Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:28:43 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005)  (Đọc 76516 lần)
0 Thành viên và 4 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #20 vào lúc: 22 Tháng Mười Một, 2024, 04:29:34 pm »


Ngày 15-10-1976, tại trụ sở Tỉnh ủy Thanh Hoá (ở thị xã Thanh Hoá), Thường vụ Quân khu ủy - Bộ tư lệnh Quân khu 4 và Thường vụ Tỉnh ủy — Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá họp Hội nghị bàn về chiến lược xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng trong giai đoạn cách mạng mới ở Thanh Hoá. Tham dự về phía Quân khu có Thiếu tướng Lê Tự Đồng - Bí thư Quân khu ủy, Chính ủy Quân khu; Đại tá Nguyễn Văn Thuận - Ủy viên Thường vụ Quân khu ủy - Phó tư lệnh Quân khu; Đại tá Lê Thiết - Quân khu ủy viên - Phó tư lệnh - Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu. Tỉnh Thanh Hoá có đồng chí Lê Thế Sơn - Bí thư Tỉnh ủy; đồng chí Phạm Len - Phó Bí thư Tỉnh ủy; đồng chí Hoàng Văn Hiều - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; các ủy viên Thường vụ: Hà Văn Ban - Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân, Nguyễn Nghiễm, Vũ Văn Kính.

Thanh Hoá vốn nằm vào vị trí đặc biệt, trực tiếp gắn liền với hậu phương chiến lược quốc gia ở phía Bắc và khu vực chiến lược Bắc Đông Dương, vừa là địa bàn bản lề nối liền miền Bắc với miền Trung Tổ quốc. Sau 17 năm chuyển thuộc Quân khu 3 rồi Quân khu Hữu Ngạn để phục vụ nhiệm vụ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nay Thanh Hoá trở về hợp thành Quân khu 4, trên mảnh đất lịch sử truyền thống Thanh-Nghệ-Tĩnh - Bình-Trị-Thiên vì nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Hội nghị xác định trách nhiệm kế thừa, phát huy truyền thống đoàn kết, phối hợp, hiệp đồng trong quá trình chiến đấu lâu dài trước đây thành sự nhất trí cao trong việc quán triệt đường lối, nhiệm vụ chính trị, quân sự của Đảng trước giai đoạn mới vào địa bàn Quân khu 4 và Thanh Hoá.

Hội nghị hoàn toàn thống nhất về quan điểm, phương hướng lâu dài cũng như chủ trương trước mắt trên tất cả các vấn đề. Trước hết là khẳng định vai trò, vị trí, nhiệm vụ của Thanh Hoá: "Trong quá trình lịch sử của đất nước, Thanh Hoá có vị trí chiến lược rất quan trọng đối với cả nước. Ngày nay, đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc lâu dài, địa bàn Thanh Hoá càng quan trọng cả về kinh tế, chính trị, quốc phòng. Thanh Hoá là địa bàn chiến lược quan trọng của cả nước, nằm ở vị trí bản lề của các khu vực chiến lược miền Bắc, miền Trung nước ta và miền Bắc Đông Dương. Thanh Hoá cùng với Nghệ Tĩnh là hậu phương chiến lược của Quân khu, gắn liền với hậu phương chiến lược cả nước; là một hướng phòng thủ chiến lược quan trọng; là cửa ngõ và địa bàn cơ động ra các hướng". Hai Thường vụ Quân khu ủy nhất trí cao về phương hướng "Xây dựng tỉnh thành một địa bàn chiến lược vững mạnh toàn diện, một khu vực hậu phương giàu mạnh, bất khả xâm phạm”, "xây dựng bàn đạp cơ động và hệ thống hành lang chiến lược vững chắc, giữ vững thế liên hoàn đất nước"1.

Tuy nền kinh tế phát triển còn chậm, nền quốc phòng so với yêu cầu quốc phòng hiện đại còn khoảng cách lớn; nhưng bước vào thời kỳ mới, tỉnh Thanh Hoá có điều kiện thuận lợi và khả năng để khai thác, phát triển thế mạnh liên hoàn cả về kinh tế và quốc phòng trên cả ba vùng: đồng bằng, biển và miền Tây (bao gồm trung du và miền núi). Đặc biệt, miền Tây Thanh Hoá chiếm 3/4 diện tích đất liền, có địa hình hiểm hóc, nối liền với miền Tây Nghệ Tĩnh, và vùng miền núi Bắc Bộ hình thành căn cứ hậu phương của Quân khu cũng như cả nước.

Cũng tại hội nghị này, một số vấn đề về bộ đội Quân khu tham gia xây dựng kinh tế ở Thường Xuân; phương hướng và phương thức sản xuất lương thực, thực phẩm; phát huy tác dụng gương mẫu xung kích lao động có kỷ luật, có kỹ thuật của các lực lượng sẵn sàng chiến đấu trong xây dựng kinh tế; yêu cầu Quân khu sớm có kế hoạch phòng thủ lâu dài để tỉnh có kế hoạch thực hiện kết hợp kinh tế quốc phòng được bàn bạc, giải quyết từng bước.

Quân khu giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh 4.850 quân (có 1.850 làm nhiệm sẵn sàng chiến đấu, 3.000 chuyên làm kinh tế). Lực lượng chuyên xây dựng kinh tế lâu dài, do tỉnh giao nhiệm vụ, xây dựng, quản lý, đầu tư trang bị theo phương hướng xây dựng kinh tế; thống nhất tập trung vào nhiệm vụ làm công trình thủy lợi và làm đường miền Tây.

Trung đoàn 14 hoàn thành công trình cống tiêu thủy Quảng Châu, cầu Xuân Phương tiếp đó chuyển sang làm nhiệm vụ xây dựng công trình chính trong hệ thống đập ngăn mặn Lạch Bạng; cùng với lực lượng dân quân du kích, hoàn thành có chất lượng, sớm đưa vào phục vụ nông nghiệp Đoàn 923 (sau này là Trung đoàn 74) đẩy mạnh tốc độ làm đường Hồi Xuân - Pù Nhi.

Đối với dân quân tự vệ hội nghị nhấn mạnh: "Tổ chức dân quân tự vệ phải gắn liền với nhiệm vụ xây dựng kinh tế và sự phát triển của tổ chức kinh tế, hành chính; phù hợp với quá trình tổ chức lại sản xuất, phân công lại lao động, phải hướng vào mục tiêu phát huy được tác dụng nòng cốt xung kích của dân quân tự vệ trong nhiệm vụ kinh tế của địa phương và nhiệm vụ bảo vệ trật tự trị an", về các mối quan hệ và tổ chức thực hiện, Hội nghị xác định: Phó chỉ huy hoặc Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh là thành viên tham gia Ủy ban kế hoạch Nhà nước để tiện phối hợp - kết hợp kinh tế - quốc phòng ngay từ khâu đầu tiên - trọng yếu của quy trình tổ chức thực hiện các kế hoạch. Phó chính ủy, Chủ nhiệm (hoặc Phó chủ nhiệm) chính trị tham gia làm thành viên các ban tổ chức, tuyên huấn, kiểm tra của Tỉnh ủy để phối hợp các mặt công tác nói trên trong quá trình tiến hành công tác quân sự địa phương, xây dựng quốc phòng. Đồng thời, một trong ba thành phần nói trên tham gia Ban chấp hành Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh để phối hợp công tác vận động thanh niên, thiếu nhi và công tác quân sự ở các nhà trường.

Thành công của Hội nghị này đã đặt nền móng cho sự đoàn kết, thống nhất, nhất trí từ cơ quan lãnh đạo cao nhất của Quân khu và của các tỉnh trên những vấn đề trọng yếu nhất liên quan đến những nội dung cốt lõi sống còn đối với sự ổn định, phát triển giàu mạnh, vững chắc của mỗi cơ sở, mỗi địa phương và toàn địa bàn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đó là cơ sở vững chắc để các đơn vị lực lượng vũ trang, trong đó có quân đội, có thêm những thuận lợi về địa bàn đứng chân, môi trường hoạt động, nhân tố hậu phương để hoàn thành nhiệm vụ được giao trong thời kỳ mới. Đồng thời tạo một bước quan trọng trong quá trình thể chế hoá, cụ thể hoá các nghị quyết của Đảng, pháp luật, nghị định của Nhà nước về kết hợp kinh tế - quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và về nhiệm vụ của quân đội trên địa bàn Quân khu 4.
______________________________________________
1. Hồ sơ 31/QKU4 - Lưu trữ Quân khu 4.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #21 vào lúc: 22 Tháng Mười Một, 2024, 04:32:09 pm »


Trong những ngày trước và sau hợp nhất Quân khu, các đơn vị và địa phương đã dấy lên phong trào thi đua Quyết thắng sôi nổi, lập thành tích chào mừng các ngày kỷ niệm lịch sử trong năm, chào mừng Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV. Phong trào thi đua tập trung hoàn thành những công trình trọng điểm xác định.

Ngày 24 tháng 4, Trường Văn hoá Quân khu được chấn chỉnh lại. Theo chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân khu, Trường có 3 nhiệm vụ: 1. Dạy văn hoá cho một số sĩ quan có điều kiện phục vụ lâu dài trong quân đội; 2. Bồi dưỡng văn hóa cho số hạ sĩ quan trước khi đi học các trường sĩ quan; 3. Ôn thi vào đại học cho số nam nữ thương binh, bệnh binh có đủ điều kiện và nhu cầu. Biên chế cán bộ, giáo viên, nhân viên phục vụ gồm từ 24 - 50 sĩ quan, 195 hạ sĩ quan. Hàng năm lưu lượng học viên từ 1.000 - 1.200 người.

Trung đoàn 214 pháo cao xạ đang làm nhiệm vụ xây dựng đường sắt trên địa bàn Vĩnh Linh được điều về đứng chân trên địa bàn xã Xuân Viên (cạnh chân núi Hồng Lĩnh), huyện Nghi Xuân, Nghệ Tĩnh.

Ngày 10-6-1976, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam quyết định điều Sư đoàn 324 của Quân đoàn 2, bao gồm toàn bộ quân số, trang bị khí tài về thuộc sự lãnh đạo, chỉ huy của Quân khu 4. Mọi công việc giao nhận xong trong tháng 6 năm 1976.

Theo kế hoạch ngày 30-6-1976, việc bàn giao tổ chức, biên chế, trang bị của Bộ chỉ huy quân sự Thừa Thiên - Huế cho Bộ tư lệnh Quân khu 4 hoàn thành, bao gồm: 1.880 quân thường trực (có 189 sĩ quan, 1.082 hạ sĩ quan); 1.478 quân xây dựng kinh tế (bao gồm 245 sĩ quan, 1.233 hạ sĩ quan); thương binh, bệnh binh 4.081 (có 328 sĩ quan); 101 sĩ quan chờ sắp xếp công tác. Các trang bị súng pháo đều cấp I, cấp II, bảo đảm đủ cho các đơn vị theo biên chế chiến đấu và 80 ô tô các loại.

Trước yêu cầu bức thiết của nhiệm vụ xây dựng kinh tế trong điều kiện mới, Quân khu tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy vào hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, hướng về những khâu trọng yếu, nâng cao nhận thức tư tưởng, tổ chức quản lý, làm chủ khoa học - kỹ thuật, hạch toán kinh tế, tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả.

Thông qua tổng kết công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy trong chiến tranh và tổng kết bước đầu về lãnh đạo, chỉ huy chiến dịch đường sắt Thống Nhất đoạn Minh Cầm - Tiên An và chiến dịch xây dựng công trình thủy lợi Thống Nhất ở Thanh Hoá, Quân khu tiến hành bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ và bộ đội: Bồi dưỡng tập huấn kinh nghiệm chung; bồi dưỡng, tập huấn theo chuyên đề và lồng vào các chương trình, nội dung, kế hoạch công tác, huấn luyện, xây dựng kinh tế.

Căn cứ vào chỉ thị của Quân ủy Trung ương về việc quân đội tham gia cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Nam, Quân khu chỉ đạo Bộ chỉ huy quân sự Bình Trị Thiên tăng cường giáo dục, động viên, tổ chức cho bộ đội thường trực và dân quân tự vệ vùng nam sông Bến Hải đến bắc Hải Vân tuyên truyền động viên gia đình, bà con của quân nhân hiểu rõ, chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, chính sách của Đảng. Quân khu tăng cường một số cán bộ cùng cán bộ quân sự của tỉnh tham gia các tổ, đội công tác của tỉnh, huyện, xã, khối phố. Nhiệm vụ là thực hiện theo đúng quan điểm, chính sách của Đảng, xóa bỏ giai cấp tư sản mại bản, xoá bỏ tàn dư của chế độ thực dân phong kiến về ruộng đất, giải quyết tốt các vụ tranh chấp ruộng đất trong nội bộ nông dân và cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh. Đồng thời tham gia cùng nhân dân tiến hành đấu tranh, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu và hành động chống đối, phá hoại của giai cấp bóc lột và các thế lực phản động.

Tháng 8 năm 1976, Quân khu tổ chức một đợt sinh hoạt chính trị, tự phê bình và phê bình tiến hành sâu rộng khắp các cấp ủy, các đơn vị theo phương châm "cấp trên trước, cấp dưới sau", "Thường vụ và Quân khu ủy làm trước, các cấp ủy dưới theo thứ tự triển khai từ sư đoàn, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh xuống cơ sở", "trong Đảng làm trước, đơn vị làm sau". Qua sinh hoạt, cán bộ, chiến sĩ toàn Quân khu có những chuyển biến mới về nhận thức, tư tưởng và hành động. Cấp trên nêu gương trước cấp dưới, trong Đảng nêu gương trước đơn vị về tinh thần thành khẩn tự phê bình, phê bình, phát huy ưu điểm và thành tích, ra sức khắc phục, sửa chữa khuyết điểm.

Sau khi hợp nhất Quân khu 4, hợp nhất Bộ chỉ huy quân sự Nghệ Tĩnh, hợp nhất Bộ chỉ huy quân sự Bình Trị Thiên, tiếp nhận Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá, nhận bàn giao Sư đoàn 324 từ Quân đoàn 2 trở về Quân khu 41, sức mạnh của Quân khu tiếp tục được phát huy mạnh mẽ.

Cùng với việc bàn giao Trung đoàn 89 công binh cho Quân khu 1, chuyển giao đại đội 38 hoá học cho Quân đoàn 1 và chuyển Sư đoàn 31 về Tổng cục Xây dựng kinh tế (9-1976), Quân khu đã triển khai toàn diện các mặt xây dựng lực lượng.

Về lực lượng chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu có 30.864 cán bộ, chiến sĩ, bao gồm Sư đoàn 324 bộ binh, Trung đoàn 176 bộ binh, Trung đoàn 16 pháo binh, Trung đoàn 214 cao xạ, Trung đoàn 206 xe tăng, Trung đoàn 414 công binh, Trung đoàn 80 thông tin.

Lực lượng làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế có 32.000 người, gồm Sư đoàn 316 làm lâm nghiệp dừng chân ở Quế Phong, Sư đoàn 336 làm cầu đường 48 từ Yên Lý đi Quế Phong (lấy Trung đoàn 185 của Bộ chỉ huy quân sự Quảng Bình làm nòng cốt)2. Sư đoàn xây dựng kinh tế (hướng đi là xây dựng cơ bản và sản xuất vật liệu xây dựng) gồm Trung đoàn 4 bộ binh, hai Trung đoàn 222, 223 cao xạ và Trung đoàn 1673.

Lực lượng xây dựng cơ bản gồm 1.200 và lực lượng quá độ có 7.500 người. Đến ngày 31-7-1976 quân số toàn Quân khu là 94.879 người, trong đó có 12.064 sĩ quan.
____________________________________________
1. Trên thực tế mọi việc tổ chức, chấn chỉnh lực lượng và giải quyết trọn vẹn mọi khâu đến tháng 3 năm 1976 xong hợp nhất Nghệ Tĩnh, tháng 8 năm 1976 hoàn chỉnh hợp nhất quân khu và giao nhận Thanh Hóa; tháng 9 năm 1976 hoàn thành hợp nhất Bộ chỉ huy quân sự Bình Trị Thiên và tiếp nhận Sư đoàn 324.
2. Sau này sư đoàn mang phiên hiệu Đoàn 336.
3. Sau này Đoàn 337 đổi phiên hiệu là Sư đoàn 337.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #22 vào lúc: 22 Tháng Mười Một, 2024, 04:33:06 pm »


Đi đôi với việc củng cố tổ chức biên chế theo yêu cầu mới, Quân khu hoàn thành nhiệm vụ tuyển quân đạt số lượng 31.700/31.500 người (đạt 100,06%), bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng (trong đó Thanh Hoá 10.800 nam và 3.000 nữ giao xong ngày 20-10-1976; Nghệ Tĩnh 13.000 nam và 3.300 nữ, giao xong ngày 19-8-1976). Nghệ Tĩnh đạt 102,8% về số lượng đối với nam và 100% đối với nữ, được Chính phủ công nhận là một trong 4 tỉnh miền Bắc đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tuyển quân năm 1976. Riêng tỉnh Thanh Hoá đạt 100,3% về nam, 100,7% về nữ.

Do tính chất hai vùng: vùng dưới chế độ xã hội chủ nghĩa và vùng bị Pháp, Mỹ chiếm đóng trước đây, nên tỉnh Bình Trị Thiên tuyển quân chậm hơn. Ngày 23-9-1976 tỉnh thành lập Hội đồng nghĩa vụ quân sự, do đồng chí Trần Đồng - Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm Chủ tịch; Đại tá Nguyễn Chi - Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh làm Phó chủ tịch. Các huyện phía Bắc (từ Vĩnh Linh trở ra) đã trải qua nhiều năm thi hành Luật Nghĩa vụ quân sự, nay triển khai tuyển quân và đăng ký nghĩa vụ quân sự trước để rút kinh nghiệm. Đối với các vùng bị Pháp, Mỹ chiếm đóng nhiều thập kỷ, phần giáo dục, giác ngộ cho thanh niên và toàn dân về nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi đầu tư nhiều công sức, biện pháp, mới dần dần xóa đi được những ấn tượng xấu về cảnh đế quốc và tay sai bắt lính đi giết hại đồng bào trước đây; mới thấu hiểu vinh dự, trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng hôm nay. Bên cạnh các buổi học tập, diễn đàn chung, những kinh nghiệm về "ba cử", "hai nguyện" mà các huyện phía Bắc đã làm nhiều năm được vận dụng một cách phổ biến, cán bộ còn phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, tác phong sâu sát, tìm hiểu kỹ tình hình cụ thể mọi mặt "thuộc từng ngõ, rõ từng nhà, rà từng trường hợp". Đến ngày 18-10-1976, các huyện phía bắc Bình Trị Thiên (từ Bến Hải trở ra) tuyển 1.471 người bàn giao xong quân (đạt 100,07% về nam, 100% nữ). Ngày 18-11-1976, các huyện phía nam (từ Bến Hải trở vào Phú Lộc) hoàn thành việc giao quân với 1.801 người.

Trong điều kiện vừa sáp nhập tỉnh xong và triển khai nhiều công việc lớn, lại trải qua nhiều cơn gió lốc, gió xoáy gây nên nhiều thiệt hại ở vùng ven biển, bọn phản động tìm mọi cách chống phá, lần đầu tiên việc triển khai tuyển quân và đăng ký nghĩa vụ quân sự theo luật ở vùng mới giải phóng đạt được kết quả như vậy là một thành công lớn của tỉnh Bình Trị Thiên.

Trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đảng về vai trò, vị trí của dân quân tự vệ là "lực lượng của chiến tranh nhân dân, làm nòng cốt xung kích trong lao động sản xuất, xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở thôn xóm”, các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh (cũ) tiếp tục phát triển, củng cố tổ chức dân quân tự vệ theo địa bàn huyện mới hợp nhất đúng chỉ tiêu, kế hoạch đề ra ở 100% số xã và 696/801 cơ sở tự vệ (chiếm 85,6%). Trong năm 1976, riêng Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh phát triển được 45.981 dân quân tự vệ. Tỉnh Thanh Hoá cử cán bộ triển khai thí điểm xây dựng dân quân tự vệ trong các "đội 202" (đội thủy lợi chuyên) ở Thọ Xuân, tiếp đó mở rộng ra 23 huyện có 5 vạn "dân quân 202". Trên cơ sở đó, tỉnh mở ra hình thức tổ chức "quân sự hoá" trong lao động, điển hình là 16 huyện mở công trường thủy lợi huyện, 10 huyện tham gia công trường thủy lợi Quảng Châu, 8 vạn dân quân làm công trường thủy lợi sông Lý. 556 xã, khu phô (100%) được củng cố, có 212 xã, khu phố đạt danh hiệu Quyết thắng, 79 khá, 212 trung bình, 53 kém.

Nghệ Tĩnh được Trung ương chỉ đạo tổ chức lại nền sản xuất xã hội chủ nghĩa; trong đó đồng bằng thực hiện chương trình điện khí hoá; ở miền núi giao đất, giao rừng. Lúc đầu, cán bộ chỉ đạo phong trào gặp khó khăn, nhưng sau một thời gian đã dần dần đi vào nền nếp, và có bước phát triển. Đến cuối năm 1976 số lượng dân quân tự vệ tăng nhanh. Tổ chức biên chế ngày càng phù hợp với tình hình thực tế, phát triển đúng hướng. Toàn tỉnh có 309.999 dân quân tự vệ và 247.001 du kích (chiếm 10,5% so với dân số, tăng 0,2% so với năm 1975); tự vệ 59.998, chiếm 53% tổng số công nhân viên chức. Đảng viên trong du kích chiếm 36,6%, trong dân quân 29,5%. Lực lượng cơ động có 79 đại đội; 656 trung đội du kích bộ binh; 27 trung đội súng cối; 46 trung đội 12,7 ly; 7 trung đội ĐKZ 75; 1 trung đội pháo 75. Lực lượng tại chỗ có 1.338 trung đội du kích, 1.659 trung đội dân quân, 648 trung đội hỗn hợp, 142 tiểu đội độc lập.

Vừa củng cố, phát triển tổ chức, các địa phương vừa tích cực đưa dân quân tự vệ đến các công trường lao động do Ban chỉ huy quân sự huyện phụ trách. Trong đó đã đào đắp được 1.200.000m3 đất đá làm thủy lợi, làm 59,5km đường giao thông, khai hoang, phục hoá được 2805,5ha, di dời dân 7.131 hộ, cất bốc 23.558 ngôi mộ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #23 vào lúc: 22 Tháng Mười Một, 2024, 04:35:06 pm »


Tỉnh Bình Trị Thiên sau hợp nhất có 20 huyện, 269 xã, thị trấn, 2 thị xã1, 1 thành phố (Huế), dân số 1.724.970. Đi đôi với củng cố tổ chức biên chế, tăng cường chất lượng ở các vùng căn cứ cũ của cách mạng, vấn đề lớn đặt ra là phải khảo sát, điều tra, tuyên truyền, giáo dục, phát triển lực lượng ở các địa bàn mới giải phóng. Tỉnh và các huyện tăng cường mở các lớp bồi dưỡng cán bộ làm nòng cốt, hạt nhân cho mọi mặt công tác quân sự địa phương. 3.288 lượt cán bộ được huấn luyện, bồi dưỡng trở thành vốn quý đảm bảo cho việc củng cố "thí điểm" ở 20 xã vùng Trị Thiên cũ, kiện toàn được 696/801 cơ sở tự vệ, phát triển nâng số lượng dân quân tự vệ toàn tỉnh lên 103.702 người. So với các tỉnh bạn, thì tỷ lệ dân quân tự vệ ở Bình Trị Thiên thấp hơn (mới chiếm 6,01% dân số). Nhưng đó là lực lượng tại chỗ đặc biệt quan trọng góp phần tích cực, hiệu quả trong việc tuần tra canh gác bảo vệ trật tự an toàn xã hội và an ninh chính trị; đặc biệt là ở các trọng điểm Huế, Đông Hà, Đồng Hới, Lao Bảo, Thuận An, Phú Lộc, các bến phà, các tụ điểm đông người. Trong năm 1976, không có những vụ lộn xộn lớn xảy ra. Lực lượng dân quân tự vệ đã góp phần quan trọng cùng bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực và các lực lượng khác thực hiện xuất sắc nhiệm vụ tháo gỡ, phá bom mìn trong năm 1976.

Theo báo cáo của Bộ tư lệnh Quân khu gửi Bộ Quốc phòng ngày 3-7-1976, nhờ những kinh nghiệm đúc kết của những tháng cuối năm 1975, trong 7 tháng đầu năm 1976, các cấp ủy, chính quyền đã huy động 28.000 công lao động trực tiếp và gần 7.000 công phục vụ, tháng cao nhất huy động 6.649 người, tiến hành rà phá quét sạch bom mìn trên diện tích gần 73km2 thuộc địa bàn hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên (cũ). Số lượng bom, mìn, đạn và các vật nổ phá, gỡ, thu hồi được gần 3 triệu quả (gần 2% là mìn chống bộ binh M14, M16; bom bi và bom phá 1,5%; đạn M72 và M79 gần 1,5%; đầu nổ đạn các loại hơn 94%). Ở Quảng Trị giải phóng xong phần lớn diện tích có bom mìn những nơi trọng điểm, phần lớn diện tích đất đai đưa vào sản xuất và xây dựng kinh tế.

Lực lượng huy động tham gia phá bom mìn đông gấp 1,5 lần năm 1975. Bộ đội chủ lực Quân khu có 2 trung đoàn (4 và 6), chiếm 26% tỷ lệ quân số tham gia thường xuyên; bộ đội địa phương tỉnh, huyện chiếm 18%; du kích 24%; thanh niên 12%; những người đã phục vụ trong quân đội Mỹ - ngụy, trong đó có số đang tập trung cải tạo 18%.

Khác với thời kỳ đầu, số bom mìn càng về sau càng khó phát hiện, phần lớn tập trung ở các "vùng giáp ranh" trước đây, cây cối phủ kín, rừng núi rậm rạp, địa hình phức tạp, đất đá, phù sa, cát sỏi lấp dày, bom đạn cày đi, xới lại trên diện tích rộng (khoảng 280km2), nhiều nơi ta chưa nắm chắc, công tác trinh sát, khoanh vùng chưa thực hiện được. Vì thế, trong quá trình rà phá đã xảy ra 9 vụ nổ đối với lực lượng trực tiếp tác nghiệp, hy sinh 20 đồng chí, bị thương 95 đồng chí; nhân dân bị 31 vụ, bị thương 42, tử thương 27. Trước thử thách căng thẳng, nguy hiểm đe dọa thường xuyên, nhưng vì cuộc sống của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ vẫn một lòng quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Căn cứ vào quyết định của Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ cho quân đội xây dựng kinh tế, sau khi những đơn vị tham gia làm đường sắt ở những công trình lao động phổ thông hoàn thành, Quân khu rút bớt lực lượng đi làm nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế.
Ngày 6 tháng 8, Trung đoàn 167 rời Bố Trạch về xã Nam Thái (Nam Đàn) và xã Thanh Khai (Thanh Chương) triển khai các mặt công tác chuẩn bị xây dựng khu sản xuất gạch ngói ở Rào Gang. Các loại vũ khí, khí tài pháo binh và pháo thủ, nhân viên chuyên ngành bàn giao cho Trung đoàn 16 pháo binh Quân khu. Còn doanh trại do Sư đoàn 316B và Cục Hậu cần Quân khu tiếp quản.

Ngày 10 tháng 8, Tiểu đoàn 13 thông tin thuộc Quân khu Trị Thiên (cũ) được lệnh điều động thuộc về biên chế Trung đoàn 80 thông tin Quân khu.

Ngày 28 tháng 8, Quân khu điều động Trung đoàn 271 bộ binh về đứng chân ở Quế Phong (Nghệ Tĩnh), Trung đoàn 4 bộ binh và Trung đoàn 233 cao xạ đứng chân ở Lệ Ninh (Bình Trị Thiên) chuyển sang làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế, chuyên làm lâm nghiệp kết hợp công nghiệp chế biến lâm sản và nông nghiệp.

Ngày 30 tháng 8, Trường Quân chính Quân khu Trị Thiên (cũ) được giao thuộc Cục Kinh tế Quân khu 4, tổ chức thành Trường Nghiệp vụ kinh tế sơ cấp. Tiểu đoàn 5 kiến thiết cơ bản của Quân khu Trị Thiên (cũ) được giao cho Cục Hậu cần đảm nhận nhiệm vụ làm kho tàng ở nam Quân khu. Tiểu đoàn 6 thuộc Trung đoàn 16 pháo binh Quân khu được điều động về trực thuộc Bộ chỉ huy quân sự Bình Trị Thiên.

Tháng 9 năm 1976t theo đề nghị của Quân khu quy hoạch tổ chức một số trận địa cao xạ được Bộ Quốc phòng duyệt, bao gồm 3 trận địa ở Hàm Rồng, 3 trận địa ở Bái Thượng (Thanh Hoá); 25 trận địa ở Nghệ Tĩnh (Đô Lương: 4, Vinh: 12, Cửa Hội: 3, sân bay: 3, sở chỉ huy: 2, đài quan sát: 1); 8 trận địa ở Bình Trị Thiên (sân bay Phú Bài: 3, thành phố Huế: 5).

Cùng thời gian này, Quân khu tổ chức bàn giao Sư đoàn 31 về Tổng cục Xây dựng kinh tế bao gồm toàn bộ quân số 10.026 cán bộ, chiến sĩ, 1.267 đảng viên, 7.508 đoàn viên đúng thời gian quy định của Bộ Quốc phòng. Các loại pháo, xe kéo pháo, khí tài kỹ thuật và xe cơ giới do Quân khu nhận quản lý.
______________________________________________
1. Thị xã Đồng Hới và thị xã Quảng Trị.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #24 vào lúc: 22 Tháng Mười Một, 2024, 04:36:31 pm »


Thực hiện chủ trương tinh giản tổ chức, tiết kiệm nhân lực, Quân khu quy định lại biên chế cơ quan và đơn vị trực thuộc Bộ Tham mưu Quân khu gồm 197 sĩ quan, 769 hạ sĩ quan; tổ chức biên chế lại cơ quan và đơn vị trực thuộc Cục Chính trị Quân khu gồm 97 sĩ quan, 250 hạ sĩ quan, chiến sĩ.

Sau một thời gian triển khai nghiên cứu, đến tháng 9 năm 1976, Quân khu đã hoàn thành ba đề tài tổng kết gồm: "Tổng kết cuộc tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968)" và "Chiến dịch Xuân 1975 hoàn toàn giải phóng Trị Thiên Huế”, "Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào" (phạm vi Quân khu Trị Thiên). Thường vụ Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu Trị Thiên đã thông qua.

Đồng thời, Quân khu cũng hoàn thành các công trình tổng kết khác ở mức bản thảo của bộ phận chuyên trách bao gồm: Dự thảo "Tổng kết chuyên đề bảo đảm giao thông vận tải ở Quân khu 4 trong chống chiến tranh phá hoại”; dự thảo “Tổng kết công tác Đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang Quân khu 4 (1964-1972)"; dự thảo "Tổng kết công tác quân sự địa phương ở Quân khu 4 (1964-1972)"; dự thảo "Tổng kết công tác tham mưu ở Quân khu 4 (1964- 1972)" và dự thảo "Tổng kết 8 năm chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở Quân khu 4 (1964-1972)".

Những tháng cuối năm 1976, nhịp độ công tác của các cơ quan, đơn vị trực thuộc Quân khu càng khẩn trương dồn dập. Những đơn vị xây dựng đường sắt Thống Nhất chuyển quân đến các địa bàn mới, nhận nhiệm vụ mới. Ngày 12 tháng 10, Tiểu đoàn 54 Vĩnh Linh (cũ) được lệnh chuyển giao về Cục Xây dựng kinh tế Quân khu, tổ chức giao nhận xong trước ngày 30-10-1976.

Bắt đầu từ ngày 12-10-1976, Quân khu triển khai thực hiện kế hoạch bảo đảm cho cuộc chuyển quân gồm 11.500 người, 1.500 tấn hàng của Sư đoàn 316B từ Đồng Hới ra Quế Phong (Nghệ Tĩnh); trong đó có 100 quân và 300 tấn hàng chuyển đến Nghi Lộc. Các cơ quan Quân khu theo chức năng của mỗi cơ quan, có trách nhiệm bảo đảm hoàn thành việc chuyển quân quy mô lớn trên chặng đường dài 400km an toàn, đúng thời hạn ngày 15-12-1976.

Ngày 13-10-1976, Tiểu đoàn 575 xe tăng thuộc Trị Thiên (cũ) được lệnh bàn giao về Trung đoàn 206, xong trước ngày 30 tháng 10.

Ngày 16 tháng 10, hai đại đội 20 và 24 thông tin được lệnh giải thể. Việc bảo đảm thông tin ở phía nam Quân khu do Phòng Thông tin Quân khu và Trung đoàn 80 đảm nhận. Trên cơ sở lực lượng 1 đại đội của Tiểu đoàn 8 và số còn lại trong lực lượng ở phía nam Quân khu thành lập 1 tiểu đoàn thông tin cơ động giao cho Trung đoàn 80.

Ngày 5-11-1976, Quân khu được Bộ Tổng Tham mưu giao nhiệm vụ bảo đảm công tác giao thông đường 8. Thời gian chậm nhất là đầu tháng 12 phải bảo đảm đường thông, để Tổng cục Hậu cần chuyển gấp 2.000 tấn vật tư - kỹ thuật sang tiếp tục làm đường ống dẫn dầu từ Căm Cớt đến đường 12. Lực lượng Quân khu tham gia gồm Trung đoàn 176 và một bộ phận công binh phối hợp với Đoàn 476 (lực lượng chuyên môn đặt đường ống của Tổng cục Hậu cần), vừa xây dựng, vừa sẵn sàng chiến đấu. Ban chỉ huy chung các lực lượng gọi là Ban chỉ huy công trường 476.

Trên cơ sở thống nhất giữa Quân khu với tỉnh Nghệ Tĩnh qua Hội nghị liên tịch ngày 3-9-1976, ngày 11-11-1976 Bộ tư lệnh Quân khu giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 316B với 3 nội dung chính:

1. Sư đoàn 316B được bổ sung thêm Trung đoàn 375 Nghệ Tĩnh, quân số ban đầu 8.000 người, xây dựng thành sư đoàn chuyên xây dựng kinh tế "lâm - nông - công nghiệp”.

2. Nhiệm vụ cơ bản là: Kết hợp với quốc phòng, xây dựng khu kinh tế lâm - nông - công nghiệp trên địa bàn bắc Nghệ Tĩnh, nối liền với tây Thanh Hoá đến biên giới Việt - Lào. Đào tạo đội ngũ chuyên môn kỹ thuật, xây dựng sư đoàn thành đơn vị kinh tế tổng hợp. Phát huy các thế mạnh của vùng kinh tế miền núi, góp phần tích cực cùng địa phương định canh, định cư đồng bào miền núi.

3. Nhiệm vụ cụ thể: Về lâm nghiệp: Xây dựng và đưa vào sản xuất 3 lâm trường: Quế Phong, Phú Phương, Thông Thụ, mở đường thị trấn Quế Phong qua Pù Chung Cha vào Tri Lễ. Đối với nông nghiệp, trong kế hoạch 1977 - 1978 dự kiến khai hoang và đưa vào sản xuất khoảng 3.500 - 4.000ha. Về công nghiệp, xây dựng các cơ sở chế biến nông sản, lâm sản, xây dựng một số cơ sở sản xuất vật liệu phục vụ yêu cầu xây dựng cơ bản của đơn vị và một phần cho địa phương. Xây dựng xưởng cơ khí có năng lực sửa chữa lớn 300 đầu xe máy/năm. Với thủy lợi và thủy điện, trước hết khảo sát và thiết kế xây dựng thủy lợi - thủy điện Sao Va công suất 600 đến 700KW phục vụ yêu cầu phát triển công nghiệp, nông nghiệp và đời sống trong khu kinh tế.

Nhằm tăng cường công tác cải tạo đối với tù hàng binh, ngày 13-11-1976, Quân khu ra chỉ thị về nhiệm vụ "cải tạo và sử dụng tù binh" do Đoàn 76 quản lý. Chỉ thị xác định rõ hai nhiệm vụ cơ bản của đoàn là:

1. Quản lý, giáo dục thật tốt tù binh, tàn binh địch mà Đoàn 76 đang quản lý, làm cho họ trở thành những người có ích cho xã hội.

2. Có kế hoạch quản lý chặt chẽ, vừa cải tạo, vừa sử dụng để lao động sản xuất, phục vụ nhu cầu đời sống của đoàn và góp một phần cho xã hội.

Thực hiện nhiệm vụ sản xuất, cụm ở nam Quân khu sản xuất vật liệu cho công trường Cảnh Dương gồm khai thác đá, vỏ sò, cát, táp lô..., mở xưởng mộc và rèn. Cụm Ái Tử (Quảng Trị) xây dựng lò gạch, mở một số cơ sở rèn cơ khí để dần dần hình thành xưởng cơ khí sửa chữa. Các cơ quan Quân khu thường xuyên chỉ đạo, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ Đoàn 76, từ các khâu làm quy hoạch, dự trù ngân sách, vốn, đến đầu tư trang bị, thiết bị, vật tư.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #25 vào lúc: 22 Tháng Mười Một, 2024, 04:37:21 pm »


Quán triệt phương hướng huấn luyện của Bộ Quốc phòng, phân hiệu Lục quân 1 tiếp tục huấn luyện đào tạo và tổ chức thi ra trường cho 582 cán bộ (gồm 113 trung đội trưởng, 116 chính trị viên đại đội, 231 quản trị trưởng, 122 cán bộ dự học bổ túc binh chủng). Khối đào tạo gồm 868 học viên tiếp tục huấn luyện theo chương trình thống nhất (bắn súng từ bài 2 đến bài 5, chiến thuật từng người đến đại đội, công tác chỉ huy, ôn kiểm tra giai đoạn hành quân, diễn tập, ôn thi cuối khoá).

Ngày 6 tháng 12, Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Quân khu 4 thành lập hai đoàn làm nhiệm vụ kinh tế trực thuộc Quân khu mang phiên hiệu là Đoàn 336 và Đoàn 337 (tương đương sư đoàn).

Để đáp ứng với nhiệm vụ xây dựng kinh tế trong năm 1977 Quân khu giao nhiệm vụ cho Đoàn 405 (nguyên là đoàn an dưỡng, điều dưỡng thương binh, bệnh binh cán bộ) thuộc Cục Xây dựng kinh tế Quân khu mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý kinh tế cho cán bộ trung cấp tại xã Nghĩa Hưng (Nghĩa Đàn) trong thời gian ba tháng. Lớp đầu tiên với quân số là 250 người, gồm thủ trưởng quân sự, chính trị cấp tiểu đoàn, trung đoàn, cấp trưởng (phó) phòng quân khu, sư đoàn, các trưởng (phó) ban của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh và lữ đoàn, một số trợ lý cần thiết của cơ quan. Nội dung học tập gồm: một số kiến thức cơ bản về khoa học quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa, bao gồm phần đường lối kinh tế, nguyên tắc, chế độ, nội dung quản lý và một số vấn đề về quan điểm kết hợp kinh tế - quốc phòng.

Trong không khí sôi nổi thi đua lập công và những thành tích đạt được, các cấp Đảng bộ trong Quân khu bước vào Đại hội Đảng. Theo tinh thần nghị quyết của Quân khu ủy, chấp hành Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 25 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng "Về việc triệu tập Đại hội lần thứ IV của Đảng", Đại hội được tiến hành từ cơ sở.

Đại hội Đảng bộ cấp trung đoàn và tương đương lần lượt diễn ra và kết thúc vào ngày 27-10-1976. Đại hội cấp sư đoàn và tương đương hoàn thành ngày 30-10-1976. Vào lúc 19 giờ ngày 6-11-1976, Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân khu 4 khai mạc trọng thể tại Hội trường sở chỉ huy Quân khu 4 ở Đại Huệ (Nam Đàn, Nghệ Tĩnh). Tham dự Đại hội có 239 đại biểu chính thức thay mặt cho 26 Đảng bộ và hơn 15.000 đảng viên trong Đảng bộ Quân khu, được bầu từ Đại hội Đảng các cấp dưới lên theo quy chế của Trung ương. Ba đại biểu được Quân ủy Trung ương giới thiệu dự Đại hội Đảng bộ Quân khu và ứng cử đại biểu dự Đại hội đại biểu Đảng bộ toàn quân là Trung tướng Trần Văn Quang - Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III) - Thứ trưởng Quốc phòng; Trung tướng Phạm Ngọc Mậu - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Đại tá Quách Sĩ Kha - Phó chánh án Toà án Quân sự Trung ương (nguyên là Phó chính ủy Quân khu 4); Đại tá Đoàn La, cán bộ hoạt động lâu năm trong Đảng và một số Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân là khách mời của Đại hội.

Sau 16 năm, tính từ Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9 - 1960), đến nay, Đảng mới có điều kiện tiến hành Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV. Nhiều vấn đề trọng đại đặt ra cần được giải quyết; trong đó có những nội dung hết sức mới mẻ, đòi hỏi Đảng phải nghiên cứu tiếp tục hoàn chỉnh về mặt lý luận để vận dụng phù hợp điều kiện đất nước ta.

Đồng chí Lê Tự Đồng - Bí thư Quân khu ủy được phân công đọc Dự thảo "Đề cương báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III, trình bày tại Đại hội IV"; đồng chí Phan Văn Đường - Ủy viên Thường vụ Quân khu ủy đọc "Báo cáo dự thảo công tác xây dựng Đảng" và "Dự thảo Điều lệ Đảng sửa đổi".

Đại hội phát huy trí tuệ, trách nhiệm, thảo luận đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện của Đảng. Đại hội hoàn toàn nhất trí các vấn đề về đường lối chung và đường lối cụ thể; nhấn mạnh yêu cầu tạo bước phát triển vượt bậc về nông nghiệp, giải quyết đời sống, thúc đẩy các mặt công tác. Đại hội liên hệ một số mặt yếu kém, khuyết điểm, kiến nghị Đại hội toàn quốc tập trung bàn biện pháp giải quyết.

Đại hội hoan nghênh việc đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam.

Về những vấn đề liên quan đến tổ chức Đảng trong quân đội nhân dân, Đại hội thảo luận đề nghị Đại hội Đảng cấp trên nghiên cứu thêm trước khi đưa ra quyết nghị: Đối với chế độ một Thủ trưởng: Đại hội đề nghị nghiên cứu kỹ, làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn, có chỉ đạo làm thử tốt mới triển khai. Quân ủy Trung ương cần tổ chức hội nghị cán bộ toàn quân thảo luận thống nhất trước khi đề đạt với Trung ương Đảng và Đại hội Đảng toàn quân và toàn quốc.

Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân khu, mọi hoạt động của các cơ quan, đơn vị, địa phương đều được triển khai, thực hiện một cách mạnh mẽ, toàn diện trên các mặt công tác.

Giữa lúc quân và dân ta đang sôi nổi thi đua xây dựng đất nước, khắc phục hậu quả chiến tranh, từ ngày 14 đến ngày 20-12-1976, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV được tổ chức ở Hà Nội. Về nhiệm vụ củng cố quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang trong thời kỳ mới, Nghị quyết Đại hội nêu rõ: "Xây dựng đất nước phải đi đôi với bảo vệ đất nước. Đi đôi với xây dựng đất nước về mọi mặt, phải ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh", "... Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, có lực lượng thường trực mạnh, lực lượng hậu bị rộng rãi và được huấn luyện tốt, có quân đội nhân dân chính quy hiện đại gồm các quân chủng, binh chủng cần thiết; có bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương; có lực lượng dân quân tự vệ hùng hậu".

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, cùng với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, quân dân Quân khu 4 tổ chức học tập, quán triệt và vận dụng những chủ trương đường lối cách mạng của Đảng vào trong thực tiễn công tác, sẵn sàng chiến đấu và triển khai xây dựng Quân khu toàn diện, mạnh mẽ hơn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #26 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2024, 03:17:59 pm »


III- QUÂN KHU 4 THỰC HIỆN HAI NHIỆM VỤ CHIẾN LƯỢC GIỮA HAI BƯỚC NGOẶT LỚN VỀ CHIẾN LƯỢC

1. Trong điều kiện có hoà bình, cùng cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng là cột mốc quan trọng trên con đường tiến lên của cách mạng Việt Nam. Đại hội đề ra hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới: "Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Chào mừng thành công rực rỡ của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, từ ngày 27 đến ngày 29-1-1977, Quân khu ủy họp quán triệt những nội dung cơ bản của Đại hội vào nhiệm vụ cụ thể của quân khu, đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ 1976 và đề ra nhiệm vụ trong năm 1977: "Năm 1977 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng, năm thứ hai thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ hai (1976-1980)". Trên cơ sở nắm chắc hai nhiệm vụ chính trị của quân đội: sẵn sàng chiến đấu và sản xuất xây dựng, Quân khu đặt yêu cầu phấn đấu mạnh mẽ trong toàn Quân khu: “Tạo sự nhất trí cao với đường lối, nhiệm vụ cách mạng của Đảng, tự giác hành động cách mạng, tạo nên bước chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, tư tưởng và tổ chức thực hiện, đưa phong trào thi đua Quyết thắng thành cao trào cách mạng sôi nổi trong cả ba thứ quân, trên tất cả các nhiệm vụ".

Năm 1977 cũng là năm toàn quân đẩy mạnh công cuộc xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng theo hướng chính quy, hiện đại. Nội dung chủ yếu là: cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, nâng cao chất lượng chiến đấu, xây dựng quân đội theo hướng chính quy, hiện đại, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; hoàn thành các chỉ tiêu sản xuất, xây dựng kinh tế; tích cực tham gia xây dựng lực lượng sản xuất theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa; tiếp tục hoàn thành tốt nghĩa vụ quốc tế giúp bạn Lào.

Những tháng đầu năm 1977, Quân khu chỉ đạo tiếp tục chấn chỉnh về tổ chức, biên chế, giao nhiệm vụ, chỉ tiêu cho các đơn vị, địa phương. Đối với các lực lượng vũ trang, Quân khu triển khai thế bố trí, phù hợp với nhiệm vụ mới. Quân khu điều động một loạt đơn vị: Trung đoàn 233 về Đoàn 336 làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế; chuyển Trung đoàn 167 pháo binh và Trung đoàn 233 cho Đoàn 337 làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế; điều Trung đoàn 732 thuộc Cục Hậu cần Quân khu về Cục Xây dựng kinh tế để xây dựng trường đào tạo thợ kỹ thuật xây dựng; điều Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 79, Sư đoàn 341B) về Trung đoàn 414 công binh Quân khu và điều Đại đội 3 thông tin (Sư đoàn 341B) về Trung đoàn 80 thông tin Quân khu; đồng thời giao cho Trung đoàn 80 tổ chức một trung đội thông tin hỗn hợp cho Đoàn 337.

Tổ chức lực lượng xây dựng kinh tế được quy định 32.000 người, trong đó lực lượng chuyên xây dựng kinh tế trực thuộc Quân khu là 24.000, lực lượng giao cho Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh 8.000.

Các đơn vị chuyên xây dựng kinh tế trực thuộc Quân khu gồm: Bộ tư lệnh làm công - nông nghiệp (Sư đoàn 316B) là 8.000 người; Bộ tư lệnh cầu đường (Đoàn 336) là 6.500 người; Bộ tư lệnh sản xuất vật liệu xây dựng (Đoàn 337) là 6.500 người; Tiểu đoàn thủy điện nhỏ (Tiểu đoàn 54) là 500 người; Xưởng mộc (Tiểu đoàn 74) là 500 người.

Cơ quan trường, xưởng, vận tải bao gồm Trường trung cấp kinh tế - tài chính; Trường trung cấp xây dựng; Trường trung cấp nông lâm - cầu - đường, Trường thợ - lái xe do Cục Hậu cần đảm nhận 2.000 người.

Lực lượng làm kinh tế giao cho Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh gồm: Thanh Hoá 3.000 (Trung đoàn 14 thủy lợi 1.500, Trung đoàn 74 làm đường miền núi 1.500); Nghệ Tĩnh 3.000 (Trung đoàn 175 làm đường miền núi 1.500, Trung đoàn 375 thủy lợi 1.500); Bình Trị Thiên 3.500 (Trung đoàn 6 kinh tế A Lưới 1.000, Trung đoàn 186 thủy lợi, thủy điện 1.500, Tiểu đoàn 10 đánh cá biển 500, Tiểu đoàn 21 sản xuất vật liệu xây dựng 500).

Ngày 11-1-1977, Bộ tư lệnh Quân khu giao cho Bộ chỉ huy quân sự Nghệ Tĩnh bảo đảm hậu cần cho T38 thuộc Cục tình báo hoạt động trên địa bàn Vinh; Bộ chỉ huy quân sự Bình Trị Thiên bảo đảm cho B56 hoạt động ở Huế.

Ngày 13-1-1977, Thường vụ Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu họp thông qua nhiệm vụ công tác quân sự năm 1977, trong đó xác định tập trung thực hiện 5 nội dung chủ yếu là:

1. Mọi kế hoạch quân sự phải chuyển hướng theo kế hoạch dài hạn và phải xuất phát từ kế hoạch 5 năm của Nhà nước.

2. Không ngừng nâng cao cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng cơ động, bảo đảm an ninh trật tự.

3. Nâng cao chất lượng ba thứ quân theo phương hướng chính quy.

4. Hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu xây dựng kinh tế.

5. Làm tốt nhiệm vụ giúp bạn Lào.

Ngày 15 tháng 1, theo đề nghị của đồng chí Kim Mạnh - Trưởng ban chỉ đạo vùng kinh tế mới của Trung ương, Bộ tư lệnh Quân khu gửi Công văn số 28/TL đề nghị Bộ Nông nghiệp giao cho Quân khu xây dựng 1 nông trường ở xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp (Nghệ Tĩnh), quy mô từ 1.000 đến 2.000ha.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #27 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2024, 03:18:57 pm »


Ngày 17 tháng 1, Bộ Tham mưu Quân khu thông báo quân số toàn Quân khu năm 1977 là 65.500 người, gồm lực lượng chiến đấu 28.300; lực lượng xây dựng kinh tế 32.000; lực lượng xây dựng cơ bản 1.200; quân số lâm thời để giải quyết chính sách là 4.000 người. Ngoài ra, Quân khu được tổ chức thêm 1 khung trung đoàn 700 người, bảo đảm huấn luyện được hai đợt tân binh trong năm 1977, mỗi đợt 2.500 người.

Trong quá trình giải quyết chính sách cho số nam thanh niên nhập ngũ năm 1973, số nữ thanh niên nhập ngũ năm 1974, Quân khu chỉ đạo các đơn vị động viên những quân nhân có ngành nghề chuyển sang chế độ quân nhân chuyên nghiệp và công nhân viên quốc phòng.

Cùng ngày 17 tháng 1, Đại tá Dương Bá Nuôi - Phó tư lệnh Quân khu thay mặt Bộ tư lệnh Quân khu giao nhiệm vụ xây dựng kinh tế cho Sư đoàn 316B và Đoàn 336.

Trước tình hình khó khăn về lương thực, thực phẩm, ngày 21-1-1977, Bộ tư lệnh Quân khu chỉ thị cho các đơn vị tận dụng đất đai trồng cây ngắn ngày, làm tốt vụ đông - xuân để tăng thu nhập cho bộ đội. Hàng tháng, điều chỉnh tiêu chuẩn bộ đội từ 2 - 4kg lương thực, theo kế sách lâu dài; nhưng các cấp phải chỉ đạo tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để bù vào, không ảnh hưởng nhiều đến đời sống bộ đội.

Ngày 22 tháng 1, Bộ tư lệnh Quân khu quyết định giao Trung đoàn 167 pháo binh về Đoàn 337, Cục Xây dựng kinh tế. Tiếp đó, ngày 25 tháng 1, Thượng tướng Hoàng Văn Thái - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam ký Quyết định số 07/QĐ-TM chuyển 2 trung đoàn làm kinh tế 176 và 335 (Quân khu 4) sang làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu.

Ngày 29-1-1977, thực hiện Quyết định số 34/QĐ (ngày 29-12-1976) của Bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức bàn giao Sư đoàn 341B về Tổng cục Xây dựng kinh tế theo đúng quy định.

Ngày 31 tháng 1, Bộ tư lệnh Quân khu họp bàn kế hoạch tăng gia sản xuất tiết kiệm năm 1977. Chỉ tiêu sản xuất chất bột quy gạo bình quân đầu người 40kg; thịt (cá quy thịt 1,5kg cá = 1 kg thịt) 6kg; rau quả 150kg; đỗ, lạc, vừng 3kg. Từ tháng 2 trở đi, Quân khu khấu trừ dần gạo theo chỉ tiêu mỗi người một tháng/năm. Riêng thương binh, bệnh binh đang điều trị ở bệnh viện và các đoàn an dưỡng động viên mỗi người bớt 2kg/năm.

Theo Quyết định số 319/QĐ-TM (ngày 31-12-1976) của Bộ Tổng Tham mưu, ngày 1-2-1977, Bộ tư lệnh Quân khu thông báo giao nhiệm vụ cho Ban chỉ huy quân sự các cấp báo cáo với Ủy ban nhân dân tỉnh việc giữ gìn, bảo quản các trận địa phòng không ở địa phương mình, không để bất cứ tổ chức hoặc cá nhân xâm phạm tới các trận địa cao xạ, trận địa ra đa.

Ngày 7 tháng 2, Quân khu chấn chỉnh bổ sung nhiệm vụ cho Sư đoàn 316B, Đoàn 336, Đoàn 337; tách hai đơn vị thuộc Đoàn 337 là Trung đoàn 167 pháo binh và Trung đoàn 223 cao xạ chuyển thành trung đoàn làm kinh tế trực thuộc Quân khu; bổ sung quân số của Trung đoàn 22 (Sư đoàn 341) học nghề ở Nhà máy xi măng Cầu Đước thuộc biên chế của Trung đoàn 223 và tăng thêm Tiểu đoàn 54 làm lực lượng phối thuộc cho trung đoàn để đẩy mạnh tiến độ thi công xây dựng Nhà máy xi măng Anh Sơn; vốn đầu tư là 5,1 triệu đồng, khỏi công ngày 1-4-1977, hoàn thành tháng 8 năm 1977.

Cùng ngày 7 tháng 2, Bộ tư lệnh Quân khu quyết định điều Tiểu đoàn 4 thuộc Trung đoàn 414 về Đoàn 336; điều Đại đội 10 (Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 222 Sư đoàn 341) về Đoàn 336, gồm 107 quân nhân (có 3 sĩ quan, 2 thợ máy nghiền đá, 2 thợ máy ép hơi, 6 thợ khoan mắt đá) và toàn bộ thiết bị kỹ thuật; điều Trung đoàn 375 Nghệ Tĩnh về Đoàn 336 và giao Trung đoàn 80 tổ chức một trung đội thông tin hỗn hợp cho Đoàn 336 do Quân khu cấp trang bị; điều Trung đoàn 4 bộ binh Quân khu về Đoàn 337; điều Trung đoàn 223 và 176 thuộc Đoàn 337 về trực thuộc Quân khu.

Thực hiện quyết định của Bộ tư lệnh Quân khu, Trung đoàn 175 Nghệ Tĩnh chuyển về trực thuộc Quân khu, được bổ sung Tiểu đoàn 3 bộ binh Bình Trị Thiên làm nhiệm vụ tuyển quân, huấn luyện chiến sĩ mới, biên chế 700 quân nhân (có 172 sĩ quan). Lưu lượng chiến sĩ mới mỗi khóa từ 2.500 đến 3.000. Trung đoàn hành quân về tiếp quản khu doanh trại Trung đoàn 176 ở Voi Bổ (Hương Sơn, Nghệ Tĩnh). Trong khi đó, Trung đoàn 414 công binh Quân khu được giao trách nhiệm tổ chức, biên chế thêm 1 tiểu đoàn công binh vượt sông 251 người, có 21 sĩ quan, gồm tiểu đoàn bộ và 3 đại đội, mang phiên hiệu Tiểu đoàn 4.

Ngày 29-2-1977, Bộ Tổng Tham mưu ra chỉ thị về nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ trật tự an ninh, động viên tổ chức lực lượng dân quân tự vệ làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế, nòng cốt xung kích trong sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, Quân khu xác định những nhiệm vụ chủ yếu của các lực lượng vũ trang quân khu triển khai thực hiện là:

1. Đối với nhiệm vụ bảo vệ vùng biên giới, dân quân tự vệ làm nòng cốt giáo dục, tuyên truyền, giác ngộ nhân dân, nâng cao ý thức dân tộc và lòng yêu Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, kiên quyết bảo vệ vững chắc chủ quyền, lãnh thổ; làm nòng cốt trong sản xuất nông nghiệp, làm đường, làm lâm nghiệp; cùng công an tham gia tuần tra, canh gác. Phương châm là bảo vệ chủ quyền, hữu nghị, đoàn kết, cảnh giác.

2. Đối với vùng biển, hải đảo: Thực hiện tuyên truyền giáo dục ý thức chủ quyền vùng biển; làm nòng cốt đánh bắt hải sản; phối hợp với hải quân bắt giữ, trục xuất tàu thuyền nước ngoài vi phạm lãnh hải; độc lập hay phối hợp các lực lượng tiêu biểu, bảo vệ chủ quyền biển, đảo thuộc phạm vi Quân khu 4 quản lý.

3. Tiếp tục truy quét tàn quân và bảo vệ an ninh chính trị nội địa.

4. Cùng công an giữ gìn trật tự và an toàn xã hội.

5. Động viên tổ chức phát huy sức mạnh to lớn của lực lượng dân quân tự vệ làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế, nòng cốt xung kích trong sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #28 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2024, 03:19:45 pm »


Từ ngày 28 tháng 2 đến ngày 2-3-1977, tại hội trường lớn Quân khu 4 (Sở chỉ huy Đại Huệ) đã diễn ra Đại hội phong trào thi đua Quyết thắng toàn Quân khu trong thời kỳ mới của cách mạng. Tham dự có 316 đại biểu Đơn vị Anh hùng, Đơn vị Quyết thắng, Chiến sĩ Thi đua, Chiến sĩ Quyết thắng của ba thứ quân thuộc Quân khu.

Đại hội đánh giá: Trải qua gần hai năm phấn đấu gian khổ và quyết liệt, đương đầu với vô vàn khó khăn, vượt qua những bỡ ngỡ của buổi đầu chuyển giai đoạn cách mạng, các lực lượng vũ trang nhân dân toàn Quân khu sát cánh cùng nhân dân các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên đạt nhiều thành tích, trong đó có nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc, nổi bật là:

- Thực hiện chủ trương hợp nhất Quân khu, hợp nhất Bộ chỉ huy quân sự 5 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và đặc khu Vĩnh Linh thành 2 tỉnh Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên; nhận bàn giao tỉnh Thanh Hoá từ Quân khu 3 chuyển về. Việc hợp nhất tiến hành nhanh, gọn, đoàn kết thống nhất cao, giữ vững sự liên tục về lãnh đạo, chỉ huy trong cả quá trình giao nhận; đồng thời xác định rõ đặc điểm, vai trò, vị trí, nhiệm vụ chiến lược của Quân khu và từng tỉnh trong giai đoạn mới.

- Toàn Quân khu tập trung thực hiện thắng lợi đợt sinh hoạt chính trị, tự phê bình và phê bình, hoàn thành Đại hội Đảng các cấp, đóng góp nhiều ý kiến có chất lượng vào các dự thảo văn kiện của Đại hội Đảng toàn quân và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV.

- Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; góp phần hiệu quả vào việc củng cố và xây dựng vùng mới giải phóng nhanh chóng ổn định và phát triển.

- Thực hiện tốt nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, truy quét ngụy quân, ngụy quyền còn lẩn trốn, phá gỡ bom mìn, giải phóng nhiều vùng đất đai, phục vụ nhiệm vụ phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống của nhân dân.

- Các đơn vị được giao làm nhiệm vụ quốc tế đã sát cánh phối hợp chặt chẽ, giúp bạn Lào kịp thời đập tan âm mưu các thế lực thù địch đối với hai dân tộc, củng cố, giữ vững và phát huy thành quả cách mạng.

- Trên mặt trận xây dựng kinh tế, các lực lượng vũ trang quân khu chủ động tiến quân vào các mũi nhọn cải tạo đồng ruộng, làm các công trình thủy lợi, xây dựng các công trình giao thông. Nổi bật nhất là hoàn thành nhiệm vụ khôi phục đường sắt Thống Nhất đoạn Minh Cầm - Tiên An đạt chất lượng cao, bảo đảm thời gian quy định, bước đầu đào tạo, bồi dưỡng được một lớp cán bộ, nhân viên kỹ thuật chuyên môn và quản lý kinh tế làm nòng cốt xây dựng lực lượng sản xuất mới. Đồng thời, toàn Quân khu phát huy truyền thống đội quân công tác, tiếp tục nêu cao ý chí tự lực, tự cường, cần kiệm, đẩy mạnh phong trào sản xuất tự túc.

- Hoàn thành một khối lượng công tác to lớn sau chiến tranh như: tổ chức, biên chế lại lực lượng, bố trí lại đội hình, bảo đảm hậu cần, trang bị theo yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; triển khai mọi mặt huấn luyện, xây dựng. Trong công tác giải quyết các vấn đề thuộc chính sách hậu phương quân đội, Quân khu đã khẩn trương giải quyết việc báo tin hy sinh, phát hiện xác minh các trường hợp mất tin, biệt tích, kiểm tra việc thực hiện chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, chăm sóc bố mẹ, vợ con liệt sĩ không nơi nương tựa; tổ chức tìm kiếm, quy tập mộ liệt sĩ, nhất là ở Bình Trị Thiên và Lào; xây dựng các nghĩa trang, đài liệt sĩ để động viên giáo dục truyền thống cho hôm nay và mai sau. Thực hiện các chính sách quy định, giải quyết tốt đời sống cho quân nhân nghỉ hưu, phục viên, chuyển ngành ngày càng đông; động viên bồi dưỡng họ phát huy bản chất truyền thống, năng lực, kinh nghiệm xây dựng và bảo vệ đất nước quê hương.

Quân khu cùng các tỉnh ủy chủ động xác định sớm và đúng đắn vai trò, vị trí chiến lược của công tác quân sự địa phương trong giai đoạn mới, hoàn thành nhiệm vụ tuyển quân thời bình; bước đầu đưa giáo dục quân sự phổ thông vào trường học, phát huy tốt vai trò chiến lược của dân quân tự vệ làm nòng cốt, xung kích trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng kinh tế, đặc biệt là trên các công trường lao động thủ công quy mô lớn, điều hành theo hình thức tổ chức quân sự và bảo vệ địa phương.

Tại Đại hội này các đồng chí đại diện lãnh đạo, chỉ huy lực lượng vũ trang ba tỉnh, các sư đoàn, các cơ quan Quân khu, các nhà trường, các đơn vị trực thuộc Quân khu lần lượt ký tên vào Sổ vàng truyền thống Quân khu 4, xác định rõ quyết tâm đẩy mạnh phong trào thi đua Quyết thắng sôi nổi mạnh mẽ hơn nữa. Trước mắt toàn Quân khu "quyết tâm biến năm 1977 thành một năm đại thắng lợi", thiết thực góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng.

Những tác phẩm "Hội diễn Nghệ thuật quần chúng Quân khu 4" sôi động trong thời kỳ này được tuyển chọn từ cơ sở lên, những sáng tác văn học nghệ thuật "Chiến sĩ với đường tàu", "Trên mặt trận mới", “Vùng cát cháy", những số báo đặc biệt của Quân khu cùng các ấn phẩm ra đời từ các đơn vị đều phản ánh không khí hừng hực của một vùng đất đã từng lấy "tiếng hát át tiếng bom", "hát từ đại đội hát ra, hát từ những tổ ba ba hát về", góp phần thúc đẩy mạnh mẽ phong trào thi đua toàn Quân khu trong giai đoạn mới với quyết tâm "Tất cả cho sản xuất, tất cả để xây dựng chủ nghĩa xã hội, tất cả vì Tổ quốc giàu mạnh, vì hạnh phúc của nhân dân".
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #29 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2024, 03:22:20 pm »


Sau sáu tháng triển khai phong trào thi đua Quyết thắng, xét thấy tính chất đa dạng, phong phú của các hoạt động trên mỗi lĩnh vực, mỗi đơn vị, địa phương cần có sự chỉ đạo sát sao, hiệu quả hơn, Thường vụ Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu chủ trương thành lập Hội đồng thi đua các cấp từ trung đoàn trở lên. Từ tiểu đoàn trở xuống, mỗi cấp có tổ thi đua của cấp mình.

Theo chủ trương đó, ngày 28-8-1977, Trung tướng Lê Quang Hoà - Bí thư Quân khu ủy - Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu ký quyết định thành lập Hội đồng thi đua (tổ thi đua) các cấp1. Ở Quân khu, Đại tá Trần Văn Ân - Phó chính ủy Quân khu làm Chủ tịch Hội đồng thi đua, thủ trưởng 4 cơ quan Quân khu làm ủy viên, Phòng Tuyên huấn Quân khu là cơ quan thường trực của Hội đồng. Nhiệm vụ của Hội đồng thi đua là:

1. Giúp lãnh đạo, chỉ huy Quân khu nghiên cứu đề xuất các chủ trương, chính sách, biện pháp cụ thể, nhằm đưa phong trào thi đua vào chiều sâu, có chất lượng, hiệu quả, phát triển liên tục, đều khắp, mạnh mẽ.

2. Giúp cấp ủy, thủ trưởng theo dõi, phát hiện, xây dựng, bồi dưỡng, xác minh và thẩm định các điển hình thi đua tiên tiến.

3. Xem xét, đúc kết, quản lý các kinh nghiệm tiên tiến, các sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và phương pháp tổ chức, chỉ huy, quản lý bộ đội, giảng dạy, học tập, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế, lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm.

4. Kiến nghị phổ biến, áp dụng rộng rãi các sáng kiến, cải tiến, hợp lý hoá động tác có giá trị; đồng thời kiến nghị đình chỉ, hoặc buộc thôi sử dụng những phương pháp, phương tiện, công cụ không còn phù hợp hoặc được gọi là "cải tiến"; nhưng đem ra áp dụng sẽ kém hiệu quả hoặc có hại.

5. Phát huy vai trò, vị trí trong suốt quá trình phát triển của phong trào thi đua Quyết thắng, góp phần tích cực và có hiệu quả cùng các tổ chức khác thuộc Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu giúp Quân khu và các cấp lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân đạt được nhiều thắng lợi mới trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng của Đảng.

Sau một thời gian hoạt động, Bộ Quốc phòng nhận xét: Hội đồng thi đua Quân khu 4 là tổ chức hoạt động có nền nếp trong cụm thi đua 3 Quân khu (Quân khu 3, Quân khu Thủ đô và Quân khu 4).

Những tháng đầu năm 1977, Quân khu lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị kịp thời tuyên truyền, phổ biến nhanh kết quả Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV duy trì chế độ nói chuyện thời sự, đọc báo, nghe đài, đồng thời quán triệt một bước vào việc thảo luận, xây dựng nghị quyết lãnh đạo của Quân khu ủy, kế hoạch tổ chức thực hiện của Bộ tư lệnh Quân khu và các cấp. Một trong những nhiệm vụ cơ bản hàng đầu và cũng là kinh nghiệm sâu sắc, bài học cốt lõi trong suốt quá trình cách mạng nói chung, cũng như ở Quân khu 4 những năm đầu xây dựng trong điều kiện đất nước thống nhất nói riêng, là thường xuyên, không ngừng học tập, quán triệt đường lối của Đảng. Nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của vấn đề này, Thường vụ Quân khu ủy chỉ thị tổ chức chặt chẽ, chu đáo các lớp học tập Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, từ Quân khu đến cơ sở.

Ngày 1-6-1977 lớp học đầu tiên được tổ chức cho 402 cán bộ trung cấp chủ trì và cán bộ cao cấp toàn Quân khu. Quân khu giao trách nhiệm cho các cơ quan, theo chức năng thường xuyên, bảo đảm cho lớp học đạt kết quả theo yêu cầu Quân khu đề ra. Do điều kiện ăn ở còn khó khăn, các cơ quan phân tán, mỗi cơ quan Quân khu (Tham mưu, Chính trị, Hậu cần, Kinh tế) đảm nhận công tác bảo đảm hậu cần ăn ở cho một khối học viên.

Trong 36 ngày học tập các học viên tập trung nghiên cứu, thảo luận ở cụm bao gồm 14 chuyên đề. Những chuyên đề này đã được Ban Tuyên giáo Trưng ương và Tổng cục Chính trị bồi dưỡng giáo viên và quy định thời gian học tập từng chuyên đề. Bên cạnh đội ngũ giáo viên của Quân khu được tập huấn theo chương trình của Trung ương, Quân khu mời một số cán bộ và chuyên viên cấp cao về kinh tế là Ủy viên Trung ương Đảng hoặc Bộ trưởng, Chủ nhiệm các ủy ban của Chính phủ2 tham gia giảng dạy những vấn đề cơ bản về đường lối của Đảng.

Đây là lớp cán bộ đầu tiên của Quân khu được nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới. Các học viên học tập với tinh thần nghiêm túc, thảo luận, tranh luận sôi nổi đi đến thống nhất. Ngoài các nội dung chính còn có chuyên đề bổ trợ, các hoạt động văn hoá, văn nghệ.

Cuối khóa học, các học viên viết thu hoạch trên năm cụm chuyên đề, tập trung vào những vấn đề then chốt: 1. Những kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam và kinh nghiệm trong chiến tranh cách mạng, vận dụng vào thời kỳ mới, điều kiện mới như thế nào; 2. Đường lối chung cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; 3. Những vấn đề về kinh tế, quản lý kinh tế, về kế hoạch Nhà nước 5 năm; 4. Những vấn đề về Đảng, Nhà nước, công tác vận động quần chúng và nhiệm vụ quốc tế; 5. Những vấn đề về quốc phòng, kết hợp kinh tế quốc phòng, quân đội làm kinh tế. Qua kiểm tra trình độ của các học viên được nâng lên rõ rệt.

Sau lớp học tập trung này, Quân khu phân cấp, phân công cho các Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, các sư đoàn (và tương đương) mở 9 lớp cho 1.644 cán bộ cấp tiểu đoàn và đại đội. Tiếp đó, sĩ quan và chiến sĩ có chương trình học tập riêng do từng đơn vị phụ trách.

Đây là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng giúp cho cán bộ quán triệt, vận dụng đường lối nhiệm vụ chung và quan điểm của Đảng vào quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ ở địa phương, đơn vị mình. Đồng thời, có cơ sở kiến thức để trang bị lại cho cấp dưới, tự giải đáp một phần đáng kể những vấn đề đặt ra trong cuộc sống không ngừng biến động; nhất là trước những khó khăn, thách thức trong bước đi đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; trước những hậu quả chiến tranh nặng nề chưa được giải quyết chu đáo. Cũng qua học tập, mỗi cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc thêm những âm mưu, hành động của đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ và tay sai, cùng các thế lực phản động tìm mọi cách chống phá cách mạng Việt Nam.
_____________________________________________
1. Sau một thời gian về nhận công tác ở Tổng cục Chính trị, đồng chí Lê Quang Hoà trở lại Quân khu 4. Đồng chí Lê Tự Đồng đi nhận nhiệm vụ mới.
2. Đồng chí Võ Thúc Đồng - Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban nông nghiệp Trung ương; Đậu Ngọc Xuân - Uy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban kế hoạch Nhà nước; Đoàn Trọng Truyến - Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Chính phủ. Cụm 1 do Đại tá Chu Thanh Hương - Phó chính ủy Quân khu giới thiệu. Cụm 2 do Đại tá Phan Văn Đường và Thượng tá Lê Đình Sô - Ủy viên Thường vụ Quân khu ủy phụ trách. Cụm 3 do các đồng chí Võ Thúc Đồng, Đậu Ngọc Xuân, Đoàn Trọng Truyến giới thiệu. Cụm này dành tới 17 ngày. Cụm 4 do đồng chí Đại tá Trần Văn Ân - Phó chính ủy Quân khu phụ trách. Cụm 5 do Đại tá Sùng Lãm và Đại tá Dương Bá Nuôi - Phó tư lệnh Quân khu phụ trách.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM