Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:20:25 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005)  (Đọc 76555 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #60 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2024, 05:16:21 pm »


Quán triệt 5 nhiệm vụ theo Chỉ thị số 61/CT-TW do Ban Bí thư Trung ương Đảng đề ra, Đảng ủy Quân khu nêu rõ: Các đơn vị, địa phương tiếp tục khẩn trương đẩy nhanh tiến độ "kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế với củng cố quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, khẩn trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng tuyến phòng thủ bờ biển, hải đảo, biên giới, nội địa vững chắc. Tích cực đẩy mạnh xây dựng hậu phương chiến lược, phấn đấu nâng cao khả năng hậu cần tại chỗ, ra sức nâng cao chất lượng mọi mặt các lực lượng vũ trang ba thứ quân. Đẩy mạnh xây dựng quân đội nhân dân chính quy, hiện đại, tinh nhuệ, thiện chiến, chuẩn bị lực lượng dự bị hùng hậu, xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng thực sự là lực lượng nền tảng của chiến tranh nhân dân có số lượng đông, chất lượng tốt, sức chiến đấu cao. Tăng cường một bước khả năng và trình độ sẵn sàng chiến đấu và phòng thủ của Quân khu, loại trừ bất ngờ một cách vững chắc đối với hai tình huống chiến lược dự kiến, sẵn sàng cùng cả nước đánh bại chiến tranh xâm lược quy mô lớn. Thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ chi viện các hướng. Đẩy mạnh nhiệm vụ xây dựng kinh tế và sản xuất tự túc lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, thực hành tiết kiệm. Ra sức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giúp bạn mà Quân ủy Trung ương đã và sẽ giao".

Trong quá trình triển khai 5 nhiệm vụ, 11 chủ trương công tác1, 7 yêu cầu và mục tiêu cụ thể, Quân khu tăng cường chế độ trực tiếp chỉ thị nhiệm vụ công tác cho từng Bộ chỉ huy quân sự, từng sư đoàn, trung đoàn trực thuộc; đưa công tác tổng kết nghiên cứu khoa học quân sự, chỉ đạo công tác pháp chế vào chương trình công tác trọng tâm; nâng mức phấn đấu trên một số nhiệm vụ, công tác, nhằm biến năm 1979 thực sự là năm tổ chức và hành động, chất lượng và năng suất cao, tạo nên sự phát triển mới về chất lượng mọi mặt. Trong đó, đưa tỷ lệ dân quân tự vệ so với dân số lên 16 - 18%, lực lượng nòng cốt trên 50%; thực hiện 2 yêu cầu2 trong phát triển kinh tế kết hợp với củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh, huyện; thực hiện đầy đủ 9 nội dung cơ bản3 kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, về xây dựng kinh tế, phấn đấu đạt tổng giá trị sản lượng 20.969.836 đồng, sản xuất tự túc 4.800 tấn lương thực quy gạo, 535 tấn thịt, cá; 120 tấn đậu, lạc, vừng; 9.000 tấn rau xanh, có nhiều đơn vị đạt mức tự túc lương thực, thực phẩm 6 tháng và cả năm.

Tập trung nhiều lực lượng, công sức tăng cường tốc độ xây dựng tuyến phòng thủ, trước hết là tuyến 1, hướng trọng điểm và khu quyết chiến, xây dựng làng xã chiến đấu, cụm liên hoàn, hình thành thế trận chiến tranh nhân dân từ cơ sở.

Ngày 22-1-1979, trên cơ sở các yêu cầu mới đã được Quân khu xác định, Bộ Tham mưu Quân khu đề ra phương hướng về công tác huấn luyện quân sự năm 1979, gồm 3 yêu cầu, 5 nội dung, các đối tượng, thời gian huấn luyện cho mỗi đối tượng và các vấn đề cần lãnh đạo, chỉ đạo. Nội dung chủ yếu gồm:

1. Đẩy mạnh công tác huấn luyện theo yêu cầu tác chiến tập trung quân - binh chủng, hiệp đồng ba thứ quân trong tiến công, phòng ngự (cả ban ngày, ban đêm) theo nhiệm vụ tác chiến của từng đơn vị, trên từng hướng, từng khu vực phòng thủ, bảo đảm đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ, đánh độc lập và đánh hiệp đồng trong đội hình cấp trên với những trang bị hiện có và sẽ được tăng cường.

2 Hết sức coi trọng huấn luyện cán bộ chỉ huy, cơ quan tham mưu, thường xuyên rèn luyện, diễn tập thủ trưởng, cơ quan các cấp. Đối với các đơn vị từ cấp trung đoàn bộ binh, trung đoàn binh chủng trở lên, đều phải diễn tập thủ trưởng và cơ quan có thực binh, thường xuyên diễn tập báo động sẵn sàng chiến đấu cho các đơn vị và kiểm tra toàn diện công tác sẵn sàng chiến đấu ở các đơn vị.

Đối với hạ sĩ quan, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, yêu cầu đặt ra là phải tăng cường bồi dưỡng, đào tạo đáp ứng đủ yêu cầu biên chế và có dự trữ bổ sung chiến đấu, phát triển lực lượng.

3. Đối với chiến sĩ mới, lấy yêu cầu chất lượng bổ sung cho các đơn vị chiến đấu làm chỉ tiêu phấn đấu đạt cả về số lượng, chất lượng huấn luyện.

4. Đối với bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, dân quân du kích và học sinh thì tăng cường huấn luyện theo nền nếp, chế độ, nhất là bộ đội địa phương, du kích tự vệ ven biển, biên giới, đảo và các vùng có tình hình phức tạp.

5. Đi đôi với giáo dục chính trị - tư tưởng, huấn luyện quân sự, tăng cường giáo dục chấp hành pháp luật, pháp lệnh, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật.

Việc huấn luyện cơ động bằng hành quân bộ, hành quân cơ giới, rèn luyện sinh hoạt dã ngoại, được đặt thành yêu cầu nghiêm ngặt.
_____________________________________________
1. 11 chủ trương cũng là 11 nhiệm vụ cụ thể về sẵn sàng chiến đấu; tổ chức xây dựng lực lượng; công tác huấn luyện; công tác nhà trường; công tác quân sự địa phương; công tác tổng kết và nghiên cứu khoa học quân sự; công tác pháp chế; công tác ngân sách vật tư; công tác hậu cần; công tác xây dựng cơ bản; công tác quản lý cơ sở vật chất, bảo đảm kỹ thuật.
2. Hai yêu cầu: 1. Điều hoà lao động, hoàn thiện quan hệ sản xuất ở phía Bắc, cải tạo quan hệ sản xuất ở phía Nam; 2. Nhanh chóng giải quyết lương thực, thực phẩm, tạo nguồn hậu cần tại chỗ.
3. Chín nội dung cơ bản: 1. Đẩy mạnh củng cố cơ sở chính trị kết hợp điều hoà lao động, củng cố, hoàn thiện và cải tạo quan hệ sản xuất. 2. Sản xuất lương thực, thực phẩm. 3. Phát triển lâm nghiệp. 4. Giao thông vận tải. 5. Phát triển công nghiệp. 6. Thông tin bưu điện. 7. Kết hợp xây dựng y tế, y tế phục vụ chiến đấu. 8. Các đơn vị quân đội ngoài chức năng nhiệm vụ chính, có nhiệm vụ xây dựng kinh tế trên toàn vùng. 9. Kết hợp xây dựng huyện thành đơn vị kinh tế lâm - nông - công nghiệp với xây dựng huyện thành pháo đài quân sự.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #61 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2024, 02:21:08 pm »


Trường Quân chính Quân khu phấn đấu theo yêu cầu thể chế hoá tiêu chuẩn đối với cán bộ quân đội trong hệ thống cán bộ Nhà nước, gắn liền nhà trường với chiến trường, gắn liền yêu cầu phát triển lực lượng với chất lượng xây dựng quân đội chính quy hiện đại, ra sức cải tiến nội dung, phương pháp huấn luyện, rút ngắn thời gian, nâng chất lượng huấn luyện, đáp ứng yêu cầu cán bộ biên chế năm 1979, có đủ cán bộ bổ sung và dự trữ cho mở rộng lực lượng. Nhà trường không chỉ đào tạo, bổ túc cán bộ cho các đơn vị thuộc Quân khu 4, mà còn tiếp nhận học viên từ Quân đoàn 2, Quân đoàn 3. Đại bộ phận họ đã qua chiến đấu trên chiến trường biên giới Tây Nam và các sĩ quan xuất ngũ, chuyển ngành, chấp hành Lệnh tổng động viên của Chủ tịch nước trở lại quân ngũ. Họ được chuyển đến nhà trường bổ túc một thời gian ngắn và bổ sung về các đơn vị mới thành lập của Quân khu. Lưu lượng học viên lên tới 2.426 người, tăng gấp 4 lần chỉ tiêu những năm trước.

Sau 2 chiến dịch "Quyết thắng 1", "Quyết thắng 2" (1978), gần 3.000 cán bộ ra trường, trong đó có hơn 68% đạt khá giỏi, 100% được trao quân hàm sĩ quan, phấn khởi lên đường nhận nhiệm vụ mới. 2.100 cán bộ trong số đó được bổ sung cho các đơn vị chiến đấu ở các chiến trường, hoặc các sư đoàn mới thành lập.

Ngày 20-2-1979, Trường làm lễ tốt nghiệp cho 1.328 học viên lớp bổ túc 6 tháng của cán bộ đại đội (quân sự và chính trị), biên chế ngay cho Sư đoàn 337 và Sư đoàn 316B kịp hành quân đi chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc. Ngày 28 tháng 2, Trường được Quân khu giao đào tạo lại 246 học viên là sĩ quan dự bị tái ngũ.

Trường Quân chính Quân khu đã sớm đưa các nội dung đã được kết luận về kinh nghiệm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở hai đầu biên giới Tây Nam, chiến trường "C" (Lào), những thay đổi trang bị - kỹ thuật mới, phương thức tác chiến chiến lược của ta, những nội dung về pháp lệnh, điều lệnh mới vào chương trình huấn luyện, tăng cường rèn luyện, xây dựng nền nếp chính quy, bảo đảm cho mỗi học viên khi ra trường phải là những chỉ huy chiến đấu, huấn luyện, xây dựng và quản lý đơn vị giỏi.

Đội ngũ giáo viên nhà trường không ngừng được chú trọng bồi dưỡng về phẩm chất, năng lực chuyên môn, nhiều giáo viên giỏi toàn diện, liên tiếp đạt danh hiệu "giáo viên dạy giỏi" cấp trường, làm nòng cốt, gương mẫu, tiêu biểu như các đồng chí Nguyễn Ngũ, Trung Kiên, Phan Du Thuận, Mai Lương, Nguyễn Xuân, Xuân Quỳ, Mạnh Hùng. Nhiều học viên do nhà trường đào tạo sau này trở thành những chỉ huy giỏi có đại đội trưởng Nguyễn Hữu Được, trung đội trưởng Trần Minh Lệ bổ sung cho Sư đoàn 337 đã lập công xuất sắc từ những trận đầu trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc.

Trước tình hình diễn biến khẩn trương và mau lẹ trên hai đầu biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, đầu tháng 2 năm 1979, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu tập trung chỉ đạo củng cố mọi mặt cho hai sư đoàn bộ binh 337 và 316B chủ lực cơ động sẵn sàng lên đường chiến đấu.

Đối với Sư đoàn 337, Quân khu khẩn trương điều động cán bộ chủ trì kiện toàn tổ chức, thành lập Đảng bộ sư đoàn, chỉ định Đảng ủy, thành lập các tổ chức cơ sở Đảng Đoàn, tiến hành đại hội theo tính chất, nhiệm vụ của sư đoàn bộ binh cơ động chiến đấu1.

Ngày 3-2-1979, Bộ tư lệnh Quân khu cho Sư đoàn 316B nêu rõ: Sư đoàn cần nhanh chóng kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng mọi mặt, tập trung đẩy mạnh công tác huấn luyện, xây dựng, rèn luyện trở thành sư đoàn chính quy, hiện đại, sẵn sàng chiến đấu trên địa bàn Quân khu và cơ động chiến đấu trên chiến trường khác. Trước mắt, sư đoàn căn cứ vào quyết tâm, kế hoạch phòng thủ cơ bản của Quân khu, xây dựng phương án tác chiến và các kế hoạch bảo đảm trên các hướng được phân công, hoàn chỉnh kế hoạch phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương, đập tan các cuộc tập kích của địch vào hai tỉnh Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá; phối hợp với hai huyện Tân Kỳ, Đô Lương kịp thời ngăn chặn và dập tắt các vụ gây rốỉ, bạo loạn, gìn giữ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giúp nhân dân chống bão lũ, thiên tai.

Bộ chỉ huy quân sự ba tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên và các sư đoàn, trung đoàn khác, sẵn sàng chờ mệnh lệnh của Bộ tư lệnh Quân khu giao theo tình huống mới phát triển.

Toàn Quân khu được thông báo kịp thời diễn biến chiến sự trên tuyến biên giới phía Bắc, phát động lòng căm thù, nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu.

Để tăng cường lực lượng cho Quân khu 1, ngày 19-2-1979, Bộ tư lệnh Quân khu ra chỉ thị chấp hành Mệnh lệnh số 16/ML-TM của Bộ Tổng Tham mưu điều động Sư đoàn 337 tham gia chiến đấu trên hướng Lạng Sơn. Thực hiện Chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân khu, 18 giờ ngày 22-2-1979, toàn Sư đoàn 337 hành quân đến vùng Sơn Động, huyện Lục Ngạn, tỉnh Hà Bắc. 19 giờ cùng ngày, Bộ tư lệnh Quân khu 1 trực tiếp chỉ huy và bảo đảm mọi mặt cho sư đoàn đến vị trí tập kết nhanh chóng ổn định nơi ăn ở, sinh hoạt.

Trước đó Sư đoàn 337 đã giao chuyển cho Binh đoàn 678, nên chiều ngày 18-2-1979, phái viên Bộ Tổng Tham mưu và Đại tá Chu Phương Đới - Phó tư lệnh Binh đoàn 678 đến trực tiếp chuyển đạt mệnh lệnh cho sư đoàn. Tuy vậy, mọi mặt công tác bảo đảm Quân khu 4 phải chịu trách nhiệm.

Bằng kinh nghiệm thực tiễn của quá trình thực hiện “4 nhiệm vụ trên 3 chiến trường” luôn có nhiều biến động và phát triển, Quân khu chủ động chuẩn bị, kịp bổ sung 1.600 quân nhân cho sư đoàn. Biên chế, trang bị đều được bảo đảm đúng theo quy định của Bộ Quốc phòng (trong đó lương thực, thực phẩm đủ 8 ngày kể từ ngày hành quân, đạn mang theo từ 1-3 cơ số theo từng loại đã quy định).
_____________________________________________
1. Sư đoàn thành lập 28-7-1978, gồm các trung đoàn 4 (Đoàn Phong Quảng), 52 (Đoàn Tây Tiến), 222 pháo cao xạ (Đoàn Ba Đình), 92 (Đoàn Hồng Lĩnh): Các trung đoàn đều có truyền thống trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Thượng tá Nghiêm Phú Thạch nguyên Đoàn trưởng 337; Đại tá Bùi Đức Tùng nguyên Chính ủy đoàn được điều động trở lại cơ quan Quân khu. Thượng tá Đỗ Phú Vàng, cán bộ Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng) được bổ nhiệm làm Sư đoàn trưởng. Đại tá Nguyễn Chấn, nguyên Chính ủy Sư đoàn 316 về làm Chính ủy Sư đoàn 337.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #62 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2024, 02:46:07 pm »


9 giờ ngày 19-2-1979, bộ phận tiền trạm xuất phát bằng máy bay lên thẳng. Tiếp đó, ngày 20 tháng 2, Trung đoàn 52 hành quân bằng ô tô. Các đơn vị khác hành quân bằng xe lửa do Binh trạm 18 của Bộ hiệp đồng tổ chức. Trên đường hành quân, Quân khu tiếp tục tổ chức bổ sung đủ quân số, vũ khí cho sư đoàn1.

Do yêu cầu của mặt trận, trong vòng 5 ngày đầu, sư đoàn phải ba lần thay đổi nhiệm vụ và vị trí đóng quân. Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Bắc (nay là Bắc Giang, Bắc Ninh) và nhân dân địa phương đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để sư đoàn hoàn thành nhiệm vụ.

Riêng Trung đoàn 4 (tức Đoàn Phong Quảng - tên ghép hai huyện Phong Điền và Quảng Điền tỉnh Bình Trị Thiên) được tỉnh Hà Bắc chi viện 20 xe chở ngược lên thị xã Bắc Giang kịp triển khai lực lượng chiến đấu trên mặt trận Lạng Sơn.

14 giờ ngày 25-2-1979, những phát súng đầu tiên của bộ phận đi đầu Trung đoàn 4 mở màn cho những tháng ngày “đạp bằng mọi khó khăn, trở ngại, phát huy mọi khả năng sẵn có, hăng hái xông tới, đánh thắng trận đầu, thắng liên tục, càng đánh, càng mạnh”2 của Sư đoàn 337 trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc.

7 giờ sáng 28-2-1979, đối phương tiến công vào tuyến phòng ngự của sư đoàn. Đại đội 9, Tiểu đoàn 3 chốt giữ điểm cao 649 án ngữ trên đường 1B đã liên tục đánh bại hàng chục đợt tiến công của một tiểu đoàn bộ binh, có hỏa lực yểm trợ mạnh. Đây là điểm cao nhất trong hệ thống các điểm cao 300, 400, 559, cầu Khánh Khê có ý nghĩa quan trọng đối với cả hai bên. Cuộc chiến đấu diễn ra cực kỳ ác liệt.

Đối phương tập trung vũ khí, lực lượng tiến công theo kiểu “lấy thịt đè người”. Đại đội 9 kiên quyết, bình tĩnh cơ động bám chắc, trụ vững. Có ngày, trung đội do đồng chí Nguyễn Minh Lệ chỉ huy trên hướng chủ yếu ở điểm cao 649 đánh lùi 18 đợt tiến công của bộ binh đối phương có pháo binh yểm trợ dày đặc.

Ở khu vực cầu và ngầm Khánh Khê, đối phương sử dụng 3 tiểu đoàn bộ binh, có hỏa tiễn 412 và pháo cối tập trung bắn mãnh liệt, hòng chọc thủng chốt phòng ngự do Đại đội 10 đảm trách. Tiểu đoàn 3 do đồng chí Trần Xuân Hoà làm tiểu đoàn trưởng, đánh lùi hàng chục đợt xung phong đối phương. Đại đội 10 phải hai lần thay đại đội trưởng, ba lần thay chính trị viên bị thương vong, nhưng “chốt” trận địa Khánh Khê vẫn được giữ vững. Đại đội 10 đã chiến đấu quyết liệt phá vỡ đội hình tiến công, buộc đối phương phải rút lui; góp phần cùng sư đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chặn đứng và đánh bại mũi vu hồi chiến dịch của đối phương.

Suốt 12 ngày đêm chiến đấu liên tục, giành giật quyết liệt để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, Sư đoàn 337 đã góp phần cùng các đơn vị bạn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến dịch được giao.

Sau đợt chiến đấu này, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh gửi thư khen ngợi sư đoàn: "Hành quân cấp tốc đến chiến trường khắc phục mọi khó khăn, nhanh chóng triển khai chiến đấu, đạt nhiều thành tích, hoàn thành nhiệm vụ được giao"3.

Thượng tướng Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam đến thăm đã ghi vào sổ vàng truyền thống của sư đoàn: "Sư đoàn 337 mới được thành lập, đã nhận nhiều nhiệm vụ rất nặng nề, khẩn trương cơ động ra biên giới phía Bắc, góp phần thắng lợi trong cuộc phòng thủ biên giới phía Bắc, đã và đang trưởng thành nhanh chóng"4.

Đặc biệt, tên gọi "Đoàn Khánh Khê" gắn chặt với chiến công vang dội bên cầu Khánh Khê lịch sử đã đi vào truyền thống vẻ vang của sư đoàn như một mốc son tự hào mãi mãi trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đảng bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân Quân khu 4 trân trọng ghi nhận những chiến công, thành tích và danh hiệu “Đoàn Khánh Khê” vào lịch sử vẻ vang của Quân khu, như một trong những trang mở đầu về cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Chiến thắng lịch sử và những kinh nghiệm bước đầu của sư đoàn 337 được phổ biến kịp thời tới các cơ quan, đơn vị, làm nức lòng quân và dân toàn Quân khu.

Trong khi Sư đoàn 337 làm nhiệm vụ chiến đấu ở biên giới phía Bắc, Quân khu cử đồng chí Phan Xuyến làm phái viên tham gia cùng đoàn cán bộ Tổng cục Chính trị do Đại tá Hoàng Kim - Cục trưởng Tuyên huấn phụ trách, trực tiếp đến các đơn vị trên tuyến Lạng Sơn - Bản Chắt - Đình Lập - Cao Ba Lanh - Tiên Yên, nắm tình hình, rút kinh nghiệm kịp thời phục vụ cho việc vận dụng kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị toàn Quân khu, trước mắt phục vụ lớp tập huấn cán bộ được tổ chức từ ngày 19-2 đến ngày 19-3-1979, nhằm sẵn sàng đối phó với tình huống mới có thể xảy ra.
____________________________________________
1. Đến Quảng Xương (Thanh Hoá), Trung đoàn 108 pháo binh nhận thêm 8 khẩu pháo 85. Đến ga Kép, Trung đoàn 52 (Tây Tiến) được bổ sung thêm đủ chiến sĩ mới theo Chỉ thị 117 Quân khu ngày 17-2-1979.
2. Nghị quyết Đảng ủy sư đoàn 337, họp tối 24-2, tại mặt trận Lạng Sơn.
3. Lịch sử Sư đoàn bộ binh 337 (Đoàn Khánh Khê), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 1998, tr. 47.
4. Các đồng chí Trần Minh Lệ, Trần Xuân Hoà, Nguyễn Xuân Hồng, Hà Đăng Ninh, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Xuân Hoà, Nguyễn Đức Nga, Nguyễn Văn Trinh, Chu Minh Vỹ, Nguyễn Xuân Sang, Nguyễn Thái Hoà, Lê Đức Thân, Vi Viết Thắng cùng với bao tấm gương tập thể và cá nhân tiêu biểu khác trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc biên giới phía Bắc đã góp phần tô thắm thêm truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung và truyền thống sư đoàn nói riêng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #63 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2024, 03:23:04 pm »


Trong ngày 19 tháng 2 và những ngày tiếp theo, Quân khu khẩn trương triển khai giao nhiệm vụ cho các đơn vị: Trung đoàn 16 pháo binh tập trung nghiên cứu khu vực tác chiến, bố trí đội hình chiến đấu (đài, trận địa, sở chỉ huy) nhằm thực hiện quyết tâm và kế hoạch tác chiến của Quân khu. Trung đoàn 414 công binh có nhiệm vụ bảo đảm cho các lực lượng vũ trang quân khu cơ động trên địa bàn Quân khu và trên các chiến trường khác khi chiến đấu; triển khai công tác phòng thủ về công trình, đường sá, bến vượt, Sở chỉ huy Quân khu; làm nòng cốt hướng dẫn cho các lực lượng vũ trang địa phương xây dựng tuyến phòng thủ trên địa bàn Quân khu. Sư đoàn 337 bàn giao Trung đoàn 222 cho Binh đoàn 678. Trung đoàn 245 thuộc Đoàn 565 chuyển về thuộc biên chế Đoàn 336 để xây dựng nông trường Bắc Hin Bun (xong trước ngày 10-3-1979). Đoàn 76 từ Ái Tử (Bình Trị Thiên) chuyển về Nghi Lộc (Nghệ Tĩnh), bảo đảm bí mật, an toàn, đi gọn đội hình thành một khối, theo quốc lộ 1A, cuối ngày 5-3-1979, triển khai xong ở vị trí mới.

Thực hiện Mệnh lệnh số 263/ML của Bộ Quốc phòng, Quân khu tổ chức tuyển quân, động viên quân dự bị để khôi phục đủ biên chế chiến đấu cho Sư đoàn 316B và 6 trung đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn bộ binh ven biển của ba tỉnh. Sau đó, Bộ Quốc phòng quyết định điều động 2 trung đoàn của quân khu 4 lên tăng cường lực lượng cho Quân khu 2. Đồng thời, Quân khu tổ chức thêm 30 tiểu đoàn bộ binh (trong số này, Bộ Quốc phòng điều một số tiểu đoàn tăng cường cho phía Bắc). Các khung huấn luyện chiến sĩ mới 441, 442 được giao nhiệm vụ huấn luyện đã tiếp nhận số chiến sĩ mới bước vào giai đoạn huấn luyện theo chương trình đề ra. Quân khu triển khai công tác tuyển quân năm 1979, theo kế hoạch của Bộ trước dự định 2 đợt, nay dồn đợt I đã hoàn thành theo chỉ tiêu giao.

Yêu cầu thời gian rất khẩn trương ngày 28-2-1979, các sư đoàn, trung đoàn khôi phục phải sẵn sàng chiến đấu được ngay. Các tiểu đoàn tổ chức thêm thì đến ngày 10-3-1979 phải hoàn thành huấn luyện và sẵn sàng nhận lệnh chiến đấu.

Ngày 1 tháng 3, Bộ trưởng Quốc phòng ra Quyết định số 207/QĐ-QP giao nhiệm vụ cho Quân khu 4 thành lập sư đoàn bộ binh chiến đấu trực thuộc Quân khu, mang phiên hiệu Sư đoàn 318, tổ chức xong trong tháng 3 năm 1979. Tiếp đó, ngày 4 tháng 3, Bộ trưởng Quốc phòng ra Quyết định số 151/QĐ-QP giao nhiệm vụ cho Quân khu 4 nhanh chóng kiện toàn Tiểu đoàn 74 và 2 tiểu đoàn bộ binh thuộc tỉnh Thanh Hoá, bàn giao cho Sư đoàn 313 của Quân khu 2, tại Vĩnh Tuy (Hoàng Liên Sơn) trước ngày 10-3-1979.

Cùng ngày 4 tháng 3 Tổng Tham mưu trưởng ra Quyết định số 145/QĐ-TM nêu rõ "Quân khu 4 có nhiệm vụ bàn giao Trung đoàn 214 cao xạ của Quân khu về thuộc Bộ tư lệnh đặc khu Quảng Ninh. Trung đoàn có mặt tại địa điểm mới trước ngày 10 tháng 3. Đồng thời Quân khu 4 phải xây dựng lại trung đoàn cao xạ khác thay thế vị trí nhiệm vụ Trung đoàn 214". Ngay sau đó, Trung đoàn 283 được thành lập xong trong tháng 3, gồm 138 sĩ quan, 802 hạ sĩ quan, chiến sĩ1.

Ngày 6-3-1979, Bộ trưởng Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Quân khu 4 tổ chức xong trung đoàn bộ binh trực thuộc tỉnh Bình Trị Thiên mang phiên hiệu Trung đoàn 755, xong trước ngày 10 tháng 3. Đồng thời chuyển Đoàn 74 Thanh Hoá thành Trung đoàn 762 bộ binh; Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 Nghệ Tĩnh thành Trung đoàn 763 và Trung đoàn 764 bộ binh.

Trước tình hình chiến sự đang tiếp diễn, địch có thể mở một hướng tiến công vào Quân khu 4 để phối hợp với phía Bắc, ngày 5 tháng 3, Bộ tư lệnh Quân khu ra Mệnh lệnh chiến đấu số 1 cho Trung đoàn 16 pháo binh; trong đó có 2 nhiệm vụ chủ yếu:

1. Nhanh chóng bổ sung quân số, đến ngày 20 tháng 3 xong gấp rút huấn luyện, nâng cao trình độ sẵn sàng cơ động phối hợp chiến đấu theo lệnh của Bộ.

2. Trước mắt, điều Tiểu đoàn pháo 74 về khu vực đã chuẩn bị ở Nghi Hương (Nghi Lộc, Nghệ Tĩnh) làm hoả lực đánh quân địch trên biển: đánh từ xa, đánh độc lập những tàu địch xâm phạm vùng biển Quân khu, trong khu vực đảm nhiệm của trung đoàn.

Chi viện cho đảo Mắt, đảo Ngư chiến đấu và hải thuyền ta hoạt động đánh địch trên biển. Cùng các cụm hoả lực của Nghệ Tĩnh tạo thành lưới hoả lực dày đặc, nhiều tầng, nhiều lớp ở "quyết chiến điểm" tiêu diệt tàu, xuồng đổ bộ của địch.

Ngày 25 tháng 4, Tổng Tham mưu trưởng ra Quyết định số 333/QĐ-TM giao cho Quân khu khẩn trương kiện toàn Trung đoàn 14 bộ binh - đổi phiên hiệu 816 bổ sung cho mặt trận Quảng Ninh (giao tại Tiên Yên, xong ngày 10-5-1979) và Quyết định số 331/QĐ-TM chấn chỉnh Trung đoàn 755 bộ binh bổ sung cho Quân đoàn 5 (giao tại thị xã Lạng Sơn xong ngày 10-5-1979).

Tính từ tháng 12-1978 đến 25-3-1979, Bộ Quốc phòng đã điều nguyên 1 sư đoàn, 4 trung đoàn, 5 tiểu đoàn bộ đội địa phương, 1 tiểu đoàn đặc công bổ sung cho mặt trận phía Bắc2.

Vừa mới tổ chức giao quân cho phía trước và hoàn thành vượt chỉ tiêu tuyển quân ngay trong đợt đầu (73.861/73.483 người), Quân khu lại được Bộ giao tiếp nhiệm vụ: Chuẩn bị cho Sư đoàn 316B cơ động; xây dựng các sư đoàn chiến đấu và đơn vị trực thuộc cho Quân đoàn 7 gồm: kiện toàn Trung đoàn 453 pháo binh và Trung đoàn 284 cao xạ; xây dựng 1 tiểu đoàn trinh sát bộ binh; 1 tiểu đoàn cảnh vệ và kiểm soát quân sự; 1 tiểu đoàn kho; 1 đội điều trị; 1 trạm khách; 1 trại kỷ luật; 3 đội chiếu bóng, thư viện, phát thanh; Phòng Quân báo; Phòng Pháo binh; Trường Quân chính; Trường Hạ sĩ quan; Trường Hậu cần. Tất cả công việc tổ chức xây dựng các đơn vị bàn giao cho Quân đoàn 7 xong ngày 30-4-1979.
___________________________________________
1. Ngày 30-3-1979, Bộ trưởng Quốc phòng ra Quyết định số 142/QĐ-QP thành lập trung đoàn này, mang phiên hiệu Trung đoàn 283, lúc đầu tạm gọi Trung đoàn 214B.
2. Gồm Sư đoàn 337 lên Lạng Sơn - Quân khu 1, Trung đoàn 755, bộ đội địa phương Bình Trị Thiên bổ sung cho Quân đoàn 5, Trung đoàn 14 bộ đội địa phương Thanh Hóa về Quân khu 2; Trung đoàn 214 cao xạ Quân khu và Trung đoàn 816 bộ đội địa phương Thanh Hoá về đặc khu Quảng Ninh; 5 tiểu đoàn bộ đội địa phương về Quân khu 2, Tiểu đoàn 33 về Binh chủng Đặc công.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #64 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2024, 03:27:52 pm »


Trong khi tập trung xây dựng các đơn vị chủ lực, Quân khu chú trọng xây dựng bộ đội địa phương. Ngày 10-3-1979, Bộ tư lệnh Quân khu chỉ thị cho Bộ chỉ huy quân sự ba tỉnh khẩn trương triển khai tổ chức thực hiện các công tác cấp bách, bao gồm tổ chức xây dựng lực lượng; xây dựng công trình phòng thủ; nhiệm vụ chiến đấu; phục vụ chiến đấu, sẵn sàng bổ sung cho bộ đội thường trực; phát động, tổ chức phong trào "quân sự hoá toàn dân, vũ trang toàn dân, toàn dân đánh giặc".

Khối lượng công tác khẩn trương và nặng nề, đến ngày 16 tháng 3 các tỉnh phải huy động lực lượng lớn gồm 1 sư đoàn, 1 trung đoàn và 18 tiểu đoàn bộ binh; 5 đội đặc công các tỉnh, 2 đội đặc công Quân khu; 1 tiểu đoàn và 1 trung đoàn pháo cao xạ; 3 đội điều trị; 240 lái xe xích, máy kéo (để lái xe tăng) và một số chuyên môn - kỹ thuật thông tin, bổ sung cho Quân khu1. Trong số 150.752 thanh niên, sau khi điều gấp 20.052 người khôi phục, tổ chức các đơn vị, còn 130.700 được sắp xếp tổ chức thành 7 sư đoàn bộ binh, 3 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn cao xạ, 3 trung đoàn thông tin, 3 tiểu đoàn trinh sát, 3 bệnh viện (Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh mỗi nơi 1 bệnh viện 300 giường, Bình Trị Thiên 1 bệnh viện 200 giường).

Số đơn vị này được huấn luyện sẵn sàng chiến đấu tại các địa phương và được sử dụng làm công trình phòng thủ cho tỉnh; đồng thời sẵn sàng cơ động chiến đấu khi có lệnh.

Ngoài công trình của tỉnh theo kế hoạch phòng thủ được Quân khu phê duyệt, các tỉnh tập trung xây dựng công trình tuyến 1 ở các huyện ven biển, các đảo, công trình sở chỉ huy, kho đạn, hầm hào thương binh; cấu trúc một số điểm tựa trên các cửa khẩu chính đường 217, đường Pù Nhi (Thanh Hoá), đường 7, đường 8 (Nghệ Tĩnh), đường 9 và đường 12 (Bình Trị Thiên). Tất cả các đơn vị tham gia xây dựng công trình đều được trang bị vũ khí bộ binh, đủ cơ số đạn, bảo đảm chiến đấu được ngay theo kế hoạch tác chiến. Công trình xây dựng đến đâu, tổ chức ngụy trang ngay đến đó.

Từ tỉnh đến cơ sở hình thành hệ thống lãnh đạo, chỉ huy ba lực lượng: chiến đấu, phục vụ chiến đấu và tổ chức công tác sơ tán về tuyến sau. Lực lượng chiến đấu và phục vụ chiến đấu bao gồm những đảng viên, dân quân du kích trẻ, khoẻ, được tổ chức, huấn luyện, thực tập theo kế hoạch, phương án tác chiến cụ thể. Ngoài các công sự chiến đấu và phòng tránh, các địa phương xây dựng căn cứ bí mật bảo đảm chiến đấu lâu dài.

Phương châm xây dựng là: Tổ chức lực lượng được đơn vị nào thì lực lượng của đơn vị ấy bảo đảm chiến đấu được ngay2.

Ngày 12-3-1979, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định thành lập 2 sư đoàn bộ binh trực thuộc Quân khu 4, mang phiên hiệu là Sư đoàn 358 và 348. Ngày 26 tháng 3, Bộ tư lệnh Quân khu ra Mệnh lệnh số 241/QL điều Trung đoàn 755 Bình Trị Thiên, Trung đoàn 14 Thanh Hoá (đều mới khôi phục) bao gồm toàn bộ tổ chức, quân số, trang bị, cơ sở vật chất hiện có, biên chế thành 2 trung đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn 358. Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá được giao nhiệm vụ động viên 4.523 quân dự bị 1, quân dự bị 2, gồm 494 sĩ quan, phụ trách sĩ quan thành lập 1 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn pháo binh, cơ quan và đơn vị trực thuộc trong biên chế Sư đoàn 358.

Thực hiện Mệnh lệnh số 251/QL của Bộ tư lệnh Quân khu, Sư đoàn 348 được tổ chức trên cơ sở điều Trung đoàn 763 Nghệ Tĩnh, bao gồm tổ chức, quân số, trang bị, cơ sở vật chất hiện có để biên chế 1 trung đoàn bộ binh trong sư đoàn. Đồng thời, giao cho Bộ chỉ huy quân sự Nghệ Tĩnh, động viên 6.851 quân dự bị hạng 1, hạng 2, gồm 698 sĩ quan và phụ trách sĩ quan, 5.117 hạ sĩ quan, chiến sĩ, nhân viên kỹ thuật tổ chức 2 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn pháo binh, cơ quan và các phân đội trực thuộc sư đoàn.

Nhiệm vụ hai Sư đoàn 755 và 348 được Thường vụ Đảng ủy Quân khu xác định: "... Ra sức huấn luyện, xây dựng về mọi mặt thực sự trở thành đơn vị chủ lực cơ động mạnh, chính quy, hiện đại, tinh nhuệ, thiện chiến, có trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng giỏi, chiến đấu độc lập giỏi, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng, tổ chức từ sư đoàn đến cơ sở thường xuyên vững mạnh, sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm, vụ được giao".

Với sự nỗ lực của Quân khu và các đơn vị đồng bộ, 2 sư đoàn được tổ chức xong trong tháng 4-1979 và bắt đầu vào tập huấn cán bộ, củng cố tổ chức quần chúng và triển khai huấn luyện theo yêu cầu "sẵn sàng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, chiến đấu được ngay"3. Mỗi sư đoàn gồm có 9.177 người, trong đó có 972 sĩ quan, đúng theo biên chế sư đoàn bộ binh loại 1 do Bộ quy định.
______________________________________________
1. Các tỉnh đã huy động gấp rút được 20.052 người (Thanh Hoá 6.873, Nghệ Tĩnh 12.035, Bình Trị Thiên 1.144 người) để tổ chức, khôi phục các trung đoàn, tiểu đoàn bộ binh, cao xạ, đặc công. Thanh Hoá có Trung đoàn 14, Tiểu đoàn bộ đội địa phương Hoằng Hoá, 1 tiểu đoàn, 1 trung đoàn cao xạ tăng cường cho Quân khu; 2 đội đặc công của tỉnh + 1 đội cho Quân khu, 1 đội điều trị, 140 lái máy kéo, xe xích. Nghệ Tĩnh có 1 sư đoàn bộ binh, 2 đội đặc công tỉnh, 1 đội quân khu, khôi phục 3 tiểu đoàn bộ đội địa phương huyện; 1 đội điều trị; 100 lái xe xích bổ sung cho trung đoàn xe tăng Quân khu. Bình Trị Thiên khôi phục các tiểu đoàn bộ đội địa phương huyện, 1 đội đặc công tỉnh, 1 đội điều trị và nhân viên kỹ thuật, thông tin, pháo thủ bổ sung cho Quân khu.
2. Theo Chỉ thị của Tham mưu trưởng Quân khu về trang bị và công tác bảo đảm cho các đảo thì tất cả các loại súng bộ binh trang bị đủ 8 cơ số đạn trở lên; các loại pháo mặt đất 10 cơ số; các loại pháo phòng không 12 cơ số; mỗi người 60 lựu đạn, các loại mìn, tuỳ tình hình thực tế từng đảo mà bố trí hợp lý.
3. Chỉ thị Thường vụ Đảng ủy Quân khu 4, hồ sơ lưu trữ tại Quân khu 4.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #65 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2024, 03:28:26 pm »


Tháng 4 năm 1979, Quân khu 4 tiếp nhận, củng cố Trung đoàn 453 pháo binh Quân khu 3, Trung đoàn pháo cao xạ (thiếu 1 tiểu đoàn) Quân khu 7, 2 tiểu đoàn cao xạ (1 từ Quân khu 5, 1 từ Quân khu 9). Tất cả các trung đoàn, tiểu đoàn này đều mới xây dựng1 .

Việc điều động quân dự bị động viên, tuyển thanh niên nhập ngũ ở các tỉnh Quân khu 4 diễn ra trong bối cảnh tổng quân số được điều vượt quá số đã huy động lớn nhất so với các năm trước, đồng thời lại phải tổ chức quân dự nhiệm; nên số thanh niên ít hẳn đi. Trước tình hình đó, các tỉnh đã kiên nghị Chính phủ và Bộ Quốc phòng cần có chính sách phù hợp.

Ngày 2 tháng 4, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá gửi Công văn số 05/TQ-UBTH báo cáo quyết tâm với Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban kế hoạch Nhà nước và Bộ Quốc phòng.

Trong tháng 3 và đầu tháng 4-1979, Thanh Hoá phải tuyển 39.176 người (có 48 đại học); chưa kể 3.000 công nhân quốc phòng, 2.000 công an vũ trang, 1.900 công an cảnh sát. Đến ngày 27-3-1979, tỉnh đã tuyển và chuyển giao xong 31.790 người, trong đó có 30.782 người giao cho các đơn vị chủ lực Quân khu 4 đầu tháng 4 năm 1979.

Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá nêu rõ: Thời gian rất ngắn, phải hoàn thành nhiệm vụ trên là rất khó khăn. Nhưng tỉnh xác định đây là nghĩa vụ cao cả phải đáp ứng kịp thời cho lực lượng vũ trang, nên đã phát động mạnh mẽ khí thế tuyển quân trở thành phong trào quần chúng mạnh mẽ, hoàn thành chỉ tiêu trên giao. “Tỉnh đề nghị thống nhất chỉ tiêu tuyển quân giao cho Thanh Hoá năm 1979 và trước mắt không điều 3.000 công nhân quốc phòng. Nếu có điều, thì đề nghị tỷ lệ nam chỉ bảo đảm 10 - 15%”.

Hai tỉnh Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên không đề nghị, nhưng cũng trong điều kiện tương tự như Thanh Hoá. Tuy vậy các tỉnh đều tuyển quân vượt chỉ tiêu2. Kế hoạch tổ chức lực lượng của Quân khu cũng bị chi phối mạnh mẽ bởi quy luật biến động và phát triển không đều ở các tỉnh. So với biên chế, dự kiến thiếu 18.300 người. Quân khu khẩn trương đề nghị Bộ có kế hoạch cho tuyển quân để bổ sung sớm3.

Trong khi đó, việc chỉ đạo triển khai các mặt công tác đều khẩn trương, phải hoàn thành đúng thời gian quy định.

Tháng 2-1979, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu thông qua, phê chuẩn quyết tâm phòng thủ của Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên. Tiếp đó, các tỉnh thông qua, phê chuẩn quyết tâm phòng thủ của các huyện, thành phố, thị xã trực thuộc. Cùng thời gian này, Quân khu tổ chức xây dựng được hệ thống hoả lực pháo binh trên tuyến ven biển gồm 14 cụm ở ba tỉnh (Thanh Hoá 5 cụm, Nghệ Tĩnh 5 cụm, Bình Trị Thiên 4 cụm). Sư đoàn 358 được lệnh rời khỏi sở chỉ huy từ Hưng Lộc (thành phố Vinh) ra đứng chân ở xã Hoằng Long, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Quân khu tuyển chọn 700 chiến sĩ mới bổ sung gấp cho Sư đoàn 324 thuộc Binh đoàn 678 và tổ chức chỉ huy, làm công tác bảo đảm, giao cho Binh đoàn ở Cánh Đồng Chum (Lào). Tổng cục Hàng không dân dụng được giao nhiệm vụ vận chuyển 700 chiến sĩ mới từ sân bay Gia Lâm qua sân bay Cánh Đồng Chum để chuyển giao cho Sư đoàn 324.
_____________________________________________
1. Quyết định số 252/QĐ-TM điều Trung đoàn 453 và Quyết định 250/QĐ-TM điều các đơn vị pháo cao xạ của Tổng Tham mưu trưởng.
2. Riêng Thanh Hoá đợt đầu 31.007/30.450 quân số điều động.
3. Đến ngày 14-4-1979, tổng quân số theo biên chế của Quân khu 4 tà 84.700 người (lực lượng chiến đấu 68.000. Trong đó lực lượng tập trung của quân khu 51.000, của các tỉnh 17.000; lực lượng xây dựng kinh tế 11.500; lực lượng xây dựng cơ bản 1.500; quân số nòng cốt sản xuất 1.700, quân số lâm thời 2.000). Thực lực có 105.751; quân số giảm trong năm 39.351, còn lại trong biên chế 66.400. Quân số thiếu so với biên chế 18.300.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #66 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2024, 12:44:50 pm »


*

*        *


Ngày 8-3-1979, Thường vụ Đảng ủy Quân khu họp quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng "về cuộc kháng chiến chống xâm lược”. Qua nghiên cứu các văn kiện của Đảng và Chính phủ, Thường vụ Đảng ủy Quân khu ra nghị quyết biểu thị sự nhất trí, hoàn toàn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, quyết tâm cùng các Đảng bộ địa phương phát huy sức mạnh tổng hợp của gần 7 triệu nhân dân và lực lượng vũ trang quân khu, kiên quyết đứng lên cùng cả nước đánh bại quân xâm lược, quét sạch chúng ra khỏi bờ cõi đất nước ta, bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc.

Sau khi nhận định về bản chất, âm mưu của đối phương, tính chất tự vệ, tính chất bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; những quan điểm tư tưởng, phương châm chỉ đạo cơ bản của Đảng, Thường vụ Đảng ủy Quân khu họp quyết tâm "Ta phải kiên quyết đánh mới nhất định thắng. Phải động viên cao độ nhân tài, vật lực, thực hiện "bảy triệu quân và dân Quân khu 4 là một ý chí, vừa chiến đấu, vừa sản xuất, tạo thành sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân để đánh thắng".

Thường vụ Đảng ủy Quân khu xác định rõ nhiệm vụ trước mắt của toàn Quân khu: "Từ Thanh Hoá đến Bình Trị Thiên nằm trong khu vực trực tiếp chuẩn bị chiến đấu; toàn bộ các lực lượng vũ trang quân khu đang ở trong thời chiến; các địa phương trong Quân khu thực hiện vũ trang toàn dân và quân sự hoá toàn dân theo Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ"1.

Để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của Quân khu trên một hướng chiến lược quan trọng, hậu phương chiến lược, khu vực tập kết chiến lược, địa bàn chống chia cắt chiến lược, Thường vụ Đảng ủy Quân khu quyết nghị những công tác cần kíp, trong đó tập trung: Đến hết tháng 3 năm 1979 toàn Quân khu, từng tỉnh và các đơn vị chuẩn bị xong thế trận chiến đấu đến cơ sở theo phương án Quân khu đã thông qua. Nếu xảy ra chiến tranh trên địa bàn Quân khu phải đến, bảo đảm chủ động đánh thắng ngay từ trận đầu, ngày đầu và trên tuyến đầu phòng thủ. Gấp rút chuẩn bị lực lượng ba thứ quân và lực lượng dự bị đủ mạnh theo yêu cầu đánh thắng tại chỗ, chi viện đắc lực cho tuyến 1, sẵn sàng chuẩn bị lực lượng lớn trong thời chiến.

Về chuẩn bị hậu phương, ngoài kế hoạch sẵn sàng chuyển từng bộ phận kinh tế sang thời chiến ở các tỉnh, riêng Nghệ Tĩnh và Thanh Hoá chuẩn bị địa bàn tập kết theo kế hoạch đã phân công; làm ngay các việc: trong sạch địa bàn, xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, sửa chữa đường sá, chuẩn bị vật liệu và sẵn sàng lực lượng để xây dựng các công trình, có kế hoạch sản xuất thực phẩm cung cấp tại chỗ.

Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh nắm chắc tình hình nhân lực, tài lực, vật lực, tính toán khả năng cung cấp cho thời chiến, có kế hoạch bảo đảm trước mắt và lâu dài làm căn cứ giao nhiệm vụ cho các ngành triển khai chuẩn bị thực lực cho động viên thời chiến.

Vấn đề lớn nhất của công tác đảng, công tác chính trị là nhanh chóng làm chuyển biến nhận thức, tư tưởng, tổ chức hành động phù hợp với tình hình nhiệm vụ chiến đấu, tập trung xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu, sẵn sàng xả thân hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì nhiệm vụ quốc tế cao cả, kiên quyết cùng với toàn quân và toàn dân đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược trong mọi tình huống, kể cả tình huống kéo dài và mở rộng chiến tranh.

Tất cả quân dân Quân khu 4 hướng ra tiền tuyến, luôn sẵn sàng về tư tưởng và tổ chức, có lệnh là lên đường chiến đấu, đã đánh là thắng. Đối với cán bộ: điều phải đi, đến phải nhận, thực hiện khẩn trương, đúng thời gian quy định. Trong lúc chưa có mệnh lệnh thì dồn toàn bộ tâm sức tổ chức xây dựng lực lượng, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện về tư tưởng, tổ chức, năng lực lãnh đạo, chỉ huy, trình độ kỹ thuật, chiến thuật, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân kết hợp chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, lao động sản xuất; chú ý các đơn vị mới xây dựng, các đơn vị kinh tế chuyển sang chiến đấu. Kiên quyết chống mọi biểu hiện chủ quan, đơn giản, dao động, hoài nghi, thiếu lòng tin, ngại ác liệt lâu dài, không dám tiếp tục chiến đấu xả thân vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Thường vụ Đảng ủy Quân khu yêu cầu toàn thể quân dân Quân khu nhận thức rõ nghĩa vụ thiêng liêng trước sự còn mất của Tổ quốc. Tổ quốc còn thì còn tất cả. Cả Quân khu đánh giặc, toàn dân là lính. Công tác động viên, tuyển quân, tổ chức quân dự nhiệm ngày càng lớn. Đăng ký hết, quản lý chặt chẽ, động viên nhanh trước hết là cán bộ; tổ chức đơn vị mới nhanh, gọn, đúng và vượt thời gian quy định, bảo đảm đủ cán bộ cho 33 tiểu đoàn, 20 - 25 trung đoàn, 3 sư đoàn, theo quy định của Bộ và Quân khu.

Theo tính chất nhiệm vụ của từng lực lượng, từng đối tượng và địa bàn, Thường vụ Đảng ủy đặt yêu cầu cụ thể các mặt công tác chuẩn bị, bảo đảm chất lượng và hiệu suất chiến đấu cao, đánh tiêu diệt gọn - cả trong tác chiến tiến công, phản công và phòng thủ; tranh thủ từng giờ, từng phút chạy đua với thời gian, huấn luyện cơ bản và cấp tốc, giải quyết kịp thời những mặt thiếu, mặt yếu của đơn vị; từng người mạnh, cả đơn vị mạnh; giờ sau, ngày sau chất lượng và sức chiến đấu cao hơn giờ trước, ngày trước.
______________________________________________
1. Hồ sơ 45/QKU - Lưu trữ Quân khu 4.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #67 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2024, 12:46:58 pm »


Bộ tư lệnh Quân khu triển khai đợt tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 1, coi đây là một nhiệm vụ trung tâm đột xuất của Quân khu, nhằm nỗ lực cao nhất, đẩy nhanh tốc độ huấn luyện và chất lượng chiến đấu của các lực lượng vũ trang, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, giành thắng lợi giòn giã ngay từ đầu, ở tuyến đầu, bảo vệ vững chắc các mục tiêu được giao.

Đợt huấn luyện khẩn trương này đặt trong ý đồ chỉ đạo chung của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, theo yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu và chuẩn bị chiến đấu đã được xác định cho từng đơn vị trên địa bàn Quân khu và trên các chiến trường khác. Do tình hình khẩn trương, cùng lúc phải triển khai nhiều công việc, yêu cầu chỉ đạo nội dung chất lượng huấn luyện được đặt ra nghiêm túc theo thời gian quy định: Huấn luyện xong tháng thứ nhất có thể chiến đấu tốt. Sau ba tháng, đạt trình độ thục luyện, bảo đảm đánh tập trung hiệp đồng binh chủng quy mô lớn và đánh độc lập trong các hình thức vận động tiến công, tập kích, phản kịch và phòng ngự. Bảo đảm mọi lực lượng đều được huấn luyện, nhất là những đơn vị cơ động mới thành lập.

Quân khu và các đơn vị liên tục mở các lớp tập huấn, bảo đảm cho cán bộ luân phiên học tập đầy đủ, có chất lượng các nội dung quy định; đi sát hướng dẫn, giúp đỡ cấp dưới huấn luyện bộ đội.

Bộ đội được tập trung học tập 10 giờ/ngày. Quân khu và mỗi đơn vị phát huy sức mạnh của mọi tổ chức, quán triệt thường xuyên các nội dung, mục tiêu/chỉ tiêu cuộc vận động "Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang” vào mọi lúc, mọi nơi. Việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội được đặt thành mục tiêu, chỉ tiêu thi đua gắn bó chặt chẽ với nhiệm vụ huấn luyện. Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thời sự, chính sách, thể dục, thể thao, tăng gia sản xuất được tổ chức hợp lý khoa học. Hoạt động bộ đội diễn ra khẩn trương, sôi nổi, lành mạnh, vui tươi; những nhu cầu thiết yếu hàng ngày của chiến sĩ được kịp thời giải quyết.

Quân khu tổ chức lớp tập huấn cán bộ trung đoàn, sư đoàn, cán bộ chủ trì các cơ quan quân sự tỉnh, cơ quan trung đoàn, sư đoàn, cán bộ cơ quan Quân khu tại Sở chỉ huy Quân khu với thời gian 35 ngày. Nội dung tập huấn gồm: quán triệt sâu sắc hơn tình hình nhiệm vụ; nhận rõ hơn đối tượng tác chiến; phương thức tác chiến chiến lược của ta, nguyên tắc tác chiến hiệp đồng binh chủng; nguyên tắc chiến thuật trong tác chiến tiến công và phòng ngự cấp sư đoàn, trung đoàn; chiến dịch phòng ngự bờ biển; công tác tham mưu, công tác đảng, công tác chính trị, công tác hậu cần trong tiến công, trong phòng ngự.

Trong 6 tháng đầu năm 1979, Quân khu đã mở được 303 lớp tập huấn cho 30.373 cán bộ (quý I: 105 lớp với 6.848 cán bộ; quý II: 198 lớp với 23.526 cán bộ). Các nhà trường đào tạo và bổ túc tổ chức được 62 lớp, 10.259 học viên (ra trường 4.593 sĩ quan, 1.136 nhân viên chuyên môn kỹ thuật). Các đơn vị tự bồi dưỡng được 1.739 nhân viên chuyên môn kỹ thuật. So với trước, công tác bồi dưỡng cán bộ được tập trung, có trọng điểm, hiệu quả thiết thực. Nhiều đơn vị, nhiều lớp học có chất lượng khá như các sư đoàn 316B, 318, Trường Quân chính Quân khu, tỉnh Bình Trị Thiên, các đơn vị pháo binh, thông tin.

Đối với chiến sĩ phân đội, đơn vị huấn luyện nhiều nhất là 3 tháng rưỡi (Sư đoàn 316B, các trung đoàn pháo binh, thiết giáp), đơn vị trung bình 2 tháng rưỡi (Sư đoàn 318, các trung đoàn thông tin, công binh, 3 trung đoàn địa phương). Cả ba trung tâm 441, 442 và 853 huấn luyện đợt I được 8.367 chiến sĩ mới. Bắn súng lần 1 và ném lựu đạn đạt loại giỏi. Các khoa mục khác đạt yêu cầu trở lên.

Các đơn vị bộ đội địa phương thời gian huấn luyện còn ít (5 - 6 tuần); một số tiểu đoàn, trung đoàn huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật đến cấp đại đội và luyện tập theo phương án chiến đấu. Nhiều đơn vị mới huấn luyện đến chiến thuật cấp tiểu đội.

Dân quân tự vệ huấn luyện xong đợt 1 về kỹ thuật, chiến thuật từng người và tổ chiến đấu. Huấn luyện kết hợp diễn tập một số phương án được 84% số xã (1.357/1.606 xã); 67% số đơn vị tự vệ (1.690/2.506); trong đó có 147 xã và 120 cơ sở huấn luyện xong chương trình cả năm và diễn tập theo phương án chiến đấu ở 166 xã, 449 cơ sở tự vệ.

Phát huy kết quả và kinh nghiệm huấn luyện giai đoạn 1, trong năm 1979 Quân khu tập huấn được 113.187 cán bộ, có 91.542 cán bộ bộ đội địa phương và dân quân tự vệ1, 5.536 cán bộ binh chủng, 3.324 nhân viên kỹ thuật. Đối với cán bộ cấp trung đội trưởng trở lên, Quân khu đã bồi dưỡng được 30.373 lượt cán bộ, trong đó có 14.491 lượt cán bộ thường trực, 15.882 lượt cán bộ dân quân tự vệ. Số bổ túc đào tạo ở các trường là 20.414 đồng chí (có 15.730 đã ra trường, 4.648 đang huấn luyện). Các trung tâm huấn luyện chiến sĩ mới khắc phục nhiều khó khăn, hoàn thành tốt 3 đợt huấn luyện gồm 16.788 chiến sĩ và huấn luyện gối đầu 1.489 người.

Huấn luyện quân dự bị động viên là một nhiệm vụ mới mẻ; nhưng trong một thời gian ngắn, Quân khu đã hoàn thành chương trình, nội dung cho 1 sư đoàn, đưa về cơ sở. Kiểm tra bắn đạn thật bài 1 đạt loại khá, ném lựu đạn giỏi, các khoa mục khác đạt yêu cầu. Ba trung đoàn ở ba tỉnh, một số tiểu đoàn huyện và 1 sư đoàn tiếp tục huấn luyện theo chương trình đề ra.

Đối với lực lượng vũ trang địa phương, Quân khu và các tỉnh tập trung nghiên cứu kỹ đối tượng tác chiến, thủ đoạn của chúng, cách đánh của làng xã chiến đấu ven biển, cách đánh của pháo đài huyện kết hợp với trung đoàn phòng ngự, cách đánh trên biển của các hải đội, hải đoàn và các lực lượng khác.
_____________________________________________
1. Nghệ Tĩnh đạt cao nhất: 74.830 người, Bình Trị Thiên: 9.390, Thanh Hoá: 7.322.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #68 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2024, 12:51:13 pm »


Sau một thời gian tập trung huấn luyện, toàn Quân khu đẩy mạnh tiến độ, chất lượng huấn luyện, diễn tập, kiểm tra trình độ sẵn sàng chiến đấu đã nâng lên một bước mới.

1.493/1.610 xã cơ bản hoàn thành chương trình huấn luyện rộng rãi cho dân quân tự vệ (92,6% tổng số xã), 60% số xã bắn đạn thật (Bình Trị Thiên 374/392 xã đạt 96%, Nghệ Tĩnh 565/664 xã đạt 87,9%, Thanh Hoá 554/554 xã đạt 100%). 1.945/2.161 cơ sở tự huấn luyện đạt 90%. Sinh viên học sinh các trường được huấn luyện 155.682 người, có 80% trở lên đạt loại khá, giỏi.

Trường Văn hoá Quân khu luyện thi đạt kết quả tốt; thi đại học và trung học chuyên nghiệp đạt 83%. Các trường hậu cần, kinh tế, các đội huấn luyện binh chủng và Trường Quân chính ba tỉnh cố gắng khắc phục nhiều khó khăn hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch (Trường Quân chính Thanh Hoá đào tạo, bồi dưỡng được: 1.753 cán bộ, Nghệ Tĩnh: 1.441, Bình Trị Thiên: 1.328; Trường Hậu cần Quân khu: 1.055; Trường Y Quân khu 748, Trường xe 668, Đội huấn luyện pháo binh 176, công binh 328, thông tin 677, cao xạ 191, trinh sát 287).

Bên cạnh hệ thống nhà trường, Thường vụ Đảng ủy Quân khu chỉ thị tổ chức Trường Đảng Quân khu và hệ thống các lớp huấn luyện về Đảng ở các đơn vị. Trường Đảng Quân khu (gồm có 3 đồng chí trong Ban giám hiệu) do đồng chí Phan Văn Đường - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy - Phó chính ủy Quân khu trực tiếp làm Hiệu trưởng kiêm Chính ủy. Nhiệm vụ của nhà trường là:

1. Bồi dưỡng lý luận công tác đảng, công tác chính trị cho cán bộ chính trị cấp đại đội, cho Bí thư chi bộ và cán bộ trung cấp thuộc các ngành trong Quân khu.

2. Bồi dưỡng giáo viên chính trị cho các lớp tập huấn về Đảng ở sư đoàn, Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh, các cục, các trung đoàn trực thuộc.

3. Tập huấn cho cán bộ các ngành nghiệp vụ công tác đảng, công tác chính trị theo chương trình thống nhất do Tổng cục Chính trị quy định. Nghiên cứu những vấn đề lý luận - thực tiễn phục vụ cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy, giúp cho sự chỉ đạo của cấp ủy về công tác đảng, công tác chính trị".

Nhiệm vụ các lớp huấn luyện về Đảng ở các đơn vị là: bồi dưỡng cho chi ủy viên, bồi dưỡng lý luận chính trị công tác đảng, công tác chính trị cho cán bộ sơ cấp.

Hưởng ứng chiến dịch huấn luyện do Bộ Quốc phòng phát động, Quân khu và các đơn vị, địa phương tích cực thực hiện sáng tạo, góp phần tạo ra bước đột phá mới cả về lãnh đạo, tổ chức chỉ huy, chỉ đạo và thực hiện. Nổi bật là tập trung bồi dưỡng cán bộ trước và trong quá trình huấn luyện, coi trọng nâng cao trình độ chỉ huy theo chức trách, bồi dưỡng công tác tham mưu cho cấp trung đoàn trở lên; đồng thời, chú trọng bồi dưỡng cán bộ cơ sở. Công tác huấn luyện các đơn vị tập trung, lực lượng vũ trang địa phương và quân dự bị động viên đạt kết quả tốt.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng ở các trường Quân khu "đúng hướng, tích cực, có nỗ lực rất cao, kiên quyết chấp hành đúng mệnh lệnh, chỉ thị của Bộ. Các nhà trường chú ý cải tiến nội dung, phương pháp huấn luyện, tăng cường cho học viên đi thực tế; bước đầu suy nghĩ, tìm tòi những cái mới để vận dụng vào huấn luyện, bảo đảm nâng cao chất lượng; nhất là trình độ tổ chức, chỉ huy, năng lực hành động. Tuyệt đại bộ phận cán bộ (bao gồm 400 lớp học tập, tập huấn với hơn 40.000 lượt sĩ quan, hạ sĩ quan, nhân viên chuyên môn nghiệp vụ ba thứ quân, hai lực lượng)1, bổ sung đi chiến đấu đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, có tinh thần chiến đấu ngoan cường, chấp hành kỷ luật nghiêm, quan hệ quần chúng tốt"2. Kết quả dạy và học của các nhà trường trong năm học 1978-1979 (10-1978 đến 10-1979) "đã làm cho cán bộ nhận thức đúng đắn những vấn đề cơ bản trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc"3, "đáp ứng yêu cầu cán bộ về số lượng và chất lượng”4. Trong đó Trường Quân chính Quân khu và Trường Hạ sĩ quan Quân khu đào tạo, bổ túc được 4.285 cán bộ và hạ sĩ quan tốt nghiệp ra trường 100%.

Đi đôi với chiến dịch huấn luyện, ngày 30-5-1979, Bộ tư lệnh Quân khu chỉ thị mở chiến dịch "bám biển quyết thắng giặc xâm lược". Trước mắt là tạo thế đoàn kết hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch đánh cá vụ năm, xây dựng thế trận chuẩn bị đánh địch trên biển, rút kinh nghiệm xây dựng thế trận liên hoàn cho những năm tiếp sau.

Lực lượng tham gia chiến dịch gồm có Tiểu đoàn Nguyễn Viết Xuân, các hải đội của xí nghiệp đánh cá Cửa Hội, hợp tác xã Hải Đông, Hùng Cường, Trần Phú của xã Nghi Hải (Nghi Lộc). Ngoài yêu cầu vượt chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao cho vụ cá, mỗi lao động phấn đấu sản xuất thêm 100kg cá "vì đồng bào 6 tỉnh biên giới ruột thịt, đánh thắng giặc xâm lược". Mỗi đơn vị đẩy nhanh, đẩy mạnh tốc độ, chương trình, chất lượng xây dựng, huấn luyện, kết hợp kế hoạch sẵn sàng chiến đấu, canh gác, tuần tra trên biển với sản xuất, tổ chức 1 - 2 lần diễn tập xử lý tình huống đề ra.

Xí nghiệp đánh cá Cửa Hội, các hợp tác xã Trần Phú, Hùng Cường, Hải Đông, mỗi nơi nhận đỡ đầu một đội tàu thuyền của Tiểu đoàn Nguyễn Viết Xuân, giúp tiểu đoàn nhanh chóng tiếp thu kỹ thuật tiên tiến trong đánh bắt hải sản.

Chiến dịch bám biển triển khai thực hiện trong 3 tháng (từ ngày 14-6 đến 14-9-1979), góp phần động viên mạnh mẽ tinh thần "bám biển như bám chiến trường" với khí thế cách mạng tiến công sôi nổi: "Người người sôi nổi tiến quân, mỗi tàu thuyền là mỗi mũi tiến công sắc bén, một pháo đài vững chắc trên biển". Các đơn vị đều tăng thời gian bám biển, tăng mẻ lưới, tăng năng suất và sản lượng, làm đà cho các chiến dịch sau. Đồng thời góp phần cổ vũ, động viên các hải đội, hải đoàn khác trong vùng cùng thi đua "Hai giỏi” (đánh cá giỏi, sẵn sàng chiến đấu giỏi).
_____________________________________________
1. Trong số này có 17.930 sĩ quan ra trường, bổ sung đơn vị chiến đấu 10.345. Tại các trường thường xuyên có 8.000 - 10.000 cán bộ và hạ sĩ quan tham gia học tập.
2, 3, 4. Báo cáo của Bộ tư lệnh Quân khu 4 ngày 20-11-1979 về kết quả dạy và học trong năm 1978-1979.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #69 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2024, 12:52:52 pm »


Trong một thời gian ngắn, quân và dân trên địa bàn đã "nỗ lực khắc phục nhiều khó khăn, phức tạp, từng bước hình thành được thế trận, tuyến phòng thủ mới trên từng địa bàn, tổ chức và xây dựng thêm nhiều lực lượng mới; tuyển quân vượt chỉ tiêu; huấn luyện chiến sĩ mới chi viện lực lượng cho phía trước vượt thời gian quy định; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ với khối lượng rất lớn, chất lượng ngày càng cao. Trình độ sẵn sàng chiến đấu, sức mạnh chiến đấu và chất lượng ba thứ quân được nâng lên; rõ nhất là các đảo, tuyến 1 ven biển và các trọng điểm"1.

Tuy vậy, tốc độ vẫn còn chậm, chất lượng không đồng đều, thế trận chuẩn bị chiến đấu chưa hoàn chỉnh, chưa bảo đảm vững chắc trong mọi tình huống.

Để tiếp tục "thực hiện nhiệm vụ và quyết tâm đánh thắng mọi hình thức chiến tranh xâm lược ngay trên tuyến 1, ngoài mép nước, kiên quyết không cho chúng chiếm bàn đạp và mở rộng chiến tranh, giành thắng lợi trong thời gian tương đối ngắn và sẵn sàng đánh lâu dài, lâu bao nhiêu cũng đánh và quyết đánh thắng hoàn toàn, đồng thời, làm tròn nhiệm vụ của hậu phương trực tiếp chi viện cho các hướng, trực tiếp nhất là hướng Bắc", Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu không ngừng quán triệt âm mưu địch, vị trí và nhiệm vụ Quân khu trước tình hình mới. Thực tiễn hai cuộc kháng chiến chống pháp, chống Mỹ cũng như những năm sau giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc cho đến cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc lần này đã chứng minh ngày càng thấm thía bài học hàng đầu này.

Đảng ủy Quân khu khẳng định rõ: "Quân khu 4 là tuyến đầu. Các xã ven biển từ Hải Vân trở ra nằm trong tuyến 1. Quân khu 4 là chiến trường chống vu hồi và chia cắt chiến lược. Quân khu 4 có thể trở thành một trong những hướng quyết chiến chiến lược khi cuộc chiến diễn ra giằng co quyết liệt và diễn biến phức tạp trên hướng chủ yếu".

Vai trò hậu phương của quân khu 4 cũng được nhận thức sâu sắc hơn: "Là hậu phương gắn liền với hậu phương chiến lược quốc gia và là hậu phương trực tiếp của chiến trường miền Bắc, mà Thanh Nghệ Tĩnh là trực tiếp nhất". “Khi ba nước trên bán đảo Đông Dương trở thành một chiến trường thì Quân khu 4 sẽ là hậu phương trực tiếp của chiến trường Đông Dương”.

Trên cơ sở nhận thức sâu sắc đó, quân và dân Quân khu 4 khẩn trương, tích cực chuyển mạnh phong trào hành động gấp rút hoàn thành chương trình công tác "bảy nội dung trước mắt" theo một hướng tư tưởng kiên định. "Kẻ địch đánh vào Quân khu 4 là một khả năng thực tế - nhất là đảo và tuyến 1, với nhiều tình huống khác nhau, quy mô lớn, nhỏ khác nhau".

Trong số 8 công việc cấp bách, Quân khu đặt rõ thêm trách nhiệm cho các tỉnh dựa vào khả năng từng địa phương, tổ chức lực lượng cho phù hợp nhiệm vụ bảo vệ địa bàn; bảo đảm cho các đảo đủ lực lượng đánh liên tục, dài ngày, sắp xếp đội hình các đơn vị làm nhiệm vụ trên tuyến phòng thủ, khu vực phòng ngự then chốt để xây dựng trận địa và huấn luyện theo phương án tác chiến đề ra.

Các tỉnh phát động chiến dịch toàn dân tham gia xây dựng trận địa trên các đảo, các tuyến phòng thủ, các khu vực phòng ngự, các vành đai bảo vệ thị trấn, thị xã, thành phố (gồm công sự bắn, hầm trú ẩn, đài quan sát, sở chỉ huy, trận địa pháo, hầm thương binh, hầm chứa đạn dược, lương thực, hào giao thông). Ở các vùng đồi núi đất cứng, tổ chức đào địa đạo dã chiến.

Trong những tháng mùa mưa, toàn Quân khu triển khai kế hoạch sẵn sàng chiến đấu đề phòng các cuộc tập kích phá hoại các bến cảng, kho tàng, bãi tập trung trang bị kỹ thuật, các đầu mối giao thông, khu kinh tế quan trọng, các đê đập trọng yếu... Trong số đó, các đảo, thị trấn Bỉm Sơn, thị xã Thanh Hoá, các khu vực Cửa Lò, Cửa Hội, Vinh - Bến Thủy, Đèo Ngang, Đồng Hới, Cửa Việt, Cửa Thuận, thành phố Huế và Phú Lộc là trọng điểm của các khu vực bảo vệ.

Trong lúc Quân khu triển khai bổ sung phương án tác chiến, ngày 26-6-1979, Bộ Tổng Tham mưu ra mật lệnh giao nhiệm vụ cho Quân khu tổ chức bàn giao Sư đoàn 316B (mang phiên hiệu 356) về làm lực lượng dự bị cơ động của quân khu 2, sẵn sàng cơ động lên Điện Biên làm nhiệm vụ chi viện cho hướng Bắc Lào khi có lệnh.

Ngày 6-7-1979, Bộ tư lệnh Quân khu 4 ra mệnh lệnh hành quân cho Sư đoàn 356 quy định: Sư đoàn tổ chức đơn vị hành quân từ Tân Kỳ (Nghệ An) đến tỉnh Hoàng Liên Sơn. Yêu cầu là chuẩn bị chu đáo, lãnh đạo, chỉ huy chặt chẽ, bí mật, an toàn, đi gọn đội hình, đến đúng thời gian, địa điểm quy định, giữ tốt kỷ luật giao thông. Đường hành quân từ Tân Kỳ đến ga Si và ga Cầu Giát đi xe lửa ra ga Bảo Hà, rồi tiếp tục hành quân đến địa điểm quy định. Đội hình hành quân lấy trung đoàn làm đơn vị theo thứ tự: Trung đoàn 149, Trung đoàn 153, Sư đoàn bộ, Trung đoàn 150, Trung đoàn 174. Sau cùng là các loại pháo và cơ sở vật chất kỹ thuật còn lại.

Kế hoạch hành quân được Quân khu phê duyệt thực hiện từ ngày 10 đến ngày 22-7-1979, sư đoàn triển khai xong ở vị trí mới.

Quân khu quyết định chuyển giao toàn bộ khu doanh trại của Sư đoàn 356 ở xã Kỳ Sơn (Tân Kỳ), Giang Sơn (Đô Lương), Thịnh Thành (Yên Thành), ngã ba Săng Lẻ (Quỳ Hợp) thuộc quyền quản lý sử dụng của Sư đoàn 318. Sư đoàn 356 và Sư đoàn 318 tổ chức giao nhận đầy đủ theo đúng thủ tục, đầy đủ hồ sơ (bao gồm đất đai xây dựng, đất tăng gia, sản xuất, doanh trại, vật liệu làm nhà, thao trường học cụ...).
____________________________________________
1. Nghị quyết Đảng ủy Quân khu 4 (11-12.6.1979), lưu tại Bộ tư lệnh Quân khu 4.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM