Nhất đang thời kỳ cao điểm, Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu lãnh đạo, chỉ huy triển khai thực hiện bảy công tác lớn trên toàn bộ địa bàn từ Tam Điệp đến Hải Vân. Việc chỉ đạo hợp nhất Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên, tiếp nhận Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá và các lực lượng vũ trang thuộc quyền, cũng như các mặt công tác quân sự địa phương và lĩnh vực quốc phòng toàn dân trên địa bàn Thanh Hoá1 được coi như một công tác đột xuất. Lãnh đạo Quân khu cùng lãnh đạo các tỉnh đã phát huy trách nhiệm phối hợp, hiệp đồng hoàn thành tốt việc hợp nhất và giao nhận theo đúng tư tưởng nội dung chỉ đạo của Trung ương Đảng và Nhà nước.

Quá trình hợp nhất và giao nhận, mọi mặt công tác vẫn được tiến hành thông suốt; đặc biệt là nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và các nhiệm vụ trung tâm được đẩy mạnh trong khí thế thi đua quyết thắng chào mừng những ngày kỷ niệm lịch sử, chào mừng sự kiện trọng đại của đất nước như Tổng tuyển cử bầu cử Quốc hội nước Việt Nam thống nhất (Quốc hội khoá VI) tiến hành vào ngày 25-4-1976, thực hiện thống nhất Tổ quốc về mặt Nhà nước, lấy tên mới của nước ta là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ý thức sâu sắc trách nhiệm chính trị to lớn, nặng nề và vẻ vang trước sự kiện lịch sử trọng đại này, cùng với quân dân cả nước các lực lượng vũ trang quân khu từ biên giới đến hải đảo, từ các đơn vị đang làm nhiệm vụ thường xuyên sẵn sàng chiến đấu đến các công trường xây dựng đều nô nức đi bỏ phiếu; đồng thời vận động nhân dân hăng hái, phấn khởi làm tròn nghĩa vụ công dân, bảo vệ cuộc bầu cử thắng lợi trọn vẹn.

Sau khi hoàn thành việc hợp nhất quân khu và hợp nhất các Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Quân khu khẩn trương chỉ đạo việc kiện toàn, ổn định tổ chức với tổng biên chế là 53.000, trong đó quân thường trực chiến đấu là 22.000, quân làm nhiệm vụ sản xuất xây dựng kinh tế là 30.000 người, quân làm nòng cốt xây dựng cơ bản là 1.000 người. Từ 70.700 người (trong đó quân thường trực gọi là A: 39.400, quân sản xuất 25.251, "khung” thương binh, bệnh binh 2.370, "động" thương binh, bệnh binh 3.210), nay rút xuống theo biểu biên chế mới. Cùng với việc giải quyết 17.700 người ngoài biên chế, Quân khu phải nghiên cứu hàng loạt các biện pháp, giải pháp về mặt tổ chức, chính sách, điều chỉnh bố trí nhân lực và nhân sự theo hướng khoa học, hợp lý, phát huy được sức mạnh mới của tổ chức và mỗi người.

Ngoài số quân nhân đã giải quyết theo chế độ chính sách, Quân khu được quyền tạm thời giữ lại từ 7.200 đến 7.500 người, trong đó có 1.000 thương binh, bệnh binh cần tiếp tục nuôi dưỡng và 6.000 cán bộ, chiến sĩ làm các nhiệm vụ như: tổ chức thu hồi triệt để các trang bị của địch, các vũ khí, trang bị hư hỏng của ta; dồn dịch, xây dựng kho tàng; quy tập mộ liệt sĩ, xác minh quân nhân mất tin, mất tích; quản giáo tù binh; tổng kiểm kê cơ sở vật chất kỹ thuật; đi kiểm tra bàn giao lại các trận địa tên lửa, cao xạ trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, nay thuộc trách nhiệm bảo quản, gìn giữ của cơ quan quân sự địa phương... Những cán bộ có trình độ tổng kết được bố trí về các bộ phận lâm thời làm công tác tổng kết các chuyên đề về chiến tranh.

Theo chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, Quân khu 4 phải tập trung lực lượng cần thiết cùng với các lực lượng chức năng khác căn bản thanh toán xong bọn tàn quân địch và bọn phản cách mạng có vũ trang trên địa bàn Quân khu, chủ yếu là ở B4 cũ (Quảng Trị, Thừa Thiên cũ). Đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, giữ vững an ninh biên giới, quan hệ hữu nghị tốt với bạn Lào, tiếp tục tiến hành rà phá bom mìn, trước hết là các vùng trọng điểm. Đồng thời, tiến hành các công tác chuẩn bị xây dựng kế hoạch phòng thủ chiến lược lâu dài, trước mắt là trên hai hướng Thanh Hóa - Nghệ An và Vĩnh Linh - đèo Hải Vân.

Trên chiến trường Lào trong khi đất nước Việt Nam đã hoàn toàn giải phóng thì tình hình cách mạng Lào phát triển rất nhanh và sôi động. Tận dụng thời cơ được tạo ra sau khi Việt Nam toàn thắng “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", quân và dân nước Lào đẩy mạnh thế tiến công trên khắp các vùng.

Theo yêu cầu của bạn, Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 4 tiếp tục chỉ đạo các đơn vị quân tình nguyện thuộc quyền nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu, phối hợp với bạn hoàn thành sự nghiệp giải phóng đất nước Lào anh em.

Những tháng nửa cuối năm 1975, các đơn vị quân tình nguyện tập trung giúp bạn tiêu diệt lực lượng quân sự và xóa bỏ chính quyền địch; xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân, ổn định tình hình xã hội, phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân và xây dựng lực lượng cách mạng ở vùng mới giải phóng.

Chỉ trong một thời gian ngắn, trên địa bàn hai tỉnh Khăm Muộn và Bô Li Khăm Xay do các đơn vị thuộc Trung đoàn 176 và bộ đội địa phương Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đảm nhận đã giúp bạn thành lập chính quyền tỉnh. Nhân dân các bộ tộc Lào phấn khởi, tin tưởng chào mừng sự ra đời của chính quyền cách mạng ở địa phương mình, và chấp hành chủ trương, chính sách cách mạng đề ra.

Đến cuối năm 1975, ta đã giúp bạn cơ bản cải huấn xong ngụy quân và nhân viên ngụy quyền. Ngay sau đó, 5 tiểu đoàn ngụy quân cũ (bao gồm 1 tiểu đoàn cảnh sát) tự nguyện nhận làm đường giao thông.

Riêng tỉnh Xiêng Khoảng, địch tìm cách phá hoại, nên việc lập chính quyền ở cấp tỉnh chậm hơn nơi khác. Số đông sĩ quan và binh sĩ ngụy ở vùng thấp được cải tạo. Ở Long Chẹng và vùng phụ cận chỉ mới cải tạo được một số. Phần đông quân ngụy ở đây còn tìm cách lẩn trốn. Ở Bom Lọng và Nậm Heo vẫn còn tình trạng quân ngụy trốn tránh, không ra trình diện.

Các đơn vị tiếp tục nêu cao tinh thần đồng cam cộng khổ, chịu đựng hy sinh, cùng bạn tích cực tiến công và làm tan rã các ổ phỉ, các tổ chức phản động đang ráo riết mưu toan nổi dậy chống phá chính quyền cách mạng.

Các đơn vị quân tình nguyện điều chỉnh lại đội hình chiến đấu và vị trí đứng chân của một số tiểu đoàn ở khu vực Cánh Đồng Chum, tạo điều kiện thuận lợi để bạn yên tâm rút bớt lực lượng ra làm nhiệm vụ ở phía trước. Các đơn vị còn giúp bạn xây dựng thêm hai tiểu đoàn bộ binh và một đại đội xe tăng pháo binh hỗn hợp ở tỉnh Khăm Muộn.
_____________________________________________
1. Quyết định số 112/QĐ-TM của Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam điều động toàn bộ tổ chức quân số trang bị thuộc Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá về trực thuộc Bộ tư lệnh Quân khu 4 ghi rõ: Bộ lư lệnh Quân khu Hữu Ngạn giao cho Bộ tư lệnh Quân khu 4 xong trong tháng 6-1976.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #16 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2024, 11:04:07 am »


Để chủ động trước những diễn biến phức tạp có thể xảy ra, Quân khu tổ chức tập huấn cho cán bộ trung cấp và cao cấp về một số hình thức chiến thuật và chiến dịch. Nội dung tập huấn bám sát đối tượng tác chiến và điều kiện cụ thể trên chiến trường Lào; đặc biệt là vùng đô thị và rừng núi được ưu tiên quan tâm.

Theo đề nghị của bạn, Quân khu kịp thời cử lực lượng, cả phía sau lên giúp sửa chữa các tuyến đường huyết mạch, bảo đảm giao thông thông suốt cả mùa khô và mùa mưa. Trong mùa mưa năm 1975, ở Lào có nhiều trận lũ lụt rất lớn. Đường sá bị hư hỏng nhiều; nhất là trên tuyến đường 8A, 8B, cầu đường hư hỏng nghiêm trọng, đòi hỏi sự tập trung lực lượng, phương tiện và sự nỗ lực lớn mới có thể hoàn thành đúng kế hoạch. Riêng đoạn Cánh Đồng Chum - Long Chẹng phải bảo đảm thông tuyến vào ngày 8-8-1975.

Việc hoàn thành tốt chiến dịch bảo đảm giao thông đã giúp các đơn vị tổ chức vận chuyển lương thực, thực phẩm, đạn dược, thuốc men và các phương tiện, trang bị chi viện cho bạn ở phía trước, trong mùa mưa (đặc biệt là đường 8A, 8B gặp nhiều khó khăn trở ngại nhất) góp phần quan trọng vào thắng lợi giải phóng hoàn toàn đất nước Triệu Voi ở thời điểm quyết định cuối cùng.

Ngày 2-12-1975, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào thành lập. Đây là bước ngoặt vĩ đại của quá trình đấu tranh anh dũng, lâu dài và bền bỉ suốt 30 năm đánh Pháp, đuổi Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào cùng sinh ra từ một cội nguồn với Đảng Cộng sản Việt Nam, trong mối quan hệ thủy chung đặc biệt:

"Việt Lào hai nước chúng ta
Tình sâu hơn nước Hồng Hà - Cửu Long
"1.

Đó cũng là niềm vui chung to lớn của nhân dân ba nước trên bán đảo Đông Dương trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung, giành độc lập, tự do cho mỗi nước. Đồng thời cũng là điều kiện thuận lợi cơ bản để nhân dân nước bạn cùng đoàn kết xây dựng đất nước trong thời kỳ mới.

Sự ra đời của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào mở ra một trang mới trong quan hệ thủy chung đặc biệt giữa Chính phủ và Quân đội hai nước Việt - Lào.

Theo hiệp định ký giữa Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (3-12-1975), Quân khu 4 có nhiệm vụ tiếp tục giúp bạn Lào tổ chức bảo đảm giao thông - vận chuyển mùa khô 1975-1976.

Trên tuyến đường 8, Quân khu thành lập Ban bảo đảm giao thông vận tải và Ban chỉ huy công trường, đồng thời điều động lực lượng phía sau gồm các tiểu đoàn 42, 48 bộ binh, Tiểu đoàn 37 công binh được phối thuộc 1 đại đội thông tin của Trung đoàn 80 thông tin Quân khu và tăng cường thêm Trung đoàn 176 lên tham gia bảo đảm giao thông. Trung đoàn 176 là nơi đặt trụ sở của Ban bảo đảm giao thông vận tải và Ban chỉ huy công trường. Cán bộ các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần quân khu được điều động tham gia Ban bảo đảm giao thông vận tải.

Ngày 23 tháng 12, lãnh đạo 2 ban có mặt ở Trung đoàn 176. Ngày 25 tháng 12, Tiểu đoàn 37 có mặt ở Lạc Xao. Ngày 27-12-1975 bắc xong cầu Nậm Thơn dài 120 mét. Ngày 1-1-1976, Tiểu đoàn 37 hành quân lên Pắc Ca Đình. Ngày 3-1-1976 bắc xong cầu Pắc Ca Đình dài 368 mét đưa vào sử dụng.

Trên địa bàn Khăm Muộn, Trung đoàn 176 và các tiểu đoàn 42, 48, 37 sử dụng 147.013 công, 11.102 lít xăng bảo đảm giao thông vận chuyển từ đường 8 đến đường 13, đường 8B và đường 12.

Tại Xiêng Khoảng, 5 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 31, Trung đoàn 229 công binh, Tiểu đoàn 27 công binh chịu trách nhiệm bảo đảm tuyến đường 7 - Xảm Thông - Long Chẹng. Các đơn vị xây dựng mới được 60km đường, sửa chữa 156km đường sẵn có; bảo đảm giao thông cho 287km đường 7A Xiêng Khoảng - Tha Viêng và Lạt Luông - Xảm Thông. Tổng số nhân lực, vật lực huy động vào việc xây dựng tuyến đường này gồm 125.036 công, 50.000kg thuốc nổ, 155.009 lít xăng 12.519 lít dầu, 1.270kg đinh, 13.583 kíp nổ, 10.511 mét dây cháy chậm.

Kết thúc chiến dịch bảo đảm giao thông - vận chuyển mùa khô 1975-1976 trên tuyến đường 8 (tính đến 7-5-1976) , các đơn vị vận tải đưa tới Pắc Xan 10.131 tấn hàng hóa (so với kế hoạch đề ra là 9.500 tấn, vượt mức 631 tấn) với tổng số huy động là 55.651 ngày công và chi phí 89.253,33 đồng2.

Quân khu còn giúp bạn hoàn thành 250 mét đường hầm từ Phu Teng - Phu Keng, lắp 48 công sự, làm hai con đường lên núi dài 7km với tổng số 46.684 công, 117 tấn xi măng, 29,5 tấn thép, 1.000 mét ni lông, 80kg sơn chống gỉ. Các sân bay Bản Quý, Phôm Xa Vẳn, Nhom Ma Rát được sửa chữa xong với 1.070 ngày công.

Trong số vũ khí trang bị Quân khu chuyển giao lại cho bạn có 3 xe tăng T59, 150 khẩu súng AK, 49 khẩu CKC, 2 khẩu pháo 122mm, 120 quả đạn, 10.000 kíp nổ, 5.000 nụ xòe, 40.000 viên đạn K56, 304 quả đạn B40, 409 quả cối 60, 2.000 viên K53. Các đơn vị quân tình nguyện vận chuyển cho bạn 183 tấn gạo, 35.000 lít xăng, 10 bộ săm lốp ô tô và một số quân phục giày dép.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ quốc tế “giúp bạn là tự giúp mình”, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã dạy, chấp hành thỏa thuận của lãnh đạo hai Đảng và hai Nhà nước Việt - Lào trong tháng 3 năm 1976, Quân khu khẩn trương tiến hành mọi công tác chuẩn bị rút quân tình nguyện về nước.

Nhiều công việc với khối lượng lớn, thời gian gấp (bao gồm thu hồi các kho tàng; giải quyết các vấn đề liên quan đến các chính sách quan hệ quốc tế giữa bạn và ta; giải quyết các vấn đề chính sách thương binh, quy tập mộ liệt sĩ3, song các đơn vị đã khắc phục nhiều khó khăn, chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương của hai Đảng, hai Nhà nước Việt - Lào rút quân về nước an toàn.

Qua hơn một năm vừa nỗ lực khắc phục hậu quả nặng nề sau chiến tranh, vừa tích cực, chủ động triển khai thực hiện nhiệm vụ mới trong bước quá độ chuyển từ chiến tranh sang hòa bình, phải tham gia giải quyết nhiều công việc chuẩn bị các điều kiện để cùng cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, Quân khu 4 - Quân khu Trị Thiên và tỉnh Thanh Hoá đã đạt được những thành tựu rất đáng kể. Đó là cơ sở tạo tiền đề để thực hiện tốt nhiệm vụ sau khi Quân khu 4 hợp nhất trong giai đoạn mới của cách mạng.
_____________________________________________
1. Hồ Chí Minh - Toàn tập, tập 9, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1979, tr.482.
2. Giá một bữa ăn đại táo lúc đó 0,3 đồng.
3. Trung đoàn 176 quy tụ xong phần lớn mộ liệt sĩ phân tán nhiều nơi, trên chiến trường rừng núi về cát táng tại những khu vực thoáng đẹp, an toàn. Riêng Sư đoàn 31 dùng 1.206 chuyến xe chở 6.775 cán bộ, chiến sĩ, 2.277 tấn phương tiện vũ khí. Trung đoàn 176 sử dụng 171 chuyến xe chở 1.842 cán bộ, chiến sĩ, 1.340 tấn trang bị, phương tiện.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #17 vào lúc: 22 Tháng Mười Một, 2024, 02:49:09 pm »


II- THỰC HIỆN HAI NHIỆM VỤ CHIẾN LƯỢC TRONG GIAI ĐOẠN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 4 HỢP NHẤT

Từ ngày 23 đến ngày 25-8-1976, tại Sở chỉ huy Quân khu 4 dưới chân núi Đại Huệ (Nam Đàn), Hội nghị Quân khu ủy 4 lần thứ nhất sau ngày hợp nhất Quân khu họp quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết 157 của Bộ Chính trị, các nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về tình hình, nhiệm vụ quân sự của Đảng và xác định nhiệm vụ cụ thể của Quân khu. Hội nghị nhấn mạnh: "Giai đoạn mới, quân đội ta có hai nhiệm vụ chiến lược. Chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu là nhiệm vụ chung, nhiệm vụ chiến lược quan trọng bậc nhất của toàn quân; lao động sản xuất, xây dựng kinh tế là nhiệm vụ chiến lược rất quan trọng của toàn quân". Hội nghị đề ra phương hướng trước mắt trong năm 1976 và đầu năm 1977. Hội nghị nêu lên những điểm yếu của Quân khu trước yêu cầu mới xây dựng Quân khu thành khu vực phòng thủ, thành hậu phương chiến lược, hành lang chiến lược và bàn đạp tiến công; mà nét nổi bật nhất là chưa giàu mạnh về lực, chưa hoàn chỉnh về thế, đòi hỏi phải nỗ lực rất lớn để biến tiềm năng thành sức mạnh hiện thực. Từ đặc điểm thế mạnh ba vùng cũng như đặc điểm vị trí Quân khu trong giai đoạn mới, Hội nghị xác định ba tính chất chiến lược của địa bàn Quân khu 4: Đây là một trong những khu vực chiến lược của nước ta, nằm giữa1 Việt Nam và Đông Dương, là hậu phương chiến lược gắn liền với hậu phương chiến lược quốc gia và là một trong những hướng phòng thủ chiến lược quan trọng của cả nước; nơi cơ động lực lượng ra các hướng chiến lược nước ta và Lào.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến lược đó, phải tập trung xây dựng thành địa bàn phòng thủ vững chắc, đủ sức đập tan mọi âm mưu chia cắt chiến lược của kẻ thù xâm lược, giữ vững thế liên hoàn chiến lược của ta trong mọi tình huống; phải có tiềm lực kinh tế - quốc phòng mạnh, hoàn chỉnh các căn cứ hậu phương chiến lược quốc gia mạnh và phát huy mạnh mẽ tác dụng căn cứ hậu phương trong mọi tình huống; có hành lang chiến lược Nam - Bắc, Đông - Tây hoàn chỉnh, đồng bộ, vững chắc, trong thời bình cũng như thời chiến: có bàn đạp vững chắc để cho các binh đoàn lớn, hiện đại đứng chân, cơ động lực lượng, nhanh chóng tiến công và phản công ra các hướng; đoàn kết, hợp tác lâu dài với bạn Lào, giúp bạn tăng cường khả năng củng cố quốc phòng phía Tây biên giới Quân khu. Phòng thủ luôn gắn liền với xây dựng và bảo vệ căn cứ hậu phương. Trong khi xây dựng thế mạnh liên hoàn về kinh tế - quốc phòng trên cả ba vùng, phải hướng mạnh về miền Tây Quân khu. Coi trọng xây dựng đúng mức về mọi mặt đối với miền Tây.

Hội nghị đánh giá tình hình các lực lượng vũ trang quân khu bước vào giai đoạn mới đã bước đầu có những chuyển biến tốt về nhận thức, tư tưởng, tổ chức và hành động cách mạng. Về tổ chức, nhiều đơn vị đã ổn định biên chế theo quy định. Lực lượng còn lại tiếp tục củng cố tổ chức, chuẩn bị mọi mặt để bước vào xây dựng, củng cố theo hướng mới.

Về phương hướng, nhiệm vụ Quân khu, hội nghị quyết nghị: "Ra sức xây dựng Quân khu ngày càng hoàn chỉnh, vững mạnh toàn diện, vững về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng; cùng với địa phương đẩy mạnh quá trình sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, tăng cường khả năng và tiềm lực kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân ở địa phương. Trên cơ sở đó, không ngừng tích luỹ và phát triển thực lực cách mạng, tiềm lực quốc phòng, phấn đấu trong một thời gian lịch sử tương đối ngắn, đưa Quân khu tiến lên một cách nhanh chóng, trở thành một trong những căn cứ hậu phương chiến lược quốc gia vững chắc, một khu vực phòng thủ chiến lược bất khả xâm phạm. Xây dựng cả ba thứ quân hùng mạnh, chiến đấu giỏi, sản xuất và xây dựng kinh tế giỏi". Hội nghị khẳng định quyết tâm và trách nhiệm của toàn Quân khu: "Trong tương lai, nếu chiến tranh xảy ra, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Quân khu, đập tan âm mưu địch chia cắt chiến lược, giữ vững thế liên hoàn chiến lược của đất nước và Bắc Đông Dương, hoàn thành nhiệm vụ hậu phương chiến lược"2.

Hội nghị bầu đồng chí Lê Tự Đồng giữ chức Bí thư Quân khu ủy, bầu Ban thường vụ và Ủy ban kiểm tra Quân khu ủy.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Đảng ủy Quân khu lần thứ nhất, Quân khu ủy đề ra yêu cầu phấn đấu là liên tục phát động phong trào thi đua Quyết thắng, hướng vào hoàn thành vượt mức các nhiệm vụ xây dựng quân đội, xây dựng kinh tế, giải quyết hậu quả chiến tranh, xây dựng các điển hình thi đua, các ngọn cờ tiêu biểu phong cách xã hội chủ nghĩa. Phong trào thi đua năm 1976 phải cố gắng tạo được nền móng để phát động một cao trào cách mạng sâu rộng trong năm 1977 và những năm sau, thực hiện: "Toàn Quân khu là một công trường xây dựng chủ nghĩa xã hội và củng cố quốc phòng”.

Đi đôi với tổ chức nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, tìm hiểu ý định chiến lược của cấp trên, Quân khu chủ động triển khai việc lấy ý kiến thống nhất của các cấp lãnh đạo, chính quyền ba tỉnh.

Trong khi chờ những quyết nghị của Đại hội lần thứ IV của Đảng; quy chế các Bí thư Tỉnh ủy tham gia Quân khu ủy chưa có, Thường vụ Quân khu ủy và Quân khu ủy chủ trương cần đưa chính sách của nhà nước sớm đi nhanh vào cuộc sống trên địa bàn Quân khu. Trước hết, Quân khu và các địa phương phải chủ động tạo ra nền nếp và cách làm việc phù hợp, hiệu quả, vì mục đích chung cao cả, trên tinh thần đoàn kết, nhất trí, cùng nhau chịu trách nhiệm trước sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân.

Quân khu chủ động đặt vấn đề với các địa phương tổ chức khảo sát tình hình thực tế, sưu tầm tư liệu, số liệu mọi mặt trên địa bàn ba tỉnh sau hợp nhất, để có căn cứ khách quan xem xét, đánh giá sát đúng tình hình, quán triệt, vận dụng nghiêm túc đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước vào đặc điểm tình hình, nhiệm vụ Quân khu.

Trên cơ sở những kết quả chuẩn bị, Thường vụ Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu lần lượt cùng các Thường vụ Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân ba tỉnh tổ chức Hội nghị liên tịch ở ngay từng tỉnh.
____________________________________________
1. Ý nói nằm ở đoạn giữa của nước Việt Nam và ba nước Đông Dương.
2. Nghị quyết số 421/NQ, ngày 20-9-1976. Hồ sơ số 26/QKU4 - Lưu trữ Quân khu 4.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #18 vào lúc: 22 Tháng Mười Một, 2024, 04:25:33 pm »


Ngày 3-9-1976, tại trụ sở Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh (ở thành phố Vinh), đã diễn ra cuộc họp liên tịch bàn một số vấn đề kinh tế - quốc phòng trên địa bàn Nghệ Tĩnh. Tham dự về phía Quân khu có đồng chí Lê Tự Đồng - Bí thư Quân khu ủy và hai ủy viên Thường vụ là Đại tá Nguyễn Văn Thuận - Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng và Đại tá Phan Văn Đường - Phó chính ủy - Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 4. Tỉnh Nghệ Tĩnh có đồng chí Nguyễn Sĩ Quế - Bí thư Tỉnh ủy; đồng chí Nguyễn Tiến Chương - Phó Bí thư Tỉnh ủy; ba đồng chí ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy: Trần Quang Đạt - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Thượng tá Dương Diên - Chính ủy Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Thượng tá Nguyễn Hữu Phúc, nguyên Phó chính ủy Bộ chỉ huy quân sự, kiêm nhiệm Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy.

Hội nghị nhất trí đánh giá về vai trò, vị trí, địa bàn "Quân khu 4 (từ Tam Điệp đến Hải Vân) và Nghệ Tĩnh (từ khe Nước Lạnh đến đèo Ngang) là địa bàn chiến lược rất quan trọng cả về kinh tế, quốc phòng, trùng hợp với hậu phương chiến lược"; đồng thời đánh giá cao truyền thống đoàn kết trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, những thành tích đạt được và quan điểm cơ bản về xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng trong thời kỳ mới.

Hội nghị đề ra 6 chủ trương lớn gồm:

1. Xây dựng khu căn cứ chiến lược tây bắc Nghệ Tĩnh từ Tương Dương - Kỳ Sơn đến Quế Phong - Quỳ Châu, nối với tây nam Thanh Hoá, sát biên giới Việt - Lào thành vùng căn cứ chiến lược có kinh tế, chính trị, quốc phòng vững mạnh.

2. Sản xuất vật liệu xây dựng và xây dựng, trong đó có việc dùng lực lượng bộ đội Quân khu xây dựng khu công nghiệp vật liệu gạch, ngói Rào Gang; khai thác đá lèn Ba Thung, sản xuất vôi phục vụ xây dựng cơ bản cho Quân khu và cung cấp một phần cho nông nghiệp vùng phụ cận; xây dựng một xí nghiệp sản xuất xi măng tại khu lèn đá Kim Nhan, công suất ban đầu 10.000 tấn sau nâng lên 30 - 50 nghìn tấn/năm.

3. Làm đường giao thông: Đẩy nhanh tiến độ xây dựng 122km đường 48 từ Yên Lý đến Quế Phong phục vụ xây dựng kinh tế - quốc phòng tây bắc Nghệ Tĩnh. Đề nghị Trung ương cho mở đường Mường Xén (đường 7) qua Mường Lống - Mường Lâm (Quế Phong) đến Thường Xuân (Thanh Hoá); giao vốn và thiết bị ban đầu cho Quân khu khảo sát, thi công từ năm 1977 đến năm 1980.

4. Xác định vị trí đóng quân và xây dựng các công trình quốc phòng Quân khu.

5. Về lực lượng làm kinh tế của bộ đội Nghệ Tĩnh, Bộ Quốc phòng xác định tỉnh có trung đoàn chuyên sản xuất kinh tế 1.500 người. Quân khu và tỉnh giao rõ nhiệm vụ làm đường vùng kinh tế mới ở miền Tây là chính.

6. Về vấn đề quân sự địa phương: Quân khu và tỉnh nhất trí phải khẩn trương đẩy mạnh mọi mặt công tác đã đề ra. Khi cần thiết, Quân khu và tỉnh tiếp tục bàn trong quá trình thực hiện.

Những vấn đề liên quan về quy hoạch, xây dựng kinh tế được giao cho các cơ quan Quân khu và tỉnh trực tiếp thảo luận, triển khai. Riêng những vấn đề thuộc hậu cần liên quan tới mậu dịch, tài chính, ngân hàng, do tính chất đặc thù và những khó khăn về kinh tế, đời sống sau chiến tranh, tỉnh giao cho đồng chí Nguyễn Trọng Thể - Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh trực tiếp phụ trách.

Cũng tại hội nghị này, một số đề xuất cụ thể về tổ chức thực hiện, về bố trí địa bàn đứng chân của các sư đoàn, trung đoàn làm kinh tế (gồm Sư đoàn 316B, Đoàn 336, Trung đoàn 167, Trung đoàn 223, Tiểu đoàn 54, Đoàn 337, xí nghiệp cưa xẻ gỗ, các trường quản lý kinh tế (chương trình trung cấp), trường dạy nghề, các cơ sở chăn nuôi lợn giống, cá giống, các xí nghiệp vừa học, vừa làm của thương binh, bệnh binh (xưởng may mặc điện, xưởng sửa chữa máy thu thanh, thu hình, xưởng mộc, trường cơ khí) và một số dự án quy hoạch về đất đai sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp khai thác gỗ, ngư nghiệp, công nghiệp, do Quân khu đề nghị đã được lãnh đạo tỉnh Nghệ An chấp nhận.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #19 vào lúc: 22 Tháng Mười Một, 2024, 04:27:22 pm »


Từ những kinh nghiệm bước đầu ở Nghệ Tĩnh, ngày 27- 9-1976 Thường vụ Quân khu ủy - Bộ tư lệnh Quân khu 4 và Thường vụ Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Trị Thiên tổ chức cuộc họp tại trụ sở Tỉnh ủy Bình Trị Thiên (ở thành phố Huế). Tham dự về phía Quân khu, trên cơ sở thành phần đoàn họp ở Nghệ Tĩnh có thêm Đại tá Trần Văn Ân - Quân khu ủy viên - Phó chính ủy Quân khu (nguyên là Phó chính ủy Quân khu Trị Thiên). Tỉnh Bình Trị Thiên có đồng chí Bùi San - Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; đồng chí Cổ Kim Thành - Phó Bí thư Tỉnh ủy, 3 ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy: đồng chí Hồ Sĩ Thản - Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân, đồng chí Ngô Đình Văn - Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân và đồng chí Nguyễn Văn Đài phụ trách công nghiệp.

Thường vụ Quân khu ủy thông báo đặc điểm, vị trí và nhiệm vụ Quân khu 4 trong giai đoạn mới, đề xuất với Thường vụ Tỉnh ủy Bình Trị Thiên về đánh giá vị trí chiến lược, yêu cầu nhiệm vụ quân sự, phương hướng kết hợp xây dựng kinh tế với xây dựng nền quốc phòng của tỉnh Bình Trị Thiên trong giai đoạn mới.

Hội nghị trao đổi, bàn bạc và hoàn toàn nhất trí những vấn đề về kết hợp xây dựng kinh tế, củng cố quốc phòng, vấn đề lực lượng vũ trang tham gia xây dựng kinh tế và công tác quân sự địa phương trên địa bàn tỉnh.

Xuất phát từ nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ quân sự trong giai đoạn mới của cả nước, Hội nghị xác định vị trí chiến lược của Bình Trị Thiên là địa bàn xung yếu nối liền đất nước, vừa là cửa ngõ của miền Trung Đông Dương; là một hướng chiến lược rất quan trọng đối với cả nước và miền Trung Đông Dương. Nếu chiến tranh có thể xảy ra trong tương lai, thì âm mưu của địch đối với Bình Trị Thiên chủ yếu vẫn là thực hiện chia cắt chiến lược và cuộc chiến đấu ở đây chủ yếu vẫn là chống chia cắt chiến lược.

So với các tỉnh trong Quân khu, Bình Trị Thiên gặp nhiều khó khăn hơn, nhất là chiến tranh kéo dài, đã tàn phá gây hậu quả rất nặng nề và chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Thường vụ Quân khu ủy nhất trí cao với phương hướng do Tỉnh ủy đề ra là "Phấn đấu trong vòng 15 - 20 năm tới, biến Bình Trị Thiên từ một tỉnh nông nghiệp lạc hậu, nghèo nàn, mất cân đối nghiêm trọng hiện nay thành một tỉnh nông - công nghiệp phát triển với cơ sở vật chất - kỹ thuật cao, với sự phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng, làm cho Bình Trị Thiên giàu có về kinh tế, vững mạnh về quốc phòng.

Hội nghị xác định quyết tâm, phương hướng “ra sức xây dựng tỉnh Bình Trị Thiên thành địa bàn chiến lược vững mạnh toàn diện, có thế và lực mạnh, có khả năng đánh bại mọi cuộc tiến công xâm lược của kẻ địch, quyết không để chiến trường bị chia cắt, giữ vững hành lang chiến lược Nam – Bắc, Đông - Tây, tạo điều kiện phát huy sức mạnh liên hoàn các chiến trường trong nước, cùng với các tỉnh trong Quân khu bảo vệ vững chắc Quân khu, góp phần cùng cả nước bảo vệ độc lập vĩnh viễn của Tổ quốc Việt Nam thống nhất xã hội chủ nghĩa”1.

Hội nghị cũng bàn về sự cần thiết và nội dung cơ bản tạo thế liên hoàn vững chắc giữa các vùng trong tỉnh, xây dựng một bố cục chiến lược kinh tế gắn liền bố cục chiến lược quốc phòng vững mạnh theo những yêu cầu cụ thể sát đúng với đặc điểm, vị trí, nhiệm vụ từng vùng, nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện cho nhau. Đặc biệt, miền Tây của tỉnh có tầm quan trọng sống còn lâu dài, cần được quan tâm đúng mức.

Việc kết hợp giữa các lực lượng của Trung ương đứng chân trên địa bàn với lực lượng của tỉnh và quân đội cần theo một kế hoạch thống nhất. Các nội dung khác cũng được thảo luận thống nhất bao gồm công tác quân sự địa phương trên hai vùng của tỉnh, nhất là vùng mới giải phóng và một số vấn đề cụ thể khác về bộ đội xây dựng kinh tế, các địa điểm bố trí các đơn vị, các cơ sở hậu phương của Quân khu, của tỉnh; các khu vực di tích lịch sử cần được bảo tồn, cũng như việc chuyển giao Nhà bảo tàng của Quân khu Trị Thiên, khách sạn Thuận Hóa cho tỉnh, đồng thời dành địa điểm xây dựng các khu an dưỡng cán bộ và trạm đón khách của quân khu.

Đồng chí Lê Tự Đồng - Bí thư Quân khu ủy 4 và đồng chí Bùi San - Bí thư Tỉnh ủy Bình Trị Thiên đã ký vào văn bản hội nghị.

Do tính chất đặc thù của Bình Trị Thiên, quá trình xây dựng đòi hỏi nhiều công sức đầu tư, nhất là sưu tầm, khảo sát điều tra, đánh giá tình hình mọi mặt sao cho sát đúng, chính xác. So với Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, các điều tra cơ bản ở Bình Trị Thiên thiếu nhiều. Ngày 4-9-1976, Thường vụ Quân khu ủy có văn bản số 362 về "Những vấn đề đề xuất của Thường vụ Quân khu ủy 4 trong hội nghị liên tịch đầu tiên của giai đoạn mới với Thường vụ Tỉnh ủy Bình Trị Thiên". Tiếp đó, ngày 17 tháng 9, sau khi tiếp nhận ý kiến của tỉnh, Thường vụ Quân khu ủy tu chỉnh thành văn bản mới số 420 về xây dựng tỉnh Bình Trị Thiên trong giai đoạn mới.
_____________________________________________
1. Hồ sơ 33/QKU4 - Lưu trữ Quân khu 4.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM