Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:34:54 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Xe tăng  (Đọc 478050 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #30 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2008, 08:44:51 pm »

Cho tớ chen ngang tí! Chú huyphuc1981_nb, chú có biết cái tăng này nó là cái loại gì không?



Cái xe thì đúng là loại BT-5, nhưng cạnh tháp pháo có gì giống 2 quả rocket ấy!
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #31 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2008, 09:40:50 pm »

Tiếp tục đi đồng chí Huyphuc ơi.
Logged
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #32 vào lúc: 21 Tháng Giêng, 2008, 11:50:37 am »

Bác đoành ơi, trông lạ quá nhỉ Huh?

Người Anh thường tự hào rằng họ có xe tăng đầu tiên trên thế giới. Huh? Điều đó có đúng không Huh? So với cách hiểu ngày nay, các xe hồi đó đều là xe việt dã vũ trang, mang dã pháo lưu động, trợ chiến cho bộ binh. Mục tiêu của dã pháo field gun là gì Huh? Pháo này còn gọi là trường pháo, công kích pháo. Dạng ban đầu của nó là những khẩu pháo nhẹ-tầm ngắn, dễ chuyển, tự hành bằng động cơ chạy bằng bánh mỳ theo diễn biến trận đánh, bắn trực tiếp trợ chiến bộ binh. Mục tiêu của nó là bộ binh, thứ đến các công sự hay mục tiêu di động tàm gần chạy chậm, như dã pháo đối phương cũng chạy bằng động cơ bánh mỳ.
Sơn pháo to hơn và tầm xa hơn chút, dùng loại động cơ khỏe hơn là động cơ ăn cỏ. Tuy nhiên, động cơ ăn cỏ không linh hoạt như động cơ mánh mỳ, nên sơn pháo thườn ngồi vào một chỗ bắn ra quanh đó. Vì ngồi yên nên sơn pháo thích leo lên đỉnh đồi lập trận địa, có tên như vậy (moutain gun).
Tuy nhiên, việc chế ra thuốc viên trụ rỗng, thuốc súng không khói và TNT đã cho phép thời gian cháy của thuốc trong nòng pháo tăng cao, vài phần trăm giây pháo nhỡ và phần chục giây pháo to. Điều này cho phép kéo dài nòng pháo, làm hết thời hải pháo nòng ngắn tũn của TK19. Tầm bắn tăng lên hàng chục km.
Tầm bắn tăng, cộng thêm việc phổ biến giáo dục, làm số người học toán tăng lên, giờ đây, các tiểu đoàn đã có kế toán và trinh sát pháo, các khẩu đội đã có người biết chữ.
Hai điều trên làm xuất hiện dã pháo kiểu mới: lựu pháo tầm xa, còn có tên pháo gọi, tên này là ông tổ của tên ... gọi. Pháo nòng dài, bắn tầm xa, đạn trái phá, diệt bộ binh và công sự nhẹ. Pháo không kéo theo đội hình bộ binh mà ngồi tít xa xa, có bốn bộ phận, trinh sát pháo, kế toán pháo, trận địa pháo và chỉ huy pháo. Bộ binh yêu cầu pháo bằng điện thoại (gọi). Chỉ huy pháo điều phối các yêu cầu bắn. Trinh sát pháo quan sát và hiệu chỉnh gián tiếp bằng điện thoại. Kế toán pháo tính toán phần tử bắn và phần tử hiệu chỉnh. Trận địa pháo làm theo lệnh chỉ huy pháo và kế toán pháo. Địch cũng dùng pháo gọi của chúng để bắn pháo gọi ta, thế là hai bên đấu pháo. Cần những sự hiệp đồng rắc rối và trình độ chiến đấu cao như vậy, nên chỉ có những quân đoịi có giáo dục tốt mới chiến thắng trong đấu pháo và sử dụng dã pháo xuất sắc. Quân Đội Nhân Dân Vịt và Hồng Quân Liên Xô có đông đảo sỹ quan Penzap, đánh đấm về mặt này không tồi. Ví dụ về dã pháo tầm xa ở Vịt và M46 130mm và M107 175mm. Ban đầu, có lẽ người ta cho rằng nó diệt được công sự nặng, nhưng trận đáng Véc-doong (Verdun) đã chứng minh điều đó là sai lầm. Để đánh công sự kiên cố cần bắn trực tiếp đạn xuyên phá. Đạn xuyên phá là loại đạn dùng thuốc nỏ ổn định bọc thép dầy, xuyên vào trong mới nổ, đạn này chỉ được hoàn thiện khi xuất hiện TNT.
Cuộc cách mạng dã pháo được người Đức phát triển những năm cuối cùng TK19 và những năm đầu tiên TK20. Tiếp theo người Đức, thì Pháp, Ý, Mỹ và lần lượt các nước làm được súng pháo tiến hành. Ban đầu, các pháo bắn gián tiếp này chỉ có tỷ lệ chiều dài nòng cỡ 25, rồi ngày nay là 60, một số loại đặc chủng hơn nữa.
Loại pháo làm nhiệm vụ mà dã pháo tầm xa thiếu sót chính là phát triển tiếp theo của lựu pháo Howitzer. Đây là các pháo tỷ lệ chiều dài nòng nhỏ hơn, cơ trên 20. Nhưng pháo này mang đạn đường kính lớn, nhiều thuốc nổ. Có thể hiểu là công thành pháo mini. Loại này có nhiệm vụ cơ bản vẫn là kéo theo đội hình bộ binh đánh công sự, cũng có thể ngồi trên đỉnh đồi như sơn pháo. Như vậy, loại này rất giống sơn pháo dã pháo cổ. Đại diện nổi tiếng của loại này là ML-20, sau cải là D-20, khẩu 152mm rất nổi tiếng Thế CHiến 2 và Vịt, đây là thành công lớn nhất thế giới loại này. Tỷ lệ chiều dài nòng thời cổ trên 10, nay có thể thấy ML-20 có tỷ lệ 25. Người ta cho kiểu này thừa kế tên Howitzer của lựu pháo cổ đại, mặc dù nó thừa kế tính năng của field gun và moutain gun, dã pháo và sơn pháo cổ. Quan điểm của các nhà ní nuận hơi khác quan điểm quân sự, pháo có tỷ lệ chiều dài nòng cao bằng hay hơn cối tí tẹo, bắn góc thấp trực tiếp là Howitzer, vậy nên có Howitzer đời mới.

Như vậy, dã pháo cổ chưa thể tuyệt giống ngay được sau cách mạng dã pháo mà người Đức tiến hành.
Chính vì dã pháo tầm xa còn một thiếu sót như vậy nên mới xuất hiện xe dã chiến vũ trang. Hay là dã pháo tự hành. Các xe việt dã chở Howitzer đời mới. Các xe này sau này trở thành M109 155mm trong chiến tranh nhà Vịt (tỷ lệ chiều dài nòng, CaL 19), trước đó có SU-152mm (và bản thân xe IS là ISU-152mm) mang pháo có nòng giống ML-20 (CaL 25). Loại pháo này, vì được kéo theo trận đánh bắn thẳng vào công sự đối phương, nên còn có tên là Assault gun.

Đối lại, người Đức có Phecdiman lừng danh, pháo này so sánh chủng loại với SU-100 100mm.

Các xe việt dã vũ trang mang pháo Howitzer đời mới đó nay đều gọi là pháo tự hành, self propelled gun, viết tắt là SPG. Loại pháo này, vì được theo trận đánh bắn thẳng vào công sự đối phương, nên còn có tên là Assault Gun.
Các xe việt dã vũ trang mang súng máy hay cối nhỏ trợ chiến bộ binh, sau trở thành xe bộ binh chiến đấu, Nga là BMP, Anh là IFV.
Các xe việt dã vũ trang như bức thành di động, chỉ chở quân ít súng ống sau này thành xe chở quân thiết giáp, Nga là BTR Anh là APC.

Tất cả chúng đều không phải xe tăng.
Logged

Ờ, ừ, thì ký.
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #33 vào lúc: 21 Tháng Giêng, 2008, 06:50:59 pm »

Bác đoành ơi, trông lạ quá nhỉ
---------------------------------------------
 Lạ quá à? Cái này còn lạ hơn nữa nhé! Grin

Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #34 vào lúc: 21 Tháng Giêng, 2008, 07:21:26 pm »

Làm sao máu bằng con này chứ  Grin

Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #35 vào lúc: 22 Tháng Giêng, 2008, 02:30:50 am »

Kinh Quá.

Lebedenko đã được chi đến 250 ngàn rúp cho chiếc xe chả giống ai của mình. Nó chỉ là một thứ đồ chơi. Đây là một bài học cho những nàh kỹ thuật khi đi tìm kinh phí. Ông này chỉ được thực hiện thiết kế khi thân cận với Nga Hoàng, chế đồ chơi cho Nga Hoàng.

Chia tay với những ý ưởng thiết kế của Vasiliy Mendeleyev và Alexander Porokhovshchikov, chúng chỉ được phát triển tiếp trong cuộc đại chiến thế giới sau này.Ta quay lại nước Anh thời thế chiến trước.
Đến năm 1915, Anh đã có một số xe ô tô bọc thép. Nhưng chũng thể hiện nhiều nhược điểm, hai điểm quan trọng là chũng kém tính dã chiến và súng máy không bắn được công sự. Lúc này, Thế chiến 1 đã bắt đầu bước đi lùi của khoa học chiến tranh: sa lầy vào trận địa. Nhu cầu dã pháo tự hành tự nhiên tăng lên.

Tritton Machine.
Little Willie.
Big Willie.

Ủy ban pháo hạm trên cạn cho đến lúc này vẫn dựa trên ý tưởng tầu bọc thép trên cạn của Herbert George Wells. Ủy ban vẫn dự định chế tạo tầu bọc thép trên cạn HMLS Centipede. Tuy nhiên, vào đầu năm 1915 sự bế tắc trên mặt trận Tây đã thể hiện rõ. Hai bên không bên nào vượt qua làm mưa đạn súng máy và hào lũy đối phương. Trả lời cho vấn đề này là chế tạo Land Battleship, thay cho Land Ironclad, giống như kịch bản xuất hiện của Battleship thời nội chiến Mỹ. Nhưng Ủy ban pháo hạm trên cạn không đi theo hướng đó, nếu không xe tăng đã ra sớm 20 năm. Thực chất, Ủy ban đã cho ra dã pháo bọc thép tự hành, thứ tương tự các pháo hạm Ironclad trên cạn, giống như CSS Virginia dưới nước vào ngày 9 tháng 3 năm 1862 .
Họ yêu cầu một chiếc xe việt dã mang pháo bắn trái phá tầm gần, dã pháo tự hành. Mà đây là dã pháo cổ bắn trực tiếp chứ không phải dã pháo tầm xa có kế toán pháo. Yêu cầu thiết kế là xe vượt qua được đất lầy và hào lũy địch. Cụ thể hơn, xe sẽ phải vượt hào 8 foot, lũy 4 foot (hào 2 mét rưỡi và lũy mét hai). Một vài thiét kế đã được trình lên duyệt, trong đó có cả những thiết kế dùng bánh xe cỡ lớn. Nhưng những thiết kế đó đều chưa thành công hoặc sai yêu cầu. Đáng tiếc là không còn nhiều thông tin về những mẫu đó, có thể trong chúng có mẫu tốt hơn nhưng đã không được chọn.

Một cấu trúc do William Tritton thuộc công ty  William Foster and Co. Ltd. of Lincoln, W. G. Wilson trợ giúp. Thiết bị này sử dụng xích miếng cứng gọi là xích Bullock. Hình như, trong thời gian này, đã vyượt qua một số thiết kế khác ngoài thực địa. Ở Mỹ, xích miếng cứng đang được ca ngợi, cuối cùng thì Ủy ban pháo hạm trên cạn cũng nhập về 2 xe việt dã chạy xích miếng cứng từ công ty Bullock,  Chicago. Chủ tịch ủy ban ký lệnh thử nghiệm 25/7/1915. Thiết kế mang tên “Tritton Machine” liền ngay sau đó. Thiết bị này trrong giống như một giá pháo hai bánh nối với xe xích, có một tháp pháo nổi lên mang pháo 2 Pao, có thể có một số súng máy, cân nặng không rõ.
Xe thửa từ công ty Bullock Tracto có xích dài hơn xích máy cày một khoang (7 máy chạy và 5 bánh dẫn so với 4 và 3). Động cơ 105hp Daimle 6 Cylinder, hộp sps và một số phụ tùng khác sử dụng tại công ty Foster's Wheeled tractor. Truyền động giữa xích, trục bánh răng ăn vào xích.  Xe ái bằng phan một bên xích. Hai bánh xe to trợ giúp khi vượt hào.
Tritton Machine không thành công do xích thiếu tin cậy và khả năng vượt hào kém (4 foot)

