Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:21:12 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005)  (Đọc 76556 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #50 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2024, 03:45:50 pm »


Ngày 24-4-1977 các đơn vị xuất phát. Toàn bộ đội hình hành quân bằng cơ giới đã vượt qua chặng đường dài 700km qua nhiều rừng núi, lắm dốc, nhiều suối, vừa đi vừa sẵn sàng chiến đấu chống địch tập kích đến vị trí tập kết vào ngày 26-4-1977 an toàn.

Sự có mặt của một lực lượng mạnh, đã quen tác chiến trên chiến trường Lào nhiều năm sớm hơn dự kiến 2 ngày, kịp thời tạo thế và lực mạnh mới trên các địa bàn Xa La Phu Khun, Mường Ca Xỉ, Phôn Hồng và đoạn giao thông huyết mạch từ Huội Mọ vào Mường Trà trên quốc lộ 13.

Suốt hơn một tháng sát cánh cùng bạn truy quét liên tục, mạnh mẽ, Trung đoàn 335 và Tiểu đoàn 1 tăng thiết giáp đã buộc quân địch phải rút chạy về căn cứ; không dám trắng trợn, liều lĩnh phá hoại. Chính quyền cách mạng của bạn được củng cố và xây dựng lại ở các vùng mới giải phóng1.

Tuy nhiên, trên các địa bàn xung quanh thủ đô Viên Chăn và những vùng phụ cận, địch tiếp tục tăng cường các hoạt động phục kích, tập kích, đánh chặn các đoàn xe của bạn. Chúng móc nối với các cụm phỉ đột nhập vào các làng bản, khống chế chính quyền, đốt phá nhà cửa, cướp bóc của cải, bắt thanh niên đi phỉ, cưỡng ép dân vào rừng theo chúng2.

Ngày 17-7-1977, lãnh đạo cấp cao nhất của hai Đảng, hai Nhà nước Việt - Lào ký kết hiệp ước hữu nghị hợp tác toàn diện, đoàn kết đặc biệt giữa hai nước nhằm tăng cường các mốì quan hệ hợp tác giúp đỡ lẫn nhau về quân sự, quốc phòng - an ninh.

Ngày 22-7-1977, Phó Thủ tướng - Bộ trưởng Quốc phòng nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Phó Thủ tướng - Bộ trưởng Quốc phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thay mặt Chính phủ hai nước ký Hiệp định hợp tác quân sự Việt - Lào. Điều 2 Hiệp định ghi rõ: “Trong trường hợp một trong hai nước bị đế quốc, lực lượng phản động xâm lược và đe dọa tấn công thì hai bên sẽ kịp thời tiến hành mọi biện pháp quân sự, phối hợp hành động, nhằm loại trừ sự đe dọa tiến công hoặc làm thất bại sự tấn công đó”.

Trước tình hình mới, ngày 18-10-1977, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra chỉ thị "Về việc tăng cường đoàn kết Việt – Lào". Căn cứ vào 4 nhiệm vụ Trung ương quy định và quyết định của Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Đảng ủy Quân khu chỉ thị về công tác chính trị cần tiến hành đối với Sư đoàn 324 trong công tác chuẩn bị toàn sư đoàn tiếp tục làm nghĩa vụ quốc tế trên đất nước Lào anh em, mang mật danh là “Nhiệm vụ X”.

Ngày 20-10-1977, Trung tướng Lê Quang Hoà - Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu giao nhiệm vụ cho Sư đoàn: “Chuẩn bị lên đường làm nhiệm vụ quốc tế, cùng lực lượng vũ trang nước bạn Lào sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, kịp thời đập tan những hoạt động gây rối, bạo loạn, lật đổ của bọn phản động bên trong và bọn xâm nhập từ bên ngoài, bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc, giữ vững chính quyền cách mạng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được giao, với phương châm: Cơ bản, toàn diện, liên tục, lâu dài3. Ngày 27-10-1977, Bộ tư lệnh Quân khu quán triệt tình hình, nhiệm vụ mới và phân tích âm mưu, thủ đoạn, tổ chức lực lượng của địch ở Lào, nhằm vận dụng vào công tác huấn luyện sẵn sàng chiến đấu sát đúng thực tế cho lực lượng vũ trang quân khu.

Ngày 16-11-1977, Tư lệnh Quân khu ra mệnh lệnh giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 324, bao gồm 6 điểm:

1. Có kế hoạch và biện pháp tổ chức nắm chắc tình hình mọi mặt trong phạm vi phụ trách.

2. Luôn luôn sẵn sàng chiến đấu, kịp thời cơ động phối hợp với bạn đập tan các cuộc bạo loạn lật đổ, giữ vững chính quyền cách mạng ở Viên Chăn, Luông Pra Băng. Sẵn sàng cơ động lên Xay Nha Bu Ri.

3. Trực tiếp hỗ trợ bạn thu phục phỉ ở Phu Bia, Mường Ca Xỉ.

4. Giúp xây dựng Trung đoàn 203 (bộ đội chủ lực) cho bạn.

5. Giúp bạn xây dựng thị trấn Bản Son.

6. Xây dựng sư đoàn thành đơn vị chủ lực cơ động, chính quy theo tiêu chuẩn sư đoàn loại 1. Tăng cường Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 206) xe tăng cho sư đoàn4.

Thực hiện mệnh lệnh của Tư lệnh Quân khu sư đoàn cử đoàn cán bộ, do Sư đoàn phó Ma Vĩnh Lan dẫn đầu, có Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 Trương Văn Núp, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 3 Đinh Xuân Bài sang trước nghiên cứu tình hình. Đoàn xuất phát từ Tân Kỳ theo đường 8 lên Căm Cớt, Vang Đạo đến Viên Chăn vào Bản Son, Bản Chiềng, Mường Ca Xỉ, Na Mon và dừng lại ở Văng Viêng, nơi sẽ đặt sở chỉ huy, tiếp tục bổ sung hoàn chỉnh phương án tác chiến.
______________________________________________
1. Tháng 5 năm 1977, Trung đoàn 335 cùng với bạn giải phóng hơn 5.000 dân ở Nậm Cáp. Tháng 7 và tháng 8 đánh Phu Kho, Thoong Hắc, Thoong Khun, Phu He, giải phóng 1.000 dân. Tháng 9 năm 1977, 2 tiểu đoàn vào “thay chân" cho bạn giữ vững và phát triển thế trận ở Mường Chà.
2. Đến tháng 8 năm 1977, xung quanh thủ đô Viên Chăn có 15 toán phản động với hơn 400 tên cả bọn lưu vong từ các căn cứ phỉ tung về phá hoại.
3. Chỉ thị 476/CT - Lưu trữ Quân khu 4.
4. Cùng thời gian này, Sư đoàn 968, thuộc quyền chỉ huy Quân đoàn 2 được giao nhiệm vụ sang Lào làm nhiệm vụ thay phiên cho Sư đoàn 325 ở Trung - Hạ Lào trên địa bàn từ thị xã Thà Khẹt đến Không Xê Đôn - Pắc Xế. (Mệnh lệnh của Thiếu tướng Lê Ngọc Hiển - Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và Chỉ thị số 500/CT của Bộ Tổng Tham mưu, ngày 6-12-1977).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #51 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2024, 03:47:34 pm »


Cùng ngày 16-11-1977, Trung đoàn 2 (Sư đoàn 324) được điều động giao cho Quân khu 4 trực tiếp chỉ huy làm nhiệm vụ trung đoàn bộ binh cơ động, sau đó bổ sung làm nhiệm vụ ở biên giới Tây Nam. Tiểu đoàn 4 bổ sung cho Lữ đoàn 176.

Mệnh lệnh hành quân do Tư lệnh Quân khu Lê Quang Hoà ký (số 624/CT ngày 16-11-1977) quy định phương tiện hành quân của Sư đoàn 324 bằng cơ giới đến triển khai trên các khu vực thuộc tỉnh Viên Chăn. Đường hành quân theo trục quốc lộ 7 đến ngã ba Xa La Phu Khun, ra đường 13 đi về Mường Ca Xỉ và Hin Hợp (khoảng 650 - 700km).

Đội hình lấy trung đoàn làm khối hành quân, chia làm 2 đợt

Đợt 1, từ ngày 1 đến ngày 5-12-1977 gồm Trung đoàn 3, Trung đoàn 1 bộ binh và Trung đoàn 4 pháo binh. Sở chỉ huy sư đoàn và một bộ phận trực thuộc hành quân cùng các đơn vị trong đợt này bằng cơ giới.

Đợt 2, từ ngày 23 đến ngày 30-12-1977, các đơn vị còn lại hành quân tiếp1. Trung đoàn 414 công binh bắc 2 phà ở Tri Lễ, 1 phà 25 tấn ghép 1 làn xe, 1 phà 40 tấn ghép 2 làn xe. 6 giờ ngày 30 tháng 11 bắt đầu hoạt động.

Ngày 6-12-1977, Bộ Tổng Tham mưu ra Mệnh lệnh số 12/ML-TM, quy định cụ thể thêm: Điều Sư đoàn 324 sang Bắc Lào phối hợp cùng bạn vừa chiến đấu, vừa tham gia công tác xây dựng trên khu vực được phân công (Viên Chăn, Luông Pra Băng, Cánh Đồng Chum trong đó 1 trung đoàn từ Xa La Phu Khun đến Ca Xỉ; 1 trung đoàn từ Bản Son đến Mường Chà, Phu Bia; 1 trung đoàn và sư đoàn bộ cùng các đơn vị trực thuộc từ cầu Hin Hợp trở lên).

Sư đoàn được tăng cường 3 tiểu đoàn gồm 1 tiểu đoàn xe tăng của Quân khu, 1 tiểu đoàn để tăng gia sản xuất của đơn vị; 1 tiểu đoàn làm nhiệm vụ kinh tế giúp bạn. Thời gian triển khai xong đội hình chiến đấu 30-12-1977, Tổng cục Hậu cần huy động 100 xe đến Sư đoàn 324 (ở Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh) để làm nhiệm vụ. Lương thực do Quân khu 4 bảo đảm cho sư đoàn hết tháng 12-1977.

Để tiện lãnh đạo, chỉ huy, Bộ tư lệnh Quân khu 4 điều Tiểu đoàn 28 huấn luyện của Sư đoàn 324 về trực thuộc Trung đoàn 2 và bàn giao xong trước ngày 31-12-1977.

Cùng ngày 6-12-1977, Bộ Tổng Tham mưu ban hành Chỉ thị số 99/CT-TM về nhiệm vụ của Trung đoàn 176. Chỉ thị nêu rõ: Căn cứ vào những nội dung đã thống nhất với bạn và thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tham mưu giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 176 Quân khu 4:

1. Phối hợp với bạn sẵn sàng đập tan âm mưu bạo loạn của địch tại thị trấn Pắc Xan. Bảo đảm giao thông đường 13 và đường 8.

2. Làm công tác dân vận, truy quét phỉ, bảo vệ mục tiêu quân sự ở Phu Ma Thao và Mường Mộc.

3. Giúp bạn xây dựng các lực lượng vũ trang.

4. Làm tốt công tác xây dựng trên địa bàn đóng quân.

5. Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.

6. Chuẩn bị chiến trường phục vụ phương án tác chiến trước mắt và lâu dài.

Ngày 10-1-1978, toàn bộ lực lượng của Sư đoàn 324 tập kết đầy đủ tại các vị trí quy định. Sư đoàn triển khai ngay việc nắm tình hình địa bàn, xây dựng xong kế hoạch tác chiến tại chỗ. Đồng thời, xây dựng nhà ở, trồng rau, tổng kết đánh giá, rút kinh nghiệm cuộc hành quân, sinh hoạt chính trị quán triệt nhiệm vụ, xây dựng ý chí, quyết tâm chiến đấu. Sư đoàn tiếp tục chỉ đạo, chỉ huy tăng cường mọi mặt công tác chuẩn bị cho Trung đoàn 335 bước vào chiến dịch Phu Bia của Mặt trận 1A.

Ngày 21-1-1978, phương án và quyết tâm chiến đấu giải phóng Phu Bia được thông qua lần cuối gồm 2 bước: Bước 1, trung đoàn cử 2 tiểu đoàn bộ binh và 1 đại đội thiết giáp tham gia chiến dịch, có 2 đại đội giữ phía sau. Bước 2, tiểu đoàn thứ 3 của trung đoàn tham gia chiến dịch theo kế hoạch được Bộ Tổng Tham mưu phê duyệt.

Bộ chỉ huy mặt trận dự kiến kế hoạch tác chiến từng cụm. Mỗi cụm giải quyết trong 2 tháng. Giữa từng giai đoạn dành từ 15 - 20 ngày làm công tác chuẩn bị. Quyết tâm giải phóng hoàn toàn Phu Bia vào cuối năm 1978.
______________________________________________
1. Mệnh lệnh giao cho Trung đoàn công binh 414 bắc xong phà Tri Lễ trước ngày 30-11 bảo đảm cho sư đoàn vượt sông. Tiểu đoàn 34 (Trung đoàn 654 Quân khu 4) gồm 70 xe, tiểu đoàn vận tải của Bộ Quốc phòng 100 đại xa và xe vận tải của Sư đoàn 324 bảo đảm vận chuyển. Phòng Thông tin Quân khu bảo đảm thông tin thông suốt cả quá trình hành quân.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #52 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2024, 03:48:37 pm »


Ngày 2 tháng 2, Bộ tư lệnh Quân khu báo cáo mọi mặt tình hình chuẩn bị chiến đấu của Sư đoàn 324, Trung đoàn 335 và Trung đoàn 176 lên Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và công tác chuẩn bị của các đơn vị đánh chiếm Phu Bia.

Phu Bia là một căn cứ của bọn phỉ lâu năm, trải rộng trên một diện tích khoảng 2.500km2. Địa hình rất hiếm trở, rừng rậm, lèn cao, đá tai mèo, nhiều chỗ vực sâu, thành đá dựng đứng cao hàng trăm mét. Trong các lèn đá có nhiều hang động đầy những ngóc ngách hiểm yếu. Địa hình này có lợi cho địch trong phòng thủ cũng như trong đánh quần, đánh vòng và cả khi lẩn trốn, tháo chạy. Ngược lại, đối với liên quân Việt - Lào khi tổ chức tiến công phải khắc phục hàng loạt khó khăn về bảo đảm hậu cần tiếp tế, tiếp cận trinh sát nắm tình hình; đặc biệt là khi phát triển tiến công rất khó phát huy tác dụng của hỏa lực, hỏa khí và khó cơ động lực lượng.

Lợi dụng thế hiểm yếu đó, địch tổ chức bố trí phòng thủ trên ba cụm chủ yếu: Cụm 1, từ Mường Chà đến Mường Ao, xuống phía nam Pha Khang; cụm 2, từ Mường Chà đi Po-lo-co chếch lên phía bắc Pha Khếch, Pha Khao, Pha Đeng và cụm 3, từ Phu Bia kéo về phía Bắc.

Theo kế hoạch 4 giờ 30 phút sáng 10-2-1978, pháo binh liên quân đồng loạt bắn vào các mục tiêu trong cụm 1, mở màn chiến dịch giải phóng Phu Bia. Trước đó, ngày 6 tháng 2, bạn và ta chiếm Phu He, tây nam Phu Bia 25km để nghi binh, thu hút sự chú ý của địch.

Từ ngày 10 đến ngày 15 tháng 2, địch mất tiếp các vị trí Pha Khảo, Mường Om, Mường Ao, bản Nậm Phen.

Đến 26-3-1978, ta và bạn đã loại khỏi vòng chiến đấu 985 tên địch, làm bị thương 737, bắt 375 tên, kiểm soát 65% khu đất căn cứ của địch. Tinh thần binh lính địch sa sút nghiêm trọng. Lương thực khan hiếm, cạn kiệt. Hơn 4.500 dân trong khu vực địch kiểm soát bỏ chạy về phía biên giới Lào - Thái.

Sau gần bốn tháng chiến đấu liên tục, bạn và ta giải phóng vùng rừng núi rộng lớn từ điểm cao 1500, Phu Ka-nin, Mường Om, Keo Mo-na đến phía nam Phu Sẩm Liêm, Mường Ao, Pha Phay.

Giai đoạn đầu phối hợp chiến đấu giữa ta và bạn kết thúc thắng lợi. Nhưng do ta tấn công không liên tục, địch có thời gian củng cố lực lượng phản công gây cho ta thương vong 108 cán bộ, chiến sĩ.

Trong khi đó, hàng nghìn dân bị dịch cưỡng bức chạy theo vào rừng sâu, nước độc, ốm đau, đói rét hoành hành. Mùa mưa đến, kéo dài, càng gây thêm nhiều đau khổ, khó khăn cho người dân đói ăn, bệnh dịch phát sinh. Với quyết tâm diệt nhiều địch, phá tan sào huyệt của chúng, không cho chúng có điều kiện, thời gian nhen nhóm trở lại; cứu nhân dân thoát khỏi sự kiểm soát của địch, Bộ chỉ huy liên quân xác định quyết tâm tổ chức tiến công giải phóng Phu Bia trong thời gian sớm nhất.

Trong giai đoạn 2 chiến dịch mục tiêu tiến công là khu vực xung quanh Phu Bia. Theo kế hoạch, các đơn vị đã khắc phục mọi khó khăn do mưa lũ, sốt rét, bệnh tật và bom đạn, chông bẫy của giặc gây ra. Sau một thời gian mở cuộc tấn công, đến chiều ngày 29-9-1978, liên quân đã quét sạch bọn địch ở xung quanh khu vực Phu Bia; giải phóng hơn một vạn dân, làm chủ địa bàn rộng lớn từ Phu Hoa đến Phu Lếch về Phu Ka-nin.

Trước thắng lợi có ý nghĩa to lớn này, ngày 30-9-1978, Bộ Quốc phòng nước bạn và Bộ Quốc phòng nước ta đã gửi điện khen ngợi các đơn vị tham gia lập công xuất sắc trong 2 đợt chiến dịch. Bức điện Bộ Quốc phòng nước ta nêu rõ:... “Bộ nhiệt liệt biểu dương chiến thắng giải phóng Khang Tu Ngốc. Chiến thắng đó là kết quả của tinh thần chiến đấu dũng cảm, của tình đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể của Sư đoàn 324 với các đơn vị Quân đội nhân dân Lào. Phát huy thắng lợi đã đạt được, các đồng chí hãy tiếp tục tiến lên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng Phu Bia”.

Để đạt tới mục tiêu giải phóng hoàn toàn Phu Bia, theo phương châm tác chiến: “Diệt nhiều sinh lực địch, phá tan sào huyệt của chúng, không cho chúng có điều kiện khôi phục, nhen nhóm lại, nhưng phải cứu được dân, gìn giữ an toàn tính mạng cho dân...”, Bộ chỉ huy liên quân quyết định giao tiếp nhiệm vụ cho Sư đoàn 324 gấp rút chuẩn bị phương án tác chiến và bảo đảm hậu cần giúp bạn tổ chức đợt tổng công kích, giải phóng toàn bộ Phu Bia.

Mùa mưa lũ đến, lưu lượng nước rất lớn. Nhiệt độ giữa ngày và đêm chênh nhau có lúc hơn chục độ. Các phân đội trinh sát len lỏi trong rừng rậm, lèn đá đến khu vực dân nắm tình hình tuyên truyền dân ủng hộ và đến các vị trí địch nắm tình hình bố phòng của chúng, tìm đường cơ động cho các mũi, các hướng của ta.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #53 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2024, 03:52:07 pm »


Ngày 18 tháng 10, trinh sát ta gặp địch ở các điểm cao 2553 1877, 2468, 2510. Ở các vùng Nậm Cay, Nậm Chia, chúng cài mìn dày đặc, tạo thành vành đai phòng thủ kiên cố. Chúng còn thúc ép dân gặt lúa chuyển vào vùng sâu, tìm mưu kế chống phá cách mạng Lào.

Cán bộ liên quân tìm mọi cách tiếp cận nắm chắc tình hình để đánh tốt nhất, giành thắng lợi mà ta thương vong ít nhất. Đặc điểm hoạt động của bọn phỉ tại đây là luôn luôn cưỡng ép dân, mua chuộc dân, tổ chức dân cùng co cụm lại thành căn cứ phòng thủ nhiều tầng; khi không chống nổi thì lợi dụng thế quen thuộc địa bàn rừng núi, đường sá để rút vào rừng sâu, lèn đá, tổ chức đánh du kích. Để tiếp tế cho những đơn vị thọc sâu ở địa hình hiểm trở, bạn phải dùng máy bay lên thẳng chuyên chở khi thời cơ cho phép. Được tin ta chuẩn bị đánh, nhiều đồng chí còn sốt rét, hoặc vết thương chưa lành hẳn, cũng hăng hái xung phong trở về đơn vị tham gia chiến đấu.

Đêm 27 tháng 10, ta và bạn tập kết ở một cánh rừng già. 6 giờ 30 phút sáng 28 tháng 10, các mũi, các hướng có mặt ở vị trí xuất phát tiến công. Từ ngày 3 đến ngày 12-11-1978, ta vừa đánh, vừa tổ chức vây hãm, gọi hàng và đánh chiếm toàn bộ các điểm cao xung quanh sào huyệt chính của bọn phỉ ở Phu Bia. Cuộc chiến diễn ra quyết liệt ở các khu vực Nậm Cang, Nậm Chia, Nọng Xang; các điểm cao 1521, 1807, bản Phu Cút. Địch dựa vào lèn cao, hang đá tổ chức chống trả điên cuồng. Đến sáng ngày 1 tháng 11 khi điểm cao 1807 bị liên quân chiếm, địch buộc phải lùi về phòng ngự; nhưng vẫn thường xuyên tổ chức phản kích, hòng chọc thủng vòng vây. Trong thế khốn quẫn về tiếp tế, lại bị đánh liên tục, tinh thần địch hoang mang sa sút.

Trước tình hình đó, Sư đoàn trưởng Nguyễn Duy Sơn và chỉ huy trưởng mặt trận, đồng chí Bun Chăn cùng các cấp lãnh đạo, chỉ huy ráo riết đốc thúc chuẩn bị cho đợt tổng công kích. Trước giờ nổ súng, các cấp nhắc nhở bộ đội nắm vững thời cơ, vây chặt, tiến công kiên quyết, không để địch chạy thoát. Phát huy thắng lợi, 7 giờ ngày 13-11-1978, tiểu đoàn tập trung mở đợt công kích cuối cùng vào sào huyệt địch ở Phu Bia. Suốt ba giờ chiến đấu, đến 10 giờ ngày 13-11-1978, liên quân hoàn toàn làm chủ Phu Bia. Cờ chiến thắng của cách mạng Lào tung bay trên đỉnh Phu Bia, báo hiệu chiến dịch Phu Bia đã kết thúc thắng lợi.

Trải qua 200 ngày đêm chiến đấu kiên cường, bền bỉ, Sư đoàn 324 đã thực hiện nghiêm mệnh lệnh và nhiệm vụ phối hợp với bạn chiến đấu, góp phần tích cực và hiệu quả làm tan rã toàn bộ căn cứ bọn phỉ ở Phú Bia, giải phóng 5.000 dân, thu 2.000 súng các loại, 30 máy thông tin, nhiều phương tiện chiến tranh khác. Do tầm quan trọng của địa bàn rộng 2.500km2 này, từ lâu địch đã xây dựng trở thành một trong hai căn cứ phỉ lớn nhất trên đất nước Lào. Đây là lần đầu tiên Phu Bia được giải phóng1. Đánh giá ý nghĩa thắng lợi Phu Bia, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào nêu rõ: "Chiến thắng Phu Bia là một trong những thắng lợi to lớn nhất của cách mạng Lào, kể từ sau chiến thắng mùa Xuân 1975"2.

Ngày 22-12-1978, Trung tướng Xa-mán Vi-nha-kệt - Ủy viên Bộ Chính trị - Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Lào, thay mặt Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Lào long trọng gắn Huân chương Ít-xa-la hạng Nhất lên Quân kỳ Quyết thắng của Sư đoàn 324.

Tại Hội nghị cán bộ Đảng toàn Quân khu 4 - hội nghị lần đầu của Đảng bộ Quân khu sau Đại hội lần thứ IV của Đảng, đã đánh giá cao kết quả thực hiện nhiệm vụ chiến đấu giúp bạn Lào "thực hiện nghiêm túc, đáp ứng những yêu cầu cơ bản của Bộ đề ra, đã đưa lực lượng đến đứng lúc, khẩn trương chặn đứng mưu đồ gây bạo loạn của địch trên một địa bàn quan trọng”3.

Trước tình hình cách mạng Lào phải đối phó với nguy cơ xâm lược từ bên ngoài và bọn phản động nội địa tăng cường hoạt động, Bộ Quốc phòng nước ta quyết định điều động một số đơn vị thuộc Quân khu 4 đi làm nhiệm vụ mới. Sư đoàn 324, Trung đoàn 176 và tiểu đoàn 1 xe tăng - thiết giáp đang hoạt động ở Lào thuộc Quân khu 4 được điều về trực thuộc Binh đoàn 6784.

Trong khi Sư đoàn 324 và Trung đoàn 176 đang chiến đấu, mọi công tác chuẩn bị, bàn giao vẫn được chủ động tiến hành rất khẩn trương.
______________________________________________
1. Ngoài ra còn có những đợt chiến thắng khác: Tháng 6-1978, ta đánh chiếm bản Nậm Noi, Phu Keo. Tháng 9-1978, ta đánh chiếm Nậm Buộc và Na Khang. Tháng 11-1978, ta chiếm Mường Ca Xỉ. Tại khu vực Viên Chăn, bạn và ta theo dõi, phát hiện, phá các hoạt động tình báo, gián điệp, chiến tranh tâm lý và xây dựng lực lượng ngầm của địch. Trên dọc tuyến đường 12 ở Phu San, địch lén lút hoạt động nhằm âm mưu đánh phá giao thông của bạn tại Na Khăn, Nậm Lô, Noọng Đơn, Pác Thuôi. Ngày 27-9-1978, bạn và ta phối hợp tiến công khu vực Nậm Tếch, diệt một số tên, gọi hàng 100 tên.
2. Hồ sơ B24, trang 232, Lưu trữ Cục Chính trị Quân khu 4.
3. Hồ sơ 49/QKU4 - Lưu trữ Quân khu 4.
4. Binh đoàn 678 quân tình nguyện Việt Nam thành lập ngày 28-6-1978 gồm 3 sư đoàn bộ binh (324, 968, 337), một số phân đội bộ binh, phân đội binh chủng và bộ đội chuyên môn đang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #54 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2024, 01:02:18 pm »


Ngày 26-9-1978, tại Sở chỉ huy Quân khu 4 (Đại Huệ - Nam Đàn), Bộ tư lệnh Quân khu 4 và Bộ tư lệnh 678 ký biên bản bàn giao Sư đoàn 324, Trung đoàn 176 và Tiểu đoàn 1 xe tăng thiết giáp thuộc Binh đoàn 678. Sau phần bàn giao ở cấp lãnh đạo, chỉ huy cao nhất, các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật Quân khu và Binh đoàn tiến hành bàn giao cụ thể theo chuyên ngành.

Trong biên bản bàn giao giữa Quân khu và Binh đoàn 678 đã ghi nhận công lao của Sư đoàn 324 "là sư đoàn chủ lực cơ động của Bộ, được xây dựng, tổ chức trên địa bàn Quân khu 4, tham gia chiến đấu liên tục trên các chiến trường miền Nam nhiều trận với quy mô, hình thức, đối tượng qua nhiều chiến dịch, trong đó chiến dịch Mậu Thân 1968, sư đoàn có mặt trong cuộc bám trụ 25 ngày tại thành phố Huế; chiến dịch giải phóng Quảng Trị 1972 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sư đoàn và các trung đoàn 1, 3, 5; các tiểu đoàn 4, 7, 10, 16; đội 16 (Trung đoàn 1), Đại đội 6 (Trung đoàn 2), Đại đội 2 (Tiểu đoàn 10, Trung đoàn 4), Đại đội 3 (Tiểu đoàn 16, Trung đoàn 4) cùng 3 cán bộ được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".

Đối với Trung đoàn 176, ghi rõ: "Thành lập năm 1973, là đơn vị chủ lực cơ động độc lập chiến đấu của quân tình nguyện Quân khu 4 trên chiến trường Lào. Qua nhiều thời kỳ, trung đoàn luôn phát huy tinh thần cách mạng tiến công, tự lực, tự cường, phát huy truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam, giữ vững tình đoàn kết Việt - Lào, chủ động khắc phục khó khăn, liên tục sát cánh cùng bạn chiến đấu và công tác, liên tục hoàn thành nhiệm vụ, trưởng thành toàn diện, gắn bó với bạn, được bạn tin yêu".

Với tinh thần trách nhiệm cao cả, Đảng ủy, Bộ tư lệnh và các cơ quan Quân khu đã tổ chức chu đáo mọi mặt công tác chuẩn bị về tư tưởng, tổ chức, chính sách, hậu cần, kỹ thuật, phương tiện bảo đảm vật chất, tổ chức bàn giao các đơn vị thuộc Quân khu 4 cho Binh đoàn 678 theo đúng các chế độ quy định.

Theo quyết định của Bộ Quốc phòng, lực lượng vũ trang Quân khu 4 đảm nhận nhiệm vụ trên các địa bàn mà Sư đoàn 324 và Trung đoàn 176 vừa rút đi.

Nhiệm vụ cụ thể là cùng bạn xây dựng kế hoạch, nắm tình hình địa bàn phụ trách, sẵn sàng dập tắt các vụ gây rối, bạo loạn phản cách mạng. Phối hợp với các lực lượng vũ trang và nhân dân bạn thu phục phỉ, trực tiếp giúp bạn xây dựng lực lượng quân sự, xây dựng kinh tế và chính trị. Xây dựng, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ trưởng thành, xây dựng đơn vị gương mẫu về chính quy, hiện đại, tự túc một phần lương thực, thực phẩm.

Địa bàn được bàn giao cho Quân khu 4 phụ trách gồm: Tỉnh Viên Chăn chủ yếu khu vực thành phố Viên Chăn, Pắc San, Bản Son, Phu Bia, Văng Viêng, Mường Ca Xỉ. Quân khu sử dụng ở tiểu đoàn của Sư đoàn 31, Trung đoàn 229, Tiểu đoàn 27 công binh tăng cường bảo đảm giao thông tuyến đường 7 Xảm Thông - Long Chẹng, bao gồm làm mới 60km, sửa chữa 175km, bảo đảm 287km phục vụ vận chuyển trên tuyến đường 7A, từ Xiêng Khoảng đi Tha Viêng, từ Lạt Luông đi Xảm Thông.

Trên hướng đường 8 - Khăm Muộn, Tiểu đoàn 27 được điều động lên hướng Viên Chăn, còn lại Tiểu đoàn 37 công binh (có mặt ở Lào từ 1975) tiếp tục phụ trách các đường 8 - đường 13, đường 8B, đường 12. Tỉnh Xiêng Khoảng, chủ yếu ở khu vực Cánh Đồng Chum, Mường Mộc do Đoàn 565 phụ trách từ Bản Bay - Phôn Xa Vẳn.

Một phần tỉnh Khăm Muộn, chủ yếu trục đường 8B, Đôn Viêng, trục đường 13 từ Hin Bun đi Pắc Xan do Đoàn 336 phụ trách.

Địa bàn phụ trách không thay đổi, nhưng tính chất và cường độ hoạt động của địch có nhiều thay đổi, nên các đơn vị phải thường xuyên tăng cường bám sát tình hình, sẵn sàng chiến đấu cao.

Cùng với việc điều động Sư đoàn 324, Trung đoàn 176, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam quyết định giao cho Quân khu 4 đảm trách xây dựng Đoàn 337 (từ Tổng cục Xây dựng kinh tế về trực thuộc Binh đoàn 678). Nhiệm vụ là: xây dựng thành một sư đoàn bộ binh (gồm 3 trung đoàn bộ binh, cơ quan sư đoàn, đơn vị trực thuộc sư đoàn và 1 trung đoàn pháo) theo biên chế của Bộ. Tháng 8-1978, Tổng cục Xây dựng kinh tế bàn giao Đoàn 337 cho Quân khu 4.

Ngày 1-10-1978, Đội 145 Bộ Tham mưu Quân khu 4 (gồm 10 đảng viên, 26 đoàn viên thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh) được điều về Cục Tình báo. Ngày 26 tháng 10, Bộ tư lệnh Quân khu 4 quyết định điều Sư đoàn 565 đang làm nhiệm vụ lâm nghiệp tại lâm trường Nam Long Đại (Quảng Bình) sang làm nhiệm vụ xây dựng đường 7B giúp bạn Lào, từ Bản Bay đến Phôn Xa Vẳn.

Để chủ động đối phó với tình huống phức tạp do địch gây ra trên địa bàn phía Tây, ngày 9-2-1979, đồng chí Lê Quang Hoà - Bí thư Đảng ủy Quân khu thay mặt Thường vụ Đảng ủy chỉ thị cho các lực lượng vũ trang quân khu "Ra sức tăng cường xây dựng thật tốt mối quan hệ hữu nghị đặc biệt và liên minh Việt – Lào". Sau khi điểm lại quá trình sát cánh cùng nhau chiến đấu chống kẻ thù chung suốt mấy chục năm ròng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Thường vụ Đảng ủy Quân khu khẳng định: “Ra sức tăng cường xây dựng thật tốt mối quan hệ hữu nghị đặc biệt và liên minh Việt - Lào là vấn đề sống còn của hai nước, là quy luật phát triển của sự nghiệp giải phóng, xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân hai nước. Lực lượng vũ trang Quân khu 4, nhất là cán bộ, chiến sĩ các đơn vị trực tiếp làm nhiệm vụ giúp bạn, cần phải hiểu sâu sắc và cố gắng tới mức cao nhất việc hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao cũng như trong việc giữ gìn mối quan hệ nhân dân, quân đội, cấp ủy và chính quyền bạn".

Thường vụ Đảng ủy yêu cầu các cấp lãnh đạo chỉ huy và mỗi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên quán triệt sâu sắc và thực hiện 7 nội dung cơ bản; trong đó xác định phương châm "giúp bạn là cơ bản, toàn diện, lâu dài và có hiệu lực", lấy việc xây dựng và giữ gìn tốt mối quan hệ với bạn làm mục đích, xây dựng phong trào địa phương vững mạnh và xây dựng con người mới làm cơ sở. Đồng thời lấy chiến đấu giỏi, xây dựng kinh tế có hiệu quả cao, đoàn kết tốt, kỷ luật nghiêm.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #55 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2024, 01:04:00 pm »


Bộ tư lệnh Quân khu 4 giao cho Trung đoàn 245 làm nhiệm vụ xây dựng nông trường Bắc Hin Bun1 bao gồm: Tổ chức khảo sát, thiết kế, xây dựng nông trường, chủ yếu sản xuất lương thực, thực phẩm. Việc khảo sát, điều tra cơ bản, quy hoạch phải làm toàn diện, tạo cơ sở cho xây dựng lâu dài; sẵn sàng làm nhiệm vụ chiến đấu tại chỗ. Đồng thời giúp Đảng bộ, chính quyền địa phương bạn xây dựng cơ sở, đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân theo yêu cầu của bạn. Giữ vững và tăng cường đoàn kết với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương của bạn.

Nhằm bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ và thống nhất đầu mối quan hệ với bạn, Quân khu giao cho Đảng ủy và Bộ tư lệnh Đoàn 336 lãnh đạo, chỉ huy, quản lý mọi mặt đối với Trung đoàn 245. Riêng về mặt nghiệp vụ do Quân khu chỉ đạo. Cục Kinh tế Quân khu được giao chủ trì hiệp đồng với các cơ quan, với Đoàn 565 (quản lý Trung đoàn 245) và Đoàn 336 (bên nhận) giải quyết các mặt bảo đảm cho Trung đoàn 245. Ngày 25-2-1979 trung đoàn bắt đầu hành quân. Nhiệm vụ cụ thể của trung đoàn được xác định:

1. Xác định nông trường Hin Bun là nông trường của bộ đội, làm hai nhiệm vụ: sản xuất và sẵn sàng chiến đấu. Nông trường do Bộ Quốc phòng Việt Nam giúp xây dựng theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng Lào, phải đầu tư xây dựng thật tốt.

2. Ngân sách, vật tư, thiết bị để xây dựng cơ bản và sản xuất trước mắt do Bộ Quốc phòng Việt Nam đầu tư, sau đó đề nghị Nhà nước cấp.

3. Quy hoạch tổng thể trước mắt của nông trường, việc xây dựng nông trường với lực lượng 1.000 người và kế hoạch hai năm 1979-1980 được giao cho Quân khu 4 làm, trình Bộ duyệt. Theo phương hướng Bộ phê duyệt, cần có kế hoạch làm từng bước phù hợp với khả năng, vừa thiết kế đồng ruộng, vừa phát triển sản xuất, đảm bảo có hiệu quả kinh tế nhanh và thiết thực, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu cao, phối hợp với bạn để bảo vệ địa phương, tham gia xây dựng cơ sở, khắc phục những ổ phỉ lẻ đang hoạt động ở địa phương.

Để đáp ứng với tình hình Lào phát triển, đòi hỏi cần tiếp tục điều chỉnh tổ chức lực lượng phù hợp.

Ngày 11-11-1979, Bộ Tổng Tham mưu quyết định, các đơn vị của Quân khu 4 (cũng như của các Tổng cục, quân khu, quân đoàn, binh chủng khác) làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế trên đất Lào được đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Binh đoàn 678 về mặt sẵn sàng chiến đấu và duy trì trật tự an ninh vùng đóng quân2.

Đối với Trung đoàn 185, Đoàn 336, Trung đoàn 245, Bộ tư lệnh Quân khu báo cáo Bộ Quốc phòng đề nghị những giải pháp tạo điều kiện cho các đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ. Báo cáo của Bộ tư lệnh Quân khu nêu rõ: từ tháng 4-1978, Trung đoàn 185 đã hành quân lên đường 7, Đoàn 336 đã lên đường 8; đầu năm 1979, Trung đoàn 245 lên nông trường Bắc Hin Bun. Các đơn vị khẩn trương triển khai nhiệm vụ. Nhưng kết quả bị hạn chế, không thực hiện được kế hoạch (đường 7 mới làm được 29% khối lượng mặt đường, 40% số công trình. Đường 8 chỉ mới làm móng, rải cấp phối, chưa có nhựa làm mặt đường, chưa có thiết kế công trình. Năm 1978, Đoàn 336 chỉ làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông).

Các đơn vị đã cố gắng khắc phục mọi khó khăn, đưa được 50% xe máy vào thi công cả mùa mưa, song năng lực xe máy, phương tiện đều chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Khi mùa khô đến không đủ vật tư bảo đảm tiến độ; thi công vào mùa mưa lại gặp nhiều khó khăn, trở ngại về khí hậu, thời tiết.

Đối với nông trường Bắc Hin Bun thì sau khi khắc phục nhiều khó khăn, ổn định vị trí, làm xong khảo sát quy hoạch tổng thể đã trình Bộ từ ngày 16-6-1979. Do chưa được phê duyệt nên chưa triển khai tiếp các bước.

Quân khu đề nghị với Bộ: Bổ sung quân số theo yêu cầu nhiệm vụ trên từng hướng3. Bộ cho Quân khu một số thiết bị chủ yếu (trong đó 18 lu cán đường, 30 ô tô ben, 30 ô tô vận tải, 6 máy phát điện 45KVA, 2 bộ thiết bị cầu trung). Đối với nông trường cần có một số thiết bị đồng bộ bảo đảm tiến độ khai hoang 200ha và đưa vào trồng trọt 100ha ngay trong vụ sản xuất đầu tiên. Đồng thời, cấp vốn đầu tư cho những năm tiếp theo, tranh thủ tiếp nhận vận chuyển các nguồn vật tư, bảo đảm hậu cần ngay trong mùa khô.

Kể từ khi các đơn vị quân tình nguyện sang làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào, tình hình cách mạng Lào có nhiều biến động. Nhiệm vụ luôn khẩn trương, căng thẳng và nặng nề. Điều kiện bảo đảm vật chất, tinh thần dù hậu phương đã rất cố gắng vẫn gặp nhiều thiếu thốn, gian khổ, bệnh tật phát sinh, nhưng tất cả các đơn vị đều thực hiện “có lệnh là lên đường”. Nhiều cán bộ, chiến sĩ chưa được nghỉ phép về thăm gia đình sau khi chiến tranh kết thúc lại nhận nhiệm vụ quốc tế giúp Lào. Sự có mặt kịp thời và hoạt động có hiệu quả của các đơn vị đã góp phần tích cực cùng bạn ngăn chặn, đập tan âm mưu bạo loạn, lật đổ của địch. Đặc biệt là đã phá tan được một sào huyệt bọn phỉ nguy hiểm tồn tại và gây thiệt hại lớn cho bạn trong nhiều năm; góp phần tạo thế mới và lực mới giúp bạn, bảo vệ vững chắc thành quả đã đạt được góp phần tăng cường mối quan hệ đoàn kết giữa quân đội và nhân dân hai nước Việt - Lào trong xây dựng và bảo vệ nền độc lập của mỗi nước.
____________________________________________
1. Theo quân số Bộ quy định cho nông trường năm 1979 là 300 người. Nông trường tổ chức 4-5 đại đội, mỗi đại đội hơn 60 người. Cơ quan gọn nhẹ, bảo đảm nhiệm vụ trước mắt và có cơ sở để năm 1980 phát triển lên quy mô 1.000 người.
2. Sư đoàn 968 bộ binh lúc này thuộc Quân đoàn 2 được chuyển thuộc Binh đoàn 678.
3. Đường 7 lúc này mới có 3.400, xin bổ sung 600. Đường 8 đề nghị bổ sung thêm 1.000 cho đủ 3.400. Nông trường Bắc Hin Bun đề nghị bổ sung 250 cho đủ 525 người (Số bổ sung của 3 nơi chưa tính đến quân số thay quân).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #56 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2024, 01:04:36 pm »


*

*        *

Từ ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đến bước ngoặt các lực lượng vũ trang quân khu chuyển vào thời chiến, thời gian chưa đầy 4 năm; trong đó mới có hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng. Trong hai năm này, chỉ có hơn một nửa thời gian đầu có hoà bình; còn một nửa sau thì đất nước đã phải đương đầu với tình hình vừa có hoà bình, vừa có chiến tranh trên một bộ phận lãnh thổ đất nước.

Đối với các lực lượng vũ trang và nhân dân Quân khu 4, thì một số đơn vị, một số địa bàn vẫn chưa có mấy thời gian hoà bình trọn vẹn. Thương vong do bom mìn đế quốc Mỹ gài lại trong chiến tranh vẫn thường xảy ra trên các mặt trận lao động, xây dựng, nhất là các đơn vị tham gia đánh giặc ở biên giới Tổ quốc, các chiến sĩ dự các chiến dịch rà phá bom mìn, đặc biệt là từ Quảng Bình trở vào Huế. Bọn phản động tay sai vẫn tìm cách móc nối hoạt động phá hoại, tổ chức vượt biên, vượt biển và "đánh người" trở lại "cài cắm", thực hiện âm mưu "hậu chiến tranh", móc nối với các loại phản động tay sai hòng làm suy yếu ta nhưng chúng đã thất bại.

Trong khi đó một bộ phận lực lượng vũ trang quân khu theo tiếng gọi của mối tình đặc biệt thủy chung "hạt muối chia đôi, cọng rau bẻ nửa" sang sát cánh cùng bạn Lào trong xây dựng, bảo vệ thành quả cách mạng ở địa bàn được phân công, nhất là có mặt kịp thời cùng bạn trong thời điểm thử thách cao độ, góp phần có hiệu quả đập tan âm mưu của các thế lực thù địch định lật đổ chính quyền bạn.

Như vậy, trong những năm đầu xây dựng thời kỳ đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội (1975- 1979), Quân khu đã hoàn thành nhiệm vụ hợp nhất, tạo ra thế và lực mới để xây dựng thành một địa bàn chiến lược mạnh về thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân. Đảng bộ, các lực lượng vũ trang và nhân dân Quân khu không ngừng phấn đấu vươn lên, luôn chủ động, sáng tạo, kiên trì, dũng cảm, tự giác nhận thức vai trò, vị trí, nhiệm vụ của Quân khu, của từng đơn vị, địa phương trong giai đoạn cách mạng mới. Tranh thủ điều kiện có hoà bình, nhưng không “hoà bình chủ nghĩa"; không ảo tưởng chủ quan, lơi là mất cảnh giác, không xả hơi, thoả mãn chủ quan dừng lại; quân và dân Quân khu kiên định và kiên trì quyết tâm tiến lên phía trước theo mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh luôn chăm lo củng cố, tăng cường phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất, nhất trí vì nghĩa lớn - đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế. Đó là những bài học quý báu trong thời kỳ đầu chuyển giai đoạn cách mạng trên địa bàn Quân khu. Kết quả là Quân khu đã xây dựng được sự "nhất trí cao, xây dựng quyết tâm, tin tưởng sâu sắc. phát động được phong trào hành động cách mạng sôi nổi ", "làm được nhiều việc cấp thiết trước mắt, triển khai bước đầu được những vấn đề cơ bản lâu dài". Đây là cơ sở tạo tiền đề để quân dân Quân khu 4 cùng quân và dân cả nước thực hiện thắng lợi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc, làm tròn nhiệm vụ quốc tế đối với Campuchia và Lào, làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #57 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2024, 05:09:24 pm »


Chương hai
CÙNG CẢ NƯỚC GIÀNH THẮNG LỢI TRONG CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC VÀ LÀM THẤT BẠI CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI NHIỀU MẶT CỦA ĐỊCH
(1979 - 1985)

Giữa lúc quân và dân ta đang ra sức vượt mọi qua khó khăn, thử thách, khắc phục hậu quả chiến tranh nặng nề, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, thì các thế lực phản động đã liên tiếp gây ra những cuộc tranh chấp, xung đột vũ trang biên giới, chia rẽ nước ta với các nước láng giềng. Sau khi xâm phạm biên giới phía Tây Nam hơn 2.000 lần, gây tổn thất cho ta hơn 4.000 người, từ ngày 30-4-1977, tập đoàn phản động ở Campuchia, đứng đầu là Pôn Pốt, bất ngờ mở đợt tiến công quy mô lớn trên toàn tuyến biên giới tỉnh An Giang từ Vĩnh Gia đến Vĩnh Xương. Tiếp đó, chúng mở những cuộc tiến công có hệ thống, quy mô ngày càng tăng cường, hành động vô cùng tàn bạo. Có lúc, chúng tập trung 13/17 sư đoàn ra biên giới Việt Nam, lấy các tỉnh Tây Ninh, An Giang, Kiên Giang làm mục tiêu chính, uy hiếp Thành phố Hồ Chí Minh.

Những hành động xâm lược của quân Pôn Pốt nằm trong ý đồ lâu dài của các thế lực phản động nhằm biến Đông Nam Á thành khu vực phụ thuộc, thoả hiệp với Mỹ và tay sai để tập trung mũi nhọn chống phá cách mạng Việt Nam, Lào, Campuchia, phá hoại chính sách độc lập, tự chủ của Việt Nam, làm suy yếu cách mạng Việt Nam, kìm hãm và phá hoại sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa của nước ta, phá hoại khối đoàn kết của nhân dân ba nước Đông Dương để gây ảnh hưởng lớn xuống vùng Đông Nam châu Á.

Đầu tháng 12-1978, đi đôi với các hoạt động gây xung đột vũ trang, đối phương tập trung một lực lượng lớn cùng phương tiện chiến tranh triển khai trên toàn tuyến áp sát vùng biên giới phía Bắc nước ta. Ở hướng biển, hạm đội Nam Hải huy động một số tàu chiến vào tuyến chuẩn bị.

Để tránh khỏi bị 3 gọng kìm từ 3 phía kẹp lại, ngày 7-1-1979, một bộ phận quân tình nguyện Việt Nam theo yêu cầu của Mật trận đoàn kết dân tộc của nước Campuchia đã phối hợp với các lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Campuchia tiến vào giải phóng Phnôm Pênh. Ngày 8 tháng 1, Hội đồng cách mạng Campuchia thành lập. Ngày 17 tháng 1, Cô Kông là tỉnh cuối cùng ở Campuchia được giải phóng. Đất nước Campuchia thoát khói họa diệt chủng do Pôn Pốt gây ra. Ngày 18-2-1979, Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Campuchia ký Hiệp ước hoà bình hữu nghị và hợp tác hai nước.

Đầu năm 1979, tình hình trên biên giới phía Bắc trở nên hết sức căng thẳng. Vừa kết thúc cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, quân và dân ta lại tiếp tục phải đương đầu với những khó khăn, thử thách lớn ở phía Bắc. Quán triệt chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, quân và dân Quân khu 4 cùng quân dân các tỉnh phía Bắc không ngừng nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao nhất, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Ngày 17-2-1979, chiến tranh nổ ra trên toàn tuyến biên giới phía Bắc. Nhân dân và lực lượng vũ trang Việt Nam ở vùng biên giới buộc phải chiến đấu tự vệ, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và cuộc sống bình yên của mình.

Trong khi đó, ở Campuchia, sau thất bại một bước nặng nề về chiến lược, bị tan rã, các thế lực đế quốc phản động lợi dụng việc “quốc tế viện trợ nhân đạo” để tiếp tế trang bị, khôi phục lại lực lượng Pôn Pốt, tập kích đánh chiếm một số vùng biên giới, lập căn cứ, tiến hành đánh du kích lâu dài, đưa các nhóm vũ trang vào nội địa móc nối cơ sở, mở “hành lang mòn”, thực hiện cái gọi là “kết thúc giai đoạn bảo vệ”, gây sức ép từ nhiều phía đòi quân tình nguyện Việt Nam rút về nước.

Ở Lào, đi đôi với việc phối hợp duy trì áp lực quân sự, đe dọa chiến tranh, thực hiện "diễn biến hoà bình", phá hoại về kinh tế, chính trị, gây chiến tranh tâm lý, gián điệp, các thế lực thù địch tập hợp các lực lượng phản động có vũ trang với nhiều quy mô, dùng bàn đạp từ bên ngoài kết hợp bên trong tiến công gây bạo loạn "dùng người Lào đánh người Lào", sử dụng "kiểu biên giới mềm", thâm độc xảo quyệt, thực hiện chiến lược "mối xông nhà", kích động chia rẽ, xuyên tạc liên minh Việt - Lào1.

Trước tình hình trên bán đảo Đông Dương có nhiều diễn biến căng thẳng, nhất là chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đang diễn ra trên biên giới phía Bắc, đòi hỏi quân và dân cả nước, quân dân Quân khu 4 phải chuẩn bị khẩn trương về mọi mặt đối phó với "ba tình huống chiến lược".

Trên địa bàn Quân khu, bên cạnh các hình thức ngấm ngầm hoạt động móc nối tổ chức vượt biển, vượt biên trốn đi nước ngoài, xâm nhập vào nội địa bằng đường biển, tung lực lượng phản động từ Thái Lan, từ Lào về tìm cách lôi kéo, chống phá ở các địa bàn miền núi dọc biên giới phía Tây; bọn phản động tăng cường các hoạt động ở nội địa, bằng nhiều hình thức, thủ đoạn thâm hiểm, trắng trợn hơn. Đáng chú ý là những vụ rải truyền đơn chống đối chủ trương chính sách của Đảng, trong đó có chống thực hiện Nghị quyết 297 của Bộ Chính trị về cải tạo công - thương nghiệp tư bản tư doanh, chống đi xây dựng vùng kinh tế mới và các dạng thư ngỏ, đòi yêu sách của những tổ chức phản động dưới các tên gọi: "Mặt trận dân tộc tự quyết", "Mặt trận quân dân chống cộng”, "Mặt trận cứu nguy dân tộc", "Mặt, trận thanh - thiếu niên Việt Nam yêu nước", "Mặt trận kháng chiến chống cộng", "Hội những người yêu khoa học...".

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, trực tiếp là Quân ủy Trung ương Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu thường xuyên kiểm tra, rà soát, đánh giá đúng tình hình, kịp thời lãnh đạo, chỉ huy thực hiện tốt các nhiệm vụ và 6 mục tiêu cụ thể đề ra trong Nghị quyết của Đảng ủy Quân khu (28-12-1978).
____________________________________________________
1. Âm mưu cơ bản là chống phá Lào một cách toàn diện, lâu dài, làm cho tình hình Lào ngày càng khó khăn, suy yếu, tạo điều kiện tổ chức hoạt động lật đổ, thôn tính. Lực lượng phản động có khoảng 17.500 - 18.000 tên, gồm nhiều phe nhóm. Chúng cố dung hoà mâu thuẫn, tích cực tập hợp thành tổ chức.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #58 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2024, 05:11:15 pm »


I- KHẨN TRƯƠNG ĐỘNG VIÊN MỞ RỘNG LỰC LƯỢNG THAM GIA CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ TỔ QUỐC TRÊN BIÊN GIỚI PHÍA BẮC, THỰC HIỆN QUYẾT TÂM PHÒNG THỦ QUÂN KHU TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Ngày 2-1-1979, Đảng ủy Quân khu 4 ra Chỉ thị số 02 về việc tiến hành Đại hội Đảng cấp sư đoàn và tương đương trở xuống, nêu rõ: “Đại hội lần này tiến hành trong hoàn cảnh cuộc đấu tranh của dân tộc ta chống kẻ thù đang tìm cách làm suy yếu và lăm le xâm lược, thôn tính nước ta, còn tiếp tục diễn ra quyết liệt và phức tạp. Đất nước ta còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế và đời sống, lại vừa trải qua những thiên tai rất nặng nề.

Năm 1979 là năm thứ hai chuyển hướng chiến lược, năm thứ tư thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1976-1980), thuận lợi có nhiều, nhưng không ít khó khăn mới, đòi hỏi phải ra sức khắc phục mọi khó khăn, gian khổ thử thách, nỗ lực vượt bậc, khẩn trương "phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu về mọi mặt của các lực lượng vũ trang nhân dân Quân khu
".

Đại hội Đảng bộ các cấp lần này biểu thị quyết tâm cao với tinh thần cách mạng tiến công, quyết chiến, quyết thắng, đoàn kết nhất trí, quyết vươn lên giành thắng lợi đạt tới đỉnh cao trong thực hiện các nhiệm vụ, bám chắc quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IV), Nghị quyết Bộ Chính trị về tổ chức Đảng - tổ chức công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Nghị quyết Quân ủy Trung ương về xây dựng Đảng bộ quân đội và Nghị quyết Đảng ủy Quân khu về quyết tâm phòng thủ Quân khu trước tình hình nhiệm vụ năm 1979.

Đại hội Đảng bộ các cấp nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình nghiêm túc, phát huy trí tuệ tập thể, nhận định và đánh giá đúng những thành công, ưu điểm, khuyết điểm, tìm rõ nguyên nhân, chủ yếu là nguyên nhân chủ quan của lãnh đạo và chỉ đạo tổ chức thực hiện. Trên cơ sở đó, xác định rõ nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ xây dựng Đảng bộ trong nhiệm kỳ tới, đề ra các mục tiêu, biện pháp tích cực vững chắc, phấn đấu thực hiện cho bằng được.

Về tư tưởng chỉ đạo, Đại hội Quân khu yêu cầu gắn chặt việc bàn nhiệm vụ chính trị với nhiệm vụ xây dựng Đảng bộ, gắn với việc tiếp tục đẩy mạnh xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh toàn diện với "phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu" của các lực lượng vũ trang nhân dân quân khu; lấy mục tiêu đối phó thắng lợi với mọi tình huống có thể xảy ra, tích cực làm nhiệm vụ kinh tế, đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm đạt và vượt chỉ tiêu quy định, ổn định và nâng cao đời sống bộ đội, quản lý tốt cơ sở vật chất kỹ thuật tài chính, làm thước đo hiệu quả lãnh đạo của Đảng bộ. Phấn đấu đến cuối năm 1979, tất cả các đại đội đều có chi bộ từ 7 đảng viên trở lên; đồng thời chấp hành tốt Chỉ thị 22 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chỉ thị 320 của Thường vụ Quân ủy Trung ương, đưa những người không đủ tư cách ra khỏi Đảng.

Cấp ủy lần này chú ý cơ cấu gồm cả những đồng chí có trình độ chuyên môn kỹ thuật, số trẻ qua rèn luyện thử thách chiến đấu, công tác tốt, có triển vọng phát triển và số xuất thân giai cấp công nhân.

Các Đảng bộ quân sự tỉnh chuẩn bị đề án đề xuất với Tỉnh ủy đưa nội dung công tác quân sự địa phương vào đề án Đại hội Đảng bộ tỉnh; soát xét đội ngũ cán bộ chủ trì cơ quan quân sự huyện, thành phố, thị xã, đề xuất những đồng chí đủ tiêu chuẩn cơ cấu vào cấp ủy.

Phát huy nền nếp và kết quả các đợt sinh hoạt chính trị, tự phê bình và phê bình trước đây, các cấp tổ chức thảo luận, lấy ý kiến đóng góp vào các dự thảo văn kiện, các bản tự phê bình và phê bình của cấp ủy một cách thiết thực; tranh thủ lấy ý kiến của quần chúng tham gia đề án đại hội, đề xuất những người mà quần chúng thấy xứng đáng vào cấp ủy. Những ý kiến của quần chúng và của cấp dưới thảo luận tham gia được tập hợp đầy đủ để tập thể thảo luận, tiếp thu, bổ sung vào đề án. Quân khu quy định rõ trách nhiệm của từng cấp trong việc báo cáo, quản lý các bản tự phê bình và phê bình đối với các cấp ủy theo phân cấp. Trong đó, cấp cục, cấp sư đoàn (và tương đương), trường quân chính (cả đề án nhân sự, tự phê bình, phê bình) đều phải trực tiếp báo cáo với Thường vụ Đảng ủy Quân khu. Cấp trung đoàn và tương đương ủy quyền cho Cục Chính trị theo dõi chỉ đạo, sau đó báo cáo Thường vụ Đảng ủy Quân khu.

Nội dung báo cáo Đại hội tập trung đánh giá kiểm điểm chủ yếu từ năm 1979, khi tình hình phát triển, chuyển hướng chiến lược từ "Tất cả cho sản xuất, tất cả để xây dựng chủ nghĩa xã hội, tất cả vì Tổ quốc giàu mạnh, vì hạnh phúc của nhân dân" sang thực hiện khẩu hiệu chiến lược "Tất cả vì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa''.

Ngày 17-1-1979, Thường vụ Đảng ủy Quân khu gửi công văn hoả tốc đến các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy là đảng ủy viên Quân khu, các đơn vị, địa phương1 về "Tình hình Campuchia - nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu thường xuyên trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Mùi (1979)".

Sau khi nêu rõ: từ ngày 26-12-1978 đến ngày 7-1-1979, các lực lượng vũ trang quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng cách mạng và nhân dân Campuchia mở cuộc tiến công vào lực lượng bọn phản động Pôn Pốt - Iêng Xa-ri, diệt và đập tan 18/22 sư đoàn của chúng dọc biên giới Việt Nam, tiếp tục giúp bạn giải phóng hầu hết các thị xã, thị trấn và thành phố Phnôm Pênh, giành thắng lợi vĩ đại, đập tan tập đoàn phản động, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, khôi phục tình hữu nghị Việt Nam - Campuchia, Thường vụ Đảng ủy Quân khu nhận định: "Chắc chắn bọn phản động bành trướng cấu kết với đế quốc và tay sai sẽ tìm cách trả đũa, chống phá quyết liệt"
____________________________________________
1. Gồm các cục Chính trị, Hậu cần, Kinh tế, Bộ Tham mưu, các sư đoàn 336, 316, 565, 441, 442, Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh, các trường (Quân chính, Hạ sĩ quan, Văn hoá), các đoàn 200, 76; các trung đoàn 185, 148, 214, 16, 206, 414, 80, 245.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #59 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2024, 05:13:28 pm »


Ngoài các âm mưu cơ bản đã phổ biến, cần quán triệt những khả năng mới, địch có thể gây ra như Chỉ thị 03 của Quân ủy Trung ương nêu rõ: “với Quân khu 4, chúng có thể đánh chiếm một số đảo, một số vùng xung yếu dọc bờ biển; dùng bọn phỉ Mẹo hoạt động ở biên giới tây Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh. Trong nội địa, chúng có thể dùng bọn phản động trong ngụy quân, ngụy quyền cũ, bọn phản động tay sai các loại, trong đó có bọn đội lốt tôn giáo - nơi cơ sở ta yếu kém, đe gây bạo loạn". Quân khu cùng các tỉnh thống nhất quyết tâm: "Trong bất cứ tình huống nào cũng phải chủ động, kiên quyết loại trừ tình huống 1, chủ động sẵn sàng đập tan tình huống 2".

Tất cả các lực lượng vũ trang quân khu sẵn sàng chiến đấu thường xuyên; nhất là các đơn vị trực chiến, các đơn vị ở đảo ven biển, biên giới phải bảo đảm từ 1/3 đến 1/2 bộ đội luôn trực tại trận địa, chiến hào. Pháo cao xạ, pháo bờ biển, hễ có địch là nổ súng được ngay.

Trong những ngày Tết (tức các ngày 28, 29 và 30-1-1979) phải chấp hành nghiêm chỉ thị (số 1141/QP ngày 31-7-1978) của Bộ Quốc phòng, chỉ thị (số 101/CTTM ngày 15-7-1978) của Bộ Tổng Tham mưu quy định quân nhân ra ngoài doanh trại.

Ngày 19-1-1979, Đảng ủy họp Quân khu đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ trong 3 năm (1976-1978). Trải qua 2 bước ngoặt: Từ chiến tranh chuyển sang hoà bình chưa được bao lâu, lại từ hoà bình chuyển sang chiến tranh, Đảng bộ Quân khu đã lãnh đạo quán triệt đường lối, nhiệm vụ chính trị, quân sự, xác định đúng đắn nhiệm vụ chính trị mục tiêu hành động, nhanh chóng triển khai thực hiện các nhiệm vụ một cách toàn diện, tạo chuyển biến mới, khắc phục nhiều khó khăn, làm nhiều việc, thu được kết quả trên các mặt, có những nhiệm vụ đạt chất lượng tốt.

Tuyệt đại bộ phận đảng viên tỏ rõ lòng trung thành tuyệt đối, sẵn sàng hy sinh chiến đấu, sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ khó khăn nhất Đảng giao, luôn đứng hàng đầu trên mọi trận tuyến, gương mẫu, tận tụy trong lao động và công tác, đoàn kết, gắn bó với quần chúng, có tiến bộ về năng lực lãnh đạo, năng lực hoạt động, xứng đáng là lực lượng nòng cốt, tiêu biểu cho truyền thống vẻ vang của Đảng, của dân tộc và quân đội.

Với tinh thần khoa học và cách mạng, tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng, nhân dân và quân đội, Đảng ủy Quân khu phân tích nguyên nhân khách quan, chủ quan, thảo luận phương hướng, mục tiêu biện pháp xây dựng Đảng bộ trước tình hình mới. Đảng ủy Quân khu nghiêm khắc tự phê bình, tập trung khắc phục nguyên nhân chủ yếu là do chủ quan. Những khuyết điểm đó đã được sửa chữa và lực lượng vũ trang quân khu có chuyển biến, tiến bộ, nhất là sau khi học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IV) và các nghị quyết của Trung ương Đảng về tình hình, nhiệm vụ mới, về đối tượng chiến lược cách mạng và đối tượng tác chiến mới.

Đảng ủv Quân khu hạ quyết tâm thực hiện tốt những nhiệm vụ được giao trong tình hình mới, đặc biệt là quan điểm quân sự, quyết tâm chiến lược, tư tưởng chỉ đạo tác chiến trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; bám sát nhiệm vụ, quyết tâm phòng thủ Quân khu, phối hợp chặt chẽ với các địa phương, tổ chức phát động cao trào hành động cách mạng: "Bảy triệu quân và dân Quân khu 4 một ý chí, chung sức, chung lòng bảo vệ và xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ và xây dựng Quân khu vững mạnh".

Năm 1979 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị quy định cấp trung đoàn là cấp cơ sở. Sư đoàn và Bộ chỉ huy quân sự là cấp trên trực tiếp của cơ sở. Quân khu tập trung chỉ đạo hai cấp phải có chuyển biến thực sự về mọi mặt trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý bộ đội, phương pháp, tác phong, lề lối, chế độ làm việc đúng vai trò, vị trí, chức năng của cơ sở và cấp trên trực tiếp của cơ sở.

Ngày 20-1-1979, Đảng ủy Quân khu ra Nghị quyết số 40 về phương hướng nhiệm vụ công tác năm 19791 xác định, tiếp tục rà soát lại việc thực hiện 3 nhiệm vụ, 8 mục tiêu, 13 công tác đề ra đầu năm 1978, đặc biệt đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương cần kíp trước mắt, nhằm đối phó có hiệu quả hai tình huống chiến lược cơ bản đã dự kiến trong nghị quyết toàn diện ngày 8-11-1978 của Đảng ủy Quân khu về nhiệm vụ quân sự và hạ quyết tâm chiến lược của quân và dân Quân khu trong giai đoạn mới.

Năm mục tiêu cuộc vận động lớn được Quân khu tiếp tục tập trung lãnh đạo thực hiện là: "ý chí mạnh, chất lượng cao, đoàn kết tốt, kỷ luật nghiêm, đời sống tốt, quyết chiến quyết thắng". Quân khu chỉ đạo các đơn vị xây dựng chỉ tiêu phấn đấu cụ thể trên từng mục tiêu, gắn chặt cuộc vận động vào từng nhiệm vụ, thực hiện hiệu quả nhất.

Năm 1979 cũng là năm triển khai thực hiện Hiệp ước hữu nghị - hợp tác Việt Nam - Liên Xô, quân và dân ta có điều kiện thuận lợi để xây dựng kinh tế - quốc phòng, đẩy nhanh xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đồng thời, đặt ra những vấn đề mới trong các mặt công tác, nhất là yêu cầu khẩn trương nâng cao trình độ làm chủ khoa học - kỹ thuật của các lực lượng vũ trang.

Đối với đội ngũ đảng viên gồm 15.061 đồng chí (có 1.808 đảng viên dự bị), tỷ lệ lãnh đạo chiếm 23,57%2; nguồn phát triển thường xuyên có từ 12% trở lên trong quần chúng ở các đơn vị. Phát huy kết quả "3 năm Đảng bộ lãnh đạo quán triệt đường lối, nhiệm vụ chính trị, mục tiêu hành động, nhanh chóng triển khai thực hiện các nhiệm vụ một cách toàn diện, tạo chuyển biến mới, khắc phục nhiều khó khăn, làm được nhiều việc, thu được kết quả trên các mặt, có những nhiệm vụ đạt chất lượng tốt". Đảng ủy Quân khu kết luận "Khuyết điểm là tạm thời, hoàn toàn có thể khắc phục được”. "Trên thực tế, những khuyết điểm đó đã được sửa chữa, lực lượng vũ trang quân khu có chuyển biến tiến bộ rõ". "Phong trào hành động cách mạng phát triển sôi nổi, liên tục". Đó là cơ sở vững chắc để biến khẩu hiệu "Toàn quân một ý chí, quân với dân một ý chí" thành kết quả triển khai thực hiện Chỉ thị số 61/CT-TW ngày 6-1-1979 của Ban Bí thư Trung ương Đảng "Tăng cường sẵn sàng chiến đấu ở các tỉnh phía Bắc".
______________________________________________
1. Hồ sơ 38/QK4 - Lưu trữ Quân khu 4.
2. Trong số này có 90,8% Bí thư chi bộ, 86,2% chi ủy viên, 82,4% cán bộ cơ sở được bồi dưỡng, nâng cao trình độ theo quy định, 100% đảng viên học tập quán triệt nghị quyết; đảng viên tích cực tăng từ 94,7% năm 1977 lên 98,9% năm 1978; số đại đội khá chiếm 63,8% tổng số đại đội trong toàn Quân khu, tăng 5,8%; số yếu giảm 2%, còn 3% trên đà phấn đấu tích cực xoá yếu.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM