Pháo tấn công hay pháo xung kích (assault gun) là pháo tự hành đi cùng bộ binh, làm nhiệm vụ chống tăng (dùng pháo nòng dài, như SU-76/85/100, StuG III F-H, Jadgpanzer....) hay diệt lô cốt, hoả điểm, bộ binh (dùng pháo nòng ngắn, như SU-122/152, StuG III A-E, StuH 42....).
Hơ sao diệt lô cốt với hoả điểm lại phải dùng pháo nòng ngắn nhỉ? Mà hình như có loại xe tăng hay pháo tấn công gì đó có gắn pháo nòng trơn, thế thì nó có công dụng gì? Nòng súng dài và có rãnh xoắn thì bắn mạnh, xa và chính xác hơn chứ???
Bạn Chiangshan nói rất đúng.
Cho đến gần cuối thế kỷ 20, đây là công thức. Pháo nòng ngắn bắn cầu vồng, sơ tốc thấp, đạn đường kính lớn (tỷ lệ dài rộng gần với đạn cầu). Nhờ những đặc điển trên đạn có ưu thế nặng, mang nhiều thuốc nổ mà súng không cần quá nặng. Đạn không bị phát nổ khi bắn trong nòng hay đập vào mục tiêu, còn gọi là đạn trái phá.
Thời cổ, có các loại pháo là
Howitzer,
Field-gun,
Cannon. Ngày nay, do phát triển ngôn ngữ ở các nước khác nhau nên hình thành nhiều cách gọi khác nhau cho cùng một loại pháo, đồng thời, chiến lược phát triển vũ khí và chiến thuật sử dụng chúng ở các quân đội cũng khác nhau.
Cannon: xuất phát từ tiếng La-tinh, cái ống. Đây là từ đầu tiên chỉ súng nói chung của chấu Âu, giống như hiện tượng "súng ống" trong Tiếng Việt. Sau này, đến cuối thế kỷ 18, xuất hiện hiện tượng gọi
cannon là pháo nòng dài, bắn loại đạn bi gang đặc công thành. Hiện tượng này cũng như gọi "súng trường" là "nòng xoắn", "riffle", một cách gọi tắt, trong khi "súng trường" có thể là "súng hỏa mai", "súng kíp", súng bắn đạn có vỏ xoắn hay trơn, súng bắn phát một hay là súng liên thanh... Súng trường là tên có từ thời súng hỏa mai, chỉ loại súng chính của bộ binh, nòng dài.
Cannon đến thời đánh Pháp thì hết sức lộn xộn. Lúc đó, trong khoa học quân sự các nước phát triển đã xuất hiện nhiều cách gọi pháo chi tiết, khoa học hơn. Như pháo-cối, pháo tầm xa-gần, pháo chiến dịch-tiền duyên, nòng dài-ngắn..... Nhưng Pháp dạy cho lính khố xanh đỏ chỉ hai thứ, ca-nông và mọc-chi-ê, pháo và cối, cannon chỉ tất cả các loại pháo, bất cứ tầm xa-gần, nòng ngắn-dài. Pháp dạy thế vì khố đỏ khố xanh chỉ làm những chức vụ hạ đẳng, đồng thời khả năng tiếp thu kiến thức rất tồi.
Khố đỏ khố xanh tiếp tục đem quân Sài Gòn-khi mà cách dùng pháo của Mỹ khác Pháp, từ đó, bọn này dịch
cannon thành sơn pháo, tất cả các thứ pháo nòng dài bắn trực tiếp là sơn pháo tuốt tuột (kể cả pháo tăng), hoàn toàn trái với nghĩa sơn pháo của Tiếng Việt và tiếng Anh. Sơn Pháo (moutain gun) là loại pháo bò kéo, nòng rất ngắn, gọn nhẹ, thích bắn trực tiếp, đạn trái phá, nay đã bỏ.
Field-gun: Trường pháo, pháo bãi, thường được gọi trong Tiếng Việt là Pháo dã chiến,
Dã Pháo. Từ này chỉ loại pháo cơ động, được kéo đi theo bộ binh trong trận đánh (field: bãi chiến trường). Vì yếu cầu vậy, nên pháo này ban đầu nhỏ gọn tầm ngắn bắn trực tiếp. Ngày nay, người Mỹ dùng field-gun dể chỉ "pháo gọi", pháo hỗ trợ, nòng dài, tầm xa, bắn cầu vồng. Thứ pháo này quân Sài Gòn gọi là lựu pháo, sai một nửa và đúng một nửa (thiếu lựu pháo nòng ngắn như các khẩu 105mm ở Điện Biên Phủ, rất phổ biến trong quân Mỹ - Sài Gòn.
Field-gun ngày nay vì thế to tướng nặng nề, khoái cố định không như ban đầu.
Howitzer: chính xác là lựu pháo nòng ngắn. Ban đầu, từ này chỉ loại pháo đập đất. Pháo này bắn đạn nảy đất để đi xa hơn, đạn to, nhồi nhiều thuốc nổ. Phải nhồi ít thuốc đẩy, bắn đập đất để tránh đạn nổ trong nòng hay bề mặt mục tiêu. Giữa Thế Kỷ 19, Henri Joseph Paixhans (Pháp) đưa ra phương pháp chống đạn nổ trong nòng, pháo bắn đạn trái phá sơ tốc lớn xuất hiện, bắn đạn trái phá nhưng xuyên vào trong mục tiêu mới nổ, gọi là Hải Pháo Paixhans, rất nặng, dùng lần đầu trong chiến tranh Crưn (Crimean).
Howitzer sau này được dùng chỉ lựu pháo.
Ngày nay, pháo thường được chia ra các loại:
Lựu pháo, chia ra lựu pháp nòng ngắn và lựu pháo nòng dài, như khẩu 152mm (ngắn) và 130mm (dài) hay 105mm (ngắn) và 175mm (dài) của Mỹ-SG. Theo truyền thống, nòng ngắn-dài được gọi là
Field-gun và
Howitzer, nhưng chúng đã khác xa ban đầu.
Pháo nòng dài bắn đạn xuyên, như pháo chống tăng và pháo trên tăng, ngày nay chuộng nòng trơn. Pháo trên tăng-pháo chống tăng, xuất phát từ pháo nòng dài, nhưng ngày nay phát triển thành một dòng riêng, bắn đạn xuyên rất mạnh. Đỉnh cao là các pháo nòng trơn ưu tiên bắn APDSFS và ATGM.
Pháo nòng dài bắn đạn xuyên được chế tạo thành những khẩu pháo lớn nhất, có thể bắn đạn xuyên giáp trực tiếp hay đạn trái phá bắn cầu vồng. Dora 800mm hay pháo trên Yamato 460mm chẳng hạn.
Phaó cao xạ. Có chuyện hay là trước đây có loại pháo cao xạ nòng dài, bắn phát một. Loại pháo này trong thực tế tỏ ra tồi tệ khi bắn máy bay, nhưng lại rất thích hợp chống tăng, rồi trở thành pháo trên xe tăng như khẩu Flak 88mm Đức hay 57mm, 85mm của T-34. Pháo cao xạ ngày nay đạn nhỏ nhưng bắn nhanh.
Pháo phản lực chống tăng, rất gọn nhẹ, đạn có sơ tốc lớn, bắn trực tiếp. Loại pháo này (như ĐKZ 75mm, ĐKZ-82mm) có đạn đắt đỏ.
Pháo phản lực bắn trái phá, dùng như lự pháo, có tốc độ bắn rất nhanh, như BM-13, BM-21.
Pháo tự hành tách khỏi xe tăng từ thế chiến 2. Những xe được gọi là xe tăng trước Thế Chiến 2 thực ra được gọi là xe bọc thép này nay, phần lớn là pháo tự hành. Pháo tự hành so với xe tăng thì khả năng đối kháng thấp: giáp mỏng yếu, kém cơ động, kém bắn chính xác, kém bắn đạn xuyên giáp. Nhưng pháo tự hành có nhiều ưu thế so với xe tăng:
Rẻ hơn, dễ làm hơn: Hồi thế chiến 2, người ta làm nhiều pháo tự hành chống tăng. Ví dụ, trên thân xe T-34 phiên bản đầu thế chiến người ta có thể lắp được các pháo 85mm, 100mm 122mm nòng dài.... Trong khi các thân xe tăng hạng trung tiên tiến hơn chưa được thiết kế hoặc số lượng còn ít, ze tăng T-34 đương thời chỉ mang 76mm nòng ngắn tũn, thì phương án này tỏ ra hữu hiệu chống lại các cuộc tấn công của đối phương, khi đối phương bất ngờ tung ra đời xe tăng mới giáp dầy, xe tăng ta chưa kịp cải tiến. Khi hòa bình, loại xe rẻ tiền này ít được phát triển.
Bắn được nhiều loại đạn: Pháo tăng được thiết kế chuyên bắn đạn xuyên giáp nên đạn mang được ít thuốc nổ, kém khi đánh bộ binh hay công sự. Ví dụ hồi Thế chiến 2, một thân xe tăng KV hạng nạng chỉ mang được khẩu 85mm nòng dài, nhưng vác được quả 152mm nòng ngắn, quả 152mm nòng ngắn này nhồi được nhiều thuốc nổ gấp 5-6 lần quả 85mm kia. Có thể nói về ưu thế chống công sự của nó như sau, khi bắn vào tháp pháo xe tăng đối phương, đạn này không xuyên được giáp những sức nổ thổi bay tháp pháo.
Có nhưng ưu thế của pháo, như có thể bắn liên tục hàng trăm hàng ngàn đạn, không như xe tăng chỉ có vài chục đạn.
Pháo tự hành có những loại chỉ có động cơ kéo di chuyển, còn thao tác như pháo thường. Ví như khẩu M107 175-mm, Khẩu này được VNCH sơn chữ "Vua Chiến Trường" lên nòng và cũng được gọi bằng biệt danh như vậy. Pháo có nòng dài, sử dụng như pháo hỗ trợ-pháo gọi-pháo cấp chiến dịch-lựu pháo tầm xa, đây là các cách goị khác nhau cho loại lựu pháo tầm xa bắn gián tiếp, Mỹ gọi là field-gun. M107 thì tồi tệ, bị 130mm bắn cho tơi bời, trận đại bại nhất là Đường 9-Nam Lào.
M107 có 8 người trong tổ chiến đầu, hoạt động hoàn toàn thủ công và hoàn toàn ở ngoài xe không có giáp, rồi lại còn trèo lên nóc xe hứng phản pháo. Đã thế, mỗi lần bắn lại phải trèo lên xuống xe. Tốc độ bắn hãng quảng cáo 3 phát phút, thực tế chỉ được 2 phát phút. So với M46 130mm, M46 bắn 6 phát phút, đã chính xác hơn lại rất khó bị phát hiện, dễ xây dựng công sự và kéo đi chạy trốn. Có nhiều lần M46 và M107 đã đấu "quân tử", cả hai cùng bị xác định vị trí, nhưng M107 đều bị đại bại trước mưa đạn của M46. Trong đường 9, M46 giấu được vị trí, nướng chín M107.
Liên Xô có khẩu 203mm 2S7 Pi-ôn (2С7 «Пион» ). Khẩu này về kích thước tấm bắn tất nhiên là vượt xa vời xo với đối thủ M107. Một cải tiến quan trọng khác phục nhược điểm bắn chậm là cánh tay nạp đạn tự động.
Đến hồi chiến tranh Việt Nam, Mỹ đưa vào khẩu M109. Khẩu này được Mỹ gọi là Howitzer, nhưng thực ra là fileld-gun, Pháo nòng ngắn 155mm. Đây là Pháo tự hành tấn công, nó là lựu pháo nòng ngắn để tấn công công sự, bưqns đạn trái phá, nhưng lại được đặt trong xe bọc thép. Nhờ vỏ bọc thép mà khắc phục nhược điểm dễ bị tổn thương của M107. Liên Xô có khẩu 2S3 Akatsiya 152mm đối địch.
Nhưng nhược điểm M109 dễ thấy bộc lộ ở Việt Nam và Trung Đông, là nòng quá ngắn, không thể dùng như pháo gọi được. Người Đức thiết kế khẩu Rheinmetall 155mm L52 nòng dài, đặt trên xe M109 thành khẩu PzH 2000. NHờ các phương tiện điện tử hiện đại, những pháo tự hành này dùng như pháo cấp chiến dịch bắn gián tiếp rất hiệu quả, được bọc thép kín và gắn động cơ mạnh để phản pháo đấu pháo, cũng dùng ở tiền duyên tốt như các pháo tấn công. Liên Xô có Msta 152mm, chương trình XM2001 Crusader 155mm của Mỹ thất bại.
Liên Xô phát triển các kỹ thuật đện tử trong quân sự rất sớm. Lần đầu tiên, họ đưa pháo chống tăng tầm xa vào sử dụng, điển hình là BM-30 Smerch bắn đạn tự tìm mục tiêu MOTV-3F tầm bắn 90km đầu những năm 1990, loại pháo chống tăng tầm xa bắn loạt này không có đối thủ. Gần đây người Đức mới cho ra đầu đạn có tính năng tương tự nhưng trên súng cối tầm ngắn. Các đạn chính xác hơn sử dụng chỉ thị mục tiêu ở tiền duyên cũng được dùng cho Msta.
Pháo tự hành M-107, xem ảnh để biết vận hành nó khổ sở dễ chết thế nào. Bọn tây nó còn thế này, nữa là mấy thằng ngụy còm.



---
Còn đây là PzH 2000.

2S19 Msta của Gấu. Đỉnh cao của pháo tự hành nòng dài. Cũng như PzH 2000, 2S19 có thể dùng như pháo tiền tuyến, pháo tấn công (trước đây dùng cho howitzer nòng ngắn), cũng lại dùng như pháo chiến dịch tầm xa. Khi là pháo tầm xa field-gun, hệ thống điện tử, thông tin, định vị, đo đạch, tính toán cho phép lấy phần tử tức thời. Khác biệt của 2S19 là cơ khí hóa cao độ, tổ chiến đấu ngồi trong buồng riêng cách biệt với súng và tự động thoát khỏi pháo khi cần. Pháo nạp đạn cơ khí tự động tốc độ bắn 8 phát/phút, tự động lên chương trình bắn (tốc độ bắn, số lượng bắn).

Còn đây là M109, phiên bản dùng trong chiến tranh Vịt nòng ngắn tũn, L19,5. Howitzer nòng ngắn cơ giới hóa bọc thép. Có khi vì Vịt chả dùng công sự bao giờ nên Howitzer nòng tũn M109 thất nghiệp dài dài, mang tiến là vô dụng.

D-30 122mm