Thiết kế mới có xích dài têm 3 foot (khoảng 1 mét), thêm số. Thiết kế mới có tên "Little Willie", 14 tấn. Nó có một pháo, cũng không vượt qua thử nghiệm. Thử nghiệm bắt đầu 12/1915, cho thấy một số vấn đề còn tồn tại. Đầu tiên là khả năng vượt hào kém, sau đó là việc bố trí súng chưa đạt yêu cầu, súng nặng và chân động mạnh.
Sửa chữa tiếp theo kéo dài xích được đặt tên  “Big Willie” hoặc "Mother", hai mảnh sườn lắp thêm hạn chế dịch ngang, bắn được đạn trái phá 6 pao. Xe trở thành xe đầu tiên thực phục vụ, có tên Mk I.








 
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Giêng, 2008, 10:43:27 pm gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #36 vào lúc: 23 Tháng Giêng, 2008, 02:41:04 am »

Nhiều người nhầm tưởng Little Willie là xe tăng đầu tiên tham chiến, thật ra không phải, chiếc xe đầu tiên là Big Willie, còn có têm Mark I, Mk I.
Ngày đó, người ta gọi chúng à xe tăng, nhưng rõ ràng chúng không phải xe tăng theo cách hiểu ngày nay. Tuy rằng, nước Anh vưỡn tự hào rằng đầy là xe tăng đầu tiên trên thế giới.
Mark I
Cùng lúc với việc thiết kế lại “Tritton Machine” (còn được gọi là Little Willie), W. G. Wilson làm việc bên một mẫu thiết kế hoàn toàn mới và gặp bộ Chiến Tranh, yêu cầu vượt hào 2 mét rưỡi và lũy mét ba. Mẫu thiết kế này có dạng hình thoi, xích chạy lên nóc xe, ban đầu được biết với biệt danh "Big Willie". Xích thấp cho phép vượt hào rộng như là bánh đường kính lớn. Khả năng vượt hào đạt yêu cầu của bộ chiến tranh. Kiểu xích quay lên dễ vượt chướng ngại vật đã được trình diễn 7/1915, sử dụng xích Killen-Strait, trong một thiết kế có tên Nesfield­McFie, mô hình đã được đem đến bộ hải quân. Có thể mẫu này đx được gọi với tên “Wilson Machine”, hoặc “H.M. Landship Centipede”-cái tên này đã được dự tính đặt từ lâu cho chương trình xe bọc thép dã chiến vũ trang nào thành công.
Xe có cơ cấu lái giống như cũ. Nó có thể lái bằng hai bánh xe như các xe Half Track lúc đó đã khá nhiều. Hoặc chúng có thể lái bằng cách đổi tốc độ hai xích khác nhau, bằng phanh.


Để hạ thấp trọng tâm, hai súng chính (pháo Hải Quân 6 Pao tỷ lệ chiều dài nòng 40) được đặt trong ổ pháo kiểu tầu chiến hai bên sườn xe, thay cho đặt trên tháp pháo nóc. Ngoài ra, hệ động lực, động cơ, sích và bánh nối thêm sau giống hệt như "Little Willie".




“Wilson Machine” được đóng ở công ty William Foster & Co. Ltd tại Lincoln và chạy lần đầu 16/1/1916, chỉ khoảng 1 tháng sau khi đóng lại “Little Willie”. Nó dễ dàng chứng tỏ ưu thế khi cả hai cỗ máy mới được thử tại Hatfield Park, Hertfordshire. Ngoại trừ một vài tồn tại: dễ bị dây thép gai làm mắc và một số kiểu kết cấu hào đặc biệt của Anh và Đức lúc đó-được dùng thử nghiệm. Xe có biệt danh “Big Willie” còn được gọi là “Mother” (do nó là thủy tổ của xe việt dã bọc thép vũ trang Anh). Những tên này được biết đến ngày nay.
Các đặc tính của “Mother” được khẳng định trước các quan sát viên quân đội và chính phủ trong những cuộc trình diễn vào tháng giêng và 2 năm 1916, đánh giá những giá trị tiềm tàng của cỗ máy. Một đơn đặt hàng 40 xe vào tháng 2 và ngay sau đó tăng lên 100. Xe được đóng bằng thép tấm dùng làm nồi hơi, có thể thấy các đinh tán khi nhìn gần, nhưng độ dầy của vỏ xe thay đổi từ 6mm-12mm. Vũ khí thay đổi so với mẫu thủa ban đầu, môth nửa số xe được yêu cầu tăng khả năng chống lại bộ binh. Mỗi xe như thế có 4 súng máy Vickers  làm mát nước mỗi ổ sườn và một súng máy Hotchkiss.


Công ty William Foster & Co thực hiện việc bảo mật khi đóng các xe này, họ gọi chúng là "Xe chở nước cho Mesopotamia", ngắn gọn là thùng (tank). Tên này sau đó được Quân đội dùng, bảo mật hơn từ "Land Ship", chiến hạm trên cạn. Lô hàng đầu tiên được gọi với tên Tank Mark I (thùng kiểu 1). Một nửa số xe mang súng máy được gọi là xe cái, nửa mang pháo 6 Pao gọi là xe đực (female và male).



Đơn đặt hàng đầu tiên được chia cho các công ty: William Foster & Co 25 xe, Metropolitan Carriage,Wagon& Finance Co. ở Wednesbury 75 xe. Đơn đặt hàng tăng lên 150 xe vào 4/1916.




Trận đánh đầu tiên, các xe tham gia trong khối Hạng nặng, Tập doàn súng máy, không may mắn. Kết quả kém có thể bởi địa hình tồi (đất lầy), tổ lái không đủ kinh nghiệm, số lượng xe không đủ. Đó là trận đánh Flers-Courcellette, một phần của chiến dịch tấn công Somme, tháng 9/1916 49 xe tham chiến mặc dù chỉ thu được một phần mục tiêu. Kết quả đủ để khuyến khích các đợt sản xuất tiếp theo.



Sau trận đánh Flers-Courcelette thì động cơ Daimler và bộ truyền động đi kèm tỏ ra kém nhất trong thiết kế. Một nghiên cứu tỷ mỷ nhằm chọn ra kiểu bánh và truyền động cho những xe sau. Thiết kế mới được thực hiện song song với thiết kế sửa những xe có sẵn, được đặt tên Mark II và Mark III, mỗi loại 50 chiếc. Mọi thứ khác vẫn như Mark I, vẫn có hai loại xe đực và cái.

Mộ số sửa nhỏ khác như mộ cửa sập trên nóc xe và đệm cho cả 60 miếng xích (không phải tất cả các xe có cải tiến này). Mark III có giáp dày hơn. Nội thất được xếp gọn lại. Số xe này được sản xuất đầu năm 1917, vẫn được trang bị ở tuyến Cambrai tháng 11/1917, dẫu cho lúc đó một lượng lớn Mark IV đã được bổ sung. Chúng được sử dụng trong các hoạt động sớm nhất của xe bọc thép dã chiến vũ trang trong năm 1917 ở Arras, Messines và Ypres.

Sau khi được các xe thế hệ sau thay thế, các xe Mark I, II, III được sử dụng ở hậu phương để huấn luyện, hay làm "nhiệm vụ đặc biệt". Một phần trong số chúng được chuyển thành xe tiếp tế, súng được bỏ đi, bịt các lỗ châu mai và lắp thùng hàng. Xưởng trung tâm của Tank Corps bên Pháp còn chuyển một số xe thành xe kéo trượt tuyết. Mỗi xe trượt tuyết chở được 10 tấn hàng, 3 xe như thế được kéo bởi 1 đầu kéo Mark. Một số xe còn được chuyển thành xe vô tuyến, máy truyền tin đặt một tháp pháo sườn, người dùng ở một bên. Xe có cực mát và antena. Đây là lần đầu tiên xe dùng vô tuyến.



Tháp pháo sườn (sponson) đực và cái (trái dưới), bên phải là cột dây trời (tên ban đầu cho antena) của xe vô tuyến.


Các xe này khác xe tăng ngày nay bởi nhiệm vụ: chúng là những xe trợ chiến, mang hỏa lực đánh chiếm công sự đối phương. Có thể coi xe cái là IFV-BMP (trợ chiến bộ binh)  và xe đực là SPG(pháo tự hành) hay pháo tấn công ngày nay.
Cũng nhiều người nhầm rằng, xe cái là xe có lỗ châu mai để bộ binh ngồi trong bắn, chắc những người này là thợ điện Huh? Như hình ảnh cho thấy, cả xe đực và cái đều có tháp pháo kiểu tầu biển (sponson) để chứa súng.
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Giêng, 2008, 10:46:28 pm gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #37 vào lúc: 23 Tháng Giêng, 2008, 03:12:21 am »

Xe Mark I tham chiến đã ngay lập tức giải thoát sự bế tắc của khoa học chiến tranh. Lúc đó, có thể hiểu đây là những dã pháo tự hành bọc thép, hoặc là những lựu pháo tự hành giống như pháo tấn công Assault Gun ngày nay.
(Nhiệm vụ thì như dã pháo-field gun ngày xưa, nhưng những khẩu pháo lôi ra mặt trận như ML-20 hay xe chở chúng trên trận tiền ISU-152mm ngày nay lại được gọi là lựu pháo-howitzer). Xe Mark I ngày nay hay được gọi là xe tăng, nhưng lại không là xe tăng như cách ngày nay hiểu.

Tuy mới chỉ là hình thức đầu tiên xe dã chiến bọc thép vũ trang, mang pháo bé tí tẹo, nhưng chúng lập tức chứng minh được ưu thế trước những pháo công thành khổng lồ đang được sử dụng. Trong khi những pháo công thành khổng lồ bắn hàng năm trời không ăn thua gì thì ngay lập tức, một thời đại mới mở ra với xe xích chỉ sau có một trận đánh.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1071.msg12915#msg12915

Sau Thế chiến 2, người ta đã khẳng định được vai trò của tính cơ động. Rõ ràng à, sự bế tắc của Thế Chiến 1 vào các trận địa là do thiếu tính cơ động, một tàn dư của thời thành quách. Những pháo đài xây dựng bằng các hầm ngầm trong núi đá như Fort Douaumont chỉ là một kiểu thành quách mới, các pháo công thành vẫn như cổ đại. Ngày nay, người ta quá hiểu rằng các pháo công thành lớn đến đâu cũng không thể lại được với tốc độ đào hào, pháo đài vững đến mấy cũng không chống cự được các pháo tự hành tiến đến gần nã pháo vào thẳng lỗ châu mai. Nhưng lúc đó, thời Thế chiến 1, người ta nghĩ khác.

Sự bế tắc của Thế Chiến 1, việc cả hai bên sa lầy vào trận địa là kết quả tất yếu của một Thế kỷ 19 không xe trận. Nhìn lại thấy rõ, từ khi súng phát triển giữa Thế kỷ 19 đến trước Thế Chiến 1, những trận đánh lớn có nhiều hỏa lực chỉ diễn ra trên biển hay ven biển, nơi hỏa pháo được chuyên chở bằng tầu thủy. Trận đánh bộ lớn là Thế chiến 1 chỉ được khai thông bởi xe việt dã quay lại chiến trường.

Trận đầu tiên 15/9/1916 tuy không hoàn toàn thành công, nhưng cũng đủ để tham mưu trưởng Anh, Douglas Haig, đặt hàng 1000 xe, bắt đầu đóng ngay lập tức. Đơn đặt hàng được ký ngày 19, chỉ 4 ngày sau đó. Đơn đặt hàng này bị hủy bỏ bởi hội đồng Quân Sự, nhưng lại lập tức được phục hồi bởi người lo xa hơn là Thư ký tình trạng chiến tranh, ngài George. Những khuyết điểm bộc lộ của dòng Mark I được khắc phục bởi những cải tiến tạm thời trong lô 100 xe đầu tiên, như trên đã nói. Điều này chỉ đảm bảo khả năng sản xuất trong thời gian thay đổi lớn thiết kế thành mẫu xe mới. Các xe trung gian này, Mark II và Mark III được sản xuất trong khoảng tháng 1,2,3 năm 1917. Ban đầu, các xe này được hiểu như là những xe dùng cho mục đích huấn luyện, các tấm chắn mềm thay cho vỏ thép. Điều này gây lên sự phản đối và ý kiến về gian lận chống lại phòng Cung cấp phương tiện quân sự cơ khí Mechanical Warfare Supply Department, khi một số xe này vội vàng tham chiến vào tháng 3 (có thể nằm ngoài ý định ban đầu). 

Xe mới được đặt tên là Mark IV, vẫn do W. G. Wilson cùng làm với Tritton of William Foster & Co, được trình bày với quân đội tháng 4/1917. Xe có nhiều đặc điểm chung với Mark II, như động cơ và hệ thống truyền động, nhưng có nhiều thay đổi được thực hiện theo những gợi ý từ kinh nghiệm chiến đấu. Giáp được làm dầy hơn, hầu hết là 12mm. Súng 9 Pao tỷ lệ cỡ nòng 40 được thay bởi khẩu súng có cỡ nòng 23. Súng nòng dài dễ bị hỏng khi xe vượt hào. Tháp pháo sườn được làm ray và khóa, xe Mark trước tháp pháo không cố định, mất nhiều thời gian và nặng.

Một thay đổi khác, thiếu cân nhắc trở thành một bước đi lùi. Đó là súng máy Lewis được thay thế trên cả hai xe đực và cái. Súng này trong thử nghiệm bắn tin cậy hơn. Nhưng trong thực tế, phần làm mát không được bảo vệ và dễ bị đạn súng bộ binh làm hỏng, hơn nữa, phần làm mát này lại hút bụi thổi vào mắt xạ thủ. Kiểu xe này dễ bị xuyên vào hơn là xe dùng súng Hotchkiss. Ngoài mặt trận, một số xe đã thay Hotchkiss vào tấm giữa lái xe và trưởng xe. Sau này, Hotchkiss cải tiến phần tay cầm, báng, đai thay thế toàn bộ Lewis.
Điều kiện làm việc của tổ lái cải thiện với cửa thoát hiểm tốt hơn, sắp xếp gọn hơn, thêm hệ thống quạt gió. Cung cấp xăng bằng hệ thống bơn chân không, giảm khả năng dừng máy khi vượt hào hay thấy ở Mark I. Thùng xăng được bọc thép và đặt phía sau, giảm khả năng cháy. Ống xả có giảm thanh (các xe đầu tiên không có). Bánh dẫn sau bỏ đi, các Mark II và III ban đầu có nhưng sau cũng bỏ đi.
Động cơ Daimler 105hp vẫn được dùng mặc dù nó yếu. Trong các phiên bản sau, người ta để động cơ chạy ở tốc độ 1250 vòng phút thay cho 1000, điều này làm tăng công suất lên 125hp. Nhưng điều này làm động cơ không tin cậy, do đó, những xe này nằm trong số những xe chuyển thành xe tải.
Các xe trước thường sa lầy khi vượt hào, người ta buộc vào mỗi xích một cái xà ống, xà này tăng khả năng bám đất. Phương án này chỉ giải quyết được một phần, sau này đươc thay bằng một xà duy nhất buộc vào cả hai xích bằng xích quận, xà này trượt trên nóc xe bằng hai ray (chỉ dùng khi vượt sa lầy). Phương án này có vẻ tốt và sau còn được áp dụng lâu.
Đơn đặt hàng 1000 xe hơi nhiều, mẫu thử và khoảng 1/3 được đóng tại công ty William Foster & Co, phần còn lại được đóng bởi Metropolitan Carriage Wagon & Finance. 595 cái và 420 đực. Một số xe cái sau đó chuyển thành xe lưỡng tính với tháp pháo phải thay bằng pháo 6 Pao, cải tiến này cho phép nó thực hiện những trận đấu tăng đầu tiên, khi Đức dùng xe việt dã bọc thép vũ trang 4/1918.

Mark IV được dùng lần đầu trong chiến trận vào tháng 6/1917. Sau đó, tháng 11 là phần chủ yếu của Tập Đoàn Tăng trong trận đánh Cambrai, được kỷ niệm như là trận đánh thắng lợi đầy đủ đầu tiên của xe tăng. Một số xe vẫn được sử dụng cho đến hết chiến tranh mặch dù các xe đời sau tốt hơn, vượt hào rộng hơn được đưa vào sử dụng.
Sử dụng một kinh nghiệm chiến trường, một xe Mark IV lắp thêm một cái đuôi sắt nhẹ nối vào đuôi xích xe tăng khẩu độ áp đất từ 10 lên 14 foot (4 mét 2). Thứ này làm khó điều khiển xe, tuy nhiên, sau đó được đặt trên xe Mark V. Xe Mark IV có đuôi nòng nọc về sau đặt cối 152mm giữa hai xích phần sau để thử nghiệm  trợ chiến tầm ngắn khi tấn công.
Đuôi nòng nọc


Một số hình ảnh khác về Mark IV




Trận đánh Cambrai tuy thắng lợi, nhưng khá nhiều xe hỏng. Mộ số kha khá xe rơi vào tay Đức, và từ đó vũ khí này không còn là bí mật nữa.

Thêm ảnh của xe này.





« Sửa lần cuối: 23 Tháng Giêng, 2008, 02:45:35 pm gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #38 vào lúc: 23 Tháng Giêng, 2008, 02:03:53 pm »

Gun Carrier Mark 1 (Mk 1, Mk I). Xe chở pháo.

Trên kia đã nói, Mark đực các loại là dã pháo tự hành. Ở đây, nói đến lựu pháo tự hành, thứ này mới thật là giống lựu pháo tụ hành như ISU 152mm sau này. Vasiliy Mendeleyev đã đề ra ý tưởng này từ khi xích miếng cứng, động cơ và hệ truyền động còn chưa phát triển đầy đủ. Đáng tiếc là chỉ đến khi chiến tranh sa lầy thì người ta mới đẻ ra ý tưởng tương tự. Lựu pháo đạn to hơn dã pháo (theo kiểu cổ), chống công sự thay vì chống bộ binh.
Nhưng ý tưởng này chỉ dừng lại ở một xe chở pháo và đạn pháo, chứ pháo không bắn trên đó, cái thời đầu của lựu pháo tự hành như vậy.

Gun Carrier là một ý tưởng song hành với xe Mark I. Nó mang pháo ở giữa phía trước và đạn dược cho pháo này, mục tiêu để bắn các lỗ châu mai trên trận địa trong các kiểu hầm hào mới và cũ. Những xe như thế này thấy giữa năm 1916 trong những đọt tấn công của cả hai bên. Đáng kể là bên Đức từ tháng giêng đến 7 năm 1916 trong khi đánh Véc-đoong. Bên Đức sớm loại bỏ vì gặp nhiều khó khăn khi lắp pháo sửa chữa.

Ý tưởng về xe bọc thép mang pháo lại xuất hiện trong đầu Gregg, công ty Metropolitan Carriage & Wagon & Finance, nơi đóng nhiều xe Mark I nhất. Thiết kế khởi đầu tháng 7/1916 vadf mẫu thử chạy đầu năm 1917, đóng tại công ty này.

Gun Carrier Mark I sử dụng phần lớn các thành phần của xe bọc thép Mark I, cả đôi bánh lái mà về sau bỏ di. Tuy nhiên, theo yêu cầu thiết kế, bề ngoài xe khác hẳn. Người ta xẻ mặt trước để đặt pháo, dốc tời đạn và các tay quay điều khiển. Pháo 60 Pao, đường kính 152mm. Đằnh sau là buồng bọc thép, chưa tổ lái động cơ và bộ truyền động. Trong mẫu thử nghiệm, hay người điều khiển phanh xích ngồi đằng sau buồng máy (Mark I có hai người điều khiển phanh xích, mỗi người một xích). Nhưng trên phiên bản thực tế sau đó có hai buồng bọc thép nhô cao ngay sau súng cho hai người này. Kiểu xe mới có động cơ (105-hp Daimler) đặt sau, trục truyền động nối với hộp truyền động đặt trước buồng máy bọc thép. Từ đây, động năng sau khi thông qua hệ thống lái lại quay lại truyền động cơ hai bánh sao đẩy phía sau xe. Xích chuy quan một hộp dưới khoang máy trước, khây nên khó khăn do bùn tắc lại ở đây.
Tuy vậy, xe này không thể là pháo tự hành, đơn giản vì pháo không thể bắn được từ đây. Cách sử dụng điển hình là, ban đêm xe chở pháo đến một trận địa gần địch, rồi quay lại lấy thêm đạn. Xe chở được một páo và 64 đạn, hay 130 đạn không pháo. Với 24 người điều khiển bốc dỡ, tốc độ vận chuyển tương đương 1745 người. 48 xe đã được đóng, chủ yếu bởi công ty Kitson & Co tại Leeds, tháng 7.1917.

« Sửa lần cuối: 23 Tháng Giêng, 2008, 03:36:29 pm gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #39 vào lúc: 23 Tháng Giêng, 2008, 02:47:28 pm »

Các xe bị hỏng.






Logged

Ờ, ừ, thì ký.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM