Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:22:37 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005)  (Đọc 76774 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #90 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2024, 11:57:46 am »


*

*        *

Bước sang năm 1982, đất nước ta vẫn trong tình trạng vừa có hòa bình, vừa phải đối phó với tình huống có thể có chiến tranh xâm lược quy mô lớn và đối phó với kiểu chiến tranh phá hoại hết sức thâm độc và xảo quyệt của các thế lực thù địch. Vì thế, quân và dân Quân khu 4 phải đẩy mạnh các hoạt động, đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu.

Nhiệm vụ quân sự của các lực lượng vũ trang Quân khu 4 được Đảng ủy Quân khu xác định: "Thường xuyên nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân và xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, không ngừng xây dựng, nâng cao chất lượng tổng hợp của các lực lượng vũ trang quân khu, sẵn sàng đánh bại chiến tranh xâm lược. Trước mắt, cùng với các lực lượng chủ động, kiên quyết tập trung đánh bại kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của chúng trên địa bàn Quân khu và trên chiến trường Quân khu đảm nhiệm. Chuẩn bị sẵn sàng chi viện cho các chiến trường và làm tròn nghĩa vụ quốc tế”.

"Chiến tranh phá hoại nhiều mặt" là một dạng chiến tranh mới, quan hệ rất chặt chẽ với chiến tranh xâm lược quy mô lớn, nhằm mục đích làm suy yếu để thôn tính đất nước ta. Ngày 7-2-1982, Đảng ủy Quân khu họp ở phần xác định 6 mục tiêu mà công tác đảng, công tác chính trị phải hướng vào tập trung giải quyết, đã đặt nội dung "chống chiến tranh phá hoại" ngay sau mục tiêu 1 (về nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa, củng cố sự nhất trí sâu sắc đối với đường lối nhiệm vụ của Đảng).

Đảng ủy Quân khu chỉ rõ: "Công tác đảng, công tác chính trị từng cấp có nội dung, phương hướng, biện pháp đi sâu vào các nhiệm vụ chống chiến tranh phá hoại, chuẩn bị chống chiến tranh xâm lược lớn, nâng cao chất lượng lực lượng vũ trang huấn luyện quân sự, công tác quân sự địa phương, hậu cần - kỹ thuật, nhưng tập trung vào việc chống chiến tranh phá hoại, huấn luyện quân sự, nâng cao chất lượng lực lượng vũ trang1.

Theo tinh thần "tập trung" đó, sau một thời gian tích cực chuẩn bị, ngày 31-5-1982, Quân khu đã hoàn chỉnh đề án "Kiên quyết đánh bại kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch trên địa bàn Quân khu 4”. Đề án đưa ra 4 phương thức địch tiến hành "chiến tranh phá hoại nhiều mặt".

1. Dùng lực lượng vũ trang xâm phạm hải phận, vùng biên giới Quân khu, nhen nhóm các ổ phỉ ở biên giới, dùng vũ trang phá an ninh trong nội bộ.

2. Sử dụng chiến tranh tâm lý và chiến tranh gián điệp phá ta về chính trị, tư tưởng, tổ chức.

3. Tiến hành mọi thủ đoạn, vừa trực tiếp, vừa gián tiếp, lợi dụng mọi hiện tượng tiêu cực, khuyết điểm của ta về quản lý để phá hoại kinh tế, nhằm khoét sâu khó khăn về đời sống, làm cản trở công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của ta, thông qua phá hoại kinh tế để phá hoại chính trị và tư tưởng.

4. Phục hồi và phát triển tệ mê tín, dị đoan, nhằm mê hoặc quần chúng, phá hoại trận địa tư tưởng, văn hoá, xã hội.

Về nhiệm vụ cụ thể và mục tiêu chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt trong năm 1982, đề án xác định 6 nội dung chủ yếu:

1. Kiên quyết đánh bại thủ đoạn địch nhen nhóm lực lượng vũ trang phản động dưới mọi hình thức, thu hồi toàn bộ súng đạn, chất nổ và các phương tiện chiến đấu, chấm dứt hiện tượng dùng chất nổ đánh cá.

2. Đánh bại các thủ đoạn chiến tranh gián điệp của địch, kịp thời phát hiện, truy quét và phá các ổ nhóm tổ chức phản động dưới nhiều hình thức. Quản lý chặt chẽ các đối tượng chính trị và hình sự, loại trừ nội gián, ngăn chặn có hiệu quả địch xâm nhập bằng đường biển và đường bộ, chấm dứt các vụ vượt biển, vượt biên ra nước ngoài.

3. Đánh bại các thủ đoạn chiến tranh tâm lý của địch, đấu tranh bài trừ các tệ nạn mê tín, dị đoan và tệ nạn xã hội khác, thực hiện mục tiêu "xây dựng gia đình văn hóa mới", "xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa".

4. Kiên quyết trừng trị bọn lưu manh chuyên nghiệp, bọn côn đồ hung hãn giết người, cướp của, kịp thời phát hiện, truy quét các ổ nhóm ăn hối lộ, móc ngoặc, trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản của nhân dân.

5. Tăng cường và cải tiến quản lý kinh tế, kiên quyết khắc phục có hiệu quả hiện tượng tiêu cực trong đời sống kinh tế - xã hội. Có kế hoạch đánh địch, bảo vệ an toàn cơ sở vật chất - kỹ thuật, bảo vệ tiềm lực quốc phòng - an ninh và kinh tế trong mọi tình huống.

6. Bảo vệ vững chắc an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; bảo vệ sự trong sạch về chính trị của tổ chức Đảng, bộ máy Nhà nước, lực lượng vũ trang, công an nhân dân và các tổ chức quần chúng, xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh toàn diện2.

Bản đề án cùng với Dự thảo quyết tâm và kế hoạch triển khai thực hiện đã được Hội nghị liên tịch giữa Thường vụ Đảng ủy - Bộ tư lệnh Quân khu với Thường trực Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân ba tỉnh thảo luận sau hai ngày làm việc tại sở chỉ huy Quân khu 4. Ngày 10-7-1982, Hội nghị nhất trí hạ quyết tâm "kiên quyết đánh thắng kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch trên địa bàn Quân khu". Hội nghị nhấn mạnh: Địch tiến hành kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt nhằm làm cho ta suy yếu về mọi mặt, nhằm mục đích cuối cùng phá hoại ta về chính trị và tổ chức, hòng buộc ta khuất phục chúng, buộc ta từ bỏ đường lối chiến lược cách mạng xã hội chủ nghĩa do Đại hội IV đề ra; từ bỏ chủ nghĩa quốc tế, từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin... "Kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt" với thủ đoạn "dùng người Việt trị người Việt" nhằm đạt mưu đồ "không đánh mà thắng".
______________________________________________
1. “Chiến tranh phá hoại toàn diện" đã được đề cập trong Nghị quyết Đảng ủy Quân khu 4 năm 1981, nhưng đến lúc này nhấn mạnh hơn và được nghiên cứu thành lý luận, đề án.
2. Hồ sơ C36 - Luu trữ Phòng Khoa học - Công nghệ và Môi trường Quân khu 4.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #91 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:00:31 pm »


Để tiến hành thắng lợi 6 nhiệm vụ và các mục tiêu phấn đấu cụ thể đánh thắng kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, Hội nghị xác định quyết tâm: "Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng, dưới sự lãnh đạo trực tiếp tập trung, thống nhất của các cấp ủy Đảng, ra sức xây dựng làm cho ta mạnh lên về nhiều mặt; kiên quyết đánh bại các thủ đoạn phá hoại của địch kết hợp với chống hữu khuynh, tiêu cực trong nội bộ ta, bảo vệ vững chắc đường lối và tổ chức của Đảng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hệ thống chuyên chính vô sản. Đồng thời, sẵn sàng về mọi mặt để đối phó thắng lợi mọi tình huống của chiến tranh xâm lược quy mô lớn do chúng gây ra".

Đề án, quyết tâm, kế hoạch kiên quyết đánh thắng kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch trên địa bàn Quân khu được Hội nghị nhất trí cao và coi là văn kiện quan trọng vận dụng thực hiện trong từng địa phương và toàn Quân khu.

Căn cứ vào đề án - kế hoạch chung, Bộ Tham mưu Quân khu xây dựng và triển khai thực hiện, phân chia khu vực, sử dụng lực lượng theo chức năng nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể.

Theo phương hướng đó, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ ba tỉnh cùng với nhân dân và công an nhân dân bảo đảm an toàn tuyệt đối người, tài sản của Nhà nước, của quân đội và địa phương; ngăn chặn và dập tắt ngay những vụ gây rối, làm mất an ninh, các vụ cháy nổ kho tàng, nhà máy, trạm, trại, các vụ vượt biên, vượt biển ở nội địa, biên giới, ven biển trong phạm vi của ba tỉnh.

Kế hoạch xác định cụ thể các khu vực trọng điểm trên địa bàn mỗi tỉnh cần tăng cường lực lượng, tăng cường chỉ đạo thường xuyên, nhất là những thời kỳ cao điểm. Bộ đội Quân khu là lực lượng hỗ trợ bảo đảm trật tự, trị an, giữ các kho tàng trong phạm vi đóng quân canh phòng, ở những vùng có liên quan, thực hiện kế hoạch hiệp đồng với tỉnh, thành, thị... cơ động lực lượng khi cần thiết1.

Bộ đội biên phòng ba tỉnh căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ Bộ (ban) chỉ huy quân sự giao, kết hợp với dân quân, công an, thanh niên và các lực lượng khác tại chỗ bảo đảm an ninh biên giới, chống biệt kích, thám báo xâm nhập trái phép. Đồng thời, tham gia xây dựng lực lượng vũ trang tại chỗ vững mạnh.

Đến ngày 17-10-1982, tất cả các đơn vị, địa phương đã có nghị quyết lãnh đạo thực hiện chỉ thị của Hội nghị liên tịch, mở đợt giáo dục quyết tâm chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt kết hợp chống tiêu cực nội bộ. Một số đơn vị đã chủ động tổ chức những đợt truy quét trên các khu vực và vào các thời gian trọng điểm, tạo kết quả và đã phát triển tốt.

Các huyện biên giới, các đồn biên phòng kết hợp chặt chẽ với bạn Lào, với lực lượng dân quân tự vệ, công an, hải quan tổ chức ngăn chặn có hiệu quả các vụ vượt biên, vượt biển, xâm nhập, gắn với thực hiện Nghị quyết 128 của Hội đồng Bộ trưởng, Chỉ thị 01, 02 của Liên bộ Quốc phòng - Nội vụ.

Căn cứ vào Nghị quyết Quân ủy Trung ương (số 33/NQ-QU ngày 15-1-1982) và Mệnh lệnh Bộ trưởng Quốc phòng, quân số Quân khu 4 được quy định là 54.955 người (có 11.832 sĩ quan). Tháng 3 năm 1982, Quân khu tiến hành cuộc tổng sắp xếp, kiện toàn tổ chức trên quy mô rộng lớn.

Trường Đảng kết hợp với Trường Quân chính và Trường Sĩ quan, tổ chức học tập chính trị - văn hoá cho cán bộ, chủ yếu học tại chức ở các đơn vị.

Nhiệm vụ Trường Quân chính được xác định lại: Bổ túc cán bộ binh chủng hợp thành từ cấp tiểu đoàn trở xuống. Bổ túc và bồi dưỡng nghiệp vụ công tác quân sự địa phương cho cán bộ chỉ huy, các trưởng (phó) phòng, ban của cơ quan quân sự tỉnh, huyện, thành phố, thị xã và bộ đội biên phòng. Riêng số cán bộ trung đội khoá năm 1981 còn lại thì hoàn thành việc đào tạo.

Trường Văn hoá biên chế khung 200 người (102 sĩ quan) chuyên lo bồi dưỡng trình độ văn hoá hết cấp III cho cán bộ nguồn đào tạo và phục vụ lâu dài trong quân đội; gồm bồi dưỡng hết cấp III cho nguồn đào tạo sĩ quan sơ cấp; luyện thi cho số quân nhân đi đào tạo các trường đại học quân sự; bổ túc văn hoá cho cán bộ dân tộc ít người (quân số học viên từ 800 - 900).

Trường Hạ sĩ quan biên chế khung 285 người, có 125 sĩ quan, gồm 3 khung tiểu đoàn quản lý học viên. Nhiệm vụ đào tạo quản trị trưởng đại đội, hạ sĩ quan chỉ huy bộ binh, cối pháo mang vác, súng máy phòng không.

Trường Quân y Quân khu tách khỏi Viện quân y 268, chuyển trực thuộc Cục Hậu cần Quân khu, làm nhiệm vụ đào tạo, chuyên tu y sĩ, đào tạo y tá, dược tá. Lưu lượng học viên 450 - 500 người/khoá, tổ chức thành 5 khung đại đội quản lý học viên. Biên chế khung 120 người (42 sĩ quan).

Các trung đoàn binh chủng đều giảm quân số (Trung đoàn 16: 696 người, Trung đoàn 283: 600, Trung đoàn 206: 502, Trung đoàn 414: 800, Trung đoàn 80: 800). Mỗi trung đoàn đều sử dụng 1 - 2 tiểu đoàn khung làm trường đào tạo hạ sĩ quan binh chủng và đào tạo hạ sĩ quan xuất ngũ đủ điều kiện trở thành sĩ quan dự bị của binh chủng theo kế hoạch của Quân khu.

Đại đội 38 hoá học, Tiểu đoàn 52 trinh sát pháo binh, Đại đội chỉ huy phòng không 53, Đại đội trinh sát kỹ thuật 34... được chấn chỉnh lại, trực thuộc các chủ nhiệm binh chủng chuyên ngành. Tiểu đoàn 3 cảnh vệ và điều chỉnh giao thông, đội quân nhạc, đội thể dục thể thao, ban quân y kiêm bệnh xá Quân khu bộ được kiện toàn, biên chế trực thuộc Bộ Tham mưu Quân khu.

Ban Hải quân trong biên chế Phòng Tác chiến được điều về trực thuộc Bộ Tham mưu Quân khu (gồm 3 sĩ quan và 6 nhân viên tiêu đồ). Ban Khoa học quân sự sáp nhập vào Phòng Huấn luyện chiến đấu và Nhà trường thuộc Bộ Tham mưu. Ngành Thú y sáp nhập vào Ngành Quân lương Cục Hậu cần. Tổ chức 2 phòng quản lý hành chính thuộc Bộ Tham mưu và Cục Hậu cần; Ban Hành chính thuộc Cục Chính trị; Ban Vật tư thuộc Bộ tư lệnh. Lớp cơ yếu chấn chỉnh thành Trường nghiệp vụ tham mưu. Đại đội 2 kho trực thuộc Chủ nhiệm Công binh được chấn chỉnh thành 3 bộ phận kho Huế, kho Rú Mượu, kho Nam Hưng (gồm 26 người, có 2 sĩ quan).

Trạm khách 50 Quân khu, xưởng, kho thông tin trực thuộc Bộ Tham mưu được sắp xếp biên chế theo hướng gọn, nhẹ, mạnh, người thạo việc, không thừa người. Các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng, lương thực, thực phẩm và may mặc thực hiện chế độ hạch toán toàn bộ gồm Xí nghiệp gạch ngói 30-4, Xí nghiệp xi măng 19-5, Xí nghiệp mộc X74, Xí nghiệp đánh cá 814, Tiểu đoàn 15 sản xuất và chăn nuôi, Xí nghiệp may mặc 20C.
_____________________________________________
1. Theo kế hoạch này, Sư đoàn 358 đảm nhiệm từ ga Nghĩa Trang đến ga Minh Khôi và khu vực huyện lỵ Nông Cống đến Bến Sung. Sư đoàn 341 từ ga Tường Lâm vào chợ Si, lên thị trấn Nghĩa Đàn, chú trọng đường 48 từ Thái Hòa về Yên Lý và cầu Giát. Sư đoàn 441 từ ngã ba Vọt lên Đức Thọ vào ga Đức Lạc. Sư đoàn 342 từ Gio Linh theo đường 1 vào Đông Hà, lên đường 9 - Tân Lâm - Khe Sanh. Cụm Nhà trường Quân khu từ trạm kiểm soát An Cựu đến cầu Phú Bài - Trung đoàn 206 cùng Ban chỉ huy quân sự Nghĩa Đàn bảo đảm thị trấn Thái Hòa và đường 48 từ Nghĩa Liệt trở lên. Trung đoàn 80 từ Nam Anh về Cục Hậu cần Quân khu - thị trấn Thái Hòa - Trung đoàn cao xạ 283 và 654 (ô tô vận tải) cùng Ban chỉ huy quân sự thành phố Vinh bảo đảm thành phố Vinh. Trung đoàn 414 bảo đảm khu vực đóng quân và đoạn đường 49 từ Nam Đàn lên Rào Gang.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #92 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:03:14 pm »


Để giúp Quân khu nghiên cứu đề xuất ý kiến về tổ chức và quy mô sản xuất của các đơn vị trong toàn Quân khu; hướng dẫn kiểm tra kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt cá biển, sản xuất vật liệu xây dựng và giúp Cục Hậu cần trực tiếp chỉ đạo các xí nghiệp thực hiện chế độ hạch toán toàn bộ, Tư lệnh Quân khu quyết định tổ chức phòng sản xuất, biên chế 16 người (có 10 sĩ quan) trực thuộc Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu. Tiếp đó, Quân khu quyết định sáp nhập Xưởng 46 và trạm KX13 thành xưởng sửa chữa ô tô, máy nổ, lấy phiên hiệu là X46 - T45/K41 được chuyển về vị trí Xưởng 46.

Biến động lớn nhất là 2 sư đoàn 441 và 442 huấn luyện chiến sĩ mới chuyển thành đơn vị dự bị động viên (khung thường trực), phiên hiệu 23581 và 235891. Biên chế mỗi khung là 1.000 người (403 sĩ quan). Sư đoàn 341 chấn chỉnh thành sư đoàn rút gọn, biên chế 4.259 người (có 855 sĩ quan). Sư đoàn 342 chuyển thành khung rút gọn. Sư đoàn 358 là khung thường trực.

Ngày 25-3-1982, Tư lệnh Quân khu giao Mật lệnh nhiệm vụ cho các sư đoàn và 3 tỉnh. Trong đó, các sư đoàn 341, 342, 358 là sư đoàn chủ lực Quân khu tác chiến hiệp đồng binh chủng trong đội hình chiến dịch của Quân khu (hoặc trong đội hình quân đoàn chủ lực trực thuộc của Quân khu) cơ động trên các hướng chiến dịch quan trọng, cả Đông và Tây. Đồng thời, sẵn sàng cơ động ra ngoài Quân khu khi có lệnh. Hai sư đoàn 441 và 442 là sư đoàn chủ lực tác chiến hiệp đồng binh chủng trong đội hình chiến dịch của Quân khu; đồng thời, thành thạo tác chiến đội hình độc lập trên một hướng.

Theo quy định biên chế cơ quan Bộ tư lệnh Quân khu, dựa trên 4 nguyên tắc, trong đó có nguyên tắc thực hiện giảm 20% quân số so với biên chế số hiệu 0332 của Bộ Tổng Tham mưu, tổng quân số cơ quan Quân khu rút xuống còn 720, trong đó có 530 sĩ quan theo biên chế. Quân số tăng cường ngoài biên chế là 112 người (có 84 sĩ quan) được giải quyết một số công tác khác trong hai năm 1984-1985.

Trong thời gian này, theo cơ chế lãnh đạo mới của Đảng, Phòng Cán bộ, Phòng Chính sách, Phòng Tài chính, Phòng Tài vụ, Phòng Vật tư, Ban Thanh tra, Viện Kiểm sát, Toà án, Phòng Điều tra hình sự được đặt trong diện phòng, ban trực thuộc Tư lệnh Quân khu.

Phòng Lịch sử Quân khu, nguyên là Phòng Tổng kết thuộc Cục Chính trị được thành lập chuyển trực thuộc Tư lệnh Quân khu2. Phòng Vũ khí tách thành 2 ngành (ngành vũ khí gồm 9 sĩ quan và 1 chiến sĩ; ngành đạn 6 người, có 5 sĩ quan).

Trong hai tháng 11 và 12-1982, cùng với việc tổng kết mọi mặt công tác chuyên ngành và tổng kết nhiệm vụ năm 1982, Quân khu tiếp tục chỉ thị cho các đơn vị và cơ quan thành lập, kiện toàn một số tổ chức. Bộ tư lệnh Quân khu thống nhất với đề nghị của các cơ quan Quân khu và Ban chỉ huy Trung đoàn 654 vận tải ô tô giữ nguyên phiên hiệu 654 Đơn vị Anh hùng, gồm 4 tiểu đoàn: Tiểu đoàn 1 xe vận tải mang phiên hiệu D34; Tiểu đoàn 2 phiên hiệu D32; Tiểu đoàn 3 (dự bị động viên) phiên hiệu D781; Tiểu đoàn 4 tàu thuyền phiên hiệu D682.

Trung đoàn 10 công binh tổ chức lại theo biên chế mới, xong trước ngày 30-12-1982 để thực hiện nhiệm vụ mới; gồm 2 tiểu đoàn công trình, 1 đại đội xe máy, 1 trạm sửa chữa, 1 trạm xá, 1 tiểu đội thông tin, 1 tiểu đội cảnh vệ điều chỉnh giao thông cùng cơ quan trung đoàn; tổng biên chế là 463 người, có 70 sĩ quan.

Theo quyết định ngày 8-12-1982 của Tổng Tham mưu trưởng, Phòng Chính sách Quân khu được biên chế 8 sĩ quan với nhiệm vụ chủ yếu là phối hợp với các cơ quan có liên quan chỉ đạo theo dõi, điều tra tình hình thực hiện các chế độ, chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội. Đến tháng 12 năm 1982, số thương binh, bệnh binh Quân khu còn quản lý, tiếp tục nghiên cứu giải quyết chính sách là 753 đồng chí (có 649 là thương binh, gồm 125 thương binh nặng). Trong số này, Đoàn 200 có 485 người (437 thương binh), Đoàn 585 có 198 người (142 thương binh), Đoàn 581 có 70 thương binh. Đây là những trường hợp gặp khó khăn trong quá trình sắp xếp, đòi hỏi công tác chính sách phải nỗ lực làm tốt mới hoàn thành nhiệm vụ.

Tiểu đoàn 15 được tách thành 2 đội: Đội 15 chăn nuôi gia súc (dê, bò, lợn) bảo đảm cung cấp một phần con giống cho các đơn vị và sản xuất, chế biến thức ăn gia súc bảo đảm cho nhiệm vụ chăn nuôi. Đội 100 sản xuất, chuyên trồng các loại cây thực phẩm, cây công nghiệp có giá trị cao, chủ yếu là đỗ tương, lạc, mía. Biên chế 2 đội là 150 người, trong đó có 6 sĩ quan.

Ngày 23-11-1982, Quân khu thành lập Ban xây dựng công trình thông tin tại sở chỉ huy, do đồng chí Phạm Quốc Kiểm - Chủ nhiệm Thông tin Quân khu làm trưởng ban, đồng chí Hoàng Nậm - Phó trung đoàn trưởng Trung đoàn 80 làm phó ban và 4 trợ lý.

Tháng 12-1982, Bộ Quốc phòng quyết định điều động Thiếu tướng Nguyễn Thế Bôn - Tư lệnh Quân khu nhận công tác mới. Trung tướng Hoàng Cầm trúng cử Ủy viên Trung ương Đảng khoá V, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 4 được cử làm Tư lệnh Quân khu. Bộ tư lệnh Quân khu gồm các đồng chí: Lê Hữu Đức - Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng; Đặng Hòa - Phó tư lệnh về Chính trị; Trần Văn Ân - Phó tư lệnh quân sự địa phương; Dương Bá Nuôi - Phó tư lệnh Hậu cần, Kỹ thuật; Tống Viết Giao - Chủ nhiệm Kỹ thuật.

Căn cứ Luật Sĩ quan mới, Bộ Quốc phòng quy định bắt đầu từ ngày 3-1-1983, bỏ cấp Thượng tá. Tất cả sĩ quan cấp Đại tá "4 sao 2 vạch" đều thống nhất mang cấp hiệu "3 sao 2 vạch". Tiền lương vẫn ở 2 mức: "3 sao" và "4 sao". Để tiện phân biệt, vẫn thường gọi "Đại tá 3 sao”, "Đại tá 4 sao”.
_______________________________________________
1. Theo quy định của Bộ Tổng Tham mưu, các đơn vị lấy phiên hiệu con dấu giao dịch công khai đều dùng phiên hiệu có 5 con số.
2. Tháng 4 năm 1983 chuyển chỗ ở về doanh trại Bộ Tham mưu Quân khu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #93 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:06:24 pm »


Sự thay đổi này gắn liền với việc thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Sĩ quan mới, đã nẩy sinh những vấn đề hệ trọng mà công tác đảng, công tác chính trị phải đầu tư công sức tích cực góp phần giải quyết, cả về tư tưởng và tổ chức, nhất là khi chiều hướng nhận thức tư tưởng của cả trong và ngoài quân đội diễn biến sâu sắc. Việc chiêu sinh vào các trường Quân khu chỉ đạt 77 đến 95%. Riêng Trường Lục quân khi chiêu sinh có 30% đăng ký, khi tuyển sinh chỉ đạt 4%. Trường Sĩ quan chính trị cũng đạt rất thấp. Trong khi đó, xu thế chọn thi vào các trường thương nghiệp, kinh tế, lái xe, hậu cần, kỹ thuật gấp đôi.

Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Quân khu chú trọng công tác giáo dục toàn diện. Một mặt, thông qua giáo dục chính trị - tư tưởng bằng nhiều hình thức, biện pháp đi sâu tiếp tục xây dựng, phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của Đảng, dân tộc, quân đội và đơn vị, địa phương, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu xã hội chủ nghĩa, yêu chủ nghĩa quốc tế vô sản, nhận thức đúng đắn ý nghĩa vai trò, vị trí nặng nề của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, làm cho mọi người nâng cao nhận thức trách nhiệm trước nhiệm vụ chiến đấu. Mặt khác Quân khu xem xét đánh giá một cách khách quan, toàn diện và cơ bản tình hình tư tưởng trong các lực lượng vũ trang, kết hợp công tác tư tưởng với công tác tổ chức, cán bộ, chính sách, kiểm tra, hướng về cơ sở, hướng vào các đối tượng, nhất là các đối tượng chủ yếu, chủ chốt đông đảo, hướng vào chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu. Những biểu hiện lệch lạc được thẳng thắn nêu lên, bàn cách khắc phục như: Công tác tư tưởng mới chỉ do cấp ủy và cán bộ chính trị làm, chưa được tốt lắm. Cán bộ chỉ huy, quân sự, hậu cần, kỹ thuật còn nhiều đồng chí chưa thấy rõ trách nhiệm phải làm công tác tư tưởng của Đảng đối với đơn vị, với công tác mình phụ trách và cả bản thân mình.

Một cuộc vận động con em cán bộ, đảng viên, quân nhân đủ điều kiện thi vào Trường Lục quân, Trường Sĩ quan chính trị được đặt ra; khởi đầu từ Đảng bộ Cục Chính trị. Nhiều đồng chí có con thứ 2, con thứ 3 hoàn thành nghĩa vụ phục vụ tại ngũ, trải qua chiến đấu ở chiến trường, được vận động, thuyết phục theo bước cha anh. Trước yêu cầu của cách mạng và quân đội, các gia đình đã vận động con em của mình đăng ký thi vào Trường Sĩ quan lục quân và Trường Sĩ quan chính trị.

Qua việc vận động này, Quân khu và các đơn vị, địa phương phát hiện những điều chưa phù hợp về tổ chức, chính sách, đề nghị cấp trên nghiên cứu sửa chữa, bổ sung, điều chỉnh để dần đi vào thế ổn định và phát triển1.

Kết thúc năm 1982, Quân khu tổng kết đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ từ cơ sở đến Quân khu 5 năm (1978-19S2), nhằm nhìn nhận một cách toàn diện, tổng quát, khách quan, giúp định hướng chủ trương công tác sát đúng trong những năm tiếp theo.

Trải qua 5 năm, Quân khu đã nâng cao được một bước rõ rệt về chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu; xác định rõ vị trí của Quân khu, vừa là tiến tuyến, vừa là hậu phương; xác định quyết tâm phòng thủ cơ bản; xây dựng được một bước thế trận ở các hải đảo và tuyến ven biển; bố trí đội hình đóng quân các lực lượng theo phương án tác chiến; diễn tập từ Quân khu đến huyện; chấp hành các chỉ lệnh về 4 trạng thái sẵn sàng chiến đấu; động viên thử một bộ phận lực lượng dự bị động viên. So với những năm trước đây, Quân khu đã có những chuyển biến quan trọng, đáp ứng yêu cầu chiến đấu chống kẻ thù mới2.

Quân khu đã cùng với các tỉnh từng bước xây dựng nền quốc phòng toàn dân, giáo dục toàn dân chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang, chấp hành chính sách thương binh, liệt sĩ, tăng cường đoàn kết quân dân, thực hiện "quân với dân một ý chí".

Công tác đảng, công tác chính trị đã tập trung làm tốt các đợt sinh hoạt chính trị quan trọng; tập trung xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, coi trọng tổ chức cơ sở và đội ngũ đảng viên. Hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị được nâng cao và thể hiện rõ nét trong những công tác lớn, những chiến dịch lớn, những thời điểm thử thách cao nhất; (như các chiến dịch huấn luyện, chiến dịch động viên, tuyển quân, huy động lực lượng xây dựng thế trận, xây dựng công trình, xây dựng các tuyến, cụm phòng thủ, pháo đài quân sự huyện, trồng cây, chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt, chống bão lụt; các dịp Đại hội Đảng, phát thẻ Đảng, xây dựng quê hương Bác Hồ, trong thực hiện cuộc vận động lớn và các phong trào thi đua).

Lực lượng vũ trang phát triển nhanh, tình hình xã hội diễn biến rất phức tạp, tiêu cực xã hội và địch phá hoại thâm độc ráo riết, nhưng bản chất, truyền thống quân đội và truyền thống Quân khu tiếp tục được phát huy.

Điển hình là 2 sư đoàn 316, 337 và 7 trung đoàn lập công ở phía Bắc, 3 sư đoàn bộ binh, 2 sư đoàn làm kinh tế và các trung đoàn bám trụ, kiên quyết hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao trên các địa bàn đầy gian khổ, thử thách trong suốt những năm tháng làm nghĩa vụ quốc tế vẻ vang ở Lào.

Tám đợt phát thẻ đảng viên trong 2 năm, bảo đảm đúng nguyên tắc; 100% đảng viên phát thẻ đều đủ tư cách. Kết hợp thực hiện nghiêm túc kiểm tra tư cách đảng viên với yêu cầu phát huy ưu điểm, đặt kế hoạch, nội dung biện pháp phấn đấu thực hiện các nhiệm vụ, khắc phục khuyết điểm, điểm yếu, việc phát thẻ đảng viên đã góp phần có ý nghĩa quyết định nâng cao chất lượng lãnh đạo của tổ chức Đảng các cấp và trình độ của đảng viên. ___________________________________________________
1. Sau này cấp trên tiếp thu nghiên cứu bổ sung sửa chữa một số quy định không hợp lý, trong đó khôi phục cấp Thượng tá, Đại tá.
2. Về xây dựng lực lượng: Thành lập 6 sư đoàn, 7 trung đoàn, 40 tiểu đoàn, 8 đại đội, 4 trung đội, 3 trường, 1 lớp, 2 công trường, 1 trạm khách, 1 đội điều trị, 2 cục, 6 phòng, 61 ban. Tiếp nhận 1 quân đoàn, 2 sư đoàn, 2 trung đoàn, 2 tiểu đoàn, 1 xưỡng sửa chữa, 13 đại đội cơ động, 62 đội, 2 trạm bộ đội biên phòng. Bàn giao 8 sư đoàn, 10 trung đoàn, 9 tiểu đoàn, 60 đại đội, 1 đội điều trị. Giải tán 2 trung đoàn, 31 tiểu đoàn, 1 trường, 1 đội điều trị, 1 cục. Xây dựng 5 trung đoàn tỉnh (có 3 trung đoan dự bị động viên), 33 tiểu đoàn bộ binh huyện; riêng năm 1979 bàn giao cho Quảng Ninh 2 trung đoàn của Thanh Hoá; bàn giao cho Quân đoàn 5: 1 trung đoàn của Bình Trị Thiên.
    Gọi nhập ngũ 294.964 người/282.844 người đạt 104,2% chỉ tiêu. Xây dựng 123.941 quân dự bị hạng 1; đăng ký 6.242 xe vận tải (có 4.812 xe tốt); nếu huy động 50% thi đủ biên chế cho 10 sư đoàn. Dân quân tự vệ có 908.615 người (13,6% dân số).

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #94 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:08:07 pm »


Sang năm 1983, nhiệm vụ xây dựng lực lượng, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, là một trong những nội dung quan trọng trong xây dựng Quân khu, đáp ứng với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Cùng lúc với việc hoàn thiện phương án tác chiến và kế hoạch chống “chiến tranh phá hoại nhiều mặt” của địch, Quân khu tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện trên các vùng trọng điểm.

Ba tỉnh xây dựng kế hoạch tác chiến cơ bản, tiếp tục xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, xây dựng pháo đài quân sự huyện. Quân khu chọn Thanh Hoá làm tỉnh xây dựng “điểm” pháo đài quân sự huyện và cụm chiến đấu ven biển. Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên tăng cường chỉ đạo 2 huyện “điểm” là Nghi Lộc và Triệu Hải, nâng cao chất lượng các nội dung xây dựng pháo đài.

Chỉ lệnh về 6 trạng thái sẵn sàng chiến đấu được quán triệt đến các cơ sở, gắn với tổ chức nắm địch, tăng cường tổ chức phòng thủ trên các đảo, các điểm xung yếu vùng ven biển và biên giới thuộc Quân khu quản lý.

Để làm cơ sở rộng rãi hơn nữa cho sự gắn kết giữa chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt với xây dựng pháo đài quân sự huyện, Quân khu phối hợp với các tỉnh phát động phong trào thi đua xây dựng "xã, phường an toàn - chiến thắng" ở các địa phương cùng gắn kết với phong trào: "Xây dựng đơn vị an toàn trong các lực lượng vũ trang".

Nhằm tập trung đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết “2 khâu then chốt” là xây dựng đơn vị cơ sở trong sạch vững mạnh và tổ chức tốt đời sống vật chất và tinh thần văn hoá của bộ đội, Quân khu đã mở 235 lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ cho 14.759 lượt cán bộ, đúng kế hoạch, đối tượng và thời gian quy định.

Quân khu chú trọng chỉ đạo 3 loại cơ sở (gồm 25 cơ sở thuộc Cơ quan Quân khu, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, cơ quan chỉ huy sư đoàn; 14 cơ sở nhà trường, kho xưởng, bệnh viện; cơ sở đồn biên phòng và cơ quan quân sự cấp huyện. Việc chỉ đạo theo từng loại hình cơ sở giúp cho cả cấp quân khu, cấp trên cơ sở và cấp cơ sở nhận thức rõ những nét đặc thù trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chức trách nhiệm vụ của từng loại hình, khắc phục lối chỉ đạo chung chung.

Về tổ chức đời sống vật chất và tinh thần văn hoá, trong điều kiện thiên tai diễn ra liên tiếp, giá cả biến động, Quân khu đã tập trung 3/4 tổng kinh phí xây dựng cho các đảo, đồn biên phòng, kho tàng, trạm xưởng. Còn 1/4 được dành cho tu sửa doanh trại.

Lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị thấy rõ hoàn cảnh khó khăn chung, đã động viên tổ chức huy động bộ đội tham gia tu sửa nhà cửa, khai thác nguyên vật liệu làm doanh trại, doanh cụ, trồng cây lương thực, thực phẩm, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Các đơn vị quản lý ngày công, giờ công, khắc phục tư tưởng “nước sông, công lính”. Các xí nghiệp tổ chức hạch toán quản lý lao động, tổ chức lại dây chuyển sản xuất, cải tiến kỹ thuật, phát huy sáng kiến hiệu quả. Chế độ quản lý cơ sở vật chất, tài chính, bảo quản vũ khí, phương tiện, công cụ có nhiều tiến bộ, giảm mất mát, hao hụt, hư hỏng. Xăng dầu vận tải kết hợp được 2 chiều, phát huy các năng lực vận tải, cả thô sơ và hiện đại.

Để phát huy vai trò của cán bộ công nhân và nhân viên quốc phòng, từ ngày 5 đến ngày 7-7-1983, Đại hội Công đoàn lần thứ nhất toàn Quân khu được tổ chức tại hội trường Sở chỉ huy Đại Huệ. Đại hội đánh giá hoạt động của Công đoàn Quân khu và biểu dương công đoàn cơ sở X41, X46, Viện Quân y 4, Xưởng may 20C đã có nhiều thành tích thời gian qua; đồng thời xác định nội dung, phương hướng nhiệm vụ xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh mọi mặt, góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của đơn vị trong thời gian tới.

Thực hiện chỉ thị của Tổng cục Chính trị, Cục Chính trị Quân khu tổ chức theo cơ chế mới. Đứng đầu là chủ nhiệm, 3 phó chủ nhiệm; giúp việc có 5 phòng, 3 ban, 6 đầu mối trực thuộc1. Theo cơ chế mới, Cục Chính trị không còn Phòng Chính sách; Phòng Cán bộ tách làm hai; Cục Chính trị chỉ biên chế Phòng Cán bộ chuyên quản lý cán bộ chính trị. Cán bộ quân sự, khoa học kỹ thuật do Phòng Cán bộ (chung) trực thuộc Bộ tư lệnh Quân khu. Ban Sử và tổng kết chuyển thành Phòng Lịch sử trực thuộc Tư lệnh Quân khu. Viện Kiểm sát, Tòa án, Điều tra hình sự, cơ quan thanh tra sinh hoạt trong Đảng bộ Cục Chính trị đều chuyển về khối các cơ quan trực thuộc Tư lệnh Quân khu.

Sự chuyển đổi vị trí và giảm bớt biên chế đòi hỏi các cơ quan phải nỗ lực phấn đấu mới hoàn thành nhiệm vụ được giao. Chỉ một thời gian ngắn, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy của Quân khu, các cơ quan, trong đó đội ngũ cán bộ đóng vai trò quyết định.

Khi vào kiểm tra Quân khu 4, Đại tướng Hoàng Văn Thái - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nhận xét: “Quân khu 4 chấp hành nghị quyết Quân ủy về kế hoạch 5 năm và quy hoạch sắp xếp cán bộ nghiêm túc; kế hoạch, quy hoạch cụ thể, tỷ mỷ, có bước đi quá độ phù hợp với tình hình đội ngũ cán bộ Quân khu và giúp cho Bộ trong xem xét, đánh gia tình hình”.

Đội ngũ cán bộ phát huy tinh thần trách nhiệm, năng lực tổ chức trên mọi mặt công tác không chỉ trong nội bộ lực lượng vũ trang, trong những công tác thường xuyên mà rõ nét trong những lúc tình hình phát triển biến động; trong hiệp đồng xây dựng thế trận giao thông vận tải, kết hợp quân dân y phục vụ kế hoạch sẵn sàng chiến đấu trước mắt, chuẩn bị tiền đề, điều kiện cho bảo đảm đánh thắng trong trường hợp chiến tranh lớn có thể xảy ra.

Sau khi triển khai kế hoạch “chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt” của địch, công tác nắm địch của Quân khu trên biển, trên biên giới, trong nội địa và ở chiến trường Lào đã có những chuyển biến mới. Kế hoạch hiệp đồng bảo đảm thông tin liên lạc giữa thông tin quân sự với các sở, phòng, trạm bưu điện; giữa quân sự với công an, gắn bó chặt chẽ hơn với quá trình xây dựng pháo đài quân sự huyện và quá trình tổ chức lại sản xuất trên địa bàn huyện.
______________________________________________
1. Gồm các phòng: Tổ chức 15 người, Tuyên huấn 12 người, Bảo vệ 6 người, Cán bộ 6 người, Chính trị hậu phương 7 người; các ban: Thanh niên 4 người, Vật tư chính trị 3 người, Hành chính 3 người (gốm cả bảo mật), 1 trợ lý chính trị nội bộ; 6 đầu mối trực thuộc có: Tờ tin + nhiếp ảnh, Trường Đảng, Đoàn nghệ thuật, Bảo tàng, Nhà văn hóa.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #95 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:09:29 pm »


Những tháng cuối năm 1983, cùng với việc phải khắc phục hậu quả bão lụt, nhiều huyện đã quyết tâm phấn đấu hoàn thành kế hoạch quân sự trong năm, trong đó có một số cuộc diễn tập điển hình. Huyện Phú Lộc (Bình Trị Thiên), huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh) trở thành hai hình mẫu trong tổ chức diễn tập pháo đài quân sự. Phú Lộc là huyện tận cùng phía nam Bình Trị Thiên diễn tập pháo đài quân sự ven biển, có Tiểu đoàn 3 bộ đội biên phòng cùng tham gia. Huyện Hương Sơn là pháo đài quân sự miền núi - biên giới diễn tập chuyển trạng thái từ thời bình sang thời chiến và thực hành chiến đấu bảo vệ một hướng phía tây của tỉnh.

Hai cuộc diễn tập ở Phú Lộc và Hương Sơn cùng một số cuộc diễn tập khác đã cung cấp những thông tin, kinh nghiệm bước đầu về cách giải quyết, tháo gỡ cụ thể những vướng mắc, khó khăn trước những vấn đề mới nảy sinh, bằng mô hình và việc làm cụ thể; góp phần tạo sự nhất trí cao hơn về nhận thức, quan điểm và quyết tâm trong xây dựng pháo đài quân sự huyện.

Trước sự phát triển mới về nhiều mặt, nhất là về khoa học - nghệ thuật quân sự, nghệ thuật tổ chức chỉ đạo chiến tranh nhân dân trong điều kiện mới và trước đối tượng tác chiến mới, Quân khu đã động viên mọi người, mọi cấp phát huy khả năng tư duy, tìm tòi sáng kiến, tìm những cách làm, những biện pháp mới. Trong đó ưu tiên nghiên cứu quán triệt, vận dụng 2 phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân, xây dựng và hình thành rõ nét cách đánh của lực lượng vũ trang địa phương, của lực lượng tham gia chiến tranh nhân dân, xây dựng quốc phòng toàn dân trong hệ thống pháo đài quân sự huyện; đi sâu vào các nội dung khoa mục huấn luyện, tập trung giải quyết điểm yếu trong xây dựng nền nếp chính, chỉ huy hiệp đồng quy mô lớn, sử dụng và phát huy có hiệu quả mọi khả năng, trang bị, vũ khí, phương tiện. Trước hết, các nhà trường, các cơ quan nghiên cứu, các cán bộ chủ trì lãnh đạo, chỉ huy phải đi đầu, đột phá trên lĩnh vực khoa học - nghệ thuật quân sự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Trường Quân chính Quân khu nghiên cứu các chiến lệ, các tư liệu, sách báo, đối chiếu với tình hình nhiệm vụ Quân khu, tổ chức biên soạn, bổ sung các tài liệu huấn luyện (bao gồm cả lý thuyết, tập bài và thực hành) ba hình thức chiến thuật: Đánh địch trong hang động và lèn núi cao; đánh tập kích; đánh phục kích trong điều kiện chiến đấu với đối tượng tác chiến mới.

Chiến thuật tiến công, chiến thuật phòng ngự cũng được biên soạn lại với nhiều nội dung khác trước.

Những khoa mục về phòng ngự, phản công, phản đột kích, khu vực phòng thủ cũng như những nội dung, những khái niệm liên quan đến quyết tâm đánh thắng trận đầu, trên tuyến đầu, trên tuyến khơi xa, ngay từ mép biển, trong ngày đầu, giờ đầu được dân chủ bàn bạc, thảo luận, bảo đảm kết hợp chặt chẽ tính cách mạng, khoa học và tính thực tiễn cao.

Các lớp học ở nhà trường, lớp tập huấn cán bộ, các nội dung, chương trình huấn luyện ở phân đội đều chuyển mạnh "gắn thao trường với chiến trường", dành nhiều thời gian cho dã ngoại sát thực tế chiến đấu, lấy chiến thuật làm trung tâm, kỹ thuật làm cơ sở, huấn luyện và chấp hành điều lệnh làm điều kiện rèn luyện kỷ luật, xây dựng nền nếp chính quy.

Trường Quân chính góp phần tích cực đưa các nội dung mới về phương thức, phương án, kế hoạch tác chiến cơ bản và nhiệm vụ chính trị của Quân khu vào các giáo trình, giáo án như: "Đề án chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt" của địch, "Lý luận về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân trên các khu vực phòng thủ", "đề án công tác quân sự địa phương và kế hoạch nguồn động viên thời chiến". Phòng Huấn luyện chiến đấu, Phòng Khoa học quân sự, Phòng Tuyên huấn, Phòng Tổ chức, Phòng Cán bộ và mỗi chuyên ngành, mỗi trường lớp quân sự, chính trị, kinh tế, hậu cần, kỹ thuật, tài chính thông qua nghiên cứu thực tiễn nhiệm vụ, thực tiễn chiến trường, xây dựng, bổ sung hoàn thiện từng bước các vấn đề mới đặt ra đòi hỏi tiếp cận chân lý trước khi bước vào thực hiện những nhiệm vụ được giao trong năm 1984 với những biến động và phát triển mới, trong đó nổi bật một số đặc điểm sau đây:

1. Chiến sự vẫn diễn ra trên biên giới phía Bắc. Trên biên giới phía Tây và Lào, các thế lực phản động mở mặt trận mới, lấn chiếm 3 bản của nhân dân Lào, tập kích các tuyến giao thông của bạn.

2. Trên địa bàn Quân khu, địch tăng cường xâm nhập từ biên giới vào nội địa, thực hiện âm mưu xây dựng cơ sở ngầm, tiến hành chiến tranh phá hoại nhiều mặt, trong đó tập trung nhất là khu vực tây Trị Thiên và huyện Kỳ Sơn (Nghệ Tĩnh).

Trước tình hình đó, từ ngày 26-3-1984, Quân khu 4 được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng giao chính thức lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam ở Trung - Hạ Lào, gồm Binh đoàn 678 (có 2 sư đoàn 324, 968) và Trung đoàn 176. Phạm vi hoạt động từ Sầm Nưa (tỉnh Hủa Phăn) đến Hạ Lào.

Ngày 2-4-1984, Quân khu tổ chức Hội nghị liên tịch về "Xây dựng huyện (thị) thành pháo đài quân sự". Đại tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Phó Bí thư thứ nhất Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng đến dự chỉ đạo hội nghị. 340 đại biểu dự hội nghị đã nghe và đóng góp nhiều ý kiến rút ra từ thực tiễn, khẳng định ý nghĩa lịch sử của hội nghị, ý nghĩa chiến lược của xây dựng pháo đài quân sự huyện trong thực hiện đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Đồng chí Hoàng Cầm - Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu khai mạc và kết luận hội nghị.

Tiếp theo Hội nghị liên tịch của Quân khu, Hội nghị liên tịch được tiến hành từ cơ sở đến huyện và tỉnh, gắn chặt với chủ trương xây dựng và tăng cường cấp huyện của Trung ương Đảng. Tất cả 64 huyện, thành, thị xã và cả 3 tỉnh đều quán triệt, chấp hành Nghị quyết 12 của Bộ Chính trị, ra nghị quyết cấp mình về quốc phòng - an ninh. Chỉ lệnh sẵn sàng chiến đấu của Quân khu và kế hoạch động viên quân dự bị được triển khai xuống cơ sở và tổ chức luyện tập ở các địa phương.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #96 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:12:20 pm »


Trong năm 1984, Quân khu tổ chức quán triệt, thực hiện toàn diện Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Đổi mới cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam”.

Triển khai thực hiện Nghị quyết đổi mới cơ chế lãnh đạo của Đảng, ngày 23-4-1984, Ban Chấp hành Trung ương ra Nghị quyết số 755/NQ-NS/TW, chỉ định nhân sự Hội đồng quân sự Quân khu 4 gồm.

1. Trung tướng Hoàng Cầm - Tư lệnh Quân khu làm Chủ tịch Hội đồng quân sự Quân khu.

2. Thiếu tướng Đặng Hòa - Chủ nhiệm Chính trị Quân khu làm Phó Chủ tịch1.

3. Thiếu tướng Nguyễn Quốc Thước - Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu - ủy viên2.

4. Thiếu tướng Trần Văn Ân - Phó tư lệnh - ủy viên.

5. Thiếu tướng Dương Bá Nuôi - Phó tư lệnh - ủy viên.

Theo Quyết định số 24/QĐ-TW và số 25/QĐ-TW, ngày 23-4-1984, Hội đồng Cục Chính trị Quân khu 4 được thành lập gồm.

1. Thiếu tướng Đặng Hòa - Chủ nhiệm Chính trị Quân khu - Chủ tịch Hội đồng Cục Chính trị.

2. Thiếu tướng Lê Đình Sô - Phó Chủ nhiệm Chính trị thứ nhất - Phó Chủ tịch Hội đồng.

3. Đại tá Lê Đăng Dần - Phó Chủ nhiệm Chính trị - ủy viên.

Các trưởng phòng trong Cục Chính trị là thành viên Hội đồng.

Hội đồng Cục Chính trị có nhiệm vụ tập thể bàn bạc và quyết nghị chủ trương, biện pháp lớn về công tác đảng, công tác chính trị, về công tác cán bộ chính trị, về kỷ luật Đảng theo quyền hạn.

Cũng như Hội đồng quân sự Quân khu, Hội đồng Cục Chính trị làm việc theo nguyên tắc tập thể, ít nhất phải có nửa số ủy viên tham dự mới đủ điều kiện ra nghị quyết.

Nghị quyết của Hội đồng quân sự Quân khu được triển khai thực hiện bằng mệnh lệnh, chỉ lệnh, chỉ thị của Tư lệnh Quân khu. Nghị quyết của Hội đồng Cục Chính trị Quân khu được triển khai thực hiện bằng chỉ thị, thông tư, hướng dẫn... của Chú nhiệm Chính trị mới có giá trị và hiệu lực pháp lý thi hành.

Đây là một bước ngoặt lịch sử có tác động toàn diện đến quá trình lãnh đạo xây dựng, trưởng thành của quân đội ta trong một thời kỳ mới, có quan hệ rộng lớn với nhiều tổ chức trong hệ thống chính trị của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Trước khi tổ chức cuộc họp cuối cùng của Đảng ủy để chuyển giao công việc lãnh đạo theo Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị, Quân khu đã có những tổng kết chuyên đề, chuyên ngành ở năm (1978-1982) trên các lĩnh vực, các nhiệm vụ ở từng đơn vị, địa phương, học tập, quán triệt kỹ nội dung chủ trương của Đảng, quy chế cơ chế lãnh đạo mới của Đảng đối với quân đội, kiện toàn, củng cố tổ chức lãnh đạo, chỉ huy các cấp theo yêu cầu thực hiện cơ chế lãnh đạo mới của Đảng.

Ngày 14-5-1984, Đảng ủy Quân khu 4 họp phiên cuối cùng kiểm điểm quá trình lãnh đạo lực lượng vũ trang khắc phục khó khăn, hoàn thành các nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng, lao động, sản xuất, làm nhiệm vụ quốc tế và chuyển giao công việc lãnh đạo của Đảng cho Tư lệnh, Hội đồng quân sự, Chủ nhiệm Chính trị và Hội đồng Cục Chính trị Quân khu theo quy định của Nghị quyết 07 Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sau khi nhận nhiệm vụ từ Đảng ủy chuyển giao, Hội đồng quân sự và tiếp theo, Hội đồng Cục Chính trị Quân khu họp phiên đầu tiên tập trung bàn về nhiệm vụ, nguyên tắc chế độ làm việc, các mối quan hệ trong công tác, làm cơ sở triển khai các hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ chế độ quy định, thực hiện cơ chế lãnh đạo mới của Đảng.

Quá trình thực hiện, Tư lệnh Quân khu và Chủ nhiệm Chính trị với tư cách Chủ tịch Hội đồng và tư cách chỉ huy, lãnh đạo đã thường xuyên bám chắc và kiểm tra, đôn đốc các cấp quán triệt mục đích việc đổi mới cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, nhằm bảo đảm sự lãnh đạo vững chắc của Đảng trong mọi tình huống, phát huy cao độ trách nhiệm của người chỉ huy, không ngừng nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng và sức mạnh chiến đấu của quân đội.

Việc thực hiện cơ chế mới này được triển khai rộng khắp các đơn vị cơ sở và trên cơ sở kể từ ngày 20-5-1984. Cấp Quân khu thực hiện từ tháng 7-1984. Riêng các sư đoàn 324, 968 và Lữ đoàn 176 hoạt động ở Lào, do Binh đoàn 678 lãnh đạo, chỉ huy, quản lý. Tháng 3-1984 việc thục hiện theo cơ chế mới bàn giao cụ thể cho Quân khu 4, đến cuối năm 1984 đầu năm 1985 Quân khu mới thực hiện.
______________________________________________
1. Đồng chí Nguyễn Đình Ước - Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 4 được điều về Bộ Quốc phòng.
2. Đồng chí Nguyễn Quốc Thước - nguyên Tư lệnh Quân đoàn 3 về thay đồng chí Lê Hữu Đức.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #97 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:13:27 pm »


Cơ chế lãnh đạo mới của Đảng đã hình thành về tổ chức và đi vào hoạt động, từng bước phát huy được hiệu lực trong thực hiện các nhiệm vụ và xây dựng đơn vị. Theo Nghị quyết 07 (thường gọi tắt cơ chế 07), các tổ chức Đảng có 5 nhiệm vụ cơ bản, 9 nhiệm vụ chủ yếu. Nguyên tắc lãnh đạo và trách nhiệm cá nhân phụ trách (người chỉ huy) được quy định rõ trong chế độ sinh hoạt lãnh đạo ở cơ sở. Tổ chức Đảng từ cấp trên cơ sở không duy trì chế độ Đảng ủy lãnh đạo mà thay thế bằng cơ chế:

1. Hội đồng Phòng Chính trị và Phòng Chính trị với chức năng là cơ quan lãnh đạo về Đảng, cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở Đảng ở cấp sư đoàn và tương đương.

2. Hội đồng Cục Chính trị Quân khu, cơ quan chính trị Quân khu với chức năng là cơ quan lãnh đạo về Đảng; là cơ quan giúp người chỉ huy tiến hành công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang quân khu.

Cấp sư đoàn, cấp Quân khu không còn tổ chức Đảng ủy. Cấp cơ sở thì ở trung đoàn có Đảng ủy, có 1 bí thư Đảng ủy chuyên trách về Đảng và 1 phó chỉ huy về chính trị phụ trách cơ quan chính trị; cấp đại đội có phó chỉ huy về chính trị được cơ cấu bầu làm Bí thư chi bộ chuyên trách công tác đảng và công tác chính trị. Ủy ban kiểm tra kỷ luật Đảng chuyển thuộc cơ quan chính trị.

Hội đồng quân sự Quân khu do Thượng tướng Hoàng Cầm - Tư lệnh Quân khu làm Chủ tịch. Với chức năng là Chủ tịch Hội đồng, Tư lệnh chuẩn bị nội dung các cuộc họp của Hội đồng, thảo luận, ra nghị quyết. Trên cơ sở với tư cách là người chỉ huy thể chế hoá các nghị quyết thành các mệnh lệnh, chỉ lệnh của Tư lệnh Quân khu, Thượng tướng Hoàng Cầm đã ban hành nhiều văn kiện quan trọng như: Mệnh lệnh "Về nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang Quân khu 4 năm 1985"; Mệnh lệnh về "Hoạt động mùa khô 1984-1985" cho các đơn vị của Quân khu 4 làm nghĩa vụ quốc tế; các chỉ lệnh ''Về công tác viết sử quân sự năm 1985"; "Về công tác xây dựng lực lượng năm 1985"; "Chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt"; "Chỉ lệnh huấn luyện chiến dịch năm 1985".

Theo phân công, phân cấp Tư lệnh ủy nhiệm cho các Phó tư lệnh ký các mệnh lệnh, chỉ lệnh của Tư lệnh. Thiếu tướng Nguyễn Quốc Thước - Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu ký mệnh lệnh về nhiệm vụ huấn luyện, chiến đấu, xây dựng của Tiểu đoàn 31 đặc công, các trung đoàn binh chủng; mệnh lệnh về "Đóng quân và canh phòng" bao gồm 7 khu vực; mệnh lệnh về nhiệm vụ chiến đấu, huấn luyện của các đơn vị.

Thiếu tướng Dương Bá Nuôi ký chỉ lệnh "Công tác biên phòng năm 1985". Thiếu tướng Trần Văn Ân - Phó tư lệnh Quân khu ký chỉ lệnh về công tác chính sách và trực tiếp phụ trách Hội đồng thi đua. Đồng chí Trần Trọng Trai - Phó tư lệnh Quân khu ký chỉ thị về "Hoạt động xây dựng cơ sở, phát động quần chúng kết hợp truy quét địch mùa khô 1985-1986, thực hiện nghĩa vụ quốc tế ở Lào".

Đồng chí Đặng Hòa - Chủ nhiệm Chính trị Quân khu, căn cứ vào các nghị quyết của Hội đồng Cục Chính trị, chỉ thị những nội dung mọi mặt hoạt động công tác đảng, công tác chính trị; chịu trách nhiệm về tình hình mọi mặt hoạt động và đời sống của cơ quan; kiểm tra, giúp đỡ hoạt động của các Hội đồng Phòng Chính trị Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, sư đoàn và tương đương.

Đồng chí Lê Đình Sô - Phó Chủ nhiệm thứ nhất làm Phó Chủ tịch Hội đồng giúp Chủ nhiệm điều hành chương trình, kế hoạch làm việc của Cục Chính trị phối hợp, hiệp đồng công tác trong nội bộ Cục Chính trị và giữa Cục Chính trị với các cơ quan khác. Đồng thời trực tiếp chỉ đạo công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, văn hoá, ủy viên thường trực Hội đồng thi đua, theo dõi công tác chính sách, lịch sử, pháp chế, phụ trách công tác nội bộ Cục.

Đồng chí Lê Đăng Dần - Phó Chủ nhiệm Chính trị giúp Chủ nhiệm trực tiếp theo dõi, chỉ đạo công tác tổ chức, tổ chức Đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu huấn luyện diễn tập đối với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng, bộ đội làm kinh tế và các binh chủng, các cơ quan tham mưu, hậu cần, kỹ thuật; công tác chính trị xây dựng hậu phương và trong lực lượng quân sự địa phương, các đơn vị làm nghĩa vụ quốc tế, khối nhà trường, chỉ đạo công tác cán bộ chính trị.

Trong số các chỉ thị Chủ nhiệm Chính trị đã ban hành, có chỉ thị "Công tác đảng, công tác chính trị trong chiến đấu phòng ngự chống địch đổ bộ đường biển"; chỉ thị "Những vấn đề chủ yếu công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang quân khu năm 1985"; "Công tác vận động quần chúng xây dựng lực lượng cách mạng, công tác tuyên truyền đặc biệt năm 1984"; "Đánh giá tình hình tư tưởng và công tác tư tưởng của lực lượng vũ trang quân khu". Đó là những văn kiện cơ bản trong thực hiện đổi mới cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội tại Quân khu 4.

Quan hệ giữa cơ quan chính trị với Hội đồng quân sự bước đầu được thực hiện thống nhất, chặt chẽ, nhằm thực hiện nghiêm túc đường lối chính trị, đường lối, quan điểm tư tưởng quân sự của Đảng trong các lực lượng vũ trang quân khu, góp phần tăng cường hiệu lực chế độ một người chỉ huy, từng bước nâng cao sức mạnh tổng hợp của các lực lượng vũ trang quân khu, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang hoàn thành các nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, huấn luyện, tăng gia sản xuất, hoạt động văn hoá, thể dục thể thao.

Ngoài việc giải quyết những vấn đề thuộc quyền ủy nhiệm của Hội đồng quân sự như sắp xếp, đề bạt bổ nhiệm cán bộ, xét khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, đối với các đơn vị bộ đội, Thường trực Hội đồng quân sự đã họp 6 phiên chuẩn bị cho Hội đồng quân sự họp bàn các chuyên đề: Công tác cán bộ và công tác nhà trường; tăng cường kỷ luật bộ đội; bảo vệ an ninh, trật tự an toàn khu vực đóng quân; chủ trương phối hợp với bạn Lào khai thác gỗ xuất khẩu; thông qua thiết kế xây dựng Quân khu bộ ở Vinh; bàn về công tác chính sách hậu phương quân đội.

Hội đồng quân sự và Thường trực Hội đồng quân sự hoạt động đúng chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Nghị quyết 07 Bộ Chính trị, Quy định 23 của Ban Bí thư; làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ; đi sâu thảo luận quyết định những chủ trương, biện pháp lớn về công tác quân sự, công tác chính trị, công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật; bàn, quyết định những vấn đề về chiến đấu và bảo đảm đời sống của lực lượng vũ trang quân khu; về nhiệm vụ quốc tế ở Lào. Hội đồng quân sự đã bàn bạc tạo được sự nhất trí cao trong nội bộ, làm cơ sở đoàn kết thống nhất cao giữa Quân khu với ba tỉnh về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và quốc tế.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #98 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:14:52 pm »


Trên một địa bàn bị chiến tranh tàn phá nặng nề, tình hình kinh tế, xã hội ngày càng phát triển đi vào thế dần ổn định đã tạo ra những nhân tố mới cho tiềm lực quốc phòng. Công tác xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân và tổ chức phòng thủ trên địa bàn Quân khu được chuẩn bị một bước. Trình độ sẵn sàng chiến đấu được nâng lên. An ninh chính trị được giữ vững. Trật tự an toàn xã hội ngày càng chuyển biến tiến bộ rõ rệt.

Sớm đề ra chủ trương "đánh địch phá hoại kết hợp chống tiêu cực" và đã đánh bại một bước các thủ đoạn phá hoại của chúng. Hội đồng quân sự tiếp tục đề ra phương hướng, nhiệm vụ, nội dung đúng đắn về xây dựng pháo đài quân sự huyện gắn với xây dựng và tăng cường cấp huyện; đồng thời chỉ đạo xây dựng được một số huyện trọng điểm ven biển.

Phong trào "xây dựng xã - tuyến an toàn làm chủ" phát triển rộng khắp. Kế hoạch tác chiến phòng thủ cơ bản của Quân khu, ba tỉnh và các huyện trọng điểm được xây dựng thành văn bản. Kế hoạch xây dựng quân dự bị động viên triển khai xuống cơ sở và tổ chức diễn tập nhiều lần. Công trình chiến đấu ở các đảo lớn được xây dựng theo kế hoạch ba năm. Người chỉ huy và cơ quan các cấp được luyện tập và diễn tập nhiều lần về chiến thuật và chiến dịch chống chiến tranh xâm lược trên địa bàn Quân khu.

Về lao động sản xuất, xây dựng kinh tế, lực lượng vũ trang quân khu đã làm được nhiều việc và thu những kết quả đáng kể. Riêng trong chiến dịch rà phá bom mìn Quân khu đã giải phóng được 79.300ha ruộng đất để sản xuất, phá bom từ trường, mở thông các dòng sông, cửa biển, củng cố đường số 7, 8, 48, 217, góp phần nhanh chóng khôi phục các tuyến giao thông thủy, bộ. Phong trào sản xuất được đẩy mạnh. Đời sống bộ đội tuy còn khó khăn, nhung từng bước được cải thiện ổn định. Phong trào sản xuất vật liệu cả ở các đơn vị và cơ sở công nghiệp của Quân khu phát triển, góp phần xây dựng kho tàng, doanh trại, đưa bộ đội ra khỏi nhà dân, phục vụ nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện theo hướng chính quy, hiện đại.

Tổ chức biên chế được kiện toàn; sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang quân khu được nâng lên một bước rõ rệt. Dân quân tự vệ tổ chức rộng khắp, được rà xét về tiêu chuẩn chính trị, kiện toàn lại quy mô tổ chức hợp lý. Phân đội an ninh quốc phòng được tổ chức rộng khắp ở cơ sở. Phân đội trực chiến tổ chức ở những khu vực trọng điểm. Lực lượng dự bị động viên được xây dựng lớn, đáp ứng yêu cầu phát triển lực lượng đầu tiên khi chiến tranh xâm lược xảy đến.

Bộ đội biên phòng được kiện toàn mọi mặt, đảm nhiệm hai chức năng an ninh và quốc phòng.

Bộ đội địa phương hình thành mỗi tỉnh có 1 khung trung đoàn, có 1 tiểu đoàn có quân làm nòng cốt. Các đơn vị chủ lực ở A đã kiện toàn theo quy hoạch biên chế của Bộ. Quân tình nguyện ở C được tăng cường quân số, bổ sung cán bộ và trang bị chiến đấu.

Hệ thống nhà trường được kiện toàn một bước. Sư đoàn 358 được biên chế, tổ chức thành trung tâm tập huấn chiến dịch, chiến thuật cho cán bộ trung cấp, cao cấp trên toàn Quân khu.

Công tác lịch sử và nghiên cứu khoa học quân sự đã có những chuyển biến bước đầu, nhất là từ sau Hội nghị lịch sử quân sự Quân khu lần thứ 1 (7-1984). Nghị quyết Hội đồng quân sự và Mệnh lệnh Tư lệnh Quân khu đã xác định rõ trách nhiệm các địa phương phát động phong trào viết sử 3 cấp (xã, huyện, tỉnh). Các cơ quan Quân khu, các đơn vị triển khai viết truyền thống đơn vị mình.

Sau khi khai thác tư liệu thành văn ở kho lưu trữ Bộ Quốc phòng được 28.600 trang đánh máy, 2.800 trang viết tay, 38 sơ đồ chiến dịch, chiến đấu và khai thác tư liệu ở các nhân chứng lịch sử, Quân khu khẩn trương hoàn thành đề cương nhân chứng lịch sử chống Pháp và biên soạn biên niên sự kiện thời kỳ kháng chiến chống Pháp gồm 1.500 trang.

Một số địa phương và đơn vị, cơ quan đã có nhiều cố gắng triển khai và đạt kết quả trong công tác biên soạn lịch sử quân sự1.

Để khắc phục sự chuyển biến chậm, không đều và nhận thức chưa đúng tầm quan trọng cấp thiết của công tác viết sử lịch sử quân sự đơn vị, trong Chỉ lệnh số 30/CS-LS, Thượng tướng Hoàng Cầm - Tư lệnh Quân khu đã xác định: "Viết lịch sử quân sự và viết truyền thống nhằm ôn lại, giáo dục truyền thống anh hùng để thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, làm tròn nghĩa vụ quốc tế hiện nay, tìm ra những đặc thù có tính quy luật của từng địa phương vận dụng vào việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, xây dựng lực lượng, xây dựng tổ chức, đúc kết, vận dụng nghệ thuật quân sự và các hình thức chiến đấu, chiến dịch vào điều kiện cụ thể phù hợp với đối tượng tác chiến và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ địa phương".
_____________________________________________
1. Sư đoàn 341 xuất bản "Lịch sử Đoàn Sông Lam" (tập 1); Sư đoàn 324 tổ chức hội nghị lịch sử, kiện toàn tổ chức viết sử. Trường Văn hóa viết truyền thống 25 năm nhà trường. Phòng Hóa học viết xong truyền thống binh chủng. Tỉnh Nghệ Tĩnh xây dựng xong đề cương và Dự thảo lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Bình Trị Thiên viết Dự thảo đề cương chống Pháp. Cục Hậu cần hình thành tổ chức viết sử.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #99 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:17:51 pm »


Nét nổi bật trong năm 1984 là tất cả mọi mặt công tác tập trung thực hiện cuộc vận động lớn “Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân" và “phong trào thi đua Quyết thắng”, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị trung tâm, nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu. Kết quả được thể hiện rõ trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ ở C, chống địch phá hoại gắn với chống tiêu cực1; củng cố xây dựng lực lượng ở cơ sở; nhất là củng cố lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ theo yêu cầu mới2.

Khả năng phòng thủ và trình độ sẵn sàng chiến đấu tiếp tục được tăng cường và củng cố. Đội ngũ cán bộ từ đại đội trở lên và các cơ quan được sắp xếp đủ chức danh theo cơ chế mới; hơn 60% được rèn luyện thử thách qua chiến đấu, phục vụ chiến đấu ở chiến trường; trong đó cán bộ trung cấp và cao cấp qua chiến đấu và phục vụ chiến đấu chiếm 90% tổng số trung cao cấp. 87,2% cán bộ đã qua trường lớp đúng cương vị (số đào tạo cơ bản là 24%). Đại đa số cán bộ trung cấp và cao cấp kiên định đường lối của Đảng, giữ vững bản lĩnh chính trị, là lực lượng nòng cốt của các lực lượng vũ trang quân khu trong chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng và lao động sản xuất.

Quân khu đã tác động, hỗ trợ phong trào các địa phương hướng vào thực hiện Nghị quyết 12 của Bộ Chính trị, tạo thành những chiến dịch chỉ đạo thống nhất, tập trung, những đợt hoạt động sâu rộng từ huyện đến cơ sở, đỉnh cao là kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, 40 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.

Từ “mỗi huyện làm một nhà ở lâu bền cho đảo" ở Bình Trị Thiên, phong trào đã nhân rộng khắp Quân khu. Ba tỉnh đã tuyên truyền vận động nhân dân đóng góp vật chất; động viên viết hàng chục vạn bức thư gửi lên điểm tựa, đồn biên phòng. Từ một địa phương Nghệ Tĩnh xây dựng hệ thống truyền thanh cho đảo, phát triển dần ra ba tỉnh. Có nơi còn đầu tư xây dựng truyền thanh kết hợp trang bị điện thắp sáng cho đảo. Tỉnh Bình Trị Thiên cấp cây giống cho các đơn vị bộ đội phủ xanh đất trống, đồi núi trọc. Thông qua việc xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, thế trận quân dân y kết hợp, tỉnh đã huy động khả năng cung cấp nhu cầu hậu cần, góp phần giảm bớt khó khăn cho bộ đội.

Bộ tư lệnh Quân khu chỉ đạo từng bước gắn chức năng chỉ huy với chỉ đạo thi đua hiệu quả; trong đó tập trung tổ chức các đợt thi đua liên tục làm động lực thúc đẩy thực hiện tốt 7 công tác chủ yếu, 12 công tác lớn, 8 vấn đề cấp bách cơ bản của Quân khu; tập trung giải quyết 2 khâu then chốt là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên và rèn luyện kỷ luật, đoàn kết.

Đối với một số mục tiêu như xây nhà kho, nhà xe pháo ở các địa phương, các đơn vị ở Lào thực hiện còn thấp, tình hình đào ngũ còn cao; vi phạm kỷ luật chưa chấm dứt, Quân khu và các đơn vị tập trung động viên lấy đoàn thanh niên làm xung kích, đột phá, thi đua học hỏi kinh nghiệm, đuổi, vượt nhau để tạo chuyển biến mới trên các mặt công tác.

Cụm các nhà trường, các trung đoàn trực thuộc, một số trung đoàn thuộc các sư đoàn, nhiều huyện ở ba tỉnh và cơ sở thuộc Ngành Hậu cần - kỹ thuật, Biên phòng, người chỉ huy trực tiếp nắm và điều hành phong trào thi đua, xác định mục tiêu, chỉ tiêu, biện pháp, tổ chức phát động, ký kết giao ước, triển khai thực hiện, kiểm tra đôn đốc, tổ chức chấm điểm, kịp thời sơ kết khen thưởng. Người chỉ huy thực sự, đi sâu chỉ đạo xây dựng, bồi dưỡng mô hình cụ thể, tổ chức hội nghị chuyên đề mở rộng. Nhờ đó, phong trào thi đua đã diễn ra sôi nổi ở các đơn vị, cơ quan và địa phương.

Quân khu và các địa phương, đơn vị đầu tư xây dựng một số chuyên đề thiết thực như: Xây dựng huyện thành pháo đài bảo vệ Tổ quốc; tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; củng cố kỷ luật; viết lịch sử quân sự; phát huy bản chất truyền thống quân đội, tổ chức các hoạt động kỷ niệm những ngày lịch sử của dân tộc, quân đội, cơ quan và đơn vị.

Lần đầu tiên Quân khu tổ chức diễn tập động viên trên diện rộng ở cả 3 tỉnh, quy mô lớn, lực lượng tham gia đông, huy động cả người và phương tiện. Hầu hết các cơ quan đơn vị trong Quân khu đều tham gia, trong điều kiện vừa trải qua lũ lụt nặng, thời gian chuẩn bị rất khẩn trương, nhưng các cơ quan, đơn vị đều huy động lực lượng, phương tiện tham gia đạt từ 90% trở lên.

Trong phong trào thu hồi vũ khí tàng trữ trái phép, tỉnh Thanh Hoá thu hơn 2.400 khẩu súng, 2.500 dao găm, kiếm, 536 băng nhạc xấu, 5.200 mét dây điện, 392 sách cúng nhảm nhí, truy quét hàng trăm ổ nhóm lưu manh, côn đồ. Hai tỉnh Bình Trị Thiên và Thanh Hoá việc thu hồi vũ khí cũng đạt được một số kết quả đáng kể.

Tuy bị bão lụt thiên tai lớn, thiệt hại nặng nề, nhưng 2 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh trở thành 2 ngọn cờ điển hình trong số 3 tỉnh, thành phố trong cả nước hoàn thành sớm nhất chỉ tiêu huy động lương thực vụ mùa năm 1984. Tỉnh Bình Trị Thiên duy trì được ổn định giá cả và đời sống nhân dân.

Phong trào văn nghệ quần chúng, thể dục thể thao phát triển sôi nổi từ cơ quan Quân khu đến cơ sở dưới các hình thức hội thao, hội thi tìm hiểu truyền thống, thi thông báo chính trị, thi giảng dạy, hội diễn khu vực, hội diễn toàn quân chọn từ cơ sở lên đều đạt từ khá đến giỏi. Triển lãm, bảo tàng lưu động tổ chức tương đối rộng khắp, có chất lượng, thu hút nhiều người tham quan học tập. Bằng sự nỗ lực to lớn, Quân khu hoàn thành xây dựng Bảo tàng Quân khu ở thành phố Vinh, kịp thời mở cửa phục vụ nhân dịp 40 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.

Hầu hết các đơn vị nhận cờ thưởng năm 1983 đều giữ vững và phát huy tốt, như: lực lượng vũ trang Bình Trị Thiên, lực lượng vũ trang huyện Triệu Hải, xưởng Dược Quân khu, Viện Quân y 268 và Trung đoàn 335. Trong số các đơn vị được xét nhận cờ thi đua năm 1984 có nhiều nhân tố mới như: Lực lượng vũ trang Thanh Hoá, Bộ Tham mưu Quân khu, Trường Hạ sĩ quan, Toà án, lực lượng vũ trang các huyện Nông Cống, Kỳ Anh, Kho K43 tiến bộ đều trên các mặt hoạt động.

Số đơn vị có những tiến bộ rõ gồm Sư đoàn 442, các trung đoàn 80, 654, Cục Kỹ thuật, Phòng Tài vụ, Trường Văn hoá, Trường Quân y; lực lượng vũ trang các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Thạch Thành, Cẩm Thủy, Quảng Trạch, Lệ Ninh, Bến Hải; các thị xã Hà Tĩnh, Bỉm Sơn, Đồng Hới, Đông Hà; các đảo Mê, Mắt, Ngư, Cồn Cỏ. Đặc biệt là có 7 đơn vị bền bỉ phấn đấu, phát huy vai trò điển hình giữ cờ thi đua 3 năm liền gồm: Sư đoàn 324, Sư đoàn 342, Trung đoàn 176, Trung đoàn 19 (Sư đoàn 968), lực lượng vũ trang huyện Triệu Hải, Viện Quân y 268, xưởng Dược Quân khu.

Hội đồng quân sự Quân khu trong phiên họp ra Nghị quyết 01/NQ (1-1-1985) và Hội nghị Quân chính Quân khu (từ ngày 5 đến ngày 8-1-1985) đã biểu dương thành tích của các lực lượng vũ trang, khen thưởng các đơn vị thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kết thúc kế hoạch 5 năm (1981-1985) tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng.
_____________________________________________
1. Đẩy lùi và đánh bại một bước một số thủ đoạn chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch trên địa bàn Quân khu.
2. Đăng ký quản lý 547.000 quân dự bị (18.500 sĩ quan).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM