Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:29:18 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005)  (Đọc 76685 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #70 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2024, 12:54:59 pm »


Chấp hành mệnh lệnh ngày 1-7-1979 của Bộ tư lệnh Quân khu, Sư đoàn 318 tổ chức cho các đơn vị từ Nghi Lâm (Nghi Lộc), Hiến Sơn (Đô Lương), Diễn Lộc (Diễn Châu), Viễn Sơn (Yên Thành) về thay thế Sư đoàn 356 đứng chân ở Kỳ Sơn - Làng Rào (huyện Tân Kỳ), ngã ba Săng Lẻ (Quỳ Hợp), Giang Sơn (Đô Lương), Thịnh Thành (Yên Thành).

Cuộc tổ chức hành quân, giao nhận, kết hợp vận chuyển hai chiều (chở Sư đoàn 356 xuống ga Si, ga Cầu Giát, chở Sư đoàn 318 lên thay thế vị trí cũ của Sư đoàn 356) diễn ra khẩn trương, an toàn. Đây là một dịp thử thách thực tế trình độ cơ động sẵn sàng chiến đấu, ý thức tổ chức kỷ luật của quân cơ động Quân khu, đúc rút được kinh nghiệm về nhiều mặt cho Quân khu từ cơ quan đến đơn vị. Trong 15 ngày (từ ngày 10 đến ngày 25-7), đội hình chiến đấu mới của hai Sư đoàn 356 và 318 đã triển khai xong.

Đồng thời với việc điều chuyển hai sư đoàn 356 và 318, ngày 14-7-1979, Quân khu chỉ thị cho các đơn vị thực hiện kế hoạch tổ chức lực lượng năm 1979 theo quy định của Bộ Quốc phòng. Quá trình triển khai thực hiện, rút kinh nghiệm thực tế, Quân khu và các đơn vị đã giải quyết tốt mối quan hệ giữa xây dựng kinh tế và củng cố quốc phòng; nghiên cứu tính toán khoa học, cụ thể, tỷ mỷ xác định khi biên chế, tổ chức lực lượng1. Riêng cơ quan chính trị Quân khu, Tổng cục Chính trị điều chỉnh bổ sung: Tổ chức thêm Phòng Địch vận Quân khu (tuyến 1 gồm 6 sĩ quan có 1 phiên dịch; tuyến 2: 3 sĩ quan có 1 phiên dịch)2.

Chấp hành Quyết định số 228/TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 688/QĐ-QP của Bộ trưởng Quốc phòng, Quân khu tổ chức một số đơn vị dự bị động viên như: Chuyển ngay Sư đoàn 358 thành sư đoàn dự bị động viên; thành lập Sư đoàn 359 thuộc Quân khu; đồng thời thành lập 3 trung đoàn dự bị động viên ở ba tỉnh (Trung đoàn 840 thuộc Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá, Trung đoàn 841 thuộc Bộ chỉ huy quân sự Nghệ Tĩnh, Trung đoàn 842 thuộc Bộ chỉ huy quân sự Bình Trị Thiên). Nhiệm vụ của các đơn vị quân dự bị động viên được quy định rõ: Cùng cơ quan quân sự địa phương đăng ký; quản lý, theo dõi quân dự bị được sắp xếp vào biên chế đơn vị; khi có lệnh, nhanh chóng tập trung nhận nhiệm vụ đúng thời gian quy định; tổ chức xây dựng, huấn luyện đơn vị theo thời gian quy định; bảo đảm đơn vị luôn luôn sẵn sàng chiến đấu; huấn luyện dân quân tự vệ, quân dự bị động viên theo nội dung, chương trình Quân khu và tỉnh giao.

Ngoài các đơn vị dự bị động viên trên, mỗi tỉnh tổ chức 1 sư đoàn chưa có phiên hiệu và một số tiểu đoàn (Thanh Hoá 16 tiểu đoàn, Nghệ Tĩnh 22 tiểu đoàn, Bình Trị Thiên 12 tiểu đoàn). Các lực lượng này vẫn tiến hành huấn luyện rộng rãi, thực hiện “quân sự hoá toàn dân, vũ trang toàn dân”, sẵn sàng chiến đấu.

Riêng Sư đoàn 358 nhanh chóng kiện toàn mọi mặt, tổ chức huấn luyện cán bộ và quân dự bị sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu vào cuối năm 1979. Ngày 12-7, Bộ tư lệnh Quân khu giao nhiệm vụ cụ thể cho Sư đoàn 358. Ngày 20-7 hoàn thành việc kiện toàn khung sư đoàn. Mọi mặt công tác chuẩn bị của sư đoàn được tiến hành đầy đủ. Từ ngày 21-7 đến ngày 10-8-1979, sư đoàn tập trung huấn luyện cán bộ. Chỉ trong một tháng, vừa chuẩn bị địa điểm đóng quân, quan hệ với các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, các đoàn thể ở Thanh Hoá, chuẩn bị mọi mặt công tác chính trị - tư tưởng, bảo đảm vật chất, tinh thần cho bộ đội, tiếp nhận trang bị, vũ khí. Từ ngày 14 đến ngày 20-8-1979, sư đoàn và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã hoàn thành việc giao nhận chiến sĩ quân dự bị. Ngày 20-8-1979, đợt huấn luyện chiến sĩ Sư đoàn 358, bắt đầu và hoàn thành chương trình vào cuối tháng 10-1979.

Ngày 25-7-1979, Bộ tư lệnh Quân khu chỉ thị nhiệm vụ cho Sư đoàn 359. Công tác điều động sĩ quan dự bị hoàn thành trong tháng 9. Tháng 10, tập trung huấn luyện cán bộ, chuẩn bị địa điểm để tiếp nhận chiến sĩ, triển khai mọi công tác bảo đảm và tháng 12 bắt đầu điều động quân dự bị, tổ chức huấn luyện theo chương trình, nội dung quy định.

Đối với Sư đoàn 318, Bộ tư lệnh Quân khu tiếp tục kiểm tra, đánh giá tình hình và chỉ thị giao thêm một số nhiệm vụ mới. Trong một thời gian ngắn, sư đoàn phát triển đều trên các mặt, có nhiều triển vọng với khí thế và quyết tâm cao. Tuy nhiên, việc quán triệt tình hình, nhiệm vụ chưa thật sâu; công tác chính trị chưa đi sát huấn luyện. Trong huấn luyện chưa chú ý toàn diện. Việc bồi dưỡng điển hình ở các đơn vị chưa tích cực, thường xuyên.

Quân khu xác định và giao trách nhiệm cho sư đoàn quán triệt sâu sắc hơn nữa đối với bộ đội về nhiệm vụ cơ bản của sư đoàn. Đây là sư đoàn chủ lực bộ binh cơ động của Quân khu có nhiệm vụ chiến đấu trên địa bàn Quân khu và sẵn sàng đi các hướng khi cần thiết. Trên cơ sở quyết tâm và kế hoạch phòng thủ cơ bản của Quân khu, sư đoàn xây dựng các phương án và kế hoạch tác chiến trên các hướng thuộc hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hoá. Nhiệm vụ cụ thể của sư đoàn được xác định: rèn luyện, xây dựng thành sư đoàn chính quy, hiện đại, tinh nhuệ, thiện chiến, đánh tập trung hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, tiến công và phản công giỏi, phòng ngự vững chắc, kiên cường. Ra sức xây dựng sư đoàn vững mạnh toàn diện. Đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, phấn đấu vượt các chỉ tiêu Quân khu đề ra; nghiên cứu ổn định vị trí đóng quân của sư đoàn, từng bước xây dựng doanh trại, cải thiện đời sống tinh thần, vật chất của bộ đội. Đồng thời, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ quốc tế được giao.
______________________________________________
1. Theo quy định của Bộ, Quân khu phân bổ cụ thể như sau: lực lượng chủ lực Quân khu 31.609; lực lượng các tỉnh: 13.391 (Thanh Hoá 4.587, Nghệ Tĩnh 4.656, Bình Trị Thiên 4.148). Tổng quân số chiền đấu là 45.000; quân số xây dựng cơ bản 1.500; quân số nòng cốt sản xuất 1.200; quân số lâm thời 2.000. Chưa tính quân số xây dựng kinh tế.
2. Cục Chính trị Quân khu đã có 185 người (88 sĩ quan) gồm 1 chủ nhiệm, 2 phó chủ nhiệm, Phòng Tuyên huấn 20 sĩ quan, Phòng Tổ chức 14 sĩ quan và 1 hạ sĩ quan, Phòng Cán bộ 18 sĩ quan, Phòng Bảo vệ 10 sĩ quan, Phòng Chính sách 10 sĩ quan, Phòng Kế hoạch - Hành chính 4 sĩ quan. Trợ lý công tác chính trị nội bộ 1 sĩ quan, Văn công có 3 sĩ quan và các phân đội trực thuộc như: Vật tư, công tác chính trị, bảo tàng, xưởng in, trại T41.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #71 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2024, 01:20:08 pm »


Nhằm chuẩn bị thế trận sẵn sàng chiến đấu, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu tập trung đầu tư một số mặt công tác cơ bản. Tháng 5 năm 1979, Quân khu tổ chức hội nghị cán bộ chủ trì các cấp từ trung đoàn trở lên nhằm nghiên cứu quán triệt kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc. Hội nghị tập trung nghiên cứu những vấn đề chủ yếu, trong đó có các nội dung cốt lõi, đã được đúc kết, vận dụng vào thực tiễn: quán triệt quyết tâm chiến lược, xây dựng ý chí quyết đánh, quyết thắng; quán triệt đường lối, quan điểm, tư tưởng quân sự của Đảng trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc; xây dựng và phát triển lực lượng, nâng cao chất lượng chiến đấu của các lực lượng vũ trang, đáp ứng yêu cầu chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu; đồng thời xây dựng và kiện toàn cơ quan chính trị các cấp, cải tiến phương pháp, tác phong công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang.

Hội nghị đánh giá tình hình xây dựng Đảng, thực hiện cuộc vận động lớn “Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang”; tổ chức rút kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị trong động viên quân dự bị ở thành phố Vinh; sơ kết việc thực hiện Nghị quyết 228 của Bộ Chính trị và chủ trương tổ chức sinh hoạt chuyên đề trong cấp ủy bàn về "tăng cường quản lý giáo dục, nâng cao kỷ luật của các lực lượng vũ trang, chấm dửt các vụ vi phạm nghiêm trọng".

Về công tác xây dựng Đảng, Hội nghị nêu rõ: Tình hình phát triển đảng viên chưa theo kịp yêu cầu phát triển của nhiệm vụ. Nhiều quần chúng tốt được thử thách nhưng chưa được các cấp tích cực bồi dưỡng đưa vào Đảng, nên tỷ lệ lãnh đạo ngày càng sút giảm1.

Sau Hội nghị này, Đảng ủy Quân khu chỉ đạo chuyên đề "tăng cường công tác phát triển Đảng, kiện toàn tổ chức Đảng trong lực lượng vũ trang". Yêu cầu phấn đấu đến tháng 10 năm 1979, các đại đội đều có chi bộ chính thức vững chắc; mỗi chi bộ có 7 đảng viên trở lên, tạo cơ sở tiền đề để năm 1980 tất cả các chi bộ đại đội đều có chi ủy, trung đội có tổ Đảng.

Để khắc phục tình hình hoạt động của các tổ chức cơ sở 3 cấp chưa chuyển biến mạnh về phương thức, nhất là cấp trung đoàn vẫn theo nếp cũ (mang tính chất cấp trên cơ sở), Quân khu giao cho Cục Chính trị trực tiếp chỉ đạo 1 trung đoàn của Sư đoàn 318 rút kinh nghiệm về hoạt động cơ sở.

Một trong ba biện pháp quan trọng được Quân khu đặc biệt coi trọng là: Tất cả mỗi cấp, mỗi đảng viên đều căn cứ vào 10 điểm quy định của Ban Bí thư Trung ương Đảng để đi sâu vào chức trách, nhiệm vụ, tự phê bình và phê bình. Cấp ủy coi trọng trách nhiệm xây dựng Đảng. Đảng viên rà xét sâu vào ý chí chiến đấu, ý thức tổ chức kỷ luật, trách nhiệm và hiệu quả trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, rèn luyện trau dồi phẩm chất đạo đức. Cùng với việc chỉ đạo "điểm" của Quân khu, tất cả các nơi đều phải thực hiện đi xuống 2 cấp để kiểm tra, hướng dẫn thực hiện và rút kinh nghiệm hoạt động của Đảng ủy cơ sở và chi bộ.

Đến cuối năm 1979, toàn Quân khu đã kết nạp được 3.200 đảng viên mới. Đội ngũ cán bộ các cấp và tổ chức Đảng được thường xuyên kiện toàn, bồi dưỡng. Hiệu lực lãnh đạo của các cấp ủy, hiệu lực chỉ huy của chế độ thủ trưởng bước đầu có chuyển biến. Công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ lực lượng vũ trang, chống chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp đều triển khai có kết quả.

Chấp hành chỉ thị của đồng chí Lê Duẩn - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, chỉ thị của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trong dịp hai đồng chí vào thăm, làm việc với Quân khu 4 đầu năm 1979, Bộ tư lệnh Quân khu và các đơn vị vừa tập trung hoàn thành nhiệm vụ. huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, vừa triển khai chương trình, kế hoạch góp phần tham gia xây dựng huyện Nam Đàn quê Bác về mọi mặt. Thay mặt Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu, Trung tướng Lê Quang Hoà - Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu báo cáo Trung ương Đảng, Chính phủ và hai đồng chí đứng đầu cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng và Chính phủ những kết quả bước đầu nhưng có ý nghĩa như: Tham gia với Tỉnh ủy Nghệ An và Huyện ủy Nam Đàn về phương hướng, nhiệm vụ, chỉ tiêu xây dựng Nam Đàn. Bố trí lực lượng tham gia đào mương chống úng đắp đê phòng lũ ở vùng trọng điểm lúa; tham gia chiến dịch trồng màu, giúp 1.000kg giống khoai Hoàng Long, cử cán bộ kỹ thuật trực tiếp giúp đỡ hướng dẫn ươm nhân giống và thâm canh, cử cán bộ kỹ thuật giúp xây dựng Xưởng cơ khí 19-5 sản xuất công cụ cầm tay, máy công tác phục vụ nông nghiệp quy mô 560 tấn sản phẩm/năm, giá trị sản lượng 1 triệu đồng. Ngoài ra còn giúp đỡ xây dựng đường giao thông, giúp gieo ươm cây thông giống và tham gia trồng 180ha đồi thông; giúp các xã điểm xây dựng một số công trình nhà trẻ, trường mẫu giáo, vườn thuốc nam và cơ sở chế biến tự túc thuốc chữa bệnh; tham gia giảng dạy trường Đảng; cử cán bộ tham mưu về phương án kế hoạch xây dựng thế trận an ninh quốc phòng. Thường vụ Đảng ủy Quân khu trực tiếp truyền đạt các nghị quyết về quốc phòng.

Việc tham gia trực tiếp xây dựng quê hương Bác góp phần nâng cao tình cảm thiêng liêng, ý thức trách nhiệm, lòng biết ơn sâu nặng đối với Bác, mở ra tiền đề, nền nếp tiếp tục những năm sau.

Với truyền thống tự lực tự cường, kết hợp tranh thủ sức mạnh đoàn kết "quân dân một ý chí", Quân khu gửi thư thông báo cho các lực lượng vũ trang chủ trương xây dựng Viện quân y 4 tại thành phố Vinh, quyết tâm nhanh chóng chuyển Viện quân y 4 từ Thanh Cát về trong năm 1979. Ngoài lực lượng chủ yếu là Cục Hậu cần Quân khu và Trung đoàn 105, các đơn vị, các cơ quan đăng ký đóng góp lao động, kỹ thuật, vật liệu xây dựng. Các xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng của Quân khu ưu tiên số 1 cung ứng cho nhu cầu của Viện quân y 4. Thanh niên các cơ quan Quân khu, các trung đoàn 105, 654, 223, 167; các sư đoàn, trung đoàn chủ lực và địa phương tích cực tham gia "chiến dịch lao động quyết thắng thi công công trình Viện quân y 4 phục vụ thương binh, bệnh binh” hoàn thành đúng vào dịp kỷ niệm 35 năm ngày thành lập quân đội (22.12.1944 - 22.12.1979).
___________________________________________
1. Mặc dù trong 3 tháng (tháng 4 đến tháng 6 năm 1979) Quân khu đã tập huấn 30.260 cán bộ các cấp, trong đó có 1.680 Bí thư chi bộ; các chi bộ kết nạp 865 đảng viên mới, nhưng vẫn còn 30 "chi bộ dự bị", 20 đại đội không có chi bộ. Đảng viên trung bình từ 2,09% (cuối năm 1978) tăng lên 2,98% (năm 1979); chi bộ chưa phấn đấu tốt còn chiếm tới 9,06 (tăng 1,05).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #72 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2024, 01:22:14 pm »


Trước những thiệt hại trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc, một số đơn vị đã chủ động đề nghị Quân khu cho phép quyên góp giúp đỡ đồng bào các tỉnh phía Bắc bị chiến tranh tàn phá. Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu gửi thư cho toàn bộ cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên, kêu gọi "hướng về cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc" phát huy tinh thần hữu ái giai cấp, đoàn kết quân dân; cho phép các đơn vị tổ chức lao động sản xuất lấy tiền, gạo gửi giúp. Chủ trương này được khắp nơi nhanh chóng hưởng ứng. Nguyên tắc là không rút bớt tiêu chuẩn bộ đội, không trừ vào tiền lương, phụ cấp. Ai ai cũng gắng làm nên sản phẩm lao động để tăng tiềm lực và thiết thực bày tỏ tình cảm “máu chảy ruột mềm” gắn bó với nơi nước sôi, lửa bỏng".

Những tháng cuối năm 1979, nhịp độ mọi mặt công tác của Quân khu ngày càng trở nên khẩn trương. Những đợt mưa kéo dài đã làm sập bờ gây hư hại nhiều công sự dã chiến. Ngày 23-9-1979, cơn bão số 10 đổ bộ vào bắc Bình Trị Thiên, gây lũ lụt lớn ở Lệ Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch. Bộ tư lệnh Quân khu điều động một số xe lội nước, phương tiện và lực lượng nhanh chóng cơ động kịp thời đến vùng "rốn lụt" Lệ Ninh lức 21 giờ, phối hợp cùng lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương, cứu dân bị nạn và cứu tài sản bị ngập lụt.

Trong khi đó, các đơn vị, địa phương khẩn trương triển khai thực hiện Mệnh lệnh tác chiến số 1 (ngày 24-9-1979) của Bộ Quốc phòng theo 3 tình huống có thể xảy ra ở Quân khu 4, với 5 nhiệm vụ cụ thể. Các địa phương, đơn vị huy động lực lượng khẩn trương xây dựng, củng cố lại trận địa, hầm hào, theo tư tưởng chỉ đạo "xây dựng bằng gạch đá và lắp ghép công sự có nắp, loại trừ dần công sự tạm bợ". Đồng thời, kiểm tra, tăng cường chất lượng thế trận. Nhìn chung, lực lượng ba thứ quân đã được huấn luyện và đứng chân theo phương án 3 tình huống.

Lực lượng chủ lực Quân khu có 1 sư đoàn và 3 trung đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn đặc công, các trung đoàn binh chủng kỹ thuật. Quân đoàn 7 đang xây dựng (gồm 3 sư đoàn) được Bộ giao cho Quân khu 4. Lực lượng dân quân tự vệ 93 vạn1. Khi chiến tranh xảy ra, trong chiến đấu, Quân khu có thể được chi viện cao nhất từ 30 - 40 lần/chiếc máy bay cường kích oanh tạc, một số máy bay trinh sát phục vụ chỉ huy, cấp cứu, tải thương thuộc Sư đoàn không quân 372.

Nếu kẻ địch đổ bộ chủ yếu vào Quân khu 4, Quân khu được lực lượng của vùng I hải quân, một bộ phận của Hạm đội 171 và Lữ đoàn 126 hải quân lục chiến thuộc Bộ tư lệnh Hải quân hiệp đồng tác chiến. Quân khu còn có trung đoàn phòng không bảo vệ sân bay Thọ Xuân phối hợp với không quân tiêm kích Sư đoàn 372 bảo vệ không phận Quân khu 4 ở khu vưc trọng điểm. Trong khi tiếp tục phát triển thêm lực lượng theo kế hoạch động viên thời chiến2 với khối lượng lớn và khẩn trương, Quân khu dồn sức tập trung chỉ đạo các cuộc diễn tập và tổ chức bắn đạn thật vào các mục tiêu trên biển cho các loại pháo.

Mở đầu là cuộc diễn tập bắn đạn thật các loại pháo cối mang vác và pháo xe kéo của tỉnh Bình Trị Thiên. Nhiệm vụ là: bắn mục tiêu trên biển, cự ly bắn trên dưới 10 kilômét; bắn mục tiêu tạm dừng của quân đổ bộ ở ba cự ly 7km, 3km và 1km. Tiếp đó là diễn tập theo phương án tác chiến trên khu vực phòng thủ tỉnh Thanh Hoá. Đề mục diễn tập là trung đoàn bộ đội địa phương tỉnh tổ chức và thực hành chiến đấu phòng ngự đánh quân địch đổ bộ đường biển trong pháo đài quân sự huyện và cụm chiến đấu liên hoàn trên hướng phòng ngự của tỉnh. Khu vực diễn tập là huyện Quảng Xương và thị trấn Sầm Sơn. Cơ quan quân sự Quảng Xương và Sầm Sơn cùng Trung đoàn 840 và 1 đại đội pháo chốt ở Sầm Sơn là lực lượng chính đảm nhiệm xử trí các tình huống. Bộ chỉ huy quân sự Thanh Hoá chịu trách nhiệm tổ chức chỉ đạo, chỉ huy, triển khai thực hành diễn tập. Cơ quan Quân khu cử cán bộ trực tiếp chỉ đạo diễn tập.

Chấp hành chủ trương của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương về chấn chỉnh hệ thống tổ chức cơ quan kỹ thuật trong toàn quân, ngày 24-2-1979 Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 177/QĐ-QP thành lập Cục Kỹ thuật ở các quân khu, quân đoàn, quân binh chủng. Ngày 15-9-1979, Bộ tư lệnh Quân khu ra quyết định thành lập Cục Kỹ thuật, trực thuộc Bộ tư lệnh Quân khu.

Cùng thời gian, Bộ tư lệnh Quân khu lệnh cho Sư đoàn 359 hành quân từ xã Hưng Dũng (thành phố Vinh) đến khu vực xã Diễn Lộc (huyện Diễn Châu), xã Đức Thành (huyện Yên Thành). Sư đoàn triển khai đội hình trong thời gian 3 ngày từ lúc nhận lệnh (ngày 17-9-1979).

Sư đoàn 318 triển khai diễn tập thực binh cấp trung đoàn và thủ trưởng cơ quan hai cấp (sư đoàn, trung đoàn) theo tư tưởng chỉ đạo chiến lược: "Phòng ngự và tiến công là một, phản công và tiến công là một, và tiến công”. “Kết hợp chặt chẽ chiến tranh nhân dân của binh đoàn chủ lực với chiến tranh nhân dân địa phương, tạo thành sức mạnh tổng hợp đánh thắng quân xâm lược".

Phương pháp là: Diễn tập thực binh trung đoàn, cả quân sự, chính trị, hậu cần theo phương pháp một bên, có "quân xanh" và đạn hơi tượng trưng cho tình huống chiến đấu. Đồng thời, diễn tập thủ trưởng và cơ quan hai cấp theo phương pháp tập bài chiến thuật tại thực địa kết hợp với các chỉ thị, mệnh lệnh, thông báo của cấp trên, với việc báo cáo tình hình của các đơn vị, của hệ thống chỉ huy cấp dưới.

Phân cấp chỉ đạo diễn tập thực binh trung đoàn do sư đoàn tổ chức. Diễn tập thủ trưởng và cơ quan hai cấp do Quân khu tổ chức, chỉ đạo; tổ chức hệ thống đạo diễn các cấp tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn, các binh chủng. Vùng nam Cửa Lò (trên địa bàn hai xã Nghi Thu, Nghi Thủy, huyện Nghi Lộc) được chọn làm khu vực diễn tập. Khu tập kết, giấu quân, đường hành quân, vị trí triển khai ở phía tây các xã Nghi Thu, Nghi Thủy.

Diễn tập thủ trưởng và cơ quan hai cấp diễn ra trên toàn bộ địa bàn huyện Nghi Lộc, liên quan đến việc hành quân, tập kết ở các huyện phía sau như Yên Thành, Đô Lương. Cuộc diễn tập thực binh được tiến hành trong 4 ngày. Diễn tập thủ trưởng và cơ quan hai cấp 4 ngày.
____________________________________________
1. Đây là theo mệnh lệnh của Bộ, lúc đó Quân khu đã có 979.786 dân quân tự vệ (14.4% dân số), dân quân tự vệ chiến đấu 547.096.
2. Theo đó, Quân khu phải xây dựng xong 2 sư đoàn, 3 trung đoàn, 44 tiểu đoàn dự nhiệm, đưa quân số thường trực lên 10 vạn (không kể Quân đoàn 7) nâng số lượng dân quân tự vệ từ 93 vạn năm 1979 lên 128 vạn vào năm 1981, trong đó có 60 vạn thuộc lực lượng chiến đấu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #73 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2024, 01:22:55 pm »


Chủ động đối phó với tình hình mới, ngày 2-10-1979, Bộ Quốc phòng quyết định điều Quân đoàn 7 về trực thuộc Quân khu 4 từ ngày 15-10-1979. Bộ Quốc phòng xác định: “Quân đoàn 7 là lực lượng cơ động của Quân khu 4, đồng thời là lực lượng dự bị của Bộ”. Ngoài nhiệm vụ chỉ huy, lãnh đạo các sư đoàn trong đội hình, Quân đoàn 7 “có trách nhiệm giúp Quân khu 4 quản lý, huấn luyện Sư đoàn 318 bộ binh của Quân khu”.

Cùng với việc được tăng cường Quân đoàn 7, ngày 2-10-1979, Bộ tư lệnh Quân khu chỉ thị huấn luyện bổ sung cho các trung đoàn địa phương và dân quân tự vệ, trong đó quy định một số nội dung chủ yếu: Các trung đoàn địa phương của 3 tỉnh (gồm các trung đoàn 6, 762, 764) phải huấn luyện trung đoàn phòng ngự bờ biển; huấn luyện thành thạo từ cá nhân đến đại đội; huấn luyện chiến thuật đại đội, tiểu đoàn cho cán bộ; huấn luyện nghiệp vụ công tác tham mưu cho cơ quan trung đoàn; tiến hành diễn tập thực binh trung đoàn kết hợp với pháo đài quân sự huyện. Các binh chủng pháo binh của các tỉnh huấn luyện các đại đội pháo dọc bờ biển và kiểm tra sẵn sàng chiến đấu. Cán bộ, dân quân tự vệ của một số huyện trọng điểm ven biển và phía sau thì tập trung huấn luyện cán bộ đại đội, xã đội về chiến thuật cấp trung đội, đại đội; huấn luyện dân quân tự vệ thành thạo kỹ thuật bắn từ bờ ra biển và thành thạo chiến thuật cá nhân, tổ, tiểu đội phòng ngự. Các huyện phía sau huấn luyện tiểu đội, trung đội, đại đội đánh địch đổ bộ đường không bằng máy bay lên thẳng. Bộ tư lệnh Quân khu chỉ thị cho tỉnh Thanh Hoá về kế hoạch tổ chức thực hiện bắn đạn thật các loại hoả lực vào mục tiêu trên biển. Lực lượng tham gia bắn gồm Đại đội 14 phòng thủ ở Sầm Sơn, Đại đội 15 phòng thủ ở Lau Chẹt; Tiểu đoàn 6 cơ động có 2 đại đội đóng ở Sầm Sơn. Khu vực bắn từ Sầm Sơn đến Lau Chẹt. Hai đại đội 14 và 15 lần lượt bắn đơn pháo vào mục tiêu cố định trên biển. Hai đại đội của Tiểu đoàn 6 cùng hai đại đội 14 và 15 bắn tập trung vào một mục tiêu cố định trên biển.

Chấp hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IV) và Nghị quyết Đảng ủy Quân sự Trung ương mở rộng (8-1979), trong hai ngày 20 và 21-10-1979, Đảng ủy Quân khu họp quyết định về nhiệm vụ khẩn trương, cấp bách là quyết thắng trong tình huống 1, tình huống 2, tiếp tục chuẩn bị đối phó với tình huống chiến tranh lớn, hoàn thành mọi nhiệm vụ, chỉ tiêu kế hoạch năm 1979, chuẩn bị tốt cho nhiệm vụ năm 1980. Thực hiện Nghị quyết Đảng ủy Quân khu ngày 22-11-1979, Thường vụ Đảng ủy Quân khu 4 chỉ thị cho các lực lượng vũ trang quân khu sẵn sàng chiến đấu chống địch tiến công đổ bộ đường biển vào Quân khu. Chỉ thị nêu rõ: "Hiện nay nước ta đang ở trong tình huống 1, bọn xâm lược đang ráo riết chuẩn bị hành động phiêu lưu quân sự mới, nên tình hình đang ở thời điểm nóng bỏng sắp xảy ra chiến tranh". Các đơn vị trong Quân khu phải tập trung cao độ vào nhiệm vụ hàng đầu là khẩn trương nâng cao hơn nữa chất lượng mọi mặt công tác chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, loại trừ bằng được mọi bất ngờ, "phải thực sự chuẩn bị cho toàn Quân khu, từng đơn vị, từng địa phương sẵn sàng chiến đấu cao nhất, bước vào cuộc chiến đấu chống quân xâm lược đổ bộ tiến công từ biển vào Quân khu".

Các địa phương, đơn vị rà soát, bổ sung, tăng cường mọi mặt chuẩn bị, bảo đảm trên toàn hệ thống phòng thủ đánh bại được địch trong tình huống 1, các tỉnh hoàn thành chuẩn bị đầy đủ phương án đánh thắng tình huống 2 có diễn tập.

Trong thời gian ngắn, tổ chức xong hệ thống làng, xã chiến đấu ven biển, không nơi nào sơ hở. Trên các trọng điểm xây dựng các điểm tựa, cụm điểm tựa liên hoàn vững chắc của pháo đài quân sự huyện ven biển. Xây dựng xong hệ thống công sự nòng cốt, các cụm điểm tựa ven biển, nhất là các khu vực trọng điểm, các khu vực phòng ngự chủ yếu. Các nơi hoàn thành dồn vũ khí, trang bị từ phía sau lên phía trước, hoàn chỉnh bố trí hệ thống hoả lực, mạng lưới quan sát, phát hiện địch; thông tin, có kiểm tra báo động thử.

Quán triệt chỉ thị của Thường vụ Đảng ủy Quân khu, cấp ủy, Bộ (ban) chỉ huy quân sự các cấp, các đơn vị vạch kế hoạch, định thời gian thực hiện nghiêm túc. Các tỉnh ủy, huyện, thành, thị ủy và các cấp chính quyền thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo điều hành tổ chức thực hiện. Nhiệm vụ trọng tâm là triển khai diễn tập từ xã, cụm chiến đấu ven biển đến Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Ban chỉ huy quân sự huyện, diễn tập chỉ huy cơ quan và đơn vị, liên quan đến nhiều khâu hiệp đồng, nhiều lực lượng. Nhờ quán triệt sâu sắc tình hình nhiệm vụ bức bách và mục tiêu đánh thắng, công tác chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu chống địch tiến công đổ bộ đường biển trên toàn Quân khu được vận hành thông suốt, bảo đảm chấp hành đúng thời gian quy định. Bộ Tham mưu Quân khu xác định lịch diễn tập từng khu vực và từng tỉnh.

Ngày 3-12-1979, Bộ tư lệnh Quân khu gửi công văn đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá, nêu rõ mục đích, yêu cầu nội dung, địa bàn diễn tập, lực lượng tham gia, thời gian diễn tập và đề nghị Ủy ban nhân dân giúp đỡ.

Cuộc diễn tập chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn một - chuẩn bị chiến đấu từ ngày 8 đến 11-12-1979. Giai đoạn hai - thực hành chiến đấu từ ngày 12 đến 16-12-1979.

Địa bàn nghiên cứu: diễn tập gồm Sầm Sơn, Quảng Xương, thị xã Thanh Hoá, các huyện Nông Cống, Tĩnh Gia, Hậu Lộc, Hoằng Hoá. Khu vực trọng tâm tập trung diễn tập là Sầm Sơn, Quảng Xương và thị xã Thanh Hoá. Bộ tư lệnh Quân khu trực tiếp chỉ đạo cuộc diễn tập.

Lực lượng tham gia gồm Bộ (ban) chỉ huy và cơ quan quân sự tỉnh, các huyện, thị, một số đơn vị của Quân khu (bao gồm Sư đoàn 318, các đơn vị binh chủng), bộ đội địa phương tỉnh, huyện và một số lực lượng dân quân tự vệ Sầm Sơn, Quảng Xương, thị xã Thanh Hoá.

Ngày 20-12-1979, cuộc diễn tập cấp tỉnh trên địa bàn Quân khu diễn ra ở Thanh Hoá đã kết thúc thắng lợi. Quân khu và các địa phương, đơn vị đã kịp thời rút kinh nghiệm bổ sung chủ trương, kế hoạch tác chiến của đơn vị mình sát đúng, hiệu quả hơn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #74 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2024, 01:27:31 pm »


*

*        *

Năm 1979 là một năm thử thách toàn diện ở đỉnh cao đối với cả nước cũng như đối với Quân khu 4.

Lợi dụng và kết hợp với chiến tranh xâm lược diễn ra trên biên giới phía Bắc (2-1979), các thế lực thù địch tăng cường ráo riết các hoạt động phá hoại, quấy rối hậu phương trên các địa bàn, cả ở biên giới, nội địa và trên biển.

Thường xuyên quán triệt tình hình nhiệm vụ mới, đường lối, quan điểm quân sự của Đảng trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nhận thức kẻ thù mới, đối tượng tác chiến mới sâu sắc, triệt để, toàn Quân khu đã có chuyển biến nhiều mặt, tinh thần cảnh giác nâng cao hơn, ý thức chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu có chiều sâu và thiết thực.

Quyết tâm phòng thủ của Quân khu được Bộ phê chuẩn. Trong năm 1979, Quân khu đã thông qua quyết tâm, 2 lần giao nhiệm vụ cho ba tỉnh (tháng 1 và tháng 11-1979). Các tỉnh, huyện căn cứ vào kế hoạch tác chiến Quân khu phê chuẩn đã có biện pháp cải tạo địa hình, tiến hành làm trong sạch địa bàn, cấu trúc công sự, tăng cường bổ sung lực lượng, trang bị vũ khí, bố trí vật chướng ngại, tuần tra canh gác, chốt giữ, phong toả.

Hệ thống phòng thủ bờ biển đã có các điểm tựa, cụm điểm tựa, làng xã chiến đấu, cụm chiến đấu. Trên một số trọng điểm hình thành cụm chiến đấu liên hoàn (Thanh Hoá 1/5 cụm, Nghệ Tĩnh 2/6 cụm, Bình Trị Thiên 2/6 cụm).

Bên cạnh 13.572 cán bộ, chiến sĩ các đơn vị chủ lực chiến đấu tương đối ổn định tổ chức biên chế, đã huấn luyện xong chương trình huấn luyện năm 19791, lực lượng bộ đội địa phương các tỉnh được tăng cường cả về số lượng và chất lượng2. Quân dự bị động viên được tổ chức, huấn luyện tốt3.

Lực lượng làm kinh tế đứng chân trên địa bàn chiến lược, vừa kết hợp xây dựng các công trình, vừa có lực lượng cơ động chiến đấu (trong đó có 3.334 quân của Sư đoàn 565 làm đường 7, có 900 quân của Trung đoàn 185 làm lực lượng cơ động chiến đấu; 2.682 quân của Sư đoàn 336 làm đường 8, có 1.100 quân của 2 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 875 và 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 271 làm lực lượng cơ động chiến đấu); 1.321 quân của Trung đoàn 148 làm đường 48B; 356 quân của Trung đoàn 223 đứng chân ở Phúc Sơn (Anh Sơn) làm xi măng; 528 quân của Trung đoàn 167 đứng chân ở Rào Gang (trên đường 15B) làm gạch ngói.

Dân quân tự vệ được chấn chỉnh, bổ sung nâng tổng số lên 1.051.933 người (đạt tỷ lệ 15,6% số dân); trong đó dân quân tự vệ chiến đấu 682.387 người, chiếm tỷ lệ 64,8% tổng quân số dân quân tự vệ. Quy mô tổ chức lực lượng dân quân tự vệ có bước phát triển mới. Toàn Quân khu có 27 trung đoàn, 21 tiểu đoàn cơ động, 38 tiểu đoàn tại chỗ, 1.552 đại đội cơ động, 2.137 đại đội tại chỗ, 1.971 trung đội cơ động, 4.873 trung đội tại chỗ, 3 hải đoàn và hải đội.

So với năm 1978, lực lượng bộ đội địa phương và dân quân tự vệ tăng 2 đến 5 lần, nhất là vùng trọng điểm. Sức chiến đấu của các lực lượng tại chỗ và cơ động được nâng cao, đáp ứng được yêu cầu cao về chi viện tiền tuyến. Sau khi bổ sung cho phía trước 3 sư đoàn, 5 trung đoàn, 7 tiểu đoàn đi gọn (tăng hơn năm 1978 hai lần), Quân khu khẩn trương xây dựng mới 1 sư đoàn bộ binh, 2 sư đoàn dự bị động viên, 3 trung đoàn bộ đội địa phương tỉnh, 3 trung đoàn dự bị động viên. Quân khu đã tổ chức xong Cục Kỹ thuật và hệ thống phòng, ban kỹ thuật các cấp.

Cơ quan Quân khu, tỉnh, huyện, trung đoàn, sư đoàn và Quân đoàn 7 hướng mạnh vào phục vụ lãnh đạo chỉ huy sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ địa bàn.

Cùng với chỉ đạo các cấp tiến hành diễn tập theo phương án tác chiến ở 246 xã, 2 huyện, 3 trung đoàn bộ đội địa phương, 3 trung đoàn của Sư đoàn 318, 25 tiểu đoàn bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực, Bộ tư lệnh Quân khu trực tiếp chỉ đạo một số cuộc diễn tập trên các hướng trọng điểm và các đơn vị trọng điểm nòng cốt đạt kết quả tốt4 theo yêu cầu kết hợp hai phương thức cơ bản.

Công tác bảo đảm chỉ huy, thông tin liên lạc và bảo đảm vật chất kỹ thuật (cả yêu cầu trước mắt và dự trữ chiến đấu), xây dựng công trình vĩnh cửu, bán vĩnh cửu và dã chiến đã có chuyển biến mạnh mẽ, huy động được sức mạnh tổng hợp xây dựng thế trận5. Không tính các công trình do bộ đội công binh thi công; riêng 1.750km hào giao thông và chiến hào, 44.750 công sự hoả khí, 136km rào, 84 trận địa pháo mặt đất, 723 trận địa pháo cao xạ, 131.523 hố chiến đấu, 8.996 hầm ẩn nấp, 266km đường cơ động với 2.690.684 công đều do nhân dân đóng góp xây dựng trong một thời gian ngắn, đã chứng minh kết quả vận dụng sáng tạo phương châm "Nhà nước, toàn dân và quốc phòng cùng làm" trong điều kiện mới.

Căn cứ hậu cần chiến dịch trên địa bàn Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh được xác định và triển khai. Hệ thống kho tàng đã xây dựng theo kế hoạch. Quân khu đã thực hiện được các chỉ tiêu, kế hoạch vận tải, chuyển quân, bảo dưỡng, sửa chữa trang bị kỹ thuật, nuôi dưỡng, điều trị thương binh, bệnh binh. Các tỉnh và các ngành của Quân khu đã giữ tốt và phát huy mối quan hệ phối hợp, hiệp đồng, hợp tác xã hội chủ nghĩa trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trong xây dựng hậu cần tại chỗ.

Trong điều kiện các thế lực thù địch luôn ráo riết hoạt động phá hoại bằng chiến tranh chính trị, tư tưởng, tâm lý, công tác đảng, công tác chính trị đã góp phần đắc lực và có hiệu quả tăng cường sức mạnh chính trị, tinh thần, tư tưởng, tổ chức. Đường lối, quan điểm, tư tưởng quân sự, khoa học và nghệ thuật quân sự của Đảng trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Quân khu 4 vận dụng, phát triển lên tầm cao mới. Cuộc vận động lớn "Phát huy bản chất tốt đẹp nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân", các hoạt động thi đua trong các dịp kỷ niệm, nhất là kỷ niệm 35 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân được đẩy mạnh trên khắp các lĩnh vực, các địa phương, đơn vị, tạo khí thế mới, chất lượng mới. Trong năm 1979, Quân khu đã kết nạp 3.200 đảng viên mới. Hầu hết các bí thư chi bộ trong Quân khu được bồi dưỡng tập huấn 1 tháng. Công tác tư tưởng và công tác tổ chức kết hợp chặt chẽ, góp phần kiện toàn và nâng cao sức mạnh lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, hiệu lực chỉ huy của chế độ thủ trưởng. Các tổ chức Đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức công tác chính trị được củng cố, kiện toàn theo Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Quân ủy Trung ương xây dựng Đảng bộ quân đội trong tình hình mới.
_____________________________________________
1. Bao gồm Sư đoàn 318, các trung đoàn binh chủng (16 pháo binh, 283 cao xạ, 206 xe tăng, 414 công binh, 80 thông tin, 654 ô tô vận tải, 31 đặc công).
2. Thanh Hoá có Trung đoàn 762: 1.197 người, Nghệ Tĩnh có Trung đoàn 764: 1.053 người, Trung đoàn 6 Bình Trị Thiên: 1.264 người.
3. Đợt 1 huấn luyện xong 2.853 người gửi về địa phương quản lý. Đang triển khai đợt 2 huấn luyện quân dự bị gồm 3 trung đoàn (Trung đoàn 840 Thanh Hoá: 1.390 người, Trung đoàn 841 Nghệ Tĩnh: 1.924 người, Trung đoàn 842 Bình Trị Thiên: 2.139 người). Hai sư đoàn dự bị động viên Quân khu thì Sư đoàn 358 hoàn thành huấn luyện đợt 1 gửi về địa phương 8.474 đồng chí, còn lại khung 1.590 đồng chí (530 sĩ quan); Sư đoàn 359 có 6.298 quân dự bị, riêng khung 1.248 (có 569 sĩ quan).
4. Diễn tập pháo đài quân sự huyện trên 2 hướng Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh. Trong diễn tập pháo đài quân sự huyện có trung đoàn bộ đội địa phương tỉnh làm nòng cốt và tổ chức bắn đạn thật các loại súng, pháo đạt kết quả tốt. Diễn tập thủ trưởng và cơ quan hai cấp Sư đoàn 318, diễn tập thực binh cấp trung đoàn ở 2 trung đoàn thuộc Sư đoàn 318.
5. Dự trữ lương thực đủ 57.800 quân ăn 1 tháng, thực phẩm khô bảo đảm 15 ngày, thuốc chiến thương cấp đủ tỷ lệ và có dự trữ 5.000 suất ở kho Quân khu. Đạn pháo phòng không từ 5,2 tấn đến 12,3 cơ số, đạn pháo mặt đất từ 2,1 đến 6,3 cơ số. Toàn Quân khu huy động 2.743.865 công, 3.890m3 gỗ, 16.138m3 đá, 11.170m3 cát. 116 tấn sắt, 82 tấn xi măng, 1.797 tấn vôi xây đường hầm và công sự pháo.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #75 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2024, 02:22:30 pm »


II- TĂNG CƯỜNG SỨC MẠNH TỔNG HỢP, BẢO ĐẢM ĐÁNH THẮNG TRONG TÌNH HUỐNG VỪA CÓ HOÀ BÌNH, VỪA CÓ THỂ XẢY RA CHIẾN TRANH, ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI NHIỀU MẶT CỦA ĐỊCH


Năm 1980 cả nước sôi nổi chuẩn bị kỷ niệm các ngày lịch sử trọng đại của dân tộc trong điều kiện nước nhà vừa có hòa bình, vừa có thể xảy ra chiến tranh. Năm 1980 cũng là thời điểm bắt đầu thực hiện “chế độ thủ trưởng”, thực hiện chế độ ngày Đảng, hoàn thành phát thẻ Đảng, tiến hành hội nghị cán bộ Đảng theo quy định mới của Đảng.

Chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, ngày 28-1-1980, Đảng ủy Quân khu 4 triệu tập Hội nghị cán bộ Đảng bộ Quân khu. Đây là hội nghị lần đầu của Đảng bộ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng. Hội nghị thay thế cho Đại hội Đảng, có vị trí quan trọng như Đại hội Đảng.

Hội nghị vinh dự được đón Đại tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương1, chỉ đạo Hội nghị và nói chuyện với các cán bộ vào chiều 28-1-1980.

Hội nghị đã nhất trí với báo cáo của Đảng ủy Quân khu về tình hình thực hiện các nhiệm vụ trong những năm qua; đóng góp ý kiến vào phương hướng nhiệm vụ 2 năm 1980-1981, vào bản tự phê bình của Đảng ủy Quân khu.

Trong những năm qua, Quân khu đã làm được những việc lớn và cơ bản, đạt được chuyển biến mạnh mẽ và toàn diện, thu được kết quả tốt đồng đều trên các nhiệm vụ, nâng cao thế và lực quốc phòng, khả năng phòng thủ sẵn sàng chiến đấu của quân khu lên một bước mới, hoàn thành nhiệm vụ Bộ giao cho Quân khu hàng năm. Riêng về kết quả chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, Hội nghị nhấn mạnh những bước chuyển biến mới: "Từ chỗ Quân khu và địa phương có lúc để bị bất ngờ, đến nay đã chủ động hơn, đang phấn đấu để loại trừ mọi bất ngờ; có khả năng đánh thắng địch trong tình huống chúng phá hoại, gây sức ép và phát động chiến tranh giới hạn vào Quân khu; bước đầu tạo cơ sở để tiếp tục chuẩn bị đề phòng địch gây chiến tranh xâm lược quy mô lớn".

Nhiệm vụ cơ bản trong 2 năm 1980-1981 được xác định: "Đẩy mạnh công tác phòng thủ sẵn sàng chiến đấu, đưa tổ chức phòng thủ Quân khu vào thế vững chắc, bảo đảm luôn luôn sẵn sàng đánh bại mọi hành động mới của địch. Ra sức nâng cao chất lượng tổng hợp của các lực lượng vũ trang nhân dân. Tiếp tục đẩy mạnh nhiệm vụ sản xuất, tự giải quyết một phần lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng và xây dựng cơ bản, thuốc chữa bệnh và hàng tiêu dùng, hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế được cấp trên giao cho2. Thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quốc tế giúp Bạn Lào được phân công”3.

Từ khi hợp nhất Quân khu, Đảng ủy Quân khu thường xuyên giữ đúng chế độ sinh hoạt theo định kỳ, quyết nghị những vấn đề phù hợp với nhiệm vụ, phạm vi quyền hạn lãnh đạo của cấp mình; thường xuyên giữ đúng chế độ tập thể nghiên cứu học tập các nghị quyết của Đảng; giữ đúng chế độ tự phê bình và phê bình. Các sinh hoạt của Đảng ủy Quân khu có chất lượng, chuẩn bị tốt, bao gồm khâu chuẩn bị đề án của Thường vụ, khâu chuẩn bị đề xuất ý kiến của các cơ quan giúp việc và các đảng ủy viên nghiên cứu trước đề án và lấy ý kiến đóng góp phê bình của cấp dưới.

Với tinh thần nghiêm túc tự phê bình, Đảng ủy Quân khu nêu lên những điểm yếu và biện pháp khắc phục, trong đó nổi bật là: Thời kỳ sau hoà bình lập lại đến năm 1977 về lãnh đạo sẵn sàng chiến đấu, xây dựng nâng cao chất lượng vũ trang có hiện tượng kém chặt chẽ, phát sinh nhiều sơ hở về tổ chức và tư tưởng. Việc quán triệt đường lối, nhiệm vụ cách mạng, đường lối, nhiệm vụ quân sự của Đảng vào nhiệm vụ Quân khu mới là bước đầu. Có việc đã nhìn thấy, đề ra và giải quyết có kết quả. Có việc, tuy đã được đề ra, nhưng tổ chức thực hiện chưa hiệu lực, kết quả hạn chế...4.

Trên cơ sở quán triệt đường lối của Đảng, chỉ thị, nghị quyết cấp trên, phát huy cao trách nhiệm và trí tuệ của Hội nghị cán bộ Đảng toàn Quân khu, Đảng ủy Quân khu sớm ra nghị quyết xác định vị trí, nhiệm vụ chiến lược của Quân khu 4 trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết nhận định một cách khoa học, cơ bản, toàn diện về tình hình âm mưu địch, nhiệm vụ của cách mạng, của Quân khu; nêu rõ ý nghĩa thắng lợi to lớn của chiến thắng oanh liệt trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên hai đầu biên giới; đánh giá đúng những thành tựu quan trọng trong hàn gắn vết thương chiến tranh, chống thiên tai, khôi phục sản xuất, bảo đảm yêu cầu tối thiểu của đời sống và xây dựng thêm một số công trình kinh tế.

Hội nghị phân tích những khó khăn về kinh tế đời sống của ta, về các thủ đoạn quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao, tâm lý, gián điệp, kích động, chia rẽ dân tộc mà kẻ thù ra sức hoạt động chống phá ta, cùng với "ba khả năng" có thể xảy đến trên địa bàn Quân khu. Hội nghị tiếp tục khẳng định sâu sắc hơn vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng của quân khu 4 trong sự nghiệp phòng thủ bảo vệ Tổ quốc "vừa là tuyến đầu, vừa là hậu phương chiến lược chung, hậu phương trực tiếp của chiến trường phía bắc và tây Quân khu, là địa bàn chống các cuộc tiến công đánh vòng chiến lược, chia cắt chiến lược của địch, là bàn đạp ta xuất kích đi các hướng". Đồng thời phân tích rõ "vị trí rất quan trọng của địa bàn Quân khu 4 trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của cả nước". "Với 7.241.000 dân, với tiềm năng to lớn về nhiều mặt, với nền kinh tế, văn hoá cách mạng phát triển, cơ sở vật chất ngày càng tăng cường", "là quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Quân khu 4 còn có vị trí rất quan trọng về chính trị".
______________________________________________
1. Ngày 7-2-1980, Chủ tịch nước ký sắc lệnh số 28/LCT bổ nhiệm Đại tướng Văn Tiến Dũng giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
2. Quyết tâm được cụ thể hoá bằng Nghị quyết của Đảng ủy Quân khu ngày 28 tháng 1 về nhiệm vụ năm 1980, trong đó chỉ tiêu sản xuất tự túc lương thực thực phẩm để mức 7 tháng trở lên.
3, 4. Hồ sơ 49/QKU - Lưu trữ Quân khu 4.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #76 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2024, 02:26:52 pm »


Về phương hướng, nhiệm vụ những năm tới, Hội nghị xác định: "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ủy Quân khu đối với nhiệm vụ quân sự Quân khu, cùng với ba tỉnh ủy tăng cường sự lãnh đạo thống nhất đối với công tác quân sự địa phương", đẩy mạnh xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và xây dựng nền quốc phòng toàn dân với mô hình: "Huyện là pháo đài quân sự mạnh, tỉnh là địa bàn chiến lược hoàn chỉnh, Quân khu là chiến trường quyết thắng, vững về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, làm tròn 2 nhiệm vụ chiến lược"1.

Hội nghị quán triệt những vấn đề khoa học và nghệ thuật quân sự nhằm tiếp tục nghiên cứu giải quyết những vấn đề cơ bản về "pháo đài quân sự mạnh", "địa bàn chiến lược hoàn chỉnh", "chiến trường quyết thắng", "các cách đánh" (bảo vệ đảo, đánh trên biển, ven biển, chống đổ bộ đường biển, cách đánh trong phòng ngự, phản công và tiến công ở ven biển, biên giới, rừng núi, cách đánh bảo vệ thành phố Vinh, thành phố Huế, cách đánh của pháo đài quân sự huyện). Đối với mỗi tỉnh đều có những yêu cầu cụ thể riêng, nhưng đều nhằm tới 9 tiêu chuẩn cơ bản của một địa bàn chiến lược vững mạnh toàn diện, tạo thế liên hoàn chiến lược hỗ trợ lẫn nhau, tạo thành thế đánh, thế giữ chung của Quân khu vững mạnh và chiến trường quyết thắng.

Trên cơ sở những vấn đề mới nảy sinh từ bước chuyển từ hoà bình sang chiến tranh trên một bộ phận đất nước và 3 khả năng chiến tranh đang tồn tại, phát triển, Hội nghị xác định: Năm 1980 và những năm tiếp theo đòi hỏi sự nỗ lực về mọi mặt nhằm đáp ứng yêu cầu mới ở đỉnh cao hơn: "Quân khu 4 phải lấy tình huống địch phát động chiến tranh xâm lược quy mô lớn trên cả nước và toàn Đông Dương, cùng một lúc tiến công vào địa bàn Quân khu 4 trên toàn tuyến và trên các hướng làm mục tiêu của yêu cầu chuẩn bị"2.

Sau Hội nghị cán bộ Đảng, lãnh đạo, chỉ huy chủ chốt Quân khu có sự thay đổi. Trung tướng Lê Quang Hoà - Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu được điều động về Bộ Quốc phòng công tác. Thiếu tướng Nguyễn Thế Bôn - Phó tư lệnh Quân khu đi học. Thiếu tướng Hoàng Minh Thi - Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá IV), nguyên Tư lệnh Quân khu Thủ đô được điều động về đảm trách nhiệm vụ Bí thư Đảng ủy kiêm Tư lệnh Quân khu theo chế độ thủ trưởng. Đồng chí Lê Hữu Đức – quyền Tư lệnh Quân đoàn 7 được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh Quân khu.

Thực hiện Nghị quyết số 22/NQ-TW (10-10-1979) của Bộ Chính trị; Quyết định số 412/CP (19-11-1979) của Hội đồng Chính phủ; Quyết định số 1148/QĐ-QP (19-12-1979) của Bộ Quốc phòng, ngày 11-12-1980, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức Hội nghị triển khai chấn chỉnh lực lượng biên phòng trong Quân khu3.

Sau khi quán triệt nghị quyết, quyết định của trung ương Đảng, Chính phủ và Bộ Quốc phòng về việc chuyển giao nhiệm vụ và lực lượng Công an nhân dân vũ trang sang Bộ Quốc phòng mang tên là "Bộ đội Biên phòng", "một thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, lực lượng nòng cốt thực hiện công tác biên phòng của các lực lượng vũ trang nhân dân", thực hiện 4 nhiệm vụ cơ bản, trong đó "quản lý bảo vệ chủ quyền quốc gia, giữ gìn an ninh biên giới và vùng biển của Tổ quốc là nhiệm vụ chủ yếu và thường xuyên", Hội nghị thảo luận, nhất trí về mục đích, yêu cầu, phương pháp các bước tiến hành.

Đồng chí Dương Bá Nuôi - Phó tư lệnh Quân khu được giao phụ trách về công tác biên phòng. Giúp việc cho Bộ tư lệnh Quân khu về công tác biên phòng có Cục Biên phòng Quân khu do Đại tá Hoàng Minh Thi làm Cục trưởng; Đại tá Phan Nguyên Chất - nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Quân khu làm Phó cục trưởng về chính trị.

Cấp tỉnh giải thể Ban chỉ huy và cơ quan công an nhân dân vũ trang tỉnh, lấy cơ quan tham mưu, trinh sát của cơ quan công an nhân dân vũ trang tỉnh tổ chức thành "Phòng Biên phòng" trực thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh; sáp nhập và kiện toàn các đơn vị thông tin, vận tải, bệnh xá, trạm sửa chữa và các đơn vị phục vụ khác thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh.

Cấp huyện cơ bản duy trì hệ thống đồn biên phòng hiện có làm nòng cốt cho bộ đội huyện thực hiện nhiệm vụ I và III theo Quyết định số 1148 của Bộ Quốc phòng4; đồng thời là lực lượng chiến đấu tại chỗ trong hệ thống phòng thủ chung của huyện.

Việc tổ chức thực hiện được tiến hành khẩn trương, có kế hoạch chu đáo, theo 3 bước vững chắc, nên đã bảo đảm lãnh đạo, chỉ huy thống nhất giữa hai lực lượng bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng; bảo đảm lãnh đạo chỉ huy liên tục, sẵn sàng chiến đấu cao: đoàn kết nhất trí cả về tư tưởng và tổ chức. Việc giải quyết cán bộ bảo đảm đúng tư tưởng chỉ đạo, giữ được đội ngũ cán bộ chủ trì, thành thạo nhiệm vụ. Bàn giao đúng thủ tục, rõ ràng, rành mạch, quản lý chặt chẽ hồ sơ, tài liệu mật và tài sản của Nhà nước. Nhờ vậy, Quân khu đã "tạo ra lực lượng mới, sức mạnh mới trong nhiệm vụ phòng thủ đất nước".

Ngày 28-2-1980, mọi việc bàn giao bộ đội biên phòng sang Quân khu xong. Từ ngày 1-3-1980 các Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Ban chỉ huy quân sự huyện, thành, thị chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ huy quản lý mọi mặt các đơn vị thuộc lực lượng biên phòng ở địa phương mình.

Đảng ủy mới, gồm các cán bộ lãnh đạo chủ trì của Bộ chỉ huy quân sự và Ban chỉ huy biên phòng được thành lập, bảo đảm sự thống nhất về lãnh đạo chỉ huy. Cấp tỉnh có Phòng Biên phòng, huyện có Ban Biên phòng do một Phó chỉ huy trưởng Bộ (ban) chỉ huy quân sự trực tiếp đảm trách trưởng phòng (ban).

Sau khi ổn định tổ chức biên chế, các địa phương tổ chức diễn tập ở huyện trọng điểm theo phương án tác chiến phòng thủ rút kinh nghiệm trong chỉ huy bộ đội địa phương và bộ đội biên phòng làm nòng cốt cho lực lượng chiến đấu tại chỗ.
______________________________________________
1. Báo cáo chính trị tại Hội nghị cán bộ Đảng bộ Quân khu 4 - Hồ sơ 49/QKU - Lưu trữ Quân khu 4.
2. Nghị quyết Đảng ủy Quân khu 4 số 97, ngày 30-1-1980 vế vị trí, nhiệm vụ chiến lược của Quân khu 4 trong giai đoạn mới của cách mạng... Hồ sơ 48/ QKU - Lưu trữ Quân khu 4.
3. Dự hội nghị có đoàn đại biểu của cơ quan Bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh Biên phòng, Quân khu 4 và các đơn vị biên phòng các tỉnh Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá, Bình Trị Thiên.
4. Nhiệm vụ I: Quản lý chủ quyền quốc gia, giữ gìn an ninh biên giới và vùng biển Tổ quốc; quản lý, bảo vệ các cột mốc, các dấu hiệu trên đường biên và vùng biển; quản lý quy chế biên phòng của Nhà nước và thực hiện các hiệp định, hiệp nghị về biên giới, về vùng biển đã được ký kết giữa nước ta với các nước khác. Nhiệm vụ III: Tham gia với địa phương phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng cơ sở chính trị và vũ trang, truy bắt bọn tội phạm, bạo loạn, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội trong khu vực biên giới.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #77 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2024, 02:29:18 pm »


Đối với Quân đoàn 7, sau khi chuyển thuộc Quân khu 4, Bộ Quốc phòng quyết định đổi tên là Quân đoàn 65. Quân đoàn được biên chế 35.000 người, gồm 3 sư đoàn 318, 341, 342, mỗi sư đoàn có 9.145 người. Cơ quan chỉ huy sư đoàn, các trung đoàn binh chủng, các đơn vị trực thuộc biên chế theo quân số Bộ quy định.

Sư đoàn 342 được chuyển về đứng chân ở khu vực bắc Quảng Trị (đường số 9). Sư đoàn 341 sau khi hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ quốc tế phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân Campuchia giải phóng đất nước Chùa Tháp khỏi họa diệt chủng do Pôn Pốt - Iêng Xa-ri gây ra, lại trở về Quân khu 4 – đứng chân trên vùng đất tây Quỳnh Lưu - đông Nghĩa Đàn vào cuối năm 19801.

Việc điều chuyển đội hình Sư đoàn 342 từ Quảng Nam - Đà Nẵng ra đường 9 cũng như điều chuyển sở chỉ huy Quân đoàn 65 từ Phú Bài (Huế) gặp một số khó khăn. Quân khu kiên quyết tập trung chỉ đạo, trong một thời gian ngắn, đã giải quyết thành công, tạo sự ổn định đội hình cơ bản, góp phần tích cực vào việc xây dựng và tăng cường thế trận các vùng, các hướng theo phương án phòng thủ Quân khu, khắc phục những bất hợp lý trong bố trí lực lượng.

Ngày 15-5-1980, theo lệnh điều động của Bộ Tổng Tham mưu, quân đoàn bộ và các đơn vị trực thuộc Quân đoàn 65 hoàn thành việc chuyển quân về đóng tại khu vực huyện lỵ Nghĩa Đàn - Rú Ngăn (62-32), Hòn Chóp Chài (54-18), phà Sen (36-18). Thay vào vị trí chỉ huy của Quân đoàn 65 ở Phú Bài là hệ thống các nhà trường quân khu, thường xuyên có khoảng 5.000 cán bộ, giáo viên, học viên, chiến sĩ.

Cùng với việc điều chỉnh tổ chức thế bố trí bộ đội biên phòng và Quân đoàn 65, Quân khu tiến hành chấn chỉnh tổ chức các cơ quan Quân khu theo quyết định mới của Bộ Quốc phòng, theo biên chế số 0293 (ngày 27-12-1979) của Bộ Tổng Tham mưu. Cơ quan quân lực các cấp trong toàn quân chấn chỉnh thành cơ quan tổ chức và động viên (gọi tắt là tổ chức - động viên).

Để việc kiện toàn cơ quan có chất lượng, hiệu lực, thiết thực giảm được quân số, tăng cường năng lực chỉ huy, chỉ đạo, đi đôi với việc lập kế hoạch sắp xếp, điều động, giải quyết lực lượng dư biên chế một cách chặt chẽ, sát đúng, Quân khu chỉ đạo các cơ quan tiếp tục làm tốt các khâu cơ bản: xây dựng chức trách, cải tiến lề lối làm việc, tác phong công tác, đẩy mạnh chấp hành điều lệnh, điều lệ. Việc biên soạn, xây dựng chức trách được tiến hành dân chủ, phát huy trách nhiệm, trí tuệ mỗi người và tập thể. Từng người, từng bộ phận tự xây dựng, biên soạn chức trách, tập thể đóng góp ý kiến, cấp trên phê duyệt, làm việc theo chức trách, điều hành theo kế hoạch, thực hiện đúng nền nếp chính quy.

Trước yêu cầu công tác và chỉ đạo sản xuất lương thực, thực phẩm với chỉ tiêu ngày càng cao, Quân khu giao nhiệm vụ cho Bộ Tham mưu cùng Cục Hậu cần tiếp tục nghiên cứu đề nghị Bộ phê chuẩn phương án duy trì phòng sản xuất và bệnh xá Quân khu2.

Việc kiện toàn các tổ chức gắn với yêu cầu giảm bớt quân số trong bước 1: 10.000 người, chuẩn bị tiếp nhận Sư đoàn 341 (8.000 quân); bổ sung 13.000 chiến sĩ mới và tổ chức bàn giao Trung đoàn 148 về trực thuộc Quân khu 3 trước ngày 30-1-1980; bàn giao Đoàn 336 và Đoàn 565 làm cầu đường thuộc bộ đội xây dựng kinh tế của Quân khu 4 về Binh đoàn 12 thuộc Bộ tư lệnh Công binh, hoàn thành trong tháng 1 và tháng 2 năm 1980.

Cùng thời gian này Quân khu tập trung chỉ đạo hoàn thành tốt các cuộc diễn tập chiến dịch và chiến đấu, tổ chức động viên lực lượng, tiếp tục bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, tài chính, bảo đảm lượng dự trữ lương thực, thực phẩm, đạn dược, nước uống, thuốc men cho các đảo, tuyến phòng thủ; tiếp tục tổ chức căn cứ hậu cần chiến địch ở Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá; đẩy mạnh chiến dịch sản xuất (phấn đấu đạt 60% chỉ tiêu cả năm, chuẩn bị tốt cơ sở cho hè - thu).
___________________________________________
1. Sư đoàn 341 Sông Lam thành lập theo quyết định ngày 23-11-1972 của Bộ Quốc phòng, giao cho Quân khu 4 tổ chức, xây dựng. Sư đoàn là nơi đã sản sinh "Đại đội 2 tiến toàn diện đạt 3 đỉnh cao" ngay từ những ngày đầu xây dựng. Sư đoàn đã lập công xuất sắc trong Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975) với những chiến công vang dội ở Xuân Lộc, Hố Nai, tiến quân vào tham gia giải phóng thành phố mang tên Bác; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quân quản thành phố được mệnh danh sư đoàn “vào thành vững như thành". Sư đoàn được vinh dự 2 lần nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
2. Trong điều kiện đội hình cơ quan Quân khu trải dài trên triền núi bao gồm địa bàn 3 xã, cường độ công tác cao, nhiều bệnh tật sau chiến tranh để lại, bệnh viện ở xa; lương thực, thực phẩm trên địa bàn các tỉnh thường xuyên căng thẳng, lại luôn bão lụt, hạn hán mất mùa, yêu cầu dự trữ đòi hỏi cao, khả năng đáp ứng còn nhiều hạn chế, thì việc kiên trị đề nghị duy trì 2 tổ chức nêu trên là rất cần thiết sát đúng. Ngày 8-5-1980 Bộ đã chấp nhận đưa vào quân số sản xuất lương thực, thực phẩm, phòng sản xuất Quân khu 4 có 9 người.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #78 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2024, 02:30:21 pm »


Ngày 4-1-1980, chấp hành Lệnh động viên (ngày 5-3-1979) của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Mệnh lệnh Bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh Quân khu quyết định động viên 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 801 thuộc Sư đoàn 358 dự bị động viên khu vực Thanh Hoá, gồm 30 sĩ quan và 1.000 hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị ra nhập ngũ vào ngày 7-1-1980, thành đơn vị thường trực chiến đấu.

Tính từ khi Quân khu phát lệnh, sau 72 giờ quân dự bị đã có mặt. Từ lúc tỉnh nhận lệnh, sau 52 giờ quân dự bị có mặt, đúng 16 giờ ngày 7-1-1980. Trong đó, Tiểu đoàn 1 (thị xã) phát lệnh điều 465 người, có mặt tại trạm tập trung 377 người (đạt 81%); Tiểu đoàn 2 (Trung Sơn) phát lệnh điều 505, có mặt tại trạm tập trung của huyện (đạt 74,6%). Cơ sở huấn luyện gửi về địa phương 989 người (Tiểu đoàn 1 thị xã: 484 người, Tiểu đoàn 2 Trung Sơn: 505 người).

Yêu cầu thực hiện tốt 3 nhiệm vụ cấp bách mà Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (khoá IV) đề ra, nhằm góp phần tích cực hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu Đại hội lần thứ IV của Đảng, đòi hỏi toàn Quân khu phải phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp làm tốt 2 nhiệm vụ chiến lược của cả nước là: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; thực hiện tốt 2 nhiệm vụ chính trị cơ bản và nhiệm vụ quốc tế của các lực lượng vũ trang quân khu.

Quân khu yêu cầu chỉ đạo thực hiện cuộc vận động lớn bước vào năm thứ hai như chỉ đạo chiến đấu. Phấn đấu đến cuối năm 1980 có từ 60% trở lên tổng số huyện, thị, thành và trung đoàn vững mạnh toàn diện; tất cả đều đạt ở mục tiêu theo kế hoạch đã đề ra; 30 - 40% đơn vị cấp đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, huyện, thị, thành đạt tiêu chuẩn đơn vị Quyết thắng; 30% số đại đội có phong trào văn hoá - văn nghệ giỏi. Mỗi sư đoàn ít nhất có 1 trung đoàn, mỗi tỉnh có 2 huyện đạt phong trào văn hoá - văn nghệ khá.

Toàn Quân khu phát triển 4.000 - 4.500 đảng viên mới, đưa tỷ lệ lãnh đạo lên từ 24 - 26% (cấp đại đội 18 - 20%; tiểu đội, khẩu đội, bộ phận kỹ thuật chuyên môn có đảng viên).

Đoàn viên thanh niên thực hiện "4 làm chủ" (về rèn luyện ý chí chiến đấu và trách nhiệm chính trị; về trang bị kỹ thuật hiện đại; về kỷ luật và nếp sống quân đội; làm chủ về phấn đấu rèn luyện trở thành đảng viên và đoàn viên tham gia xây dựng Đảng). 80% tổ chức Đoàn và đoàn viên đạt Quyết thắng. Không có tổ chức và đoàn viên yếu.

Đây là chỉ tiêu Tổng cục Chính trị yêu cầu toàn Quân khu phải nỗ lực thật lớn mới đạt được. Động lực mạnh mẽ và biện pháp hiệu quả là phải tiếp tục đẩy mạnh đưa phong trào thi đua của cuộc vận động lớn lên tầm cao và nhịp độ mới.

Một trong những biện pháp quan trọng nhằm động viên rộng rãi phong trào hành động trong toàn Quân khu là hướng tình cảm, trách nhiệm mọi người thực hiện tốt 2 đợt sinh hoạt chính trị tập trung tháng 5, hai tháng 8 và 9 năm 1980.

Theo chỉ thị của Tổng cục Chính trị, các lực lượng vũ trang phối hợp chặt chẽ với các địa phương, rước 5 ngọn đuốc lấy từ ngọn lửa truyền thống ở làng Sen, quê hương Bác Hồ, về 5 địa danh lịch sử, từ đó nhân toả ra các địa phương.

Quân khu 4 được giao trách nhiệm tổ chức lễ rước với nghi thức trang trọng, kế hoạch hiệp đồng chặt chẽ; góp phần đạt tới yêu cầu làm cho mọi người nhận thức sâu sắc ý nghĩa, mục đích của sinh hoạt chính trị chủ yếu, sôi nổi, rộng khắp trong cả nước, từ ngày 3-2 đến 19-5-1980.

"Đuốc là tượng trưng cho niềm tin và ánh sáng chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm được, đem soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Rước đuốc nhằm nâng cao sự hiểu biết về đất nước, về Đảng, Bác Hồ, truyền thống cách mạng và từng địa phương, gắn với lịch sử và cuộc đời hoạt động của Bác, nâng cao lòng tự hào, tin tưởng, phấn khởi, đẩy mạnh phong trào thanh niên xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nâng cao tinh thần cách mạng tiến công, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, đẩy lùi mọi khó khăn, quét sạch tiêu cực, lạc hậu".

Năm ngọn đuốc được đặt tại các địa danh lịch sử: một ngọn để tại quê Bác, một ngọn rước về cảng Nhà Rồng, một ngọn về Cà Mau, một ngọn về Pắc Bó và một ngọn về Thủ đô Hà Nội.

Mỗi ngọn đuốc được chế tác từ kim loại trắng không gỉ, hình thành những chiếc lọ đạt tới trình độ mỹ thuật, trong đặt bấc tẩm dầu, bảo đảm cháy trong mọi trường hợp.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #79 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2024, 02:33:51 pm »


Sáng ngày 3-2-1980, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu phối hợp với Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, Tỉnh đoàn Nghệ An, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân, Huyện đoàn Nam Đàn và xã Kim Liên tổ chức mít tinh trọng thể tại nhà Bác ở quê nội Làng Sen và làm lễ xuất phát theo hai hướng, vào Nam 2 ngọn, ra Bắc 2 ngọn. Hành trình được vạch cụ thể từng chặng, từng ngày, tổ chức đón nhận và bàn giao chặt chẽ, nhịp nhàng qua địa phận từng tỉnh giữa Quân khu 4 với hai quân khu giáp giới: Quân khu 3 tại Tam Điệp, Quân khu 5 tại Hải Vân. Trên mỗi địa bàn, các đơn vị đóng quân tại địa phương và các huyện, các xã tập trung đến nơi quy định đón và châm đuốc rước về. Các Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Ban chỉ huy quân sự huyện và các đơn vị quán triệt tinh thần chỉ huy rước đuốc như chỉ huy chiến đấu.

Cuộc rước đuốc lịch sử đã gắn liền với phát động học tập, tìm hiểu truyền thống, ghi sâu ơn Đảng, ơn Bác, sống chiến đấu, lao động, học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại, gắn với thi đua hoàn thành nhiệm vụ chính trị của địa phương, chống tiêu cực, lạc hậu, chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt. Đặc biệt là gắn với phong trào "thanh niên xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc", gắn sự phối hợp giữa lực lượng vũ trang với nhân dân và tuổi trẻ địa phương, làm dứt điểm một số công trình có ý nghĩa, trong đó có “Vườn cây, ao cá Bác Hồ", công trình thủy lợi, nhà trẻ, trường học, trạm xá, thu gom quân đào, lạc ngũ; bảo vệ trật tự an ninh.

Các cuộc hội thảo kết hợp giữa tuổi trẻ địa phương và tuổi trẻ trong quân đội nâng cao vinh dự, trách nhiệm của thanh niên cái đẹp của thanh niên, của "Bộ đội Cụ Hồ", các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, tham quan di tích hội thao, cắm trại... đậm màu sắc và dấu ấn thanh niên trong đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn đã góp phần tích cực thúc đẩy tiến độ và chất lượng thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch công tác, đẩy cuộc vận động toàn Quân khu tiến lên một bước mới.

Tình cảm thiêng liêng được hun đúc, trách nhiệm được phát động gắn với cuộc vận động lớn tạo nên khí thế cách mạng tiến công, đẩy lùi và khắc phục những khó khăn tạm thời ban đầu. Đặc biệt là trong hoàn cảnh liên tục 3 năm bão lụt, hạn hán rất nghiêm trọng, đời sống kinh tế thiếu hụt, bữa ăn nói chung sút kém, nhưng 7 sư đoàn, 8 tiểu đoàn, 6 trung đoàn xấp xỉ 1,5 lần tổng quân số Quân khu được lệnh đi chiến đấu trên các hướng chiến trường đều bảo đảm 100% đơn vị đi nhanh, đến đủ, đến nơi hoàn thành nhiệm vụ, quân số thường đạt 98,5% đến 100% tới đích. Có lúc chỉ vài ba tuần, tỉnh vừa lấy quân, vừa làm mọi công tác bảo đảm để hình thành 2 - 3 trung đoàn đi chiến đấu; vừa tổ chức lại đơn vị khác. Có những tiểu đoàn tổ chức ngay ở huyện, mọi việc dân lo cho kịp. Tất cả các địa phương, các đơn vị, từ huyện, tỉnh, đơn vị chủ lực cơ động đến đơn vị làm kinh tế, cơ quan quân khu, quân đoàn, kho xưởng, dân quân tự vệ, dự bị động viên đều có lực lượng ra phía trước. Kể cả trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ở thời điểm động viên cao nhất, chưa có khi nào, trong thời gian 2 năm điều động một lực lượng lớn như năm 1979-1980. Chỉ riêng Sư đoàn 442 có 11.718 cán bộ, chiến sĩ mới đi chiến trường; Sư đoàn 441 có 341 cán bộ, 10.300 chiến sĩ mới ra chiến trường, trong đó 1.600 vào biên giới Khu 9 (chỉ trong 1 đợt). Trường Quân chính có 1.225 học viên tốt nghiệp và 225 cán bộ, chiến sĩ khung, Trường Hạ sĩ quan có 1.225 học viên và 174 cán bộ nhận lệnh là lên đường 100%.

Mặc dù bị ảnh hưởng của bão lụt lớn nhưng công tác tuyển quân của quân khu vẫn được đảm bảo tốt, tỉnh Thanh Hoá đạt 98%, tỉnh Bình Trị Thiên 98,5% (riêng huyện miền núi A Lưới 118%, huyện Lệ Ninh 105%).

Tất cả các đơn vị đều có một công trình giúp dân, trong đó có 40 công trình và công việc có ý nghĩa. Từ mức tự túc 2,5 tháng, năm 1980, toàn Quân khu đã tự túc gần 3 tháng lương thực. Hầu hết đủ rau ăn, 64% số đơn vị đã có đàn lợn nái sinh sản. 73% số đơn vị có đàn lợn thịt từ 50 con trở lên. Đảo Mê tự túc 100% rau củ; đảo Cồn Cỏ ngoài số dự trữ, còn chở vào đất liền hàng chục tấn bí.

Cơ quan quân sự Triệu Hải 3 năm liền tự túc được lương thực. Đoàn 200 đạt chỉ tiêu tự túc cả năm trên 4 chỉ tiêu lương thực, thịt, rau và đỗ, lạc, vừng, tiếp tục phát huy vai trò là ngọn cờ đầu về sản xuất tự túc.

Bộ đội toàn Quân khu phấn đấu giữ mức ăn được từ 2.000 đến 2.400 Calo/ngày. Trong xây dựng doanh trại, toàn Quân khu đã làm mới được 812.244m2 nhà ở các loại, 10.500 giường ván nằm. Khắc phục hậu quả trận bão tháng 10-1980, các đơn vị trong vùng thiên tai đã xây dựng hơn 800 nhà. Các đơn vị cơ bản có đủ nhà ở không dột, đủ giường ván nằm và xây dựng được một phần nhà ăn, nhà sinh hoạt.

Bộ đội còn giúp nhân dân hàng vạn công lao động, nhường cơm xẻ áo, cứu đói đồng bào 360 tấn lương thực và dũng cảm cứu sống nhiều người giữa bão lớn, lụt to. Các địa phương giúp bộ đội 1.800ha đất canh tác, hàng chục tấn giống lúa, màu, hàng nghìn tấn phân bón, hàng nghìn công trâu bò, giúp xây dựng hệ thống truyền thanh ở đảo Cồn Cỏ, đảo Mắt, đảo Ngư, đảo Mê và giúp 2 trung tâm huấn luyện 441, 442 trong buổi đầu tổ chức chiêu quân, nhanh chóng ổn định nơi ăn ở, sinh hoạt để bước vào huấn luyện.

Cùng thời gian này, 61/61 huyện, thị, thành triển khai nhanh và thực hiện nghiêm chỉnh chỉ lệnh sẵn sàng chiến đấu theo 4 trạng thái. Trong hoàn cảnh còn khó khăn, những kết quả đạt được như vậy là nỗ lực rất lớn và toàn diện của các địa phương.

Tuy vậy, thành tích đạt được của các đơn vị chưa đồng đều; số đơn vị tiến nhanh, tiến vững chắc toàn diện ở cấp trung đoàn và huyện còn ít; bảo quản trang bị, khí tài một số nơi chưa nghiêm, vũ khí xe máy chưa đủ nhà bảo quản còn nhiều; quản lý, điều hành lao động, hạch toán kinh tế, áp dụng kỹ thuật còn yếu. Hạn chế đó do nhiều nguyên nhân, trong đó việc phát động tư tưởng, bồi dưỡng ý chí, tinh thần cách mạng tiến công có ý nghĩa sâu sắc, chưa sâu rộng ở các đơn vị. Đồng thời, công tác tổ chức kiểm tra, thanh tra chưa phát huy được hiệu lực, kỷ luật chưa nghiêm, dân chủ ở một số nơi lại chưa được phát huy.

Quá trình thực hiện nhiệm vụ, Tư lệnh Quân khu đã sử dụng, phát huy trách nhiệm, năng lực công tác tổ chức thanh tra của cơ quan thanh tra chuyên trách và người chỉ huy nhằm đúng đối tượng chính là các đơn vị ở tuyến 1, các nơi xung yếu có thể xảy ra chiến tranh (biên giới, hải đảo) phục vụ đắc lực cho lãnh đạo, chỉ huy, giúp các đơn vị xây dựng có chuyển biến, thúc đẩy nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, tích cực tham gia chống tiêu cực trong chiến đấu, trong chấp hành kỷ luật, pháp luật Nhà nước và quân đội. Được học tập 10 bài về pháp luật (do Tổng cục Chính trị biên soạn), bộ đội hiểu được trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn, nên đơn thư gửi về Bộ tư lệnh và cơ quan chức năng tăng 30% so với năm 1983. Riêng tố cáo tăng 31%, trong đó tố cáo lợi dụng chức quyền, tham ô, móc ngoặc, thu vén cá nhân chiếm tới 56,65% tổng số đơn thư; trong số người bị tố cáo có đến 67% là cán bộ trung cao cấp. 91 quân nhân từ chuẩn úy đến đại úy có đơn thư thì 75 người thuộc các ngành Hậu cần, Tài chính, quản lý vật chất (82,41%). Đáng chú ý là những hiện tượng xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa tăng 22%. Một số cán bộ chỉ huy không quản lý chặt chẽ, nên để cho cán bộ nghiệp vụ lợi dụng, thao túng.

Quân khu coi đây là những biểu hiện không lành mạnh, làm suy yếu sức mạnh chiến đấu, vi phạm bản chất truyền thống tốt đẹp của quân đội nhân dân, ảnh hưởng xấu đến xây dựng đơn vị và bảo đảm đời sống bộ đội cần phải chấn chỉnh kịp thời.

Đi đôi với việc tăng cường giáo dục, tăng cường thanh tra, kiểm tra thực hiện pháp chế, củng cố kỷ luật, kịp thời giải quyết 83,69% đơn thư khiếu tố, Quân khu coi trọng chỉ đạo việc trả lời, biểu dương những trường hợp khiếu tố đúng; tích cực giải quyết những khó khăn, thiếu thốn cho đơn vị, động viên khích lệ được mặt ưu điểm, mặt tốt, nhất là ở 212 lượt/đầu mối đơn vị được kiểm tra. Tư lệnh Quân khu chấn chỉnh lại chế độ, nền nếp, chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra. Mỗi đơn vị phân công 1 đồng chí phó chỉ huy phụ trách thanh tra, xem xét giải quyết đơn thư khiếu tố. Đơn thư khiếu tố phải đăng ký, quản lý chặt chẽ, sự việc giao cho ai giải quyết, giải quyết đến đâu phải có kiểm tra, theo dõi theo phân cấp và báo cáo kết quả với Tư lệnh Quân khu. Những hiện tượng vi phạm Nghị định 52 của Hội đồng Bộ trưởng, vi phạm các điều quy định "xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân" bị phân tích, phê phán và xử lý nghiêm khắc.

Trong bối cảnh xã hội có nhiều biến động phức tạp, tiêu cực xã hội không ngừng tác động, ảnh hưởng xấu đến phẩm chất, đạo đức, nếp sống, cách nghĩ và hành động của mỗi quân nhân, công tác thanh tra, kiểm tra đi sâu vào kiểm tra tiền, hàng, trách nhiệm người quản lý tiền hàng, góp phần tích cực xây dựng sự trong sáng, liêm khiết cho cán bộ, bộ đội, chống mọi biểu hiện thoái hoá, sai trái.

Bộ Quốc phòng đánh giá cao kết quả công tác thanh tra của Quân khu, tặng cờ luân lưu "Ban Thanh tra khá nhất Ngành Thanh tra quân đội" cho Ban Thanh tra Quân khu 4.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM