Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:29:05 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005)  (Đọc 76558 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #40 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2024, 12:13:11 pm »


2. Bước ngoặt chuyển từ hòa bình sang “vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh". Các lực lượng vũ trang quân khu cùng quân dân cả nước chuyển vào thời chiến.

Trong lúc quân dân Quân khu 4 cùng quân dân cả nước xây dựng trong điều kiện đất nước hòa bình, thống nhất, thì tình hình biên giới Tây Nam trở nên căng thẳng do tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri phát động một cách hệ thống, quy mô ngày càng lớn xâm lược lãnh thổ nước ta gây nên nhiều tội ác dã man đối với đồng bào vùng biên giới1. Thực hiện quyền tự vệ chính đáng, quân và dân ta đã kiên quyết chiến đấu bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc.

Thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, một phong trào thi đua lao động sản xuất, xây dựng đất nước, chuẩn bị chiến đấu sẵn sàng đánh thắng quân xâm lược dâng lên mạnh mẽ trong cả nước. Đầu năm 1978, Quân khu ủy 4 đề ra 3 nhiệm vụ, 8 mục tiêu, 13 chủ trương công tác lớn. Vượt lên những khó khăn gian khổ toàn Quân khu dồn sức thực hiện quyết tâm xây dựng Quân khu 4 "đáp ứng những yêu cầu chiến lược rất phức tạp, vừa phải phòng thủ vững chắc trên địa bàn, cả phía Đông và phía Tây, phía Nam và phía Bắc; vừa sẵn sàng đập tan âm mưu của địch chia cắt chiến lược nếu chiến tranh xảy ra; vừa phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ hậu phương đối với cả nước".

Để tăng cường lực lượng đáp ứng nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, ngày 21-1-1978, Bộ tư lệnh Quân khu quyết định lâm thời tổ chức hai sư đoàn 441 và 442 trực thuộc Quân khu làm nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ mới. Sư đoàn 441 gồm Trung đoàn 175 (trực thuộc Quân khu), Trung đoàn 177 (thuộc Bộ chỉ huy quân sự Nghệ Tĩnh) được Quân khu điều nguyên toàn bộ tổ chức, quân số, trang bị, cơ sở vật chất và 5 khung tiểu đoàn (điều từ Đoàn 565 hai khung, Cục Xây dựng kinh tế hai khung, Bộ Tham mưu Quân khu một khung). Trên cơ sở đó, Cục Chính trị, Bộ Tham mưu xây dựng kế hoạch điều chỉnh, điều động cán bộ, chiến sĩ, trang bị hình thành tổ chức theo biên chế Bộ Tổng Tham mưu quy định.

Sư đoàn 442 bao gồm Trung đoàn 858 (điều từ Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá) và giao cho các đơn vị tổ chức 10 khung tiểu đoàn bổ sung cho Sư đoàn 442 (Sư đoàn 316B gồm 4 khung, Đoàn 336 gồm 4 khung, Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá 2 khung).

Theo đề nghị của Quân khu ngày 23-1-1978, Bộ Quốc phòng chính thức ban hành Quyết định 19/QĐ-QP thành lập các đơn vị chuyên trách huấn luyện chiến sĩ mới ở Quân khu 1 và Quân khu 4. Trong đó, Quân khu 4 có Sư đoàn 441, Sư đoàn 442 và 1 trung đoàn mang phiên hiệu là 853.

Sư đoàn 441 đóng quân ở Khe Lang (trên địa bàn hai huyện Can Lộc và Đức Thọ, Nghệ Tĩnh), Sư đoàn 442 đóng quân ở Chuồng - Chuối (huyện Nông Cống, Thanh Hoá). Trung đoàn 853 đóng quân ở huyện Triệu Hải (Bình Trị Thiên).

Căn cứ vào quyết định Bộ Quốc phòng, ngày 4-2-1978, Bộ tư lệnh Quân khu ra Quyết định 167/QĐ giao Bộ chỉ huy quân sự Bình Trị Thiên tổ chức Trung đoàn 853 trực thuộc Bộ chỉ huy để làm nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ mới khu vực Bình Trị Thiên. Quân số khung là 880 người (216 sĩ quan). Ngày 31-3-1978 các đơn vị hoàn thành công tác tổ chức biên chế và triển khai thực hiện nhiệm vụ được giao.

Trước tình hình quân Pôn Pốt đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược trên toàn tuyến biên giới phía Tây Nam, ngày 27-7-1978, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IV) ra nghị quyết về tình hình nhiệm vụ mới, xác định tình trạng đất nước ta vừa có hoà bình vừa có chiến tranh trên một bộ phận đất nước và nêu rõ cần khẩn trương rèn luyện bộ đội, nâng cao sức mạnh chiến đấu, đồng thời tích cực làm tốt nhiệm vụ xây dựng kinh tế. Quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 4, Quân khu ủy 4 họp nghiên cứu, bổ sung những chủ trương công tác cần kíp nêu rõ: Toàn Quân khu chuyển vào một bước ngoặt rất lớn: Từ hòa bình chuyển sang vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh trên một bộ phận đất nước. Các lực lượng vũ trang quân khu chuyển vào thời chiến.

Quân khu ủy chủ trương tiến hành một đợt giáo dục tình hình, nhiệm vụ trong các lực lượng vũ trang quân khu. Đồng thời, đề nghị các Tỉnh ủy phối hợp tuyên truyền, giáo dục tình hình nhiệm vụ trong nhân dân, đặc biệt trong thanh niên, học sinh, sinh viên. Đối với các lực lượng vũ trang Quân khu 4 được xác định là hướng vào "tập trung thực hiện nhiệm vụ quân sự đánh thắng trong chiến tranh biên giới Tây Nam, tăng cường khả năng và trình độ sẵn sàng chiến đấu trên các hướng..., tăng cường phòng thủ các đảo và bảo vệ vùng biển".

Trên cơ sở phương hướng quyết tâm đó, Quân khu xác định tập trung khắc phục những hạn chế về tầm nhìn chiến lược; về đánh giá tình hình trước những xu thế biến động phức tạp; nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, nhiệm vụ mới của Quân khu; quán triệt vận dụng thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược lớn và nhiệm vụ quốc tế của Quân khu.
______________________________________________
1. Từ sau 30-4-1975, bọn phàn động Pôn Pốt đã liên tiếp gây ra nhiều cuộc tiến công đẫm máu đồng bào ta. Đặc biệt là từ sau 30-4-1977, có những lần, những đợt, chúng sử dụng binh lực - hoả lực cỡ 1 sư đoàn đến 4 sư đoàn để đánh phá, xâm chiếm. Ngày 15-7-1977, chúng đánh sâu vào 19km, tàn sát 9.000 đồng bào ta ở 3 xã huyện Tân Biên (Tây Ninh).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #41 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2024, 12:15:09 pm »


Quán triệt chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng về "Tăng cường lãnh đạo công tác quân sự địa phương trong tình hình mới", Quân khu và ba tỉnh xây dựng đề án thực hiện "3 yêu cầu" và "6 công tác chính về công tác quân sự địa phương". Theo chủ trương đó, các cấp ủy địa phương liên hệ tình hình, đối chiếu với yêu cầu nhiệm vụ, tự phê bình và phê bình về lãnh đạo công tác quân sự địa phương góp phần tạo chuyển biến trong xây dựng thế trận và lực lượng, bảo đảm yêu cầu sẵn sàng chiến đấu.

Xét vai trò, vị trí của mỗi tỉnh trong thế chiến lược chung cùng với nhiệm vụ cụ thể của mỗi tỉnh, mỗi đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ tích cực xây dựng gắn với nhiệm vụ cụ thể của từng tỉnh và nhiệm vụ quốc tế, gắn với từng đơn vị xây dựng kinh tế, từng nhà trường, từng vùng trọng điểm và các đảo thuộc Quân khu.

Đối với các tỉnh, huyện, thành, thị, Quân khu xác định cần tiến hành rà soát lại công tác tổ chức. Mỗi nơi bổ sung thêm một đồng chí chỉ huy quân sự vào thường vụ cấp ủy. Các huyện trọng điểm thì Bí thư cấp ủy trực tiếp làm chính trị viên.

Trước sự phát triển mạnh về lực lượng, Quân khu ủy đặt ra mức phấn đấu tự giải quyết lương thực, thực phẩm theo hai chỉ tiêu: 3 tháng và 6 tháng trở lên. Quân khu kêu gọi mỗi người tự giác làm việc có hiệu quả 10 giờ/ngày. Mỗi tháng chỉ nghỉ hai chủ nhật với tâm khảm: "Dồn sức làm giàu cho đất nước"; "Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và huấn luyện tốt, làm kinh tế tốt, hợp tác giúp bạn tốt; xây dựng đời sống tốt, tiến tới tự nuôi mình".

Ngày 21-8-1978, Quân khu ủy ra nghị quyết chấp hành Nghị quyết số 228 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về công tác nhà trường. Quân khu xác định rõ nhiệm vụ cụ thể của từng trường và đặt mục tiêu, yêu cầu "Đáp ứng chủ động, vững chắc nhu cầu về số lượng, chất lượng cán bộ, bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ Quân khu trong tình hình mới". Theo nghị quyết, một đồng chí trong Bộ tư lệnh Quân khu phụ trách công tác nhà trường. Quân khu ủy giao nhiệm vụ Bộ Tham mưu, Cục Chính trị và các cơ quan, các nhà trường tiếp tục khảo sát đánh giá lại thực trạng tình hình1, kiện toàn tổ chức, đầu tư phương tiện học tập, giảng dạy, phục vụ đời sống.

Quân khu ủy quy định nhiệm vụ quyền hạn của 6 nhà trường (Trường Quân chính Quân khu; Trường Hạ sĩ quan Quân khu; Trường Hậu Cần Quân khu; Trường Văn hoá Quân khu; Trường Quân sự địa phương của các tỉnh và hệ thống các đội huấn luyện của các đơn vị binh chủng2. Quân khu ủy nhấn mạnh 5 vấn đề cần tập trung chỉ đạo thực hiện:

1. Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ chính trị Quân khu, nắm chắc đối tượng tác chiến cụ thể, theo dõi sát sự phát triển của tình hình, kịp thời đề xuất nội dung, chương trình cho sát đúng.

2. Nắm chắc tiêu chuẩn chất lượng đào tạo, bồi dưỡng (lòng trung thành; trình độ chính trị; năng lực tổ chức thực hiện, chỉ huy, quản lý; kiến thức khoa học - kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn; đạo đức, phẩm chất cách mạng).

3. Kết hợp chặt chẽ nhà trường - chiến trường, lý luận - thực tiễn; nhà trường - xây dựng - sản xuất; ngắn hạn - tương đối dài hạn; toàn diện - cơ bản - chuyên sâu; bảo đảm ra trường hoàn thành nhiệm vụ.

4. Trong một thời gian tương đối ngắn, đưa mọi công tác nhà trường vào nền nếp, thực hiện đúng các chế độ, tiêu chuẩn do Nhà nước quy định.

5. Nội dung, chương trình, đội ngũ giáo viên đều được "chuẩn hoá", mọi sinh hoạt theo điều lệnh quân đội, điều lệ công tác nhà trường.

Phòng Nhà trường Quân khu được thành lập theo quyết định (5-7-1978) của Bộ Tổng Tham mưu, được biên chế trong cơ quan Bộ Tham mưu. Nhiệm vụ của Phòng Nhà trường là giúp thủ trưởng xây dựng kế hoạch và chỉ đạo huấn luyện các trường sĩ quan, hạ sĩ quan, chuyên môn kỹ thuật, trường quân sự địa phương; tổ chức bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, huấn luyện sĩ quan dự bị. Chỉ đạo biên soạn và cung cấp các tài liệu giáo khoa, đồ dùng dạy học, kinh phí huấn luyện của nhà trường; chủ động hiệp đồng với các cơ quan có liên quan giải quyết các mặt bảo đảm cho kế hoạch huấn luyện. Thường xuyên đôn đốc các nhà trường chấp hành đúng mệnh lệnh huấn luyện.
______________________________________________
1. Trong 3 năm (1975-1978), các nhà trường của Quân khu đào tạo, bổ túc, tập huấn 3.000 cán bộ, hơn 5.000 hạ sĩ quan, nhân viên kỹ thuật. Tuyệt đại bộ phận ra trường đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu. Đội ngũ cán bộ, giáo viên được chọn lọc, phần lớn qua chiến đấu, học tập tương đối cơ bản, có kinh nghiệm nhất định. Nội dung, chương trình, tài liệu giáo khoa, mô hình học cụ, phương pháp dạy học được cải tiến. Điểm yếu là hệ thống trường còn phân tán, chưa ổn định địa điểm lâu dài, cả biên chế, lưu lượng học viên, trang bị. Một số giáo viên trình độ văn hoá thấp, chưa đủ sức tiếp thu lý luận và khoa học kỹ thuật. Chưa có chế độ, tiêu chuẩn đối với giáo viên, cán bộ nhà trường.
2. Lực lượng học viên Trường Quân chính: 1.200 - 1.500; Trường Hạ sĩ quan đào tạo tiểu đội trưởng bộ binh, trinh sát, đặc công, quản trị trưởng đại đội: 900 - 1.200; Trường Hậu cần: 800 - 1.000; Trường Quản lý Kinh tế - Tài chính: 500 - 600; Trường Văn hoá bao gồm bổ túc văn hoá cấp II, cấp III, ôn thi đại học, trung học chuyên nghiệp, bổ túc đào tạo giáo viên văn hóa, ngoại ngữ; giáo dục đào tạo thiếu sinh quân; Trường Quân sự địa phương: Thanh Hoá 3.500; Nghệ Tĩnh 3.000; Bình Trị Thiên 2.700. Mỗi đội huấn luyện của binh chủng: 150 - 200 học viên.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #42 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2024, 12:16:36 pm »


Cùng với một loạt các quyết định về điều chỉnh, điều động lực lượng thuộc phạm vi Quân khu1, Bộ Tổng Tham mưu quyết định giao thêm một số nhiệm vụ mới hoặc bổ sung kế hoạch cho Quân khu 4:

Chuyển Sư đoàn 316B xây dựng kinh tế thành sư đoàn bộ binh chiến đấu trực thuộc Quân khu 4 (gồm 2 trung đoàn bộ binh cơ động là Trung đoàn 2 và Trung đoàn 174, một trung đoàn pháo binh thiếu là Trung đoàn 150, cơ quan sư đoàn bộ và một số phân đội chỉ huy, phân đội binh chủng cần thiết). Quân số của sư đoàn là 4.660 người. Tập trung xây dựng khu lâm nghiệp Nam Long Đại. Triển khai nhanh chóng kế hoạch xây dựng đường 7 và đường 8 trên đất Lào. Tiếp tục thi công đường 48B, đẩy mạnh tốc độ thi công các cơ sở sản xuất vật liệu, sản xuất xi măng, gạch ngói phục vụ nhu cầu xây dựng cơ bản của Quân khu. Ra sức xây dựng lực lượng chuyên xây dựng kinh tế, hoàn thành xuất sắc kế hoạch năm 1978, nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ trật tự an toàn khu vực. Giá trị tổng sản lượng xây dựng kinh tế năm 1978 theo kế hoạch là 12.652.000 đồng; sản lượng xây lắp 9.652.000 đồng; công trình xây dựng cơ bản 10.480.000 đồng; danh mục công trình nhận thầu 5.300.000 đồng.

Đồng thời với chỉ thị, nghị quyết chuyên đề của Thường vụ Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu, Cục Chính trị Quân khu soạn đề cương phổ biến tinh thần chỉ thị của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, điện của Tổng Bí thư Lê Duẩn, ý kiến truyền đạt trực tiếp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bí thư Quân ủy Trung ương - Bộ trưởng Quốc phòng - Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, gửi đến từng cơ sở học tập.

Qua thảo luận, mỗi cán bộ, chiến sĩ, nhận thức sâu sắc rằng: Quân khu 4 là nơi lưu lượng bộ đội tại chỗ đông nhất trong cả nước, luôn có những biến động và phát triển lực lượng lớn. Vì thế, cần quán triệt sâu sắc, thực hiện có hiệu quả vai trò "nông nghiệp mặt trận hàng đầu", "sản xuất lương thực, thực phẩm là vấn đề ưu tiên tuyệt đối hàng đầu hiện nay". Thường vụ Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu xác định:

1. Phát động quyết tâm thật cao, đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm trên cả hai quy mô: Tận dụng đất đai quanh bếp, quanh nhà, kể cả nơi cách doanh trại vài ba kilômét. Cấp trung đoàn nhanh chóng tạo điểm sản xuất kiểu "nông trường nhỏ" 50ha trở lên. Trước mắt, phấn đấu sản xuất nhiều chất bột, màu bù vào mức ăn đã trừ bớt không cấp; có dư một phần dành cứu đói nhân dân ở nơi quá khó khăn trên địa bàn đóng quân. Triệt để thực hành tiết kiệm, từng hạt gạo, hạt ngô và mọi thứ sản xuất ra đều bảo quản, sử dụng tốt, không được lãng phí.

2. Về 12 biện pháp, Quân khu nhấn mạnh biện pháp hàng đầu là công tác tư tưởng: Phải dứt khoát làm ngay, làm bằng được chủ trương sản xuất lương thực, thực phẩm, không vì một lý do gì mà trù trừ, do dự. Phải quán triệt và thực hiện "Toàn Quân khu sẵn sàng chiến đấu cao; toàn Quân khu làm kinh tế, toàn Quân khu làm nông nghiệp, sản xuất lương thực, thực phẩm. Đồng thời, sớm nghĩ tới một số mặt hàng có thể xuất khẩu".

Nhờ cố gắng không ngừng của cán bộ, chiến sĩ đến cuối năm 1978, tổng diện tích gieo trồng của các đơn vị bộ đội đạt 4.403,5ha, (bị bão lụt tàn phá mất 1.051ha), thu hoạch được 1.903,8 tấn, bình quân đầu người 29,1kg bột quy gạo (đạt 53% chỉ tiêu Bộ giao là 3.582 tấn). Thịt, cá quy thịt 176,8 tấn (35,7% chỉ tiêu Bộ giao là 495 tấn) bình quân đầu người 2,8kg. Cá biển 106,6 tấn/400 tấn chỉ tiêu Bộ giao, bình quân l,6kg/người. Đậu, lạc, vừng đạt 59,5 tấn (28% chỉ tiêu Bộ giao). Rau đạt 3.059 tấn, bình quân 47kg/người (43% chỉ tiêu Bộ giao). Nhiều đơn vị đã có thể tự túc được lương thực từ 4 - 6 tháng, có đơn vị tự túc cả năm. Đời sống của các lực lượng vũ trang quân khu được cải thiện một bước.
_____________________________________________
1. Chuyển khu vực đóng quân của Trường Văn hóa Quân khu ở sân bay Đồng Hới và Cộn (Quảng Bình) vào đóng tại khu vực Viện 268 và Trường Kinh tế tài chính ở Mang Cá (Huế) chậm nhất ngày 10-7-1978 xong. Bàn giao khu vực Tỉnh đội Quảng Bình cũ, Trung đoàn 185 cũ cho Tiểu đoàn 2 Cục Hậu cần Quân khu; khu vực Đoàn 40B cũ giao cho Bộ chỉ huy quân sự Bình Trị Thiên. Điều động Trung đoàn 16 pháo binh từ xã Kỳ Trinh (huyện Kỳ Anh) về đứng chân xây dựng cơ bản ở hai xã Nghĩa Đồng, Nghĩa Dũng (huyện Tân Kỳ) toạ độ 00003 bàn đồ 1.500.000 (4-1978); hợp nhất Trường Sơ cấp tài chính với Trường Quản lý kinh tế thành Trường Nghiệp vụ kinh tế của quân khu, trực thuộc Cục Kinh tế về mọi mặt, có nhiệm vụ đào tạo, bổ túc, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế; tổ chức Trung đoàn 2 bộ binh cơ động của Quân khu, Trung đoàn 6 bộ binh xây dựng căn cứ, địa bàn, bảo vệ biên giới kết hợp xây dựng kinh tế - quốc phòng ở A Lưới (Bình Trị Thiên), Trung đoàn bộ binh 174 ở Tây Nghệ Tĩnh giáp Thanh Hoá, xây dựng tiểu đoàn đặc công; chấn chỉnh trung đoàn cao xạ và trung đoàn pháo binh; giải thể Viện 268 bổ sung quân số, trang thiết bị cho Bộ chỉ huy quân sự Bình Trị Thiên chấn chỉnh bệnh xá thành đội điều trị khu vực.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #43 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2024, 11:32:27 am »


*

*       *

Bất chấp thiện chí của Đảng và Chính phủ ta, tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri càng trắng trợn cho quân mở các cuộc tiến công quy mô ngày càng lớn vào lãnh thổ vùng biên giới Tây Nam. Trước tình hình đó, Đảng ta đã kịp thời vạch trần bản chất xâm lược của kẻ địch và đề ra nhiệm vụ cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phải tăng nhanh tiềm lực kinh tế, quân sự, quốc phòng, chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng đánh bại kẻ thù xâm lược.

Quán triệt chủ trương của Đảng, tiếp theo Nghị quyết Thường vụ Quân khu ủy ngày 12-7-1978, từ ngày 6 đến ngày 8-11-1978, hội nghị Quân khu ủy ra nghị quyết toàn diện về tình hình và nhiệm vụ quân sự của Quân khu trong giai đoạn mới. Đây là hội nghị đầu tiên có ba đồng chí Bí thư Tỉnh ủy được Bộ Chính trị chỉ định là Quân khu ủy viên (đồng chí Hoàng Văn Hiều - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hoá; đồng chí Trương Văn Kiện - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh; đồng chí Bùi San - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bình Trị Thiên). Từ hội nghị này, Quân khu ủy được quy định tên gọi là Đảng ủy Quân khu.

Hội nghị xác định: "Hiện nay, chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ vẫn là đối tượng chiến lược rất nguy hiểm của nhân dân ta và cả thế giới". Hội nghị nêu rõ kẻ thù mới xuất hiện và dự kiến âm mưu, thủ đoạn, khả năng, huy động lực lượng của chúng.

Dưới ánh sáng Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IV), Nghị quyết Bộ Chính trị và Nghị quyết Thường vụ Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Quân khu khẳng định hai tình huống chiến lược cơ bản có thể xảy ra đối với Quân khu:

1. Địch dùng lực lượng nhỏ, biệt kích, tập kích, kết hợp với bọn phản động nội địa khiêu khích, gây bạo loạn ở một số nơi. Địch có thể đánh chiếm một số đảo, hoặc một số nơi xung yếu.

2. Trong tình huống địch tiến hành chiến tranh xâm lược quy mô lớn, đối với địa bàn Quân khu 4, chúng sẽ thực hành các mũi vu hồi chiến lược, chia cắt chiến lược để phối hợp với chiến trường chính.

Quân khu cần luôn luôn chủ động xúc tiến mạnh mẽ mọi mặt công tác để đối phó thắng lợi cả hai tình huống.

Vị trí và nhiệm vụ Quân khu được bổ sung hoàn chỉnh thêm: “Là một hướng chiến lược quan trọng trực tiếp với đồng bằng Bắc Bộ; cùng nhân dân cách mạng Lào anh em giữ vững biên giới phía Tây, bảo vệ vững chắc hành lang Nam - Bắc. Trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc sắp tới, Quân khu 4 vừa đứng ở tuyến đầu Tổ quốc, vừa là hậu phương chiến lược của cả nước".

Nhiệm vụ quân sự của Quân khu là "Ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, làm cho Quân khu và từng địa phương giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, xây dựng tuyến phòng thủ bờ biển và hải đảo, biên giới, nội địa vững chắc, xây dựng căn cứ chiến lược chung và căn cứ chiến lược trực tiếp toàn diện, có hệ thống hậu cần tại chỗ ngày càng mạnh; xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân đủ mạnh, có số lượng thích hợp, có chất lượng và sức chiến đấu cao. Thực hiện làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để giữ quyền làm chủ; chủ động loại trừ và nhanh chóng đập tan các cuộc bạo loạn nếu xảy ra. Tiêu diệt địch và đánh bại các cuộc tiến công quy mô lớn của chúng trên tuyến đầu phòng thủ của Quân khu, ngay từ thời kỳ đầu của cuộc chiến tranh; bảo vệ các mục tiêu chiến lược về chính trị, kinh tế, quốc phòng trên địa bàn Quân khu; chi viện đắc lực cho các chiến trường; thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của hậu phương chiến lược, làm tròn nhiệm vụ quốc tế, nhằm bảo vệ vững chắc toàn bộ lãnh thổ địa bàn Quân khu..., giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ vững chắc sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta".

Để thực hiện quyết tâm phòng thủ của Quân khu, yêu cầu là: đánh thắng từ những trận đầu và thê đội đi đầu của địch, đến hết năm 1978 hoàn toàn loại trừ bất ngờ đối với tình huống chiến lược 1, có cơ sở để đánh thắng địch, nếu chiến tranh quy mô lớn xảy ra, Đảng ủy Quân khu đề ra 8 chủ trương công tác lớn, cấp bách, trong đó nhấn mạnh công tác nghiên cứu khoa học quân sự, giải quyết những vấn đề cụ thể do thực tiễn Quân khu đặt ra, trong tình hình cuộc chiến tranh có những đặc điểm mới.

Trước bước ngoặt quan trọng của đất nước và Quân khu, việc tổ chức quán triệt nghị quyết Đảng ủy Quân khu đòi hỏi phải có những biện pháp huy động sức mạnh tổng hợp của các tổ chức trong hệ thống chính trị một cách đồng bộ vào công tác tuyên truyền, giáo dục, xây dựng quyết tâm vững chắc, kiên định trong toàn dân, các lực lượng vũ trang nhân dân, các cấp, các ban, ngành, đoàn thể.

Đảng ủy Quân khu chủ trương triệu tập Hội nghị liên tịch chuyên ngành trong toàn Quân khu. Mở đầu là Hội nghị liên tịch tuyên huấn - tổ chức - cán bộ - bảo vệ bao gồm chủ trì lãnh đạo cơ quan tổ chức và tuyên huấn các tỉnh ủy, các cơ quan liên quan của Quân khu và các bộ chỉ huy quân sự tỉnh, các sư đoàn, trung đoàn trực thuộc1. Hội nghị nêu rõ hai điểm mới và ý nghĩa lịch sử của cuộc họp Đảng ủy Quân khu lần đầu tiên có các Bí thư Tỉnh ủy ở trong Đảng ủy Quân khu, ra nghị quyết lãnh đạo quân và dân Quân khu 4 khẩn trương đẩy mạnh sản xuất, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, đập tan mọi âm mưu và hành động phá hoại của kẻ thù hòng làm suy yếu, xâm lược, thôn tính nước ta, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hội nghị xác định: nhiệm vụ và quyết tâm phòng thủ của Quân khu đánh thắng quân xâm lược ngay từ trận đầu, ngày đầu, trên tuyến đầu phòng thủ là ý chí và quyết tâm của 7 triệu quân và dân Quân khu, là sự nghiệp hết sức nặng nề, đòi hỏi phải được thống nhất hành động, phối hợp triển khai tổ chức thực hiện của toàn Đảng bộ, toàn lực lượng vũ trang và toàn dân trong Quân khu; trước hết, quán triệt, thống nhất trong cơ quan tư tưởng và tổ chức của Đảng. Qua đó, làm tham mưu đắc lực cho cấp ủy lãnh đạo thực hiện khẩn trương, biến quyết tâm thành hành động cách mạng sôi nổi trong toàn Quân khu.

Hội nghị thảo luận phân tích rõ thêm tình hình đất nước, xác định rõ kẻ thù chiến lược và đối tượng tác chiến mới, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của chúng. Trên cơ sở đó nâng cao nhận thức sâu sắc đối với âm mưu, thủ đoạn trước mắt của kẻ thù và đề ra chủ trương, biện pháp Quân khu phải khẩn trương triển khai thực hiện.
______________________________________________
1. Hội nghị tiến hành từ ngày 22 đến ngày 24-11-1978. Trung tướng Lê Quang Hoà - Bí thư Đảng ủy - Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu chủ trì hội nghị.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #44 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2024, 11:34:46 am »


Những ngày tháng cuối năm 1978, toàn Quân khu khẩn trương tiến hành mọi mặt công tác quốc phòng với nhịp độ mới. Theo kế hoạch, tỉnh Bình Trị Thiên tiếp tục lát bê tông đường hầm KD7 (khởi công từ tháng 5-1974); Nghệ Tĩnh đổ tiếp bê tông đường hầm C9 (khởi công từ tháng 6 năm 1973) và đường hầm D4 (khởi công tháng 8 năm 1974); Thanh Hoá lát bê tông F22; Các đảo Mê, Mắt, Cồn Cỏ tiếp tục đẩy mạnh tiến độ xây dựng đường cơ động, hào giao thông, công sự các loại hoả khí.

Ngày 30-10-1978, Tổng Tham mưu trưởng quyết định điều Trung đoàn 2 bộ binh thuộc Sư đoàn 316B vào trực thuộc Quân khu 9. Chấp hành mệnh lệnh của Bộ ngày 11-11-1978, Quân khu tổ chức đưa toàn trung đoàn hành quân theo đường giao liên của Bộ đến nơi mới triển khai thực hiện nhiệm vụ được ngay.

Ngày 4-11-1978, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định giao nhiệm vụ cho Quân khu 4 thành lập trung đoàn bộ binh thứ 3 thuộc Sư đoàn 316B, mang phiên hiệu Trung đoàn 153.

Ngày 2-12-1978, Bộ trưởng Quốc phòng ra mệnh lệnh gửi Bộ tư lệnh Quân khu 4, nêu rõ đối tượng tác chiến, âm mưu của địch, phương châm tác chiến chiến lược của ta về quân sự và giao nhiệm vụ cụ thể của Quân khu 4.

Căn cứ vào Mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh Quân khu xác định tăng cường các mặt: Nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện, xác định đúng đối tượng, đúng khu vực có mầm mống bạo loạn, kiên quyết không để xảy ra các vụ gây rối. Hiệp đồng chặt chẽ với hải quân, có kế hoạch bảo vệ an toàn vùng biển, chủ yếu biển gần và đảo. Tăng cường bảo vệ biên giới, trước mắt làm tốt công tác củng cố, xây dựng cơ sở, xây dựng dân quân tự vệ. Triển khai kế hoạch chống tập kích đường không của địch, bảo vệ vùng trời Quân khu, bảo vệ tốt các mục tiêu. Chuẩn bị phòng thủ toàn địa bàn Quân khu, hình thành thế phòng thủ vững chắc liên hoàn, nhiều hướng, nhiều tuyến, có trọng điểm. Cùng các địa phương tổ chức các căn cứ hậu phương cấp huyện, cấp tỉnh, cấp quân khu, từng bước phát triển công - nông nghiệp vững mạnh, bảo đảm tự túc lương thực, thực phẩm, chuẩn bị đánh lâu dài với địch. Đi đôi với nhiệm vụ tác chiến, hết sức coi trọng nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang, làm tốt nhiệm vụ tham gia xây dựng kinh tế, sản xuất tự túc.

Việc hiệp đồng các khu vực tiếp giáp giữa Quân khu 3 với Quân khu 4, giữa Quân khu 4 với Quân khu 5 được xác định rõ theo quy định của Bộ1. Công tác nắm địch, đặc biệt là mạng quân báo nắm địch trên biển trong các đơn vị dân quân tự vệ, được khẩn trương triển khai, gắn liền với việc xây dựng các đội trinh sát kỹ thuật của bộ đội Quân khu.

Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tổng Tham mưu, Quân khu tổ chức lực lượng du kích và tự vệ chiến đấu, quy mô đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn hoặc sư đoàn có bộ binh và binh chủng. Tỷ lệ dân quân tự vệ so với dân số chiếm từ 15 - 18%, trang bị bảo đảm 50%.

Bộ đội địa phương có 4 trung đoàn chủ lực tỉnh (trong đó Bình Trị Thiên có 2 trung đoàn); 3 tiểu đoàn bộ binh ven biển (mỗi tỉnh một tiểu đoàn), 4 tiểu đoàn pháo cấp tỉnh (Bình Trị Thiên 2 tiểu đoàn), 3 tiểu đoàn công binh và các phân đội thông tin, trinh sát, vận tải. Khi xảy ra chiến tranh lớn, Quân khu có thể huy động 3 - 4 sư đoàn cơ động.

Tổ chức biên chế của lực lượng xây dựng kinh tế được quy định mới với tổng quân số 15.200 người. Trong đó, khối làm đường chiến lược gồm Đoàn 565 chuyển nhiệm vụ xây dựng khu lâm nghiệp Nam Long Đại sang xây dựng đường 7 từ Bản Ban đến Phôn Xa Vẳn (6.000 quân). Đoàn 336 gồm 5.000 người, xây dựng đường 8, từ biên giới Việt - Lào đến ngã ba đường 13 trên đất bạn. Trung đoàn 148 tiếp tục làm đường 48B từ Nghĩa Đàn đi Quế Phong. Trung đoàn 185 tiếp tục xây dựng đường 7, nhưng chuyển thuộc Đoàn 565.

Khối sản xuất vật liệu xây dựng gồm Trung đoàn 167 (pháo binh) quân số 550 người, xây dựng khu sản xuất gạch ngói ở Rào Gang (Thanh Chương); Trung đoàn 223 pháo cao xạ xây dựng và vận hành nhà máy xi măng ở Anh Sơn gồm 500 người. Tiểu đoàn 54 biên chế 250 người, sản xuất đồ mộc, chẻ đá. Các đơn vị trực thuộc và cơ quan Cục Kinh tế gồm 1.000 người.

Ngày 16-12-1978, Bộ tư lệnh Quân khu quyết định thành lập thêm trung đoàn dân quân tự vệ lâm trường Hương Sơn - Nghệ Tĩnh. Đây là nơi đã từng lập chiến công bắn rơi máy bay Mỹ trong chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc và là một lâm trường có phong trào dân quân mạnh.
_____________________________________________
1. Khu vực tiếp giáp với Quân khu 3 do Quân khu 3 phụ trách gồm các điểm Mai An Tiêm - Tam Điệp, về phía tây, theo đường ranh giới tỉnh Thanh Hóa và Hà Nam Ninh tiếp giáp với Quân khu 2, do Quân khu 4 phụ trách. Tiếp giáp với Quân khu 5 do Quân khu 5 phụ trách gồm đèo Hải Vân (từ Lăng Cô trở vào, về quân sự do Quân khu 5 phụ trách).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #45 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2024, 11:39:10 am »


Để chủ động đối phó với tình hình đột biến có thể xảy ra, tháng 12 năm 1978, Quân khu họp, đánh giá tình hình các mặt trong năm bản lề của kế hoạch 5 năm (1976-1980) về đẩy mạnh xây dựng quân đội tiến lên chính quy hiện đại. Đặc điểm nổi bật là từ những tháng đầu năm 1978, tình hình diễn biến phức tạp, cường độ chiến tranh do tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri gây ra ở biên giới Tây Nam ngày càng tăng với mức độ nghiêm trọng. Tình hình vùng biên giới phía Bắc cũng trở nên phức tạp. Một số mặt công tác Quân khu đề ra trong kế hoạch đầu năm đã vượt ra ngoài dự kiến ban đầu; nhất là về nhiệm vụ chiến đấu và tổ chức xây dựng lực lượng. Riêng số tuyển quân đã vượt hẳn so với những năm cao nhất trong kháng chiến chống Mỹ.

Quân khu đã tập trung lãnh đạo và chỉ huy các lực lượng vũ trang quân khu xây dựng ý chí và tư tưởng cách mạng tiến công, phát huy tinh thần làm chủ tập thể, động viên nỗ lực phấn đấu của cán bộ, chiến sĩ vượt qua mọi khó khăn, thực hiện hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 1978. Nhờ vậy, ý thức cảnh giác sẵn sàng chiến đấu trong các lực lượng vũ trang nhân dân có sự chuyển biến rõ rệt. Các cấp và đội ngũ cán bộ đã chuyển mạnh, xây dựng quyết tâm đánh thắng quân xâm lược.

Các đảo được tổ chức lại hoàn chỉnh đồng bộ. Phương án chiến đấu đã được phê chuẩn. Công trình chiến đấu được tu sửa và được xây dựng thêm các trận địa hoả lực bảo đảm cho chiến đấu. Đạn dược các loại bảo đảm từ 3-6 cơ số. Lương thực, thực phẩm dự trữ từ 3 tháng trở lên. Thuốc quân y thường xuyên đảm bảo 4 tháng. Khả năng chiến đấu của đảo đủ sức đánh địch tập kích, biệt kích; đánh địch đổ bộ đường biển.

Trên các tuyến phòng thủ ven biển, biên giới, thành phố, thị xã đã có kế hoạch từng bước triển khai xây dựng các cụm chiến đấu liên hoàn giữa các hệ thống làng, xã chiến đấu với lực lượng dân quân tự vệ, bộ đội, công an nhân dân vũ trang. Hai mươi ba huyện, thị xã ven biển, 6 thành phố, thị xã là tỉnh lỵ và nguyên là tỉnh lỵ, 13 huyện trung du, đồng bằng đã có phương án tác chiến, phương án phòng – chống bạo loạn nội địa, được cấp trên phê duyệt. Nhiều nơi đã tổ chức luyện tập theo phương án tác chiến đề ra. Các đơn vị bộ đội chủ lực cơ động, các trung đoàn binh chủng và chuyên môn phục vụ được củng cố một bước.

Quân khu đã tiến hành điều chỉnh, sắp xếp, ghép gọn một số đầu mối thuận tiện cho việc chỉ đạo, xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; chuyển một số đơn vị kinh tế sang làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Trình độ, khả năng chiến đấu của các đơn vị bảo đảm được yêu cầu sẵn sàng cơ động và phục vụ chiến đấu.

Quân khu tập trung nâng cao chất lượng chiến đấu của bộ đội chủ lực cơ động; đồng thời chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng theo phương hướng: Có lực lượng tại chỗ mạnh để bảo vệ địa phương và sẵn sàng chi viện chiến trường khi cần thiết.

Bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương được biên chế, tổ chức đúng tổng quân số theo quy định. Ngoài số cán bộ được điều động theo từng thời kỳ, trong năm 1978, Quân khu đã bổ sung 3 khung trung đoàn bộ binh cho Quân khu 2, bổ sung Trung đoàn 2, Sư đoàn 316 cho Quân khu 9; 1 tiểu đoàn và 1 đại đội công binh cầu phà cho Quân khu 1 và Quân đoàn 3; 71 tiểu đoàn chiến sĩ mới cho các đơn vị phía Nam.

Cuối năm 1978, Quân khu tiếp tục kiện toàn, củng cố Sư đoàn 337 bộ binh và Trung đoàn 222 cao xạ để bàn giao cho Binh đoàn 678; huấn luyện đợt 3 gồm 15.000 chiến sĩ mới ở Sư đoàn 441, Sư đoàn 442 và Trung đoàn 8531. Trong năm 1978, Quân khu đào tạo được 2.852 tiểu đội trưởng và nhân viên kỹ thuật; trong đó có 1.900 tiểu đội trưởng, đáp ứng yêu cầu phát triển của quân đội.

Xác định rõ huấn luyện là nhiệm vụ trung tâm, cấp bách, toàn Quân khu đồng loạt ra quân huấn luyện và hoàn thành chương trình cả năm đúng thời gian quy định. Nhiều đơn vị huấn luyện tốt như các trung đoàn 16 pháo binh, 214 cao xạ, 206 xe tăng, 80 thông tin; các sư đoàn 441, 442, các trường quân chính, hậu cần và bộ đội địa phương 3 tỉnh (Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá, Bình Trị Thiên).

Công tác huấn luyện cán bộ được tiến hành tích cực, đồng bộ, khẩn trương đối với cả ba thứ quân, cả bộ binh và binh chủng. Quân khu đã tổ chức được 27.868 lượt cán bộ bồi dưỡng tại chức, 9.876 bổ túc và đào tạo tại trường (bao gồm một số nhân viên kỹ thuật), trong đó 3.549 đã ra trường, là một nỗ lực lớn.

Việc huấn luyện cấp phân đội làm gọn từng phân đội, bảo đảm yêu cầu sẵn sàng chiến đấu, đồng bộ cả kỹ thuật, điều lệnh, đạt kết quả tương đối tốt: cơ bản đi đôi với ứng dụng, lý thuyết gắn với thực hành, huấn luyện gần sát yêu cầu chiến đấu. 80% số xã, 64% đầu mối đơn vị tự vệ đã huấn luyện được 221.582 lượt người, trong đó có 179.164 du kích, 42.418 tự vệ, tổ chức diễn tập 164 xã và cụm chiến đấu.

Dân quân du kích và tự vệ có bước phát triển mới về số lượng, chất lượng và tổ chức. Trong tổng số 765.532 dân quân du kích và dân quân tự vệ, có 266.841 nòng cốt du kích và 80.394 tự vệ chiến đấu. Lực lượng du kích tự vệ được tổ chức theo 3 cấp độ: Lực lượng chiến đấu tại chỗ 3.912 tiểu đội, 7.040 trung đội, 1.638 đại đội, 53 tiểu đoàn, 11 trung đoàn. Lực lượng chiến đấu cơ động có 67 tiểu đội, 1.600 trung đội, 203 đại đội, 60 hải đội2 và lực lượng phục vụ chiến đấu gồm 4.416 trung đội, 164 tiểu đội.

Quân dự nhiệm Quân khu được sắp xếp, lập danh sách biên chế ở các tỉnh Nghệ An, Thanh Hoá, Bình Trị Thiên được 3 trung đoàn, 18 tiểu đoàn, 19 đại đội, 1 trung đội3.

Công tác quân sự địa phương chuyển hướng mạnh mẽ và đúng hướng, có mục tiêu, biện pháp rõ ràng, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp tại chỗ để bảo vệ Quân khu, góp phần bảo vệ Tổ quốc.
______________________________________________
1. Trong năm 1978 dù điều kiện khó khăn, hai Sư đoàn 441, 442 và Trung đoàn 853 đã huấn luyện hai đợt gồm 51.209 chiến sĩ mới, đáp ứng kịp thời yêu cầu bổ sung cho các đơn vị.
2. Riêng Thanh Hoá có 50 hải đội hoạt động trên biển.
3. Đến tháng 9-1978, ở Thanh Hoá quân dự bị động viên có 1 sư đoàn bộ binh hoàn chỉnh cho Bộ; 3 trung đoàn bộ binh hoàn chỉnh cho tỉnh; 4 tiểu đoàn công binh và 4 tiểu đoàn pháo cao xạ cho Quân khu 4; 6 tiểu đoàn bộ binh hoàn chỉnh cho 5 huyện miền biển và một huyện miền núi Quan Hoá; 6 đại đội bộ binh cho 6 huyện miền núi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #46 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2024, 11:44:06 am »


Giữa Quân khu và địa phương có sự nhất trí cao trên một số vấn đề cơ bản, nhất là xây dựng tuyến phòng thủ ven biển, biên giới, chống bạo loạn nội địa, xây dựng và phát huy sức mạnh của lực lượng vũ trang vào nhiệm vụ kinh tế và quốc phòng. Ba tỉnh đã tổ chức được 31 vạn dân quân tự vệ sản xuất lao động tập trung trên các công trình thủy lợi của tỉnh và các huyện theo kiểu "quân sự hoá", trong đó Thanh Hoá có 14 sư đoàn, 6 trung đoàn, 1 tiểu đoàn; Nghệ An có 1 sư đoàn, 10 trung đoàn, 19 tiểu đoàn; Bình Trị Thiên có 5 sư đoàn, 8 trung đoàn, 4 tiểu đoàn và 1 binh đoàn.

Công tác tuyển quân trong năm 1978 tiến hành 3 đợt. Quân khu và các địa phương xác định tuyển quân là công tác trung tâm đột xuất, khắc phục khó khăn về nhu cầu ăn ở, sinh hoạt, phương tiện vận chuyển đã hoàn thành các chỉ tiêu tuyển quân. Đợt 1: 31.579 nam, vượt chỉ tiêu 100,04%; 2.171 nữ, vượt chỉ tiêu 100,97%. Đợt 2: 29.733 nam, vượt 100,01%; 16.390 nữ, đạt 99,06%.

Đợt 3 là 15.108 người; vượt 100,07%. So với năm 1977, số lượng tuyển quân năm 1978 tăng gấp 3,7 lần, cao hơn cả so với những năm cao nhất thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.

Trong xây dựng kinh tế, các đơn vị triển khai toàn diện theo tinh thần Nghị quyết Quân ủy Trung ương và Đảng ủy Quân khu, đúng kế hoạch và có nhiều biện pháp thực hiện định mức, chỉ tiêu, kế hoạch cụ thể, đã hình thành được một số đầu mối làm kinh tế của Nhà nước, định hình được một số đơn vị, có cơ sở vật tư, vốn, trang bị, thiết bị và tạo được một số tay nghề. Giá trị tổng sản lượng năm 1978 đạt 11. 401.380/12.562.000 đồng = 88,99% (trong đó lâm nghiệp 449.500/620.000 đồng = 72,5%; xây lắp 5.576.260/9.752.000 đồng = 57,18%; công nghiệp 2.246.100/2.280.000 = 98,4%).

Quân số làm kinh tế đến ngày 31-12-1978 là 8.995/12.700 (so với biên chế mới chiếm 70,8%), đạt được 87% mức tổng giá trị sản lượng giao cho 12.700 người. Năng suất lao động đạt 1.112,66 đồng/người/năm.

Quân khu chấn chỉnh, tổ chức các đoàn an dưỡng kịp thời, bao gồm Đoàn 200 của Quân khu, Đoàn 585 Thanh Hoá, nhanh chóng tiếp nhận thương binh, bệnh binh ở các chiến trường về. Đồng thời, tổ chức ôn thi trung cấp, đại học cho số quân nhân thuộc diện giải quyết chính sách đạt kết quả cao: Vào đại học 255/293 người, đạt 87%; trung cấp 158/229 người, đạt 54%.

Công tác hậu cần - kỹ thuật luôn lấy nhiệm vụ trung tâm hàng đầu là bảo đảm chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và xây dựng lực lượng; tập trung mọi cố gắng bảo đảm tốt cho lực lượng trực tiếp chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu ở "C" (Lào) và ở các trọng điểm của Quân khu, phục vụ nhiệm vụ tuyển quân, huấn luyện, tổ chức xây dựng lực lượng mới, bổ sung lực lượng, trang bị cho các đơn vị.

Mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng Quân khu vẫn bảo đảm cho lực lượng ở A (làm nhiệm vụ trong Quân khu và trong nước) có đủ một cơ số đạn, một cơ số xăng dầu, 7-10 ngày gạo. Riêng ở đảo bảo đảm 3 tháng lương thực, thực phẩm, 2-5 cơ số đạn, thuốc cấp cứu, điều trị chiến thương đủ cơ số. Đồng thời, bảo đảm phục vụ đầy đủ, kịp thời mọi trang bị vật chất và tổ chức vận chuyển hành quân nhập trạm giao liên, bàn giao bổ sung đi các hướng 3 khung trung đoàn bộ binh, 1 đại đội và 1 tiểu đoàn công binh, 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 sư đoàn (324), 1 trung đoàn (176). Ngoài ra Quân khu còn bảo đảm 35.568 cán bộ, chiến sĩ, cung cấp 82 khẩu pháo, 462 đầu đạn pháo tăng cường cho các đơn vị ở phía trước. Đồng thời, Quân khu triển khai một bước những vấn đề cơ bản lâu dài đối với nhiệm vụ xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân ở các địa phương và nhiệm vụ phòng thủ bảo vệ Quân khu.

Trong năm 1978, nhu cầu về nhà ở cho bộ đội lớn, vật tư khó khăn, thêm vào đó lụt bão gây thiệt hại mất 36.339m2. Các đơn vị đã làm mới 102.492m2 nhà ở các loại; sửa chữa 517.760m2, trong đó xây dựng nhà ở, bệnh viện, đoàn an dưỡng đạt 110% - 115% kế hoạch chỉ tiêu, tự giải quyết nhu cầu ở của đơn vị được 90%, ván giường nằm được 80%. Quân khu cũng xây dựng được 13.001m2 nhà kho, dồn dịch 150 khẩu pháo, 109 xe, 28 bể chứa xăng dầu, 253 tấn khí tài, phụ tùng xe máy, bảo dưỡng 2.911 tấn đạn, 100% số xe đến kỳ hạn đều được sửa chữa, bảo dưỡng đúng chế độ. X46 làm được 330 mặt hàng, bảo dưỡng súng bộ binh được 90,95%, xe xích 58,7%, máy chỉ huy 66,67%.

Lực lượng làm các công trình quốc phòng hoàn thành tốt nhiệm vụ, bảo đảm thời gian, khối lượng chất lượng tốt1. Công trình ở các khu vực trọng điểm đến tháng 6 năm 1978 đã bảo đảm cho bộ đội sẵn sàng chiến đấu. Do thiên tai bão lụt gây ra, nên một số công trình vĩnh cửu phải sang năm 1979 mới hoàn thành2.

Quân khu tích cực triển khai cuộc vận động rèn luyện kỷ luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Chất lượng chiến đấu của ba thứ quân tiến bộ rõ rệt, đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu trước mắt, cơ sở để phát triển chất lượng lên một trình độ mới.

Trong tình hình lương thực, thực phẩm, các nhu yếu phẩm cực kỳ khó khăn, việc sản xuất thêm được 1kg thóc, chăn nuôi thêm được một lạng thịt, cá đều có ý nghĩa rất thiết thực, không chỉ với bản thân cuộc sống người cán bộ, chiến sĩ mà cả với sự nghiệp cách mạng và với mỗi gia đình họ3. Vì thế, các đơn vị tích cực tranh thủ thời vụ sản xuất vụ đông - vụ xuân, phấn đấu quyết liệt để có nhiều điển hình tự túc được lương thực từ 4 đến 6 tháng.

Sau một thời gian, việc chuẩn bị đối phó với "tình huống chiến tranh xâm lược lớn" nhằm vào đất nước ta và Quân khu đã đạt được một số thành tựu; chuẩn bị đề phòng "tình huống chiến lược 1" song chất lượng chưa cao. Nhiều mặt cơ bản về xây dựng tuyến phòng thủ và thế trận chiến tranh nhân dân mới triển khai bước đầu. Thế và lực nền quốc phòng toàn dân vẫn còn nhiều nhược điểm lớn, nhất là khả năng kinh tế còn thấp; đặc biệt là dự trữ hậu cần còn mỏng. Miền Tây chưa được cải tạo và xây dựng đáp ứng tình hình mới.

Chất lượng các lực lượng vũ trang nói chung còn thấp. Ba thứ quân phát triển chưa ngang tầm nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức chưa hoàn thiện, quân số còn thiếu. Chất lượng chiến đấu chưa cao. Lực lượng hậu bị tổ chức và xây dựng chưa tốt. Khả năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa theo kịp yêu cầu. Sự phát triển của cơ quan quân sự địa phương chưa đáp ứng kịp nhiệm vụ mới. Quản lý bộ đội, quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật chưa chặt chẽ. Quản lý lao động, quản lý sản xuất còn nhiều thiếu sót, năng suất thấp, còn lãng phí nhân lực, đời sống của bộ đội còn nhiều khó khăn. Đây là nhiệm vụ Quân khu cần phải nỗ lực phấn đấu mạnh mẽ hơn nữa để đạt thành tích to lớn, đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ.
______________________________________________
1. Công trình bán vĩnh cửu và dã chiến ở các khu vực trọng điểm hoàn thành đúng kế hoạch. Khối lượng bê tông đã đổ 416m3, đào và xây dựng 8 giường pháo 85 - 130mm với 8.895m3. Toàn bộ công sự hoả khí, trận địa pháo, đường hầm pháo (16 cái), công sự ẩn nấp lắp ghép (80 cái) đều tu sửa lại.
2. Khối lượng công trình vĩnh cửu thực hiện được 416m3/593,5m3.
3. Thời bấy giờ, mỗi lần về phép mang theo chục ký gạo, chai nước mắm, lạng mì chính đều là niềm vui cho cán bộ, chiến sĩ và gia đình. Có trong cảnh ngộ ngày 29, 30 Tết còn đi xếp hàng mua vài ký nếp, vài gói chè "chín hào ba" (tức là 3 gói 0,9 đồng), mấy lạng thịt... mà có lúc, có nơi đến lượt mình lại không còn, mới thiết tha, thấm thía ý nghĩa sâu sắc, thiết thực của chủ trương tự túc lương thực, thực phẩm.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #47 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2024, 11:44:57 am »


Nghiên cứu quán triệt quyết định (số 21/QĐ-TW ngày 17-6-1978) của Bộ Chính trị, Thường vụ Đảng ủy Quân khu nhận thấy việc thành lập Bộ chỉ huy quân sự thống nhất các tỉnh, thành phố là vấn đề mới, rất phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ địa bàn Quân khu và các địa phương trong tình hình mới. Ngày 3-9-1978, Thường vụ Đảng ủy Quân khu đề xuất ý kiến với Thường vụ Tỉnh ủy ba tỉnh thành lập bộ chỉ huy thống nhất các tỉnh, đồng thời xác định rõ về nhiệm vụ và các mổỉ quan hệ.

Việc thành lập cơ quan chỉ huy thống nhất các tỉnh nhằm bảo đảm thống nhất lãnh đạo, chỉ huy chặt chẽ các lực lượng vũ trang, lực lượng công an, động viên nhân dân tham gia chiến đấu đánh địch, xây dựng tuyến phòng thủ biên giới, bờ biển, hải đảo, huy động nhanh chóng lực lượng phía sau lên phía trước, phát hiện và đập tan các cuộc bạo loạn trong nội địa.

Về nhiệm vụ Bộ chỉ huy quân sự thống nhất, trên cơ sở quyết định của Bộ Chính trị, vận dụng vào vị trí, đặc điểm của các tỉnh vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phương, Quân khu đề nghị và được các tỉnh nhất trí:

1. Xây dựng lực lượng vũ trang, lực lượng công an vững mạnh, có sức chiến đấu cao, thực sự sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống.

2. Xây dựng tuyến phòng thủ biên giới, bờ biển, hải đảo, nội địa, bảo vệ vững chắc địa bàn Quân khu, địa bàn các tỉnh.

3. Kịp thời phát hiện, đập tan các cuộc bạo loạn trong nội địa tỉnh.

4. Chi viện cho các tỉnh biên giới, cho các hướng về sức người, sức của một cách đầy đủ, kịp thời nhất, chất lượng tốt nhất.

5. Xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, chỉ huy tập trung, thống nhất, tiến hành chiến tranh nhân dân ở địa phương, tiêu diệt bất cứ kẻ thù nào khi chúng có âm mưu, hành động gây chiến tranh xâm lược, đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của chúng, kết hợp chặt chẽ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và sản xuất.

Thường vụ Đảng ủy Quân khu đề nghị tổ chức, phân công trách nhiệm theo đúng quy định của Bộ Chính trị, trong đó nêu rõ: Bộ (ban) chỉ huy quân sự thống nhất làm việc tập thể, bàn bạc thống nhất, nhưng tổ chức thực hiện phân công cụ thể chức trách, nhiệm vụ chỉ huy trưởng, chính ủy, phó chỉ huy trưởng, phó chính ủy (ở cấp xã là chính trị viên, chỉ huy trưởng); trong đó, chỉ huy trưởng và chính ủy là thủ trưởng chịu trách nhiệm chỉ huy phụ trách chung.

Chỉ huy trưởng: Nắm vững tình hình mọi mặt về quân sự ở địa phương, đề xuất các vấn đề về kế hoạch tác chiến, xây dựng lực lượng, xây dựng quốc phòng toàn dân để Bộ chỉ huy quân sự thống nhất nghiên cứu tập thể bàn bạc, thảo luận thống nhất. Chịu trách nhiệm chủ trì tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của Bộ chỉ huy quân sự thống nhất.

Chính ủy: Trên cơ sở nắm vững các chủ trương, Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Quân khu ủy, Tỉnh ủy, các chỉ thị, mệnh lệnh của Bộ tư lệnh Quân khu về nhiệm vụ quân sự; căn cứ vào tình hình thực tiễn địa phương mà đề xuất các vấn đề, chủ yếu là ý định, quyết tâm, nhiệm vụ quân sự, an ninh chính trị của địa phương để Bộ chỉ huy quân sự thống nhất bàn bạc, thảo luận. Chính ủy (là Bí thư Tỉnh ủy) chủ trì các cuộc họp của Bộ chỉ huy quân sự thống nhất. Theo dõi, chỉ đạo, uốn nắn việc triển khai các nhiệm vụ, kế hoạch đã được xác định. Đề đạt với cấp ủy, chính quyền giải quyết những vấn đề mà Bộ chỉ huy quân sự thống nhất thảo luận đề xuất.

Sáu mối quan hệ (bao gồm với Quân khu; Tỉnh ủy; Ban chỉ huy quân sự thống nhất huyện, thành, thị, phường xã; với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh; các ngành, đoàn thể trong tỉnh; với bộ đội chủ lực Quân khu, chủ lực của Bộ đóng tại địa phương hoặc tham gia chiến đấu ở địa phương) cùng các chế độ sinh hoạt, lề lối làm việc và các bước triển khai thực hiện. Thường vụ Đảng ủy Quân khu đề nghị Thường vụ các tỉnh ủy nghiên cứu kiện toàn cơ quan chỉ huy quân sự tỉnh theo quyết định Bộ Chính trị, đồng chí phụ trách quân sự có chân trong thường vụ cấp ủy, bảo đảm thành phần cơ cấu để tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của cấp ủy đối với công tác quân sự địa phương.

Thực hiện cuộc vận động "Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu" của các lực lượng vũ trang nhân dân, do Ban Bí thư Trưng ương Đảng và Quân ủy Trung ương chủ trương, Thường vụ Đảng ủy Quân khu thống nhất với các tỉnh và chỉ thị cho các đơn vị "lấy ngày 22-12-1978 làm ngày phát động thực hiện trong khắp Quân khu".

Căn cứ vào chỉ thị của Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu, Cục Chính trị hướng dẫn cụ thể việc triển khai thực hiện. Các cấp ủy đều có chỉ thị, nghị quyết, đề ra chỉ tiêu, kế hoạch, mức phấn đấu theo nhiệm vụ chính trị của đơn vị, địa phương. Thường vụ Tỉnh ủy ba tỉnh (Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên) có chỉ thị, hướng dẫn thực hiện cuộc vận động trong các ngành, các cấp, trong lực lượng vũ trang và ngoài nhân dân, phân công theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện. Các đồng chí Thường vụ Tỉnh ủy trực tiếp chuyển đạt nội dung, yêu cầu, mục tiêu cuộc vận động cho các bí thư huyện, thành, thị ủy, các trưởng ban, ngành, đoàn thể và cơ quan xí nghiệp, công nông trường đóng trên địa bàn.

Hưởng ứng cuộc vận động lớn, tỉnh Thanh Hoá tổ chức hội nghị liên tịch thanh niên trong và ngoài quân đội, phát động xung kích trên 2 mặt trận chiến đấu và sản xuất.

Nhiều huyện, cơ quan, xí nghiệp ở tỉnh Nghệ Tĩnh thông qua việc thành lập các trung đoàn, hải đoàn dân quân tự vệ để phát động cuộc vận động. Các đơn vị mới thành lập như các sư đoàn 318, 348, 358, các đơn vị mới hành quân từ phía Nam ra như 284, 453 đều được chỉ đạo triển khai kịp thời; lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra bằng nhiều hình thức, biện pháp phong phú (tổ chức các buổi học tập chính thức chỉ thị cuộc vận động, đọc báo, phát thanh gắn với phát động thi đua Quyết thắng, đón danh hiệu Anh hùng, tổ chức các buổi diễn đàn trong thanh niên, sinh viên, trong sinh hoạt văn hoá văn nghệ, trong dịp kỷ niệm ngày 22-12...). Nhìn chung, các lực lượng vũ trang nhân dân trong Quân khu và nhân dân nhận thức rõ đây là cuộc vận động lớn, không chỉ trong lực lượng vũ trang nhân dân mà là của toàn Đảng, toàn dân. Năm mục tiêu cuộc vận động được gắn vào mọi kế hoạch, chương trình, nội dung hành động thi đua.

Thời gian này, trên địa bàn Quân khu chưa có chiến sự trực tiếp, nhưng địa bàn quốc tế được phân công cho lực lượng vũ trang quân khu đảm nhiệm, chiến sự đã xảy ra. Cuộc chiến đấu của các đơn vị quân tình nguyện đã phát triển sang một bước mới. Trên biên giới phía Bắc những hành động khiêu khích, trinh sát, lấn chiếm diễn ra với nhịp độ ngày càng tăng. Lực lượng vũ trang quân khu phát triển nhanh, nhiều đơn vị mới thành lập, quân số động viên tuyển quân nhiều. Nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu đặt ra hết sức cấp bách, khẩn trương. Tất cả lực lượng hướng về tuyến 1, tập trung cho tuyến 1, dồn sức cho tuyến 1, phải triển khai với khối lượng công tác rất lớn trên các mặt xây dựng kinh tế, lao động sản xuất, giúp bạn Lào.

Cuộc vận động được phát động đã góp phần tạo động lực thúc đẩy mọi cấp, mọi ngành, mọi đơn vị, địa phương phát huy, huy động sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #48 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2024, 01:19:11 pm »


3. Phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân Lào giải phóng Phu Bia, giúp bạn tạo thế và lực mới.

Lợi dụng những khó khăn của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào sau chiến tranh chủ nghĩa đế quốc tiến hành âm mưu chiến lược "hậu chiến", thúc đẩy bọn phản động điên cuồng chống phá cách mạng Lào; tiếp sức cho bọn phản động lưu vong trở về kết hợp với bọn phản động nội địa tiến hành phá hoại toàn diện cả quân sự, chính trị, kinh tế. Khoảng 2 vạn tên phản động nội địa ra sức tuyên truyền xuyên tạc chế độ mới, trong đó âm mưu gây chia rẽ mối quan hệ Việt - Lào, kích động bạo loạn ở nhiều nơi. Bọn phỉ Vàng Pao khôi phục hoạt động trên một số căn cứ ở Tây Nam Xiêng Khoảng, Long Chẹng, Phu Bia, Bom Lọng, đường số 9. Chúng dùng vũ trang uy hiếp, khống chế, cưỡng ép nhân dân chạy ra rừng hoặc vượt biên lập các căn cứ phỉ; tổ chức các cuộc tập kích cơ quan lãnh đạo, chính quyền, phục kích đánh phá các tuyến giao thông đường 7, 9, 13, hòng gây hoang mang trong nhân dân, gây rối loạn trật tự an toàn xã hội và an ninh chính trị, uy hiếp, cô lập các thành phố, trung tâm chính trị quan trọng, nhất là thủ đô Viên Chăn, thị xã Sa Va Na Khẹt, mưu toan lật đổ chính quyền cách mạng Lào.

Theo yêu cầu của bạn, từ giữa năm 1976, Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho một bộ phận quân tình nguyện Việt Nam lần lượt trở lại Lào kịp thời tăng cường lực lượng cơ động trên các địa bàn chiến lược quan trọng, sát cánh cùng bạn bảo vệ an toàn một số khu vực giặc uy hiếp ở Bắc và Nam Viên Chăn, Sa Va Na Khẹt. Đối với Quân khu 4, ngay khi các đơn vị quân tình nguyện hoàn thành nhiệm vụ rút về nước, Trung đoàn 176 được lệnh để lại 2 tiểu đoàn và 1 đại đội giúp đỡ bạn trên địa bàn Đôn Viêng, Mường Mộc. Đây là nhiệm vụ quốc tế trong điều kiện hoàn cảnh mới đòi hỏi phải làm tốt công tác tư tưởng cho bộ đội.

Ngày 24-4-1976, Quân khu 4 chỉ thị cho Trung đoàn 176 tiếp tục ở lại làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Lào. Chỉ thị nêu rõ: "Tăng cường đoàn kết hợp tác lâu dài về mọi mặt giữa hai Đảng và nhân dân hai nước là nhân tố cực kỳ quan trọng bảo đảm cho thắng lợi mỗi nước. Giúp bạn là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài của Đảng và nhân dân ta, của quân đội ta cũng như của lực lượng vũ trang quân khu".

Mới được lệnh rút quân về nước, nay lại tiếp tục để một bộ phận lực lượng ở lại phối hợp với bạn "phát động quần chúng diệt và thu phục phỉ, giữ vững địa bàn Mường Mộc, Mường Mày", trung đoàn không tránh khỏi những khó khăn về nhiều mặt: Vừa lo cho hành quân lực lượng về nước an toàn, vừa xây dựng phương án sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu ở phía trước, “một chốn đôi quê”. Bao năm xây dựng, chiến đấu nơi chiến trường xa, chưa có dịp về phép, gặp gỡ gia đình, nay cán bộ, chiến sĩ lại tiếp tục những năm tháng phân tán hoạt động nhỏ lẻ, dài ngày nơi vùng sâu, vùng xa, địa bàn rộng, phức tạp, gian khổ, thiếu thốn, hiểm nguy, ở phía Tây Trường Sơn. Trong khi đó, ở phía Đông Trường Sơn, Tổ quốc đã bước vào thời kỳ hoà bình xây dựng, gia đình mong người thân ruột thịt trở về sum họp.

Tuy vậy, khi được quán triệt tình hình, nhiệm vụ mới, thấy rõ âm mưu, thủ đoạn của địch, cán bộ, chiến sĩ trong trung đoàn, từ người về cho đến người ở lại, đều chủ động, tự giác nêu cao tinh thần và ý chí chiến đấu, tiếp tục xây dựng chương trình, chỉ tiêu hành động, phấn đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ. Tiểu đoàn 42 và 43 ở lại. Tiểu đoàn 44 cùng cơ quan trung đoàn và các đơn vị trực thuộc về nước, nhanh chóng củng cố tổ chức, tiến hành tổng kết rút kinh nghiệm, triển khai kế hoạch xây dựng, huấn luyện và luôn hướng về hai tiểu đoàn và một đại đội ở phía trước, sẵn sàng lên đường khi có lệnh.

Tình hình ở Lào tiếp tục diễn biến phức tạp, khẩn trương và căng thẳng. Ngày 20-10-1976 tại sở chỉ huy Quân khu, thay mặt Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 4, Thiếu tướng Lê Tự Đồng, Bí thư Đảng ủy - Chính ủy Quân khu công bố Mệnh lệnh Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 3241, được tăng cường Trung đoàn 335 (quân tình nguyện vừa về nước) và một tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp sẵn sàng cơ động làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào; mật danh là "nhiệm vụ X". Quán triệt mật lệnh của Bộ Quốc phòng, tình thế đang đặt ra đối với các đơn vị làm nhiệm vụ quốc tế là: "Hành động, âm mưu của địch phản kích đối với thắng lợi của ba nước Đông Dương lúc này là khẩn trương. Do đó, nhiệm vụ của các đơn vị củng phải khẩn trương, ra sức chuẩn bị trong một thời gian ngắn, bảo đảm giúp bạn kịp thời và chủ động nhất"2. Theo tinh thần đó Sư đoàn 324 nhanh chóng triển khai mọi mặt công tác chuẩn bị về quân sự, chính trị, hậu cần - kỹ thuật, xây dựng quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao: "Tích cực, chủ động, khẩn trương, chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng, bằng lực lượng mạnh, đủ sức hành động nhanh chóng, bí mật, bất ngờ, kịp thời giúp bạn, phối hợp với bạn đập tan mọi âm mưu bạo loạn, lấn chiếm, lật đổ của địch, kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chính quyền nhân dân của bạn trong mọi tình huống, yêu cầu trực tiếp và cao nhất là phải bảo vệ bằng được địa bàn và mục tiêu chỉ định, nhất là mục tiêu chủ yếu"3. Đồng thời với chỉ thị của Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, công tác chính trị trong các bước chuẩn bị, tổ chức hành quân; trong nhiệm vụ phối hợp chiến đấu và công tác với bạn; trong công tác tổ chức, cán bộ chính sách, hậu cần, kỹ thuật đã được chuẩn bị tỷ mỷ, quán triệt sâu rộng đến từng tiểu đội, từng người.
______________________________________________
1. Sư đoàn trưởng Sư đoàn 324 Nguyễn Duy Sơn và Chính ủy Nguyễn Trọng Dần nhận nhiệm vụ.
2, 3. Hồ sơ CT137 - Lưu trữ Quân khu 4.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #49 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2024, 01:22:24 pm »


Ngày 27-10-1976, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức hội nghị cán bộ trung cấp, cao cấp chủ trì trong các lực lượng vũ trang quân khu. Hội nghị tập trung nghiên cứu âm mưu của chủ nghĩa đế quốc chống phá cách mạng ba nước Đông Dương, đặc điểm tình hình địa bàn và chiến trường Lào, nhất là những âm mưu, thủ đoạn tổ chức lực lượng phản động và các hoạt động chống phá của chúng từ sau ngày đất nước Lào giành thắng lợi.

Yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ phải nhận rõ: "Mối quan hệ mới giữa ta và bạn là quan hệ đặc biệt, quan hệ liên minh chiến đấu giữa hai nước đều có Nhà nước, có chủ quyền, cùng nhau bảo vệ và xây dựng. Mỗi nước phải tự bảo vệ mình là chính, đồng thời giúp đỡ bảo vệ lẫn nhau. Ta giúp đỡ và hợp tác với bạn để bạn đủ sức tự bảo vệ vững chắc đất nước và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội"1. Quán triệt nhiệm vụ quốc tế, Quân khu cần làm tốt "nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu để bảo vệ biên giới hữu nghị, thực hiện nghĩa vụ quốc tế của lực lượng vũ trang quân khu"2.

Sự có mặt kịp thời của một bộ phận quân tình nguyện Việt Nam thuộc Quân khu 4 tại Lào theo yêu cầu của bạn, tạo thế và lực hỗ trợ, phối hợp với bạn, làm cho địch hoang mang, dao động, lúng túng3. Chúng cố duy trì các hoạt động bình thường và tăng cường hơn, nhưng buộc phải thay đổi phương thức hoạt động. Một số nơi, chúng rút vào rừng. Tình hình ổn định chưa được bao lâu thì đến năm 1977, "chính sách 2 mặt" của đế quốc Mỹ và tay sai (vừa duy trì quan hệ ngoại giao diễn biến hoà bình, vừa nuôi dưỡng các lực lượng phản động từng bước tăng cường hoạt động bạo loạn lật đổ) đối với cách mạng Lào càng diễn biến phức tạp, nhất là ở các vùng Đông, Đông Bắc Viên Chăn (25 - 30km) Luông Nậm Thà, Xiêng Khoảng, Khăm Muộn4.

Những hoạt động khiêu khích, tập trung quân ở biên giới Lào - Thái, xâm phạm vùng trời, tuần tiễu trên sông, đánh chiếm một số đảo thuộc chủ quyền Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào trên dòng Mê Kông nhằm 2 mục đích: vừa đối phó với lực lượng yêu nước Thái, vừa hỗ trợ cho bọn phản động chống phá cách mạng Lào, làm môi giới cho bọn này móc nối với đế quốc phương Tây.

Lợi dụng những khó khăn về kinh tế của Lào, giới cầm quyền Thái Lan đóng cửa khẩu để gây sức ép với Chính phủ Lào.

Bọn phản động Lào lưu vong thành lập các tổ chức "Đảng cứu nước Lào", "Ủy ban cứu nước người Mông", "Ủy ban người Lào tự do", "Lực lượng mũ nồi xanh"... Chúng được các thế lực đế quốc tạo điều kiện chuyển lực lượng về nước và đứng chân dọc biên giới, mưu toan móc nối lập chính phủ lưu vong.

Ngày 22-3-1977 trong cuộc họp "Ủy ban cứu nước" tại U Bon, chúng hình thành cơ cấu chỉ huy quân sự, phân chia các khu vực hoạt động, chỉ huy thống nhất, có Bộ tư lệnh tối cao và hai Tư lệnh ở Bắc Lào, Nam Lào. Mưu toan của chúng là gây bạo loạn lật đổ chính quyền Viên Chăn.

Trên những khu vực quan trọng và nơi cơ sở cách mạng còn yếu, chúng cài người vào các tổ chức chính quyền, móc nối lôi kéo những người cả tin, nhất là số có chuyên môn kỹ thuật, kỹ sư, bác sĩ, phi công, nhân viên cao cấp ngụy quyền cũ chạy theo chúng; hoặc đẩy mạnh hoạt động vũ trang, kết hợp lực lượng ngầm gây rối phá hoại kho tàng, đường ống, tổ chức cướp lương thực, vũ khí để giải quyết khó khăn về tiếp tế hậu cần, gây hoang mang, mất ổn định trong nhân dân các bộ tộc Lào.

Những địa bàn bạn và ta truy quét mạnh như đường 13, Bắc Viên Chăn đi Luông Pra Băng, Phu Bia, Keng Koóc, chúng phân tán lực lượng, né tránh, cố bám trụ và tìm cách phản kích giành giật lại địa bàn. Lực lượng vũ trang phản động được tổ chức thành 36 tiểu đoàn, trong đó có 24 tiểu đoàn ở nội địa. Mục đích phản kích của đế quốc, phản động nhằm vào cách mạng Việt Nam, nơi chúng cho là thành trì cách mạng Đông Dương và Đông Nam Á.

Theo yêu cầu của bạn, ngày 18-4-1977, Bộ Quốc phòng nước ta ra lệnh cho Quân khu 4 cử tiếp lực lượng sang giúp bạn. Chấp hành mệnh lệnh của Bộ, Bộ tư lệnh Quân khu giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 324 sử dụng Trung đoàn 335 và 1 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp sang địa bàn Xa La Phu Khun, Mường Ca Xỉ, kịp thời cùng bạn ngăn chặn âm mưu, hành động phá hoại của địch.

Thực hiện nhiệm vụ Bộ tư lệnh Quân khu giao, Sư đoàn phó Minh Long và Phó chính ủy sư đoàn Lê Văn Dánh cùng một số cán bộ cơ quan sư đoàn tổ chức thành Bộ tư lệnh tiền phương, hành quân cùng với các đơn vị sang Lào.

Sau hai ngày nhận lệnh, Trung đoàn 335 do Trung đoàn trưởng Lại Thế Cường và Chính ủy Lò Văn Nhài chỉ huy, được phối thuộc Tiểu đoàn 1 xe tăng thiết giáp của Quân khu (do tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Ngãi và chính trị viên Nguyễn Thu Ba chỉ huy) rời địa bàn trú quân Con Cuông, Tương Dương (Nghệ An) vượt cửa khẩu Nậm Cắn.
_______________________________________________
1. Chỉ thị Công tác chính trị trong nhiệm vụ phối hợp chiến đấu và công tác với bạn (Hồ sơ 144/CT - Lưu trữ Quân khu 4).
2. Hồ sơ 15/QK4 - Lưu trữ Quân khu 4.
3. Âm mưu địch định phá hoại dịp Quốc khánh Lào (2-12) bị đập tan.
4. Chúng tiếp tay cho phỉ ở Phu Bia phục kích giao thông, gây áp lực với chính quyền ở một số địa phương, tăng cường chiến tranh tâm lý; đặc biệt trong dịp Tết cổ truyền “Xỉp Xoòng Tu Lan"; tìm cách gây rối ở một số đô thị, vùng đông dân. Từ ngày 10 đến ngày 17-3-1977, chúng đột nhập các bản Na Soa, bản Hai, bản Pháo, bản Na Than, cách Viên Chăn 25km về phía đông bắc Viên Chăn, bắt 23 du kích và 50 người dân. Ngày 23-3 chúng phục kích đoàn xe chở gạo ở Nậm Ngừm. Ngày 1-4, chúng từ biên giới tiến công Đang Xeng (đông Viên Chăn 30km).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM