Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:30:58 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005)  (Đọc 76686 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #100 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:20:48 pm »


Năm 1985 là năm đầu tiên trong lịch sử xây dựng lực lượng vũ trang quân khu, nghị quyết về tình hình, nhiệm vụ do Hội đồng quân sự thảo luận, thông qua, thay vì trước đó do Đảng ủy Quân khu đảm trách. Hội đồng quân sự xác định: "Nhiệm vụ Quân khu năm 1985 là thường xuyên bám sát diễn biến tình hình, nắm chắc âm mưu và hành động của địch để chủ động trong mọi tình huống, nâng cao hơn nữa khả năng phòng thủ, sức mạnh chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang, cùng toàn dân đánh bại một bước kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, sẵn sàng đối phó thắng lợi với mọi tình huống chiến tranh xâm lược nếu xảy ra, bảo vệ vững chắc địa bàn Quân khu, làm tròn nhiệm vụ hậu phương chi viện cho tiến tuyến, làm tròn nhiệm vụ quốc tế được giao, góp phần bảo vệ thành quả cách mạng của bạn, tăng cường tình đoàn kết Việt – Lào"1.

Năm 1985 có nhiều ngày kỷ niệm lớn như: 50 năm ngày thành lập Đảng, 10 năm ngày chống Mỹ, cứu nước toàn thắng, 95 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 40 năm ngày Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9; và đợt 22-12 hướng tới chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng. Đồng thời là năm thứ 7 cuộc vận động lớn, Quân khu tổ chức đợt thi đua tập trung thống nhất toàn Quân khu.

Hội đồng thi đua Quân khu đề nghị với Hội đồng quân sự Quân khu phối hợp với ba tỉnh tổ chức một đợt thi đua có mục tiêu, nội dung, thời gian và điều hành thống nhất dưới khẩu hiệu "Bảy triệu quân và dân Quân khu 4 là bảy triệu dũng sĩ xây dựng và bảo vệ Quân khu", mở đầu bằng 32 ngày cao điểm thi đua đầu năm, chuẩn bị Đại hội Đảng lần thứ VI.

Quân khu điều chỉnh lại các cụm thi đua: Cụm 7 nhà trường có thêm trung tâm huấn luyện chiến dịch, thành 8 đầu mối. Cụm các phòng trực thuộc Quân khu có thêm 2 phòng: chính sách và lịch sử quân sự, thành 9 đầu mối.

Sau 6 tháng triển khai thực hiện phong trào thi đua, tháng 7-1985, Hội đồng thi đua Quân khu tiến hành sơ kết, thông báo tình hình, bổ sung biện pháp chỉ đạo tiếp tục đợt thi đua mới.

Phương hướng là tập trung vào những mục tiêu và chỉ tiêu thi đua hướng về Đại hội lần thứ VI của Đảng, các địa phương, đơn vị nỗ lực thi đua vươn lên, chủ động khắc phục khó khăn, tiến bộ đồng đều và đạt chất lượng cao trên các lĩnh vực, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, nhất là nhiệm vụ chiến đấu giúp bạn ở Lào.

Đồng thời với việc đẩy nhanh, đẩy mạnh tiến độ và chất lượng, hiệu quả hoàn thành các mặt công tác thường xuyên và trọng tâm, trọng điểm, theo 13 chủ trương công tác lớn trong năm 1985, Quân khu đầu tư chỉ đạo thực hiện một số công trình nghiên cứu, tổng kết khoa học - thực tiễn.

Từ kết quả đánh giá những nét lớn về công tác đảng, công tác chính trị trong thời gian sau 30-4-1975, trên 6 lĩnh vực chủ yếu2, công trình đi sâu vào nghiên cứu, phân tích, đánh giá tình hình tư tưởng và công tác tư tưởng trong thời gian 10 năm (1975-1985), đi sâu vào công tác xây dựng Đảng (nhất là trong các bước ngoặt chuyển cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy), công tác bảo vệ lực lượng vũ trang; khẳng định mặt mạnh cơ bản về tư tưởng của bộ đội mà nét nổi bật là: "... Dù trải qua nhiều khó khăn, thử thách rất gay go, phức tạp của tình hình thế giới, trong nước và trên địa bàn Quân khu, trụ vững và phát triển theo hướng đi lên, lành mạnh, kiên định vững vàng, luôn luôn nhất trí cao với đường lối, nghị quyết của Đảng, luôn luôn sẵn sàng và tự giác, nghiêm túc chấp hành mọi đường lối, nghị quyết của Đảng, mọi chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, trong bất cứ nhiệm vụ gì, trên các hướng chiến trường và trong mọi tình huống".

Công trình tổng kết rút ra 6 điểm chung về cán bộ, đảng viên sau khi đi sâu phân tích cụ thể theo từng đối tượng (cán bộ, chiến sĩ, công nhân, nhân viên quốc phòng, quân nhân chuyên nghiệp, sơ cấp, trung cấp, cao cấp, làm nhiệm vụ trên địa bàn Quân khu, trên chiến trường quốc tế), phân tích trên các cấp độ (đối với đường lối của Đảng và 2 nhiệm vụ chiến lược; đối với các Nghị quyết của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị; đối với đối tượng chiến lược và đối tượng tác chiến; đối với nhiệm vụ quân đội và nhiệm vụ Quân khu; đối với nhiệm vụ quốc tế, với các đơn vị làm nhiệm vụ nơi biên giới, hải đảo).

Quân khu cũng tiến hành tổng kết công tác cán bộ 5 năm (1981-1985). Trong điều kiện chuyển cơ chế lãnh đạo của Đảng, có thời gian công tác cán bộ tách thành hai bộ phận: Cán bộ quân sự, chuyên môn kỹ thuật, chỉ huy thuộc Hội đồng quân sự quản lý. Cán bộ chính trị thuộc quyền quản lý của Hội đồng cơ quan chính trị và Chủ nhiệm chính trị. Phòng Cán bộ thuộc Hội đồng Quân sự và Tư lệnh Quân khu; Phòng Cán bộ chính trị thuộc Hội đồng cơ quan chính trị và Chủ nhiệm chính trị, nhưng nguyên tắc tập thể lãnh đạo và tập trung thống nhất quản lý cán bộ được giữ vững3, thường xuyên quán triệt được yêu cầu nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu của các lực lượng vũ trang, vận dụng thực hiện đường lối, chính sách cán bộ của Đảng sát với tình hình thực tiễn đội ngũ cán bộ Quân khu.

Thực tiễn về các nhiệm vụ huấn luyện, chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, chi viện lớn cho chiến trường, xây dựng hậu phương, xây dựng thế trận phòng thủ, xây dựng kinh tế, làm nghĩa vụ quốc tế luôn đòi hỏi cao, công tác cán bộ phải được chấn chỉnh, kiện toàn, bồi dưỡng, sắp xếp, sử dụng cho phù hợp với yêu cầu tổ chức mở rộng, nâng cao chất lượng, bảo đảm kịp thời yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.
_____________________________________________
1. Hồ sơ C36 - Lưu trữ Quân khu.
2. Về giáo dục nâng cao giác ngộ, bản lĩnh, quán triệt quan điểm đường lối; công tác đảng, công tác chính trị góp phần tích cực xây dựng lực lượng và nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang; công tác đảng, công tác chính trị đi sâu lãnh đạo hoàn thành nhiệm vụ huấn luyện quân sự hàng năm; công tác đảng, công tác chính trị trong công tác quân sự địa phương; công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng tổ chức cơ sở, xây dựng sư đoàn, trung đoàn mạnh, trong công tác hậu cần, kỹ thuật; công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm vụ quốc tế.
3. Thời kỳ chuyển cơ chế lãnh đạo và thực hiện chế độ một người chỉ huy, bên cạnh truyền thống tốt đẹp của Quân khu được phát huy thì tính Đảng, tính tổ chức kỷ luật, tính nguyên tắc và đức độ, phẩm chất, phong cách của đồng chí Hoàng Cầm trên vị trí người chủ trì có sức thu phục đoàn kết và góp phần có ý nghĩa tích cực giải quyết các mối quan hệ trong điều kiện cơ chế chưa hoàn bị. Dù sao, việc phân chia công tác cán bộ làm 2 mảng thuộc 2 cơ quan quản lý, đã bộc lộ ngay từ đầu những điểm yếu thuộc về tính nguyên tắc lãnh đạo tuyệt đối tập trung, thống nhất của Đảng đối với công tác cán bộ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #101 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:23:48 pm »


Trải qua 30 năm chiến đấu liên tục, một bộ phận khá lớn cán bộ được chuyển qua làm kinh tế, chuyển ngành, phục viên để giảm quân số. Chưa được bao lâu, họ phải trở lại quân ngũ, đáp ứng yêu cầu khẩn trương khôi phục, mở rộng lực lượng tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên hai đầu đất nước, trên địa bàn Quân khu và làm nghĩa vụ quốc tế. Bước ngoặt ấy đặt ra nhiều vấn đề lớn, bức bách mà công tác cán bộ phải tập trung mọi nỗ lực lớn để khắc phục: "Nguồn" cán bộ thiếu nghiêm trọng, phải đào tạo cấp tốc; số lượng tăng, nhưng chất lượng hạn chế. Sức khỏe, hậu phương gia đình cán bộ gặp nhiều khó khăn, những năm về sau, phải chuyển ra gần hết. Đại bộ phận số còn lại tuổi cao, sức khỏe hạn chế, ít được đào tạo cơ bản, phần đông trưởng thành từ thực tế lên1. Đào tạo cơ bản không đủ, phải đào tạo cấp tốc ngắn hạn và tại chức đưa lên. Bên cạnh đó, lượng cán bộ dư nhiều, nhưng không bù đắp được số thiếu ở các cơ quan, nhất là đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu.

Có thể nói, thời gian chuyển từ hòa bình sang chiến tranh là thời kỳ thử thách gay gắt đối với công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ với những nét đặc thù mới. Tuy vậy, Quân khu đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc thực hiện nghiêm túc quy hoạch cán bộ dài hạn và kế hoạch công tác cán bộ 5 năm, cân đối số lượng, nâng chất lượng cán bộ; quy hoạch sắp xếp và tạo nguồn cán bộ trung cấp, cao cấp nhất là cán bộ chủ trì2.

Quân khu cố gắng giải quyết một bước xây dựng cơ cấu đội ngũ cán bộ, giải quyết đồng bộ, hợp lý giữa cán bộ bộ đội chủ lực với quân sự địa phương, giữa cán bộ lãnh đạo, chỉ huy với cán bộ chuyên môn kỹ thuật, cán bộ các binh chủng; giữa cán bộ thường trực với cán bộ dự bị động viên. Chất lượng cán bộ được cải thiện một bước, mở ra phương hướng về quản lý, sử dụng cán bộ và tạo nguồn cho các đơn vị, địa phương3.

Đối với nguồn cán bộ chủ trì trung cấp, cao cấp, một khâu rất quan trọng trong Nghị quyết Quân ủy Trung ương về quy hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ dài hạn, ngay từ đầu, người chỉ huy và cán bộ chính trị các cấp đã đi sâu xuống dưới phát hiện “nguồn”, lập phương án sắp xếp. Quân khu cùng các tỉnh, các đơn vị lập phương án sắp xếp cấp trung đoàn, huyện, phòng, ban và cấp tương đương trở lên, hình thành 3 lớp kế tiếp (gồm đương chức, kế cận và lớp làm “nguồn” đào tạo lâu dài).

Quân khu cùng đi sâu xem xét, đánh giá việc cải tiến công tác quản lý sử dụng cán bộ trong điều kiện thực hiện luật mới về sĩ quan (sửa đổi) và thực hiện chế độ một người chỉ huy, xem xét việc thực hiện các chế độ, chính sách về chăm lo đời sống hậu phương cán bộ. Ngoài việc phát hiện, đề nghị Đảng, Nhà nước, quân đội khắc phục khó khăn, bổ sung, sửa đổi một số chính sách đối với cán bộ như tăng phụ cấp lương, bảo đảm chế độ cung cấp tem phiếu, trợ cấp đột xuất và thường xuyên cho gia đình cán bộ ở các địa phương khó khăn gặp thiên tai, cấp đồ dùng sinh hoạt cho cán bộ nghỉ hưu, giải quyết những vấn đề còn lại sau chiến tranh đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, quy tập mộ tử sĩ, liệt sĩ, khen thưởng cá nhân và gia đình có công với cách mạng..., Quân khu còn đặt vấn đề cùng các tỉnh và được các địa phương, các ngành phối hợp thực hiện với nhiều biện pháp tích cực từng bước giải quyết có hiệu quả chính sách hậu phương cán bộ trong khả năng có thể.

Nhờ vậy, độ tuổi cán bộ trẻ hơn, tạo “nguồn” kế tiếp dưới lên từng bước được cải thiện rõ. Năm 1980, số còn độ tuổi phuc vụ tại ngũ chỉ còn 66,8%, năm 1985 nâng lên 87,6%; rút bớt được tình trạng chênh lệch giữa cấp và chức, giảm được mất cân đối giữa cán bộ ở đơn vị, cơ quan và nhà trường.

Công tác xây dựng “nguồn” sĩ quan dự bị từng bước vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, đã phát triển 1,7 lần so với sĩ quan thường trực. Qua động viên diễn tập, 95% sĩ quan dự bị có mặt, 85% đúng chuyên nghiệp quân sự, đúng chức danh. Hàng năm, theo kế hoạch, chỉ tiêu của Bộ, Quân khu gọi một số sĩ quan dự bị tốt nghiệp đại học có ngành nghề phù hợp vào phục vụ tại ngũ, chiếm 2,4% tổng số nhập ngũ hàng năm. Từ năm 1985, bước đầu thí điểm gọi một số cán bộ các cơ quan nhà nước có ngành nghề phù hợp thuộc tỉnh Nghệ Tĩnh vào phục vụ trong quân đội, đáp ứng một phần nhu cầu về chuyên môn kỹ thuật còn hiếm.

Tuy nhiên, công tác cán bộ còn một số điểm yếu như chưa nhận thức, quán triệt đầy đủ tư tưởng chỉ đạo của Nghị quyết Đại hội lần thứ V của Đảng và Nghị quyết Thường vụ Quân ủy Trung ương về đặc điểm của thời kỳ quá độ, và thực tiễn tình hình đội ngũ cán bộ, dẫn đến chủ quan, nóng vội, thiếu tính kế thừa. Trong nghiên cứu ban hành luật và xây dựng quy chế cán bộ của cấp trên có nhiều vấn đề chưa phù hợp điều kiện, hoàn cảnh của đất nước và quân đội. Trong tổ chức thực hiện, thiếu quan điểm thực tiễn, toàn diện, phát triển, nên vừa có biểu hiện chủ quan, nóng vội, vừa bảo thủ, trì trệ. Thường nhấn mạnh tuổi trẻ, văn hoá cao, qua đào tạo cơ bản, mà thiếu gắn kết chặt chẽ phẩm chất, đạo đức, năng lực, sức khỏe, hiệu quả thực tế.

Nhìn chung công tác quản lý cán bộ của Quân khu mới đi vào một số mặt công tác sắp xếp, đề bạt, chưa nắm chắc toàn diện các mặt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, đánh giá, nhận xét từng cán bộ cũng như đội ngũ cán bộ và tạo “nguồn” kế tiếp. Mặt khác, công tác giáo dục về nội dung chưa kỹ, lãnh đạo về tư tưởng chưa chặt, hiểu chưa đúng, chưa đủ mục đích, nội dung, yêu cầu của luật và các quy định, nên cũng nảy sinh những hiện tượng tiêu cực trong đội ngũ cán bộ. Trong khi đó, việc giáo dục hướng nghiệp cho thanh niên đi học sĩ quan tuy đã được các địa phương, các trường phổ thông bước đầu quan tâm, nhưng chưa thật sâu rộng, chưa thường xuyên, thiếu đồng bộ, nên “nguồn" đi đào tạo sĩ quan, nhất là sĩ quan chỉ huy rất khó khăn, thường không đạt số lượng quy định, chất lượng thấp.

Một số cơ quan, đơn vị cử những cán bộ khó sắp xếp, đi học, nhất là học trường Quân khu, học xong lại đề nghị Quân khu điều chỉnh. Cũng do chưa xuất phát từ yêu cầu chất lượng tạo “nguồn’, nên tỷ lệ trả về trước khai giảng lên tới 2,5%.
____________________________________________
1. Điều tra 12.584 gia đình cán bộ trong Quân khu có 1.647 đồng chí nhà ở chặt hẹp, hư hỏng nhẹ, còn 63% chưa có nhà ở gồm 7.894 đồng chí, trong đó 364 đồng chí phục vụ 30 năm trở lên trong quân đội và 3.585 phục vụ 20 - 25 năm.
2. 5 năm cử đi đào tạo, bổ túc, bồi dưỡng ở trường Bộ, Quân khu, sư đoàn, tỉnh được 10.126 cán bộ (86,3% chỉ tiêu), trong đó đào tạo trung cao cấp 210 người, bổ túc 440 người.
3. 88,3% cán bộ qua trường (21,2% đào tạo cơ bản). Chỉ tiêu Bộ giao là 80% và 30%.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #102 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:25:59 pm »


Từ những công trình tổng kết các mặt, nhất là công trình về tư tưởng, tổ chức, các công trình nghiên cứu khoa học quân sự về xây dựng huyện thành pháo đài quân sự, chống địch đổ bộ đường biển và các cách đánh gắn liền với tổ chức lực lượng, rèn quân, luyện quân, vận dụng các kết quả nghiên cứu vào giảng dạy ở các nhà trường và phát huy vai trò, khả năng của các nhà trường vào nghiên cứu khoa học - thực tiễn1, Quân khu đã rút ra những bài học quý, đề ra phương hướng, biện pháp khắc phục đồng bộ, nhất là những vấn đề lớn của công tác đảng, công tác chính trị, trong đó có công tác tư tưởng, công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ. Đây cũng chính là cơ sở thuận lợi để tập hợp trí tuệ chuyên sâu đóng góp vào những dự thảo văn kiện sẽ trình Đại hội Đảng toàn quân và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng.

Tuy vậy, có những vấn đề chưa phù hợp, trong đó nổi bật là mối quan hệ giữa Thường trực Hội đồng quân sự với người chỉ huy, giữa Thường trực Hội đồng quân sự với Bộ tư lệnh chưa được quy định.

Hội đồng quân sự và Hội đồng chính trị là "tổ chức lãnh đạo tập thể”, nhưng theo quy định của cơ chế thì nghị quyết của Hội đồng lại không có hiệu lực thực hiện đối với cấp dưới. Quan hệ giữa Hội đồng quân sự với người chỉ huy; quan hệ của Chủ nhiệm chính trị chưa được xác định hoặc xác định không rõ. Quan hệ lãnh đạo của cấp ủy địa phương với phòng chính trị tỉnh và cán bộ chính trị cơ quan quân sự huyện, quan hệ phối hợp giữa các ban của cấp ủy địa phương với phòng chính trị tỉnh và cán bộ chính trị cơ quan quân sự huyện chưa được cấp trên quy định rõ và cụ thể hoá.

Đáng chú ý là quan hệ giữa Bí thư chuyên trách, phó chỉ huy về chính trị và người chỉ huy; việc bỏ tổ chức Đảng ủy từ cấp trên cơ sở đến Quân khu tạo nên những điều không “thuận” trong nguyên tắc lãnh đạo đã thành kinh nghiệm máu thịt và truyền thống quý báu của Đảng.

Để khắc phục những điểm chưa phù hợp, những điểm yếu kém, khuyết điểm, tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo mới của Đảng đối với quân đội, ngày 6-6-1985, Hội đồng quân sự Quân khu họp kiểm điểm việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của Hội đồng quân sự và người chỉ huy sau một năm thực hiện cơ chế lãnh đạo mới của Đảng đối với quân đội trong Quân khu.

Theo hướng dẫn của Tổng cục Chính trị, sau khi nghe cơ quan chính trị thông báo tình hình thực hiện cơ chế lãnh đạo mới của Đảng ở các cấp, nghe nội dung kiểm điểm của cơ quan chính trị, Hội nghị tiến hành kiểm điểm việc thực hiện chức trách nhiệm vụ của Hội đồng quân sự, của người chỉ huy, mối quan hệ và cách làm của người chỉ huy với Hội đồng quan sự, cơ quan chính trị, chủ nhiệm chính trị và các mối quan hệ khác. Hội nghị phân tích rõ ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân, bàn biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, phê bình cấp trên, đề nghị những vấn đề mới cần được hướng dẫn, bổ sung.

Những đề nghị hướng dẫn bổ sung đều từ thực tế mà bản thân Quân khu không giải quyết được và chính là sự băn khoăn, trăn trở của các cấp; tập trung là: Qua hơn một năm thực hiện cơ chế lãnh đạo mới, vai trò và chất lượng lãnh đạo của Đảng ở cơ sở và cấp trên cơ sở không những không được nâng cao hơn trước, mà trái lại, có đơn vị yếu đi. Nguyên nhân là do cơ quan chính trị cấp trên cơ sở chưa làm được chức năng cơ quan lãnh đạo về Đảng; cán bộ chủ trì chính trị cấp trên cơ sở chưa đủ năng lực, bản lĩnh hoàn thành chức năng người Bí thư Đảng ủy, người Chính ủy2; đồng thời là Chủ nhiệm chính trị. Quá trình thực hiện cơ chế mới, trong cán bộ chính trị chưa giải quyết được những nhận thức, tư tưởng tiêu cực. Tuy nhiên, những quy định không hợp lý trong cơ chế 07 cũng là nguyên nhân quan trọng.

Hội nghị đi sâu xem xét, đánh giá khách quan tình hình cụ thể ở từng cấp, ở cơ sở, trên cơ sở cả tổ chức và mỗi chức danh. Từ những kiến nghị và đề nghị của Quân khu cũng như của các đơn vị và qua quá trình theo dõi chỉ đạo, cấp trên đã nghiên cứu bổ sung hoàn thiện cơ chế lãnh đạo mới của Đảng. Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 27, thay cho những điểm không phù hợp trong Nghị quyết 07.

Theo Nghị quyết 27, khôi phục lại chế độ Đảng ủy cấp trên cơ sở, giải thể Hội đồng quân sự, Hội đồng Cục (Phòng Chính trị), bỏ chế độ Bí thư Đảng ủy chuyên trách đã tách khỏi chức năng phó chỉ huy về chính trị ở cấp cơ sở.

Xuất phát từ vị trí đặc điểm của Quân khu, trên cơ sở quy định của Bộ Quốc phòng trong kế hoạch tổ chức lực lượng những năm 1983-1985, theo phương hướng ưu tiên kiện toàn lực lượng chiến đấu; đồng thời bảo đảm yêu cầu cần thiết cho lực lượng làm kinh tế, xây dựng cơ bản, sản xuất lương thực, thực phẩm của Quân khu, Tư lệnh Quân khu tập trung chỉ đạo công tác xây dựng lực lượng nhằm vào 4 trọng tâm: Tổ chức biên chế; công tác động viên; quân số và chính sách; công tác trang bị. Mọi công tác xây dựng lực lượng phải đáp ứng cho được yêu cầu chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, động viên giành thắng lợi trong mọi tình huống và hoàn thành các nhiệm vụ khác của Quân khu, tạo cơ sở cho việc triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm (1986-1990).
____________________________________________
1. "Chỉ lệnh huấn luyện chiến đấu 1985", "Chỉ lệnh về công tác biên phòng 1985", Chỉ thị "hoạt động xây dựng cơ sở, phát động quần chúng kết hợp truy quét địch trong mùa khô 1985-1986", qua đúc kết từ thực tiễn, đã vận dụng những quy định chung vào điều kiện cụ thể của Quân khu với tinh thần sáng tạo trên cơ sở khoa học. Năm 1985 kiện toàn nâng cao chất lượng khoa quân sự địa phương của Trường Quân chính, chấn chỉnh các trường quân sự địa phương tỉnh bảo đảm đúng chức năng. Với trung tâm huấn luyện chiến thuật, chiến dịch lấy tập bãi chiến thuật cấp sư đoàn, trung đoàn và một phần nghệ thuật chiến dịch ngoài thực địa làm phương pháp chủ yếu.
2. Chế độ chính ủy (chính trị viên) thôi thực hiện từ khi Nghị quyết 07 có hiệu lực, nhưng thực tiễn và truyền thống cho thấy những việc làm thuộc chức năng, nhiệm vụ chính ủy (chính trị viên) không thể chuyển sang một cách suôn sẻ cho cấp phó về chính trị (với tư cách người giúp việc của chỉ huy); càng không "thuận" khi tách nhiệm vụ Bí thư Đảng ủy ra khỏi nhiệm vụ của phó chỉ huy về chính trị và ngược lại.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #103 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:26:40 pm »


Trong quá trình tiến hành tổng kết 3 năm thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự từ cơ sở lên, Quân khu kiên quyết xác định quyết tâm chấm dứt từ tháng 6-1985, việc kéo dài thời hạn phục vụ của hạ sĩ quan và binh sĩ theo luật quy định. Việc "chồng quân" chỉ áp dụng đối với các đơn vị làm nhiệm vụ ở Lào, các đồn biên phòng, các đảo; nhưng cũng chỉ trong thời điểm "quân ra, quân vào". Điểm mới là được tuyển một số nữ thanh niên hoàn toàn tự nguyện phục vụ quân đội theo chế độ quân nhân trong 3 năm, đúng theo vị trí biên chế mà Bộ Quốc phòng quy định.

Những hạ sĩ quan, chiến sĩ nhập ngũ từ năm 1982 về trước (trừ số thuộc diện phục vụ tại ngũ 4 năm); số hạ sĩ quan, chiến sĩ nhập ngũ trước năm 1981 thuộc diện xuất ngũ năm 1984 do yêu cầu nhiệm vụ giữ lại đến tháng 4-1985; hạ sĩ quan, chiến sĩ trước khi nhập ngũ đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng và có thời gian phục vụ tại ngũ 24 tháng, đều được xếp vào "đối tượng xuất ngũ năm 1985". Đây là những quy định quan trọng nằm trong chiến lược điều chỉnh, tổ chức lực lượng trong tình hình mới.

Để thực hiện chủ trương, Thượng tướng Hoàng Cầm - Tư lệnh Quân khu ra một số quyết định giải thể chấn chỉnh tổ chức biên chế. Ngày 6-3-1985, quyết định giải thể Trường Hạ sĩ quan Quân khu (xong trước ngày 30-4-1985). Việc đào tạo hạ sĩ quan chỉ huy bộ binh và hoả lực giao cho các đơn vị tự đảm nhiệm. Vị trí doanh trại, cơ sở vật chất kỹ thuật, bảo đảm công trình, bảo đảm sinh hoạt bàn giao cho Trường Hậu cần - Kỹ thuật Quân khu.

Ngày 6-3-1985, căn cứ Mệnh lệnh số 235 về nhiệm vụ Quân khu năm 1985 và Quyết định số 69/TL chuyển Trung đoàn 176 thành Lữ đoàn 176, Tư lệnh Quân khu quyết định điều động Đại đội xe tăng 1 (T59) và Đại đội thiết giáp 3 (K63) thuộc Tiểu đoàn thiết giáp - xe tăng 1 bổ sung cho Tiểu đoàn xe tăng 1020, tổ chức thành Tiểu đoàn xe tăng thiết giáp 1020 gồm có 3 đại đội xe tăng và 1 đại đội thiết giáp thuộc Sư đoàn 324. Đồng thời điều động Đại đội xe tăng 17 - ΠT76 thuộc Tiểu đoàn xe tăng 1020 bổ sung cho Tiểu đoàn thiết giáp - xe tăng 1 để chấn chỉnh thành tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp (thiếu) có 1 đại đội ΠT76B và 1 đại đội K63 tăng cường cho Lữ đoàn 176, do Sư đoàn 324 chuyển đến Pắc Xan bàn giao cho lữ đoàn, xong trước ngày 30-4-1985.

Ngày 6-6-1985, Thượng tướng Hoàng Cầm ký quyết định: chuyển khung thường trực 442 thành trung tâm huấn luyện chiến sĩ mới gồm 4 nhiệm vụ (trong đó huấn luyện mỗi năm 2 đợt chiến sĩ mới, mỗi đợt 3.000 - 3.500 người, huấn luyện hạ sĩ quan, thu gom, huấn luyện quân đào ngũ).

Đồng thời kiện toàn các trung đoàn bộ binh 6, 762, Khung thường trực 764 biên chế 10 sĩ quan thành các trung đoàn bộ binh rút gọn, giữ nguyên phiên hiệu các trung đoàn bộ binh khung thường trực 840, 841, 842, không biên chế 10 sĩ quan mà xếp dự bị hoàn toàn. Việc sắp xếp này giao cho Bộ chỉ huy quân sự ba tỉnh hoàn thành trước ngày 31-8-1985, phục vụ tốt nhiệm vụ trước mắt của các trung đoàn, đồng thời tạo cơ sở để các trung đoàn 6, 762, 764 phát triển thành sư đoàn phòng thủ khi cần thiết.

Trong hai ngày 23 và 24-7-1985, tiếp đó là ngày 16-9-1985, Thiếu tướng Nguyễn Quốc Thước - Phó tư lệnh Quân khu ký các quyết định tổ chức đội xây dựng nghĩa trang liệt sĩ ở Cánh Đồng Chum (Xiêng Khoảng); kiện toàn tổ chức, biên chế công trường C85 thành Công ty khai thác và chế biến gỗ xuất khẩu gọi tắt là Công ty C85 trực thuộc Bộ tư lệnh Quân khu; điều Đội điều trị 34 thuộc Tổng cục Hậu cần bàn giao cho Quân khu 4 về trực thuộc Cục Hậu cần Quân khu làm nhiệm vụ điều trị thương binh, bệnh binh thuộc các đơn vị hoạt động ở vùng Cánh Đồng Chum; thành lập ban quản lý công trình xây dựng Quân khu bộ tại thành phố Vinh; kiện toàn tổ chức biên chế Trung đoàn 10 xây dựng cơ bản làm nhiệm vụ thi công xây dựng cơ quan Quân khu trong 5 năm (1986-1990) theo hướng hạch toán kinh tế.

Với sự kết hợp nghiêm túc khoa học và cách mạng trên một cơ sở nhận thức mới, chất lượng lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu của Quân khu được nâng lên, góp phần làm chuyển biến "hai khâu then chốt", "ba mặt còn yếu" qua 4 năm thực hiện cuộc vận động lớn.

Nổi bật là việc xây dựng tổ chức cơ sở trong sạch, vững mạnh, góp phần chỉ đạo rút kinh nghiệm từng loại hình cụ thể: cơ quan, đơn vị chiến đấu, đơn vị phục vụ, nhà trường, kho tàng, bệnh xá, xí nghiệp, cơ quan quân sự huyện, đồn, trạm biên phòng, đơn vị chuyên môn kỹ thuật, đơn vị tập trung, đơn vị hoạt động phân tán..., khắc phục một bước quan trọng lối làm việc thụ động, thiếu tư duy sáng tạo, rập khuôn, máy móc, giáo điều, duy ý chí, hình thức, phô trương, thành tích chủ nghĩa, thiếu tôn trọng thực chất, thực tài và hiệu quả.

Công tác hậu cần, kỹ thuật, tài chính có bước chuyển biến tiến bộ rõ. Trong điều kiện thiên tai liên tiếp, giá cả biến động, Quân khu đã bảo đảm được yêu cầu chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và đời sống lực lượng vũ trang ở mức ổn định. Kế hoạch đánh bắt hải sản, gieo trồng cây lương thực, thực phẩm, phát triển gia súc, gia cầm được triển khai nghiêm túc, thành ý thức tự giác và chỉ tiêu pháp lệnh.

Từng cơ quan, đơn vị hình thành ý thức nếp sống đẹp: tự cân đối sử dụng lao động bộ đội, cơ sở vật chất kỹ thuật (tự có và trang bị được phép sử dụng) để sản xuất lương thực, thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng, làm hàng xuất khẩu, thu hồi tận dụng phế liệu, phế phẩm, tài sản vật tư cũ, tăng nguồn thu để bảo đảm các nhu cầu chi tiêu mà ngân sách không bảo đảm đủ, góp phần cải thiện đời sống bộ đội.

Trải qua thời kỳ đất nước và Quân khu khó khăn về lương thực thực phẩm, phải phân phối từng cân đường, bộ lốp xe, từng lít xăng dầu, từng mẩu phụ tùng máy móc, trang bị, mới càng thêm trân trọng ý thức chủ động sáng tạo của các cấp và những ngày tháng vật lộn với nắng, mưa, bệnh tật lao động say sưa, quên mình, đầy bản lĩnh và trí tuệ của bộ đội trong các phong trào lao động; đặc biệt là lao động làm hàng xuất khẩu để nhập thiết bị, vật tư, xe ô tô, máy công nghiệp, xăng dầu. Từ mỗi mẩu phế liệu chiến tranh, mỗi mảnh bom thù, từng bó đót (chổi), khoanh song - mây, từng cân thiên niên kiện, bao ớt khô, nghệ khô - sản phẩm của phong trào quần chúng "Người người làm xuất khẩu ", "Nơi nơi làm hàng xuất khẩu", đến gỗ xuất khẩu của Công ty chủ lực 85 đã đi vào lịch sử lực lượng vũ trang Quân khu 4 với những nét son tương xứng như thời kỳ "mỗi viên đạn, một quân thù". Những thành quả của các lực lượng vũ trang Quân khu 4 đạt được chưa nhiều, nhưng đã góp phần thiết thực nâng cao một bước sức mạnh chiến đấu lực lượng vũ trang.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #104 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2024, 12:27:22 pm »


*

*        *

Chấp hành Nghị quyết 27 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục kiện toàn cơ chế lãnh đạo của Đảng và Quyết định 1085 của Ban Bí thư về việc thành lập Đảng ủy Quân khu, ngày 8-11-1985, thường trực Hội đồng quân sự Quân khu báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị từ tháng 6-1984, chuẩn bị cho việc tái lập Đảng ủy Quân khu theo Nghị quyết 27 của Bộ Chính trị.

Ngày 22-11-1985, Hội nghị quân sự Quân khu công bố Nghị quyết của Bộ Chính trị và Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập lại Đảng ủy Quân khu. Tại Hội nghị quan trọng này, cơ quan chính trị Quân khu với chức năng là cơ quan lãnh đạo về Đảng (theo Nghị quyết 07) báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác đảng, công tác chính trị, thực hiện các nhiệm vụ trong những năm qua. Báo cáo nêu rõ: "Từ năm 1979 đến nay, Đảng ủy Quân khu, Hội đồng quân sự và Hội đồng Cục Chính trị Quân khu luôn coi trọng công tác lãnh đạo tư tưởng đối với các lực lượng vũ trang, coi đó là một trong những công tác cơ bản hàng đầu của công tác đảng, công tác chính trị, một trong những nhiệm vụ chủ yếu của các cấp ủy và các Đảng bộ trong Quân khu"; "thực hiện nghiêm túc, chủ động, nhạy bén quán triệt và chấp hành đường lối, nghị quyết, nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ quân sự của Đảng, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên... coi trọng tất cả các đối tượng, trước hết là đội ngũ cán bộ đảng viên, nhất là cán bộ trung cấp và cao cấp chủ trì; đi sâu thực hiện các nhiệm vụ, nhất là nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, nhiệm vụ quốc tế; đã phối hợp tốt giữa ta và bạn trong công tác tư tưởng đối với nhiệm vụ liên minh chiến đấu". Tuy nhiên, trong công tác vẫn còn nhược điểm: "Tính chiến đấu chưa cao, còn hữu khuynh trong công tác tư tưởng, nhất là ở đơn vị cơ sở, ở chi bộ, ở một số cấp ủy. Công tác tư tưởng chưa kết hợp chặt chẽ và cụ thể từ trên xuống cơ sở với công tác tổ chức, cán bộ, kiểm tra, chính sách; giải quyết tư tưởng còn phân tán, tách ra với các mặt khác, thiếu đồng bộ". Song công tác tư tưởng đã góp phần tích cực cùng các mặt công tác đảng, công tác chính trị, công tác tham mưu, hậu cần, kỹ thuật làm tốt các nhiệm vụ trong những điều kiện thử thách quyết liệt.

Ngày 24-11-1985, Hội đồng thi đua Quân khu họp phiên toàn thể đánh giá tình hình phong trào thi đua thời gian qua. Hội nghị nêu rõ: Điểm nổi bật là các đơn vị, các địa phương tích cực, chủ động quán triệt và thực hiện sát đúng tư tưởng chỉ đạo phát huy tinh thần tự lực, tự cường, thông minh, sáng tạo, khắc phục trì trệ, ỷ lại, mạnh dạn tháo gỡ vướng mắc, khó khăn, đoàn kết hiệp đồng, thi đua làm chuyển biến khâu yếu, mặt yếu. Từng bước khai thông được những cản trở nhiều năm qua, đạt chất lượng rõ rệt trên các mục tiêu, thực hiện thắng lợi các nội dung thi đua của cuộc vận động lớn, “phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân” do Ban Bí thư Trung ương Đảng phát động.

Kết quả, số Đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh tăng hơn năm 1984 là 9,5% (43,8/43,3%). Chi bộ trong sạch vững mạnh tăng 7,4% (48,4/41%). Đảng viên mức I tăng 16% (62,6/46,6%). Các mặt công tác khác có những chuyển biến rõ rệt đạt kết quả tốt, chất lượng cao như: liên minh chiến đấu hợp tác với bạn Lào; xây dựng pháo đài quân sự huyện, cơ sở an toàn làm chủ, xây dựng Đảng; củng cố, rèn luyện kỷ luật, điều lệnh quản lý bộ đội; sản xuất và làm kinh tế ở các cấp, nhất là ở cơ sở. Tỉnh Thanh Hoá có 313/576 xã đạt an toàn làm chủ - Bình Trị Thiên có 243 xã, phường an toàn làm chủ. Nhiều xã yếu ven biển vươn lên rõ rệt.

Quân khu biểu dương, khen thưởng các đơn vị tiêu biểu trong các cụm thi đua: Cụm bộ đội tình nguyện có Sư đoàn 324; Cụm 3 tỉnh có Thanh Hoá, Bình Trị Thiên; các huyện Nông Cống và Vĩnh Lộc (Thanh Hoá), Quỳnh Lưu và Kỳ Anh (Nghệ Tĩnh), Triệu Hải và Đông Hà (Bình Trị Thiên); cụm các sư đoàn, có Sư đoàn 342 giữ vững, phát huy vai trò cờ đầu suốt 4 năm (1982-1985); cụm nhà trường có Trường Quân chính, Trường Đảng, Trường Hậu cần - Kỹ thuật; cụm xí nghiệp quốc phòng có xưởng Dược và đội 100; cụm Viện quân y có Viện 268; cụm kho trạm có kho KX2, kho 41; cụm các trung đoàn có Trung đoàn 16, Trung đoàn 206.

Như vậy, trong những năm 1980-1985, các lực lượng vũ trang Quân khu 4 đã nỗ lực phấn đấu, từng bước xây dựng chính quy, hiện đại, nâng cao sức mạnh chiến đấu, góp phần cùng toàn quân, toàn dân tăng cường sức mạnh tổng hợp, phòng chống và làm thất bại mọi âm mưu phá hoại chiến tranh nhiều mặt của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc địa bàn Quân khu và cả nước, tạo cơ sở hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc tế khi Đảng, Nhà nước và quân đội hai nước Việt Nam - Lào giao nhiệm vụ mới.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #105 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2024, 04:17:53 pm »


III- TIẾP NHẬN NHIỆM VỤ MỚI VÀ LỰC LƯỢNG MỚI LÀM NGHĨA VỤ QUỐC TẾ Ở LÀO

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ lịch sử ở một thời điểm lịch sử cần thiết, Binh đoàn 678 giải thể theo Quyết định số 640/NQHĐNN, do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh ký ngày 21-11-1983.

Ngày 31-12-1983, Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Quân khu 4 đảm nhận công tác quân sự ở Lào, từ Viên Chăn, Xiêng Khoảng xuống Hạ Lào, trực tiếp chỉ huy các sư đoàn bộ binh 968, 324, Lữ đoàn bộ binh 176 đang hoạt động ở Lào, Sư đoàn 348 và Trường Quân chính Binh đoàn 678.

Ngày 28-2-1984, Thiếu tướng Đỗ Văn Đức, đại diện Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, Thượng tướng Hoàng Cầm, đại diện Quân khu 4, Đại tá Nguyễn Riềng, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 968 và các cơ quan chức năng tiến hành bàn giao Sư đoàn 968 về Quân khu 4.

Sư đoàn 968 thành lập ngày 28-6-1968 tại Lào, do yêu cầu nhiệm vụ nay trở về trong đội hình quân khu, sư đoàn mang theo vinh dự lớn là Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Riêng 5 năm trở lại làm nghĩa vụ quốc tế ở Lào trong điều kiện mới (1979-1983) Sư đoàn 968 đã loại khỏi vòng chiến đấu 795 tên giặc, làm bị thương 325 tên, bắt và chuyển giao cho bạn 249 tên, gọi địch về đầu thú 606 tên, hỗ trợ cho bạn thanh lọc 863 tên, thu nhiều vũ khí.

Các đơn vị trong sư đoàn bao gồm những đơn vị vốn đã gắn bó từ lâu với mảnh đất Liên khu 4, Quân khu 4, từng hoạt động nhiều năm trên đất bạn Lào trong các tổ chức tiền thân là Đoàn chuyên gia quân sự 763 rồi Đoàn 565 thành lập ngay trên đất Hà Tĩnh.

Danh hiệu Đơn vị Anh hùng vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước càng thêm rực rỡ khi sư đoàn trở lại Trung - Hạ Lào với 8 nhiệm vụ mới được giao trong những thời điểm cực kỳ khẩn trương, nhạy cảm từ sau ngày 6-12-1977; đỉnh cao là kịp thời đập tan âm mưu địch dự định gây bạo loạn lật đổ ở Xa Ra Van và Pắc Xế vào ngày 31-8-1978.

Giờ đây, trở về trong đội hình lực lượng vũ trang Quân khu 4, tiếp tục làm nghĩa vụ quốc tế ở vùng đất đã từng thấm máu bao đồng đội thân yêu hòa cùng máu xương, tình cảm cao quý của cán bộ, đảng viên, nhân dân và lực lượng vũ trang bạn mà mỗi người đã gắn bó, sư đoàn như người con thân thiết trở về nhà. Càng bồi hồi xúc động nhớ tới 16 chữ vàng trên bức trướng mà Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 4 trao tặng ngày 10-1-1977 tại buổi lễ trọng thể Sư đoàn 968 tổ chức đón nhận danh hiệu Đơn vị Anh hùng:

"Kiên trì bền bỉ
Mưu trí ngoan cường
Bạn mến, dân tin
Quân thù khiếp sợ"
.

Trên cơ sở các hiệp định được ký kết giữa hai Đảng, hai Nhà nước và quân đội hai nước, ngày 17-11-1984, đồng chí Hoàng Cầm - Tư lệnh Quân khu đến Viên Chăn thăm và làm việc với Bộ Quốc phòng Lào bàn về kế hoạch hoạt động mùa khô 1984-1985 bao gồm: Quét phỉ, xây dựng cơ sở, cùng bạn phòng thủ bảo vệ các mục tiêu quan trọng.
   
Thực hiện kế hoạch phối hợp thống nhất giữa hai quân đội, ngày 23-11-1984, ba đội xây dựng cơ sở biên phòng tỉnh Thanh Hoá nhận nhiệm vụ sang Lào công tác. Mỗi đội 26 người (có 9 cán bộ). Trong tháng 11-1984, Quân khu 4 chuyển 6.000 quân, chia 2 đợt, bổ sung cho các sư đoàn 324, 968, Lữ đoàn 176 đang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào và đưa quân về, bảo đảm an toàn, nhanh chóng. Ngày 24-11-1984, các đơn vị triển khai hoạt động kế hoạch mùa khô, theo phương châm, phương thức hoạt động của bạn: Chính trị + kinh tế + quân sự.

Sư đoàn 324 đứng chân ở Viên Chăn, trọng điểm xây dựng cơ sở là huyện Ca Xỉ, huyện yếu nhất ở ngã ba Viên Chăn đi Xa La Phu Khun, đồng thời tham gia truy quét phỉ ở Phu Noọng Hầu. Theo phân công, Trung đoàn 1 của sư đoàn có pháo binh và xe tăng phối thuộc - bố trí xuống phía Tây Nam Viên Chăn, tạo thế phòng thủ chắc chắn cho mục tiêu trọng điểm. Trung đoàn 176 truy quét, phục lót các cửa khẩu. Sư đoàn 968 truy quét bọn địch xâm nhập từ ngoài vào theo hành lang nam đường số 9.

Chiều ngày 16-4-1984, sau khi được tin Tiểu đoàn 5 của bạn phát hiện hai toán phỉ hơn 100 tên, do các tên Pu Vu và Rườn Chòi chỉ huy, ban ngày phân tán, ban đêm trà trộn về khu vực Cút Hi (đông Pắc Xoòng 6km), Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9 cùng một số cán bộ cơ quan Sư đoàn 968 xuống ngay Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 triển khai lực lượng chiến đấu.

Tối ngày 16-4, Tiểu đoàn 2 hành quân. 2 giờ 30 phút ngày 17-4, đơn vị đến vị trí tập kết. Gần sáng ngày 17-4, Đại đội 5, Tiểu đoàn 2 áp sát Cút Hi, Tiểu đoàn 1 vây chặt Mường Mày. 5 giờ 30 phút sáng 17 tháng 4, Đại đội 1, Tiểu đoàn 1 phát hiện địch, liền nổ súng tiến công. Theo tiếng súng của Đại đội 1, cả 2 tiểu đoàn nhanh chóng áp sát mục tiêu, đồng loạt xung phong, loại khỏi vòng chiến đấu 21 tên, làm bị thương 9 tên, thu 13 súng.

Nhờ có kinh nghiệm hoạt động chiến trường, các chiến sĩ Trung đoàn 9 đã nắm chắc địch, dự kiến sát đúng các tình huống, phối hợp được các lực lượng, giữ được bí mật cho đến lúc nổ súng, nên diệt được địch, thu nhiều vũ khí, tạo được niềm tin đối với nhân dân địa phương của bạn.

Qua trận đánh này, các đơn vị trong sư đoàn càng tích luỹ thêm kinh nghiệm, gắn bó mật thiết thêm với nhân dân và lực lượng vũ trang bạn, thường xuyên bám sát cơ sở, tham gia cùng địa phương xây dựng lực lượng, củng cố an ninh, góp phần xây dựng kinh tế, văn hóa, làm cho bạn và ta cùng mạnh lên làm cho quân địch phải hủy bỏ kế hoạch dự kiến tổ chức lực lượng phản động thành những trung đoàn để phá hoại, lật đổ; đẩy chúng vào thế bị động, lúng túng đối phó.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #106 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2024, 04:20:23 pm »


Đại đội 6, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 19 là đơn vị cuối cùng bàn giao xong nhiệm vụ và địa bàn cho quân tình nguyện (thuộc lực lượng vũ trang Quân khu 5). Trước khi di chuyển về địa bàn mới, được tin du kích báo có một toán địch từ ngoài biên xâm nhập vào khu vực xã Xê Noan, lập tức, Đại đội trưởng Hoàng Kim Vinh cử ngay 8 đồng chí cùng 2 du kích bạn chia làm 2 tổ luồn cắt rừng truy lùng. Sau 4 giờ luồn cây, vượt suối, tổ đi đầu phát hiện liền bao vây bí mật. Cả 5 tên địch không kịp chống cự, bị tóm gọn. Tên toán trưởng khai rằng: Chúng được giao phá cầu Xê Noan và phục kích các chuyến xe vận tải của bộ đội địa phương. Hai lần chúng định tiếp cận cầu, cả ban ngày lẫn ban đêm, nhưng đều phải tháo lui vì bộ đội Việt Nam canh gác chặt chẽ.

Được giao nhiệm vụ mới, sư đoàn kịp thời chỉ đạo chuyển hướng hoạt động cho phù hợp kế hoạch điều chỉnh lực lượng của Quân khu 4, phân tán thành 20 phân đội độc lập đứng chân trên các địa bàn trọng điểm; bàn giao Trung đoàn 425 đóng quân ở Xê Kông - Hạ Lào về Công ty khai thác gỗ Quân khu 4. Sư đoàn đầu tư công sức, thời gian, lực lượng giúp Lữ đoàn 4 bộ binh của bạn - đơn vị kết nghĩa với sư đoàn xây dựng, huấn luyện trưởng thành. Lần đầu tiên, Lữ đoàn 4 diễn tập chỉ huy có một phần thực binh đạt kết quả cao. Sư đoàn phối hợp với bạn xây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng vũ trang phát triển cả về số lượng và chất lượng.

Dân quân du kích một số xã thuộc huyện Chăm Phon, Sông Khôn độc lập chủ động trong hoạt động giữ gìn trật tự và chiến đấu bảo vệ bản làng.

Sư đoàn kết hợp giữa đánh địch ở ngoài rừng với thanh lọc "địch ngầm" trong các buôn bản, tổ chức điều tra nắm chắc tình hình kết hợp với nhân dân và lực lượng vũ trang bạn, kịp thời phát hiện âm mưu, thủ đoạn của địch, tiếp tục bắt gọn nhiều toán, nhiều tốp địch từ ngoài xâm nhập về ngay khi chúng chưa kịp trở tay hành động. Nhiều toán địch đột nhập phá hoại, khi thấy bộ đội Việt Nam luôn tổ chức tuần tra, canh gác nghiêm ngặt, người sẵn sàng, vũ khí sẵn sàng đã phải tháo lui.

Đảng bộ, nhân dân, các lực lượng vũ trang bạn và các đồng chí lãnh đạo quân đội hai nước đã khen ngợi, biểu dương thành tích to lớn của Sư đoàn 968 cũng như các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam đang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào.

Đồng chí Khăm Tày Xi Phăn Đon1 - Bộ trưởng Quốc phòng Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đã khẳng định: "giúp Lào, một lần nữa, các lực lượng tình nguyện Việt Nam đã nêu tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần khắc phục khó khăn, gian khổ, về tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung, xả thân vì bạn”2.

Ngày 18-1-1985, trong dịp cùng Trung tướng Xê Phôn - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Lào đến thăm sư đoàn, Đại tướng Hoàng Văn Thái - Thứ trưởng Quốc phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam biểu dương thành tích 8 năm sư đoàn làm nghĩa vụ quốc tế: "Xây dựng được tinh thần đoàn kết quốc tế, có nhiều cố gắng trong hoạt động đánh địch; giúp bạn củng cố được lực lượng cách mạng, hỗ trợ cho nhân dân thanh lọc địch ngầm, xây dựng đơn vị có nhiều tiến bộ, kể cả tư tưởng, trình độ chiến thuật, kỹ thuật; giữ nghiêm kỷ luật, được bạn tin, dân mến”.

Đối với Sư đoàn 324 và Lữ đoàn 176, trong thời gian chuyển thuộc Binh đoàn 678 đã tiếp tục thể hiện phẩm chất tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, thông cảm với nỗi khổ đau, nghèo đói của nhân dân Lào, yêu quý nhân dân Lào như nhân dân Việt Nam, tiếp tục hy sinh xương máu, đánh đuổi bọn phản động tay sai của các thế lực phản động quốc tế, giúp nhân dân xây dựng chính quyền cách mạng, xây dựng cuộc sống mới, huấn luyện và trang bị cho các lực lượng vũ trang địa phương, giúp dân lao động sản xuất xây dựng các công trình tình nghĩa. Ngoài việc phối hợp với bạn xây dựng cơ sở trên địa bàn 4 huyện, 43 xã, 490 bản; trong đó khó khăn nhất là 2 huyện Xây Xổm Bun và Ca Xỉ, Sư đoàn 324 đã cứu thoát 11.000 người dân bị địch cưỡng bức vào rừng theo phỉ ở địa bàn đông - tây Ca Xỉ. Sư đoàn tham gia bảo vệ an toàn những lễ hội quan trọng, kịp thời đập tan âm mưu địch phá hoại; trong đó có Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương (5-1981), Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng Nhân dân cách mạng Lào (4-1982).

Sư đoàn 324 và Lữ đoàn 176 cùng với lực lượng vũ trang bạn chốt giữ bảo đảm giao thông an toàn trên các tuyến đường quan trọng, trong đó có đường huyết mạch số 13 xuyên Lào với nhiều đoạn hiểm yếu, loại trừ được nguy cơ uy hiếp của giặc. Các đơn vị còn phối hợp xây dựng cho bạn hàng chục trường học, hàng chục trạm xá, trụ sở, giúp hàng chục vạn ngày công làm thủy lợi, sản xuất, khám chữa bệnh cho hàng chục nghìn lượt người; trích bớt khẩu phần ăn giúp dân vùng đói kém hàng chục tấn gạo, hàng chục tấn muối.

Sư đoàn và lữ đoàn đã cùng bạn tổ chức, huấn luyện, kèm cặp trong chiến đấu, giúp các đơn vị dân quân du kích và bộ đội địa phương tỉnh, huyện từng bước trưởng thành làm cơ sở bổ sung xây dựng, phát triển các đơn vị bộ đội chủ lực cấp trung đoàn, sư đoàn.
Với tất cả tình nghĩa thủy chung, cao cả và kinh nghiệm xương máu tích lũy được qua xây dựng và chiến đấu, các đoàn cán bộ tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật của sư đoàn và trung đoàn hòa mình với cán bộ, chiến sĩ bạn cùng xây dựng, rèn luyện, học tập, công tác...
____________________________________________
1. Sau này, đồng chí Khăm Tày làm Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào.
2. Phát biểu trong buổi gặp gỡ các cán bộ chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam, sáng 7-3-1983, tại Viên Chăn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #107 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2024, 04:23:51 pm »


Tháng 5 năm 1985, Sư đoàn 1 của bạn ra đời, đánh dấu bước phát triển mới của Quân đội nhân dân Lào. Ngày 20-7-1985, lễ kết nghĩa giữa Sư đoàn 1 Quân đội nhân dân Lào và Sư đoàn 324 quân tình nguyện Việt Nam được tổ chức trọng thể tại thủ đô Viên Chăn.

Sư đoàn trưởng U Đôn thay một Sư đoàn 1, Sư đoàn trưởng Võ Chót thay mặt Sư đoàn 324 ký các văn kiện hợp tác giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt, đưa mối quan hệ truyền thống giữa hai đơn vị và quân đội hai nước lên tầm cao mới.

Tiếp tục thực hiện chủ trương của bạn “kiên quyết đập tan mọi âm mưu thủ đoạn phá hoại của địch, diệt tận gốc mọi tổ phỉ mới nhen nhóm, phát động toàn dân cùng với các lực lượng vũ trang giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, làm trong sạch địa bàn”, Sư đoàn 324 liên tục phối hợp với bạn mở các đợt hoạt động truy quét. Trong sáu tháng mùa khô 1983-1984, Sư đoàn đã phá tan các cụm phỉ còn lại ở Pha Phay, Phu Sẩm Liêm, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên, thu hàng trăm súng, phá rã hoàn toàn tổ chức phỉ gồm các tiểu đoàn 2, 3, 4 do Dong Dua Hờ chỉ huy trên địa bàn xung quanh Phu Bia.

Trong đợt 3 tiến công quân phỉ ở Phu Quang Khểu, Pha Long Pheng, Pha Chia thuộc các tiểu khu 11, 12 do tên trung tá Dua Phao Sòng chỉ huy; cán bộ, chiến sĩ ta đã vượt lên những thử thách gian nguy, ác liệt, suốt hơn 5 tháng cuối mùa khô, đầu mùa mưa 1984. Có những trận đánh kéo dài 2 - 3 ngày mới giải quyết xong một căn cứ tiểu khu. Điển hình như trận đánh căn cứ phỉ ở Pha Chia (4-10-1984). Địch dựa vào hang động, núi cao, rừng rậm, vách đá tai mèo, luồn sâu, đánh lén, phục kích và ngoan cố bám trụ, chống trả quyết liệt. Phải mất 3 ngày, hy sinh 12 chiến sĩ, ta mới chiếm được căn cứ.

Sau khi bị ta đánh tan 11 tiểu khu, tên đại tá Chư Pao Mùa chỉ huy tiểu khu 1 chuyển dời căn cứ từ Na Nán về Bom Lọng. Tại đây, dựa vào thế hiểm của một loạt điểm cao trùng điệp nhiều tầng, nhiều lớp nằm trong huyện Mường Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng; Chư Pao Mùa và đồng bọn ra sức tập hợp lực lượng, cải tạo địa hình, đào hào, đắp lũy, dựng các chướng ngại vật trên các hướng, lập thành một căn cứ mới.

Chỉ sau mấy tháng, Chư Pao Mùa đã thu gom được 1.200 tên phỉ; tổ chức thành đại đội, tiểu đoàn, trang bị đủ súng bộ binh, hỏa lực mang vác và các loại mìn. Các hang động trở thành kho tàng tích trữ lương thảo, nước uống, đạn dược của bọn phỉ.

Chư Pao Mùa mưu toan biến khu rừng heo hút, tách biệt gần biên giới Việt - Lào, với hơn 5.000 dân sống rải rác ở 7 bản, thành căn cứ có thể tiến công và phòng thủ đủ mạnh để vừa làm bàn đạp chống phá cách mạng nước bạn, vừa đột nhập phá hoại cách mạng Việt Nam.

Từ tháng 4 năm 1985, được các thế lực đế quốc phản động nước ngoài trực tiếp chỉ huy, tiếp tế lương thực, thực phẩm, vũ khí bằng máy bay và thường xuyên tác động mạnh mẽ về tinh thần, Chư Pao Mùa và đồng bọn càng hung hăng, chống phá cách mạng Lào. Chúng đột nhập vào các làng bản cướp phá, đe dọa, bắt người theo chúng, cài cắm phản động vào các tổ chức cơ sở của bạn. Chúng tập kích cả đoàn xe vận tải của ta trên đường 7 ngay giữa ban ngày.

Lúc này nhiệm vụ tiêu diệt cụm phỉ Bom Lọng trở thành yêu cầu cấp bách, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đem lại niềm tin trong nhân dân và các lực lượng vũ trang địa phương bạn. Tỉnh ủy Xiêng Khoảng đề nghị cấp trên tăng cường lực lượng cùng tỉnh giải phóng vùng đất bị Chư Pao Mùa chiếm đóng. Bộ chỉ huy liên quân do đồng chí U-đôn Khát-thi-nạ - Ủy viên Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào - Bí thư Tỉnh ủy Xiêng Khoảng làm chỉ huy trưởng. Ngày 10-5-1985, mọi công tác chuẩn bị cơ bản hoàn thành.

5 giờ 30 phút sáng ngày 13 tháng 5, quân ta tiến công vào vị trí địch ở chân điểm cao 1375. Bộ binh ta lần lượt đánh chiếm từng khu doanh trại của địch. Chúng rút dần lên đỉnh núi đá, dựa vào hang, dùng lựu đạn và súng chống trả quyết liệt. 14 giờ, chúng còn bất ngờ luồn ra phía sau, tập kích vào sở chỉ huy quân ta. Cuộc tiến công của ta trên hướng này phải tạm dừng lúc 18 giờ để củng cố lực lượng.

Phát huy kết quả của Tiểu đoàn 31 đặc công Quân khu trên hướng thọc sâu1 và trên hướng phối hợp của các đơn vị bạn2, sáng 14-5-1985, lợi dụng lúc sương mù chưa tan, quân ta nổ súng, khép chặt vòng vây. Địch buộc phải rút lui vào cố thủ trong các hang động ở khu trung tâm Bom Lọng.

Quân ta vừa kết hợp bao vây, vừa gọi hàng; đồng thời tổ chức hướng dẫn nhân dân ra khỏi khu vực tác chiến. Hơn 1.300 người dân đã được dân quân địa phương đưa về nơi căn cứ an toàn.

Quân địch vẫn ngoan cố chống cự. Quân ta tiếp tục tiến công mãnh liệt và dồn dập, quyết không cho chúng lợi dụng rừng núi để chống trả hoặc lẩn trốn. Đợt tiến công cuối cùng diễn ra từ 6 giờ 30 phút sáng 15 tháng 5 đã kết thúc lúc 15 giờ. Hàng trăm tên phỉ bị tiêu diệt, 510 tên bị bắt và đầu hàng (có 2 trung tá, 1 thiếu tá, 21 tên cấp úy)3.

Phá tan sào huyệt phỉ thuộc loại lớn nhất khi địch vừa nhen nhóm đã tạo nên một đòn đánh mạnh vào âm mưu phá hoại của địch; góp phần thuận lợi đưa dần an ninh - quốc phòng của đất nước bạn đi dần vào ổn định; lực lượng vũ trang nhân dân Lào được củng cố, phát triển.
_____________________________________________
1. Tiểu đoàn 31 đã đánh chỉếm xong các vị trí phòng ngự vòng ngoài của địch, sẵn sàng lực lượng tiến công vào trung tâm chỉ huy Bom Lọng ở hang Thẩm Ngân.
2. Các đơn vị chiếm xong điểm cao 1570 và phát triển tiến công về phía nam điểm cao 1375.
3. Trong khi đó, các đội công tác cơ sở của các trung đoàn và các tiểu đoàn trinh sát, tiểu đoàn huấn luyện phối hợp với bạn truy quét bọn phỉ lẩn trốn, nằm vùng, diệt nhiều tên, bắt 55 tên, thu 82 khẩu súng ở những tiểu khu bị ta đánh tan rã trước đó.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #108 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2024, 04:24:24 pm »


Đi đôi với liên minh hợp tác với bạn về quốc phòng - an ninh, thống nhất kế hoạch phòng thủ chiến lược, phòng thủ đối phó với “chiến tranh có giới hạn”, triển khai kế hoạch chống “chiến tranh phá hoại” nhiều mặt, các đơn vị quân tình nguyện và các địa phương trong Quân khu thực hiện các hình thức “kết nghĩa”, giúp bạn xây dựng và củng cố lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, đào tạo cán bộ theo cách: “ngành giúp ngành”, “tỉnh giúp tỉnh”, “huyện giúp huyện” xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng kinh tế giúp bạn.

Mô hình tiêu biểu trong hợp tác kinh tế bến vững và phát triển là Công ty hợp tác kinh tế 85, tiền thân là công trường khai thác gỗ Quân khu. Trên cơ sở các văn bản đoàn kết - liên minh - hợp tác toàn diện giữa hai Chính phủ và Bộ Quốc phòng hai nước Việt - Lào, căn cứ vào Mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước ta về nhiệm vụ quân sự năm 1985, ngày 4-3-1985, Thường trực Hội đồng quân sự ra nghị quyết tổ chức công trường khai thác gỗ Quân khu 4.

Ngày 23-3-1985, Thượng tướng Hoàng Cầm, Tư lệnh Quân khu quyết định giao nhiệm vụ cho công trường khai thác gỗ mang phiên hiệu là C85. Nhiệm vụ chủ yếu là hợp tác với công ty Chấn Hưng kinh tế miền núi của Bộ Quốc phòng Lào tiến hành khai thác gỗ xuất khẩu.

Ban chỉ đạo công trường gồm: Thiếu tướng Nguyễn Quốc Thước - Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu làm trưởng ban; Đại tá Trần Trọng Trai - Phó tư lệnh Quân khu phụ trách về Lào và các ủy viên: Đại tá Bùi Thúc Nhâm - Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu; Đại tá Tống Viết Giao – Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân khu. Đại tá Nguyễn Văn Đăng - Phó Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu được cử làm chỉ huy trưởng công trường.

Mọi công việc khảo sát, nghiên cứu chuẩn bị luận chứng kinh tế, kỹ thuật, rút kinh nghiệm các đơn vị đang khai thác, ổn định biên chế tổ chức, tập huấn cán bộ, nhân viên kỹ thuật hoàn thành trong tháng 6 năm 1985.

Trang thiết bị kỹ thuật được huy động theo 3 dạng gồm: Số huy động trong toàn Quân khu, trước hết huy động một số trang bị kỹ thuật làm kinh tế của Quân khu, các đơn vị và một phần trong trang bị quốc phòng, sử dụng nguồn tiết kiệm nhiên liệu của Quân khu; trang bị kỹ thuật làm kinh tế do nguồn vốn tự có của từng đơn vị huy động theo phương thức nhượng lại, hoặc tham gia hùn vốn hay nhận thầu với công trường; trang bị - kỹ thuật quốc phòng của Quân khu và các đơn vị làm kinh tế tập trung của Quân khu theo nhu cầu và khả năng mà điều động sử dụng.

Trong thời gian đầu, trang thiết bị kỹ thuật của X74 (xưởng mộc Quân khu) là lực lượng nòng cốt. Tổ chức biên chế ban đầu của công trường khai thác gỗ Quân khu 4 gồm 94 đồng chí, hầu hết là cán bộ, chiến sĩ trải qua chiến đấu, trưởng thành trong quá trình làm nghĩa vụ quốc tế ở Lào.

Những ngày đầu, công trường gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn như: Trang - thiết bị kỹ thuật đã sử dụng nhiều năm trong chiến đấu vừa thiếu, vừa lạc hậu. Nguồn vốn thiếu thốn, đơn vị lại ra đời vào cuối thời kỳ bao cấp, không đủ đáp ứng yêu cầu sản xuất mở rộng. Kinh nghiệm, trình độ quản lý kinh tế còn thiếu và yếu. Tác động của mặt trái cơ chế thị trường, khủng hoảng tiền tệ; những biến động và cạnh tranh gay gắt của thị trường trong nước và quốc tế về công nghệ, giá cả, việc làm; điều kiện sinh hoạt rất khó khăn, ốm đau, bệnh tật phát sinh. Trong khi đó kẻ địch thường xuyên tuyên truyền kích động chia rẽ giữa hai dân tộc, hai quân đội. Chúng còn lén lút tổ chức phục kích, phá hoại các hoạt động của ta giúp bạn.

Ngay từ đầu, đơn vị coi trọng việc bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ mọi mặt cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân, viên chức và lao động, trước hết là nâng cao nhận thức, tư tưởng, bản lĩnh chính trị và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bảo đảm thực hiện tốt hai nhiệm vụ kinh tế - quốc phòng trên địa bàn chiến lược của bạn.

Đơn vị tổ chức các đội chuyên trách làm công tác giúp bạn xây dựng cơ sở trên các địa bàn vùng sâu, vùng xa, làm trường học, bệnh xá, mở đầu ở xã Mường Luổng, tổ chức khám chữa bệnh giúp dân, giúp đỡ gạo, muối, quần áo, thuốc men chữa bệnh nơi khó khăn, thiếu đói, tổ chức giao lưu văn hóa - văn nghệ, tuyên truyền, phổ biến chính sách, tăng cường các hoạt động thắt chặt quan hệ đoàn kết Việt - Lào trong điều kiện mới.

Trong thời gian đầu, đơn vị tổ chức mở đường dân sinh cho xã Na Tăn, tỉnh Khăm Muộn (tuyến đường dài 26 km); tổ chức trồng 60ha rừng ở Lạc Xao. Việc sớm tổ chức mô hình kết hợp kinh tế - quốc phòng, kết hợp giữa bạn và ta trong xây dựng đạt hiệu quả đã mở ra những bước đi vững chắc cho sự lớn mạnh không ngừng của Công ty Hợp tác kinh tế thuộc Tổng công ty 4, Quân khu 4 sau này.


*

*        *


Năm 1985 là năm kết thúc kế hoạch Nhà nước 5 năm (1981-1985), đồng thời là năm chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm (1986-1990), đất nước vẫn trong tình thế có hòa bình chuyển sang thời chiến và có chiến tranh ở những mức độ khác nhau; “vừa có hòa bình, vừa có thể xảy ra chiến tranh”. Quân khu 4 luôn ở trạng thái phải sẵn sàng đối phó với 3 tình huống chiến tranh, thường xuyên đối phó với kiểu “chiến tranh phá hoại nhiều mặt” và làm nghĩa vụ quốc tế. Trong thực hiện nhiệm vụ quốc tế Quân khu đã 3 lần biến động lớn về nhiệm vụ và tổ chức biên chế lực lượng.

Có thể nói, đó là một giai đoạn thử thách quyết liệt, phức tạp ở mức cao. Nhưng "nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân Quân khu 4 không ngừng phát huy truyền thống cách mạng, nêu cao ý chí chiến đấu, tinh thần tự lực tự cường, tinh thần cách mạng tiến công, vượt qua mọi khó khăn, dốc sức phấn đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ, giành được những thành tựu lớn về nhiều mặt"1.

Trong những năm 1979-1985, quân và dân Quân khu 4 đã nỗ lực phấn đấu xây dựng về mọi mặt, nâng cao sức mạnh chiến đấu, góp phần cùng toàn quân, toàn dân ta thực hiện thắng lợi cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc, làm tròn nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Lào, làm thất bại mọi âm mưu phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Những thành tựu đạt được trên nhiều mặt, trong đó có thành tựu to lớn về quân sự, quốc phòng - an ninh, thế trận quốc phòng toàn dân và làm nhiệm vụ quốc tế là cơ sở quan trọng giúp Đảng bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trang Quân khu 4 phấn đấu xây dựng vững mạnh toàn diện. Lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng toàn quân lần thứ IV và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, toàn Quân khu sôi nổi thi đua phát huy mạnh mẽ truyền thống của quê hương anh hùng, ra sức xây dựng tiềm lực quân sự, quốc phòng, kinh tế, xây dựng lực lượng vũ trang quân khu theo hướng cách mạng, chính quy, ngày càng hiện đại; đồng thời tích cực tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế đất nước và làm nhiệm vụ quốc tế.
_____________________________________________
1. Nghị quyết số 20/NQĐU Quân khu 4 đánh giá tình hình các mặt của Quân khu những năm qua (Lưu trữ Quân khu 4). Trong đó có thành tựu: nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, giải quyết tốt hơn một bước mục tiêu số một là lương thực; công tác xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân và tổ chức phòng thủ được chuẩn bị một bước, trình độ sẵn sàng chiến đấu được nâng lên, an ninh chính trị giữ vững, trật tự an toàn xã hội càng ngày càng chuyển biến rõ rệt; chiến đấu ở chiến trường Lào giành thắng lợi, tạo chuyển biến mới...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #109 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2024, 10:01:06 pm »


Chương ba
XÂY DỰNG QUÂN KHU THEO ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG, CÙNG TOÀN QUÂN THỰC HIỆN ĐIỀU CHỈNH LỚN VỀ BỐ TRÍ LỰC LƯỢNG VÀ THẾ TRẬN QUỐC PHÒNG
(1986 - 1995)

Những năm giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX, đất nước ta trong tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội. Thêm vào đó, sự sụp đổ chế độ chính trị xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô, sự chống phá quyết liệt của đế quốc Mỹ và các thế lực phản động lợi dụng thời cơ mới thực hiện chiến lược xóa bỏ nhanh chủ nghĩa xã hội trên thế giới, trong đó Việt Nam là một trọng điểm đã tác động lớn đến tư tưởng của quân dân ta.

Trước tình hình thế giới có nhiều biến động, thách thức lớn, Đảng Cộng sản Việt Nam tập trung cao trí tuệ, tư duy mới chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, tìm con đường đi để trụ vững và phát triển. Đảng khẳng định những nhân tố tích cực được phát triển từ Hội nghị Trung ương 6 khoá IV (8-1979) và trong quá trình sắp xếp lại nền kinh tế theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (3-1982) cùng những diễn biến tình hình của xu thế chung, định ra đường lối đổi mới, thể hiện đúng vai trò tiên phong trước vận mệnh của dân tộc, của chế độ, tạo ra bước ngoặt hết sức quan trọng trong lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Từ năm 1986, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tập trung thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, do Đại hội lần thứ VI của Đảng khởi xướng lãnh đạo. Đối với nhiệm vụ củng cố quốc phòng, Đảng ta đã thực hiện cuộc điều chỉnh chiến lược lớn về thế bố trí lại lực lượng và thế trận, rút hết quân tình nguyện ở Campuchia và Lào về nước, giảm mạnh quân thường trực, xây dựng tăng cường khả năng và sức chiến đấu các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố, tập trung xây dựng, nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng vũ trang ba thứ quân bảo đảm sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu thắng lợi, góp phần vào thành tựu đổi mới của cả nước.

Ở Quân khu sau bước chuyển quan trọng hợp nhất thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc những năm 1975-1985, là thời kỳ chuyển tiếp có tính bước ngoặt quán triệt, thực hiện theo đường lối đổi mới của Đảng trên các lĩnh vực, trực tiếp là lĩnh vực quân sự, quốc phòng. Theo tư tưởng chỉ đạo phải đổi mới tư duy và hành động được xác định từ Đại hội Đảng bộ lần thứ IV (9-1986), Quân khu đã cùng các tỉnh (thời gian đầu là ba tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên; sau này tách ra thành sáu tỉnh) kịp thời triển khai nhiều nội dung, cách làm mới có tính kế thừa và phát triển nhiều mặt. Trong những năm đầu xây dựng theo đường lối đổi mới của Đảng, Quân khu đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định vai trò của một địa bàn chiến lược trọng yếu trước bước ngoặt mới, cùng toàn quân thực hiện hiệu quả cuộc điều chỉnh lớn về chiến lược quốc phòng, “ổn định chính trị được giữ vững, quốc phòng, an ninh được củng cố”1, góp phần vào sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta không ngừng đổi mới và đạt những thành tựu to lớn.
_____________________________________________
1. Văn kiện Đại hội VIII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội. 1996, tr. 11.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM