Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:15:53 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Xe tăng  (Đọc 477578 lần)
0 Thành viên và 4 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #580 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2010, 01:22:08 pm »

 Trùm bạt kín mít thế kia khó xác định lắm Grin
 T-95 đến nay vấn chưa ai biết được hình dạng thật của nó cả.
 Theo một số nguồn thì "Đại Bàng Đen" là T-80UM2 Grin
 Hôm qua em lượn ra Bảo tàng quân đội Liên Xô, chụp được một số hiện vật về chiến tranh Việt Nam trong đó và một số lượng nhỏ các phương tiện kỹ thuật Grin - em sẽ chỉnh sửa vào post lên trong thời gian tới - tiếc là không chụp được xe tăng và pháo tự hành các vũ khí đó bị phủ tuyết gần như toàn bộ Smiley Grin Grin Grin
Logged
heavenshield92
Thành viên
*
Bài viết: 331



« Trả lời #581 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2010, 02:46:31 pm »

Trùm bạt kín mít thế kia khó xác định lắm Grin
 T-95 đến nay vấn chưa ai biết được hình dạng thật của nó cả.
 Theo một số nguồn thì "Đại Bàng Đen" là T-80UM2 Grin
 Hôm qua em lượn ra Bảo tàng quân đội Liên Xô, chụp được một số hiện vật về chiến tranh Việt Nam trong đó và một số lượng nhỏ các phương tiện kỹ thuật Grin - em sẽ chỉnh sửa vào post lên trong thời gian tới - tiếc là không chụp được xe tăng và pháo tự hành các vũ khí đó bị phủ tuyết gần như toàn bộ Smiley Grin Grin Grin
bác Bàng cố để dành tiền để thăm Kubinka 1 chuyến. Sẵn chụp hình cho mọi người tham khảo
Logged
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1244


« Trả lời #582 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2010, 10:55:08 am »

M48 với thiết bị phá mìn:

Logged
ngtrunghieuasm
Thành viên
*
Bài viết: 9


« Trả lời #583 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2010, 05:23:01 pm »

Number 6


- MBT  (Main battle tank) LECLERC là một loại tank chiến đấu chủ lực của quân đội Pháp, được sản xuất vào năm 1990 bởi Hãng GIAT_Industries

+ Trọng lượng 54.5 tấn, dài 9.78 mét, rộng 3.71 mét, cao 2.53 mét

 + Kíp chiến đấu 3 người

 + Pháo chính 120mm GIAT CN120-26/52, súng máy đồng trục 7.62mm, đại liên phòng không M2HB, 12.7mm

 + Động cơ :diesel bội áp SACM V8X- 1500 giúp xe đạt tốc độ 70km/h trên đường nhựa và 50km/h ở địa hình ghồ ghề.

 + Hệ thống điện tử hiện đại với máy tính đường đạn, thiết bị đo xa lade, hệ thống kính tiềm vọng toàn cảnh HL-70 gồm 8 ống ngắm, ống ngắm ảnh nhiệt cho xạ thủ, tầm phát hiện mục tiêu cở xe tăng là 4km, tầm định vị mục tiêu là 2.5km. Hệ thống chỉ thị góc phương vị cho phép bắn chính xác khi xe đang di chuyển.
 + Hệ thống bảo vệ: Thép đúc+ Titanium+ NERA, 9 ống phóng lựu đạn sinh khói bên hông tháp pháo chính, có khả năng phóng lựu đạn khói, lựu đạn sát thương hoặc tia hồng ngoại đánh lạc hướng ATGM

+ Tuy nhiên nạp đạn cho súng chính chỉ có 22 viên điều này làm giảm đáng kể khả năng tác chiến trong điều khiện chiến đấu liên tục. Pháo chính không có khả năng phóng ATGM cũng là một hạn chế của loại tank này.

Number 5

 + MBT Type-90 là một loại tank chiến đấu chủ lực của Cục phòng vệ Nhật Bản, được sản xuất bởi hãng danh tiếng Mitsubisi. Xe có kết cấu cổ điển với bộ phận động cơ - truyền động nằm ở phía sau, khoang lái nằm bên trái phía mặt trước thân xe, khoang chứa đạn nằm phía bên phải pháo chính, trưởng xe và pháo thủ ngồi trong tháp pháo quay.

 + Tổng trọng lượng xe nặng 50 tấn, toàn bộ thân xe và tháp pháo được bọc giáp bảo vệ. Giáp của Type – 90 hình thành từ nhiều lớp kết hợp loại giáp gốm. Giáp đằng trước thân xe có độ nghiêng lớn, điều nay gia tăng khả năng bảo vệ xe chống đạn xuyên. Toàn bộ các phần còn lại trên thân xe và tháp pháo đều dùng giáp đứng.

+Vũ khí của Type –  90 gồm một pháo nòng trơn Rh – M – 120 120mm được Nhật Bản chế tạo theo giấy phép sản xuất của Đức, với loại pháo tương tự dùng trên xe tăng Leopard 2 - xe tăng duy nhất trên thế giới có khả năng tác chiến  hóa học. Xe cũng sử dụng cơ cấu nạp đạn tự động do Misubishi phát triển. Súng máy đồng trục 7.62mm, đại liên phòng không 12.7mm

+ Hệ thống điều khiển hỏa lực gồm laze đo xa, máy tính đường đạn, kết hợp kính ngắm ngày - đêm, kính tiềm vọng cho pháo thủ, thiết bị điều khiển cho trưởng xe kết hợp kính ngắm.Thiết bị chỉ thị góc phương  vị cho phép bắn trong khi xe đang di chuyển.

+Ngoài ra, xe còn bố trí hệ thống bảo vệ chống xạ - sinh - hóa (NBC), hệ thống chữa cháy tự động, các ống phóng lựu đạn khói, hệ thống cảnh báo sớm laze…

+Xe trang bị động cơ diesel Mitsubishi ZG 10 xi lanh giúp đạt tốc độ tối  đa 70 km/h.

+ Không chỉ nổi tiếng về tính năng trong chiến đấu Type-90 còn được mạnh danh là loại tank đắt nhất thế giới hiện nay.

Number 4

+ MBT Challenger-2 là loại tank chiến đấu chủ lực của quân đội Hoàng gia Anh

+ Kế tục truyền thống đất nước có đội quân chuyên nghiệp,quân số ít nhưng tinh nhuệ. Challenger-2 hy sinh tính cơ động trong chiến đấu để nâng cao tính bảo vệ cho ê kíp chiến đấu. Điều này đã được minh chứng trong chiến tranh vùng Vịnh, chiến tranh Irap, Challenger-2 là loại tank duy nhất không bị phá hủy bởi hỏa lực đối phương.

+ Có được điều này bởi Chellenger được trang bị một loại giáp đặc biệt. Giáp Chobham xuất hiện năm 1960, trên tăng chủ chiến Chanlenger-1 của Anh. Chobham bao gồm các lớp thép, gốm chịu nhiệt và các lớp hợp kim ghép lại với nhau. Chobham có khả năng vô hiệu hoá các loại đạn lõm, tên lửa chống tăng bằng kết cấu “tổ ong” làm luồng xuyên bị mất năng lượng và bị triệt tiêu. Đối với các loai đạn xuyên dưới cỡ, lợi dụng tính vô định hình của gốm và sự phân kì giữa các lớp vật liệu trong kết cấu giáp Chobham khiến thanh xuyên bị gẫy mất khả năng xuyên phá động năng.Nó liên tục được nghiên cứu và phát triển cho tới tận ngày nay, phiên bản mới nhất của giáp Chobham là Dochester hiện được trang bị cho tăng Chanlenger II.

+ Khối lượng của xe lên đến 62.5 tấn, ê kíp chiến đấu gồm 4 người gồm: Xa trưởng, pháo thủ, nạp đạn, lái xe.

+ Xe được trang bị động cơ Perkins CV-12 Diesel công suất 1200hp, tuy nhiên do khối lượng của xe khá nặng nên tốc độ của xe chỉ đạt 54km/h và tầm hoạt động chiến đấu chỉ có 450km

+ Pháo chính rãnh xoắn chuẩn Nato 120mm, súng máy đồng trục 7.62mm, đại liên phòng không 12.7mm, việc sử dụng pháo rãnh xoắn không cho phép phóng ATGM qua nòng pháo điều này làm giảm khả năng tấn công từ xa của Challenger-2

+ Hệ thống điện tử hiện đại bao gồm: Lade đo xa, máy tính đường đạn, hệ thống quan sát ngày và đêm cho chỉ huy và pháo thủ, camera ảnh nhiệt dành cho pháo thủ.Thiết bị chỉ thị góc phương vị cho phép bắn  trong khi xe đang di chuyển.

Number 3

MBT Leopard-2A6 là một loại tank chiến đấu chủ lực của quân đội  Đức, với biệt danh nổi tiếng là "xe tăng bay"

+ Bắt đầu khởi thảo thiết kế vào năm 1970 nhằm thay thế cho loại Leopard 1, tăng Leopard 2 được sản xuất hàng loạt vào năm 1979 với kiểu 2A4 có vỏ thép trên tháp dạng tấm phẳng thẳng đứng. Đến nay qua hơn 20 năm loại xe tăng chiến đấu chủ lực này của quân đội CHLB Đức đã có nhiều phiên bản cải tiến. Kiểu 2A6 là thế hệ tiếp theo của loại 2A5 với hình thức bên ngoài dễ thấy nhất là khẩu pháo 120mm nòng trơn được kéo dài thêm 1,35m.

+ Pháo chính nòng trơn loại 120mm Rheinmetall L55, đạn nạp căn bản cho súng chính là  42 viên đạn, 2 súng máy 7,62mm với 4750 viên đạn.Pháo chính của Leopard-2A6 là loại duy nhất trên thế giới hiện nay có khả năng tấn công hóa học

+Xe được bọc giáp hỗn hợp gồm thép đúc,giáp composite, hình như không trang bị giáp cảm ứng nổ, giáp của tank Leopard-1 khá yếu so với xe tank Liên Xô, tuy nhiên các phiên bản sau này đã được trang bị giáp tốt hơn mà Leopard-2A6 là một điển hình.

+ Xe được trang bị động cơ MTU MB 873 Ka-501 12 đa nhiên liệu với công suất lên đến  1500 mã lực.Tỉ số công suất/trọng lượng của xe đạt tới 24,1 mã lực/tấn khiến cho xe đạt tới tốc độ tối đa là 72km/h. Do đó nó được mạnh danh là "Xe tăng bay", một loại tank khác chia sẽ danh hiệu này với Leopard là T-80 của Nga.

+ Xe được trang bị hệ thống điều khiển rất hiện đại.Với hệ thống điều khiển hoả lực kỹ thuật số mới kết hợp với máy đo xa laser, hệ thống quan sát khếch đại ánh sáng yếu, hình ảnh nhiệt và với hệ thống ổn định pháo chính, Leopard 2A6 có thể bắn trúng mục tiêu di động trong khi xe đang chạy qua địa hình phức tạp.

Lưu ý: Theo các chuyên gia quân sự Phương Tây họ xếp hạng M12A ở vị trí cao nhất, tiếp theo là Leopard-2A6, rồi mới đến T-90S của Nga. Tuy nhiên đây là một  đánh giá mang tính chủ quan theo kiểu đề cao vũ khí trang bị của Nato hơn là một đánh giá mang tính khách quan. Theo đánh giá của riêng cá nhân em thì hiện nay không có chiếc Tank nào thật sự xứng đáng với vị trí số 1 thế giới. Nếu có thì đó chính là loại siêu Tank T-95 của Nga mà thôi, tuy nhiên T-95 chưa thực sự xuất hiện mà chủ yếu nó tồn tại dưới dạng lời đồn mà thôi. Các tính năng, kỷ thuật của nó vẫn còn là một điều bí mật, cho nên hiện nay M1A2 của Mỹ và T-90S của Nga được xếp hạng ngang nhau vị trí chiếc Tank số 1 thế giới vẫn còn bỏ ngõ. Sau đây em sẽ đưa ra các so sánh về tính năng của hai loại Tank này để các Bác tham khảo xem nhận định của em có chính xác không nhé.

+ M1A2 được trang bị đậm đặc các thiết bị điện tử công nghệ cao, trong chiến đấu chủ yếu dựa vào không quân, đây chính là trường phái chiến đấu của Người Mỹ, đội hình chiến đấu của họ rất hùng hậu và hoàn thiện bao gồm các công tác hậu cần kỷ thuật đầy đủ, nên các kíp chiến đấu Hoa Kỳ thường không được huấn luyện cao về duy trì sức chiến đấu của xe khi gặp hỏng hóc mà họ thường giao việc đó cho lực lượng hậu cần đi theo. Họ thường rút bớt các tính năng chiến đấu chống tank sang cho Không quân mà cụ thể là loại AH-64D Apache, điều này lý giải tại sao Mỹ không sử dụng loại pháo tích hợp tên lửa chống tank như của Nga. M1A2 sử dụng pháo rãnh xoắn 105mm, về sau sử dụng pháo nòng trơn 120mm không có khả năng phóng ATGM qua nòng pháo.

+Ngược lại  T-90S có khả năng tác chiến độc lập rất cao, "nồi đồng cối đá", dễ sử dụng, dể sửa chửa và bảo quản ngay cả trong điều kiện chiến trường. Xe tank Liên Xô củ và Nga hiện nay luôn nổi bật về sức mạnh hỏa lực, T-90S sử dụng pháo nòng trơn 125 mm loại 2A46 tích hợp phóng tên lửa chống tank qua nòng pháo mà cụ thể là loại Refleks 9M119 (Nato gọi là AT-11Sniper). Tên lửa có tầm bắn hiệu quả lên đến 6km và có khả năng di chuyển đến vị trí xa nhất trong vòng 17.5 giây, trong khi hiệu quả của pháo tank  bắt đầu giảm sút ở khoảng cách 2500 mét. Chính vì điều này T-90S được mạnh danh là "Tank hỏa tiển"

+ T-90S  được trang bị cả hệ thống bảo vệ chủ động và bị động biến T-90 thành chiếc tăng chiến đấu được bảo vệ tốt nhất trên thế giới. Giáp trụ của T-90 được xem là một tuyệt tác bao gồm  giáp hỗn hợp tuyệt mật, kết hợp giữa thép-vật liệu compostie-giáp phản ứng nổ. Giáp của T-90 có khả năng chịu được đạn 120mm trên các xe tăng của Phương Tây từ khoảng cách 2000 mét. Ngoài ra T-90 là xe tank đầu tiên được trang bị hệ thống đo ngăn chặn optronic TShU-1-7 Shtora-1 sản xuất bởi Elektromashina, được thiết kể để phá hoại sự chỉ định mục tiêu bằng laser và thiết bị đo xa của  ATGM đang bay đến. T-90 cũng được trang bị một thiết bị cảnh báo laser giúp cảnh bảo kíp lái khi xe đang bị chiếu laser. Shtora-1 là một thiết bị làm nhiễu âm điện quang (electro-optical) làm nhiễu quyền điều khiển đường ngắm (SACLOS) bán tự động tên lửa có điều khiển chống tăng, máy dò laser và máy chỉ thị mục tiêu của kẻ địch. Shtora-1 là một hệ thống tiêu diệt mềm, hay hệ thống trả đũa. Nó hiệu quả nhất khi được sử dụng cùng với một hệ thống tiêu diệt cứng như Arena.Shtora-1 có trường quan sát tới 360 độ theo chiều ngang và từ -5 đến +25 độ theo chiều dọc. Mỹ đã ngỏ ý muốn mua công nghệ sản xuất thiết bị này để trang bị cho xe tank của họ, tuy nhiên Nga tuyên  bố chỉ bán thành phẩm mà thôi.

+ Giáp trụ của M1A2 là loại giáp Chobham như loại Challenger-2 của Anh, giáp thép bọc uranium nghèo.M1A2 chú trọng nhiều vào việc đảm bảo an toàn cho ê kíp chiến đấu. Khoang đạn dược được thiết kế tách biệt hoàn toàn với ê kíp chiến đấu nâng cao tính an toàn trong trường hợp khối đạn dược bị kích nổ. Tuy nhiên điều này làm cho kích thước của xe tăng lên đáng kể. M1A2 dài 9.77 mét cả pháo, rộng 3.65 mét, cao 2.83 mét đến nóc tháp pháo. Khối lượng của M1A2 là 54.5 tấn. Trong thực tế chiến đấu việc bố trí khoang đạn dược riêng củng không đảm bảo an toàn tuyêt đối cho ê kíp chiến đấu, đã có trường hợp ghi nhận việc ê kíp chiến đấu xe tank M1A2 tiêu diệt hoàn toàn do sự kích nổ của khối đạn dược trong chiến tranh Irap.

+ Bên trong của xe tank T-90 khá chật hẹp, đây là truyền thông thiết kế xe tank của Liên Xô, Nga. Khối đạn dược và nhiên liệu không hoàn toàn tách biệt với ê kíp chiến đấu, điều này làm tăng khả năng bị tiêu diệt hoàn toàn của T-90 khi khối đạn dược bị kích nổ. Tuy nhiên như đã nói ở trên việc bố trí khối đạn dược và nhiên liệu tách biệt khỏi ê kíp chiến đấu củng không giảm khả năng bị tiêu diệt hoàn toàn khi khối đạn dược bị kích nổ. Đặc biệt các loại vũ khí chống tank hiện đại của Nga có khả năng tiêu diệt hoàn toàn các loại xe tank đối phương chỉ bằng một phát bắn.

+ M1A2 được trang bị động cơ tubine đa nhiên liệu Honeywell AGT-1500 với công suất lên đến 1500 mã lực, tốc độ tối đa trên đường nhựa là 67.7 km/h, trên đường gồ ghề là 48.3 km/h.

+ T-90 được trang bị động cơ diesel đa nhiên liệu 12 xi lanh với công suất ban đầu là 850 mã lực, về sau được trang bị động cơ có công suất lên đến 1100 mã lực, tuy còn kém so với động cơ của M1A2 nhưng do khối lượng của T-90 46.6 tấn khá "mi nhon" so với M1A2 nên tính cơ động của T-90 vẫn rất cao. Tốc độ tối đa của là 65km/h trên đường nhựa, sắp tới T-90 sẽ được trang bị động cơ có công suất lên đến 1400 mã lực tốc độ của T-90 sẽ lên đến 95km/h.

+ Tầm hoạt động chiến đấu của M1A2 chỉ có 440km, trong khi  tầm hoạt động của T-90 lên đến 750 km.

+ Nếu xét về một cuộc đấu tank đơn thuần không có sự tham gia của không quân thì ưu thế chắc chắn nghiêng về chiếc T-90. T-90 vượt trội so với M1A2 về hỏa lực, pháo chính 125mm tích hợp phóng ATGM qua nòng pháo loại Refleks 9M119 (Nato gọi là AT-11Sniper). Tầm phát hiện mục tiêu bằng hồng ngoại của M1A2 là khoảng 4000 mét, trong khi camera hồng ngoại trang bị cho T-90 có tầm phát hiện mục tiêu kích cở xe tank từ khoảng cách 5000 mét, camera này còn cho phép bắn chính xác với cự ly lên đến 8000 mét tuy nhiên hệ thống camera này phải nhập khẩu từ Hãng Thales Optronique của Pháp. Như vậy với việc sử dụng pháo tích hợp tên lửa chống tank giúp cho T-90 có khả năng tấn công M1A2 từ khoảng cách 5000 mét.

(Xin các Bác đóng góp thêm về tính năng của hai loại tank tiêu biểu cho hai cường quốc quân sự này)

 
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Sáu, 2010, 05:32:58 pm gửi bởi dongadoan » Logged
heavenshield92
Thành viên
*
Bài viết: 331



« Trả lời #584 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2010, 02:33:39 am »

@hieuasm: bài viết của bạn về 2 loại xe tăng này khá hay, nhưng mình muốn đóng góp ý kiến ở vài điểm thế này:
-Giáp của M1A2 là giáp hỗn hợp gồm nhiều lớp thép, gốm, composite, kevlar cùng nhiều loại vật liệu tổng hợp khác, mãi đến khoảng năm 1990, M1A2 mới có thêm 1 lớp giáp thép và uranium nghèo được lắp vào phía trước tháp pháo và phía trước xát xi.
0Không biết bạn nói về trường hợp toàn bộ tổ lái của M1A2 bị tiêu diệt do trúng đạn là vụ nào. Bởi theo mình biết chưa từng có việc như vậy, vụ việc nghiêm trọng nhất là tháng 9 năm 2003. Một chiếc M1A2 bị loại khỏi vòng chiến đấu do vụ nổ gây ra bởi một khói thuốc nổ lớn đặt ven đường, tuy giáp xe không bị hư hại nặng nhưng xe bị lật ngược xuống hố sâu bên đường làm 2 thành viên tổ lái bị chết tại chỗ, 1 bị thương rất nặng, 1 bị xây xát. Chiếc xe này sau đó đưôc sửa lại và tiếp tục tham gia chiến đấu.
-Lô M1A2 sản xuất lần đầu năm 1992 đã được trang bị pháo nòng trơn M256 125mm, pháo M68 105mm chỉ được trang bị cho M1A1.
-Nếu chỉ xét về những đặc điểm kỹ thuật đơn thuần, bản thân chiếc M1A2 khó là chiếc xe tăng tốt nhất thế giới. Ví dụ như hệ thống điều khiển hoả lực và tác chiến điện tử của M1A2 kém hơn so với K2 của Hàn Quốc, giáp của M1A2 vẫn kém Challenger 2 và T-90. Nhưng còn phải xét đến 1 yếu tố khác, đó là khả năng triển khai của loại xe tăng này. Với tiềm lực của người Mỹ, việc sản xuất với số lượng khổng lồ là có thể. Thiết kế của M1A2 cũng khá đặc biệt, giống như các loại xe tăng trước của Mỹ, chiếc xe tăng này được thiết kế để tận dụng tiềm năng công nghiệp dân dụng nội địa (điều này giải thích việc M1A2 gần như không nhập các loại linh kiện phụ tùng của nước ngoài, dù việc này có thể làm giảm chi phí sản xuất). Trong trường hợp xảy ra chiến tranh, người Mỹ có thể điều động nền công nghiệp của họ sang sản xuất xe tăng. M1A2 cũng được thiết kế theo dạng module, các phần bị hỏng có thể thay thế riêng biệt mà không cần tốn quá nhiều thời gian. Hệ thống tự kiểm tra của xe có khả năng phát hiện các vấn đề để kịp thời thay thế và sửa chữa.
-Một yếu tố nữa của M1A2 mà chúng ta cần đề cập là sự thoải mái mà M1A2 mang lại cho tổ lái. Khoang lái của M1A2 được thiết kế rộng rãi, mặt phía trong được thiết kế sao cho khi xe bị đạn pháo bắn trúng, một lượng tối thiểu mảnh có thể văng ra làm bị thương tổ lái. Các vấn đề mà M1A2 hay bị phê phán là việc không có hệ thống nạp đạn tự động và động cơ tua bin khí phiền toái và tốn nhiều nhiên liệu. Người Mỹ không phải không nhận ra vấn đề này, nhưng họ vẫn giữ nguyên thiết kế 1 phần quan trọng là để đảm bảo an toàn và thoải mái cho tổ lái. Vì đạn chứa trong khoang có cửa an toàn nên thiết kế một tay gắp đạn tự động là rất khó và cồng kềnh. Vấn đề này chỉ được giải quyết bởi các xe tăng sau này như Leclerc và K2, nhưng ngược lại nếu tay lên đạn kiểu này bị hỏng thì pháo chính của xe sẽ hoàn toàn vô dụng, mà tay lên đạn này là một trong những thứ bị hỏng đầu tiên nếu xe bị bắn trúng (dù đạn có không xuyên thủng thì  sự rung, giật gây ra bởi cú va chạm cũng có thể làm hỏng các ống,van trong hệ thống thuỷ lực của tay lên đạn). Về động cơ tua bin khí, dù nó tốn rất nhiều nhiên liệu, nhưng thời điểm mà M1A2 ra đời, độ ồn, rung của động cơ tua bin khí thấp hơn rất nhiều so với động cơ diesel có công suất tương đương. Tuy nhiên, trong tương lai, có khả năng động cơ diesel loại mới có thể thay thế động cơ tua bin khí hiện tại
Logged
Krongen
Thành viên
*
Bài viết: 56



« Trả lời #585 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2010, 08:29:48 am »

Các bác tham khảo thêm về abram: http://vndefence.info/modules.php?name=Forums&file=viewtopic&t=1649&postdays=0&postorder=asc&start=10
Logged

SỐNG HOÀ BÌNH HOẶC CHẾT KHỐC LIỆT
heavenshield92
Thành viên
*
Bài viết: 331



« Trả lời #586 vào lúc: 14 Tháng Sáu, 2010, 03:05:47 pm »

Video hiếm hoi về những chiếc Abrams không trở về.
<a href="http://www.youtube.com/watch?v=k7Sht-9mudc" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=k7Sht-9mudc</a>
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Năm, 2011, 11:34:08 pm gửi bởi Tunguska » Logged
Hà Lan Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 21


USSR


« Trả lời #587 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 10:24:32 pm »

Sabra (Israel)

Giữa những năm 80 (của thế kỷ XX), lực lượng phòng thủ I-xra-en (IDF) bắt đầu nâng cấp thế hệ xe tăng M60. Mô hình xe tăng M60 đời đầu với tháp pháo hình tròn, đã được nâng cấp nhiều bộ phận cần thiết và được đặt tên Magach-7. Việc nâng cấp gồm: lắp các tấm vỏ thép dầy vào tháp và khoang phía trước, hai bên thành xe cũng được bọc thép, hệ thống kiểm soát bắn mới nhất và một ống nhiệt cho pháo 105 mm.

Xe tăng chiến đấu chủ lực Sabra được nâng cấp và hiện đại hóa từ loại M60A3 do Mỹ sản xuất, ban đầu được ngành công nghiệp quốc phòng I-xra-en phát triển theo đơn đặt hàng của Thổ Nhĩ Kỳ. Với hệ thống vũ khí tiên tiến, tăng Sabra có khả năng tiêu diệt các loại xe tăng hiện đại khác. Trang bị chính của Sabra là pháo 120mm mới có thể thay thế bởi các chi tiết vũ khí và hậu cần của NATO. Tương tự như vũ khí lắp trên xe tăng Merkava III, nó được lắp thêm thiết bị ảnh nhiệt và hệ thống điều khiển bắn có khả năng bắn chính xác trong khi xe đang hành tiến. Pháo 120mm được điều chỉnh phù hợp với các kích cỡ tháp pháo nhỏ hơn. Tháp pháo nâng cấp và có hệ thống bảo vệ nhằm tăng cường khả năng chịu đựng trước sự phá huỷ của các loại đạn hoả tiễn đối phương.


Xe tăng Sabra có kíp lái gồm 4 người; trọng lượng chiến đấu 55 tấn; chiều dài xe (kể cả nòng súng hướng về phía trước) 9,4mét, chiều rộng khi chưa lắp vỏ giáp 3,63mét, chiều cao 3,05mét; trang bị vũ khí chính gồm pháo giảm giật 120mm, đạn dự trữ 42 quả, súng máy đồng trục 7,62mm hoặc 5,56mm, 2 khẩu súng máy gắn bên ngoài 7,62mm hoặc 5,56mm, súng cối 60mm. Khí tài ngắm bắn gồm: kính tiềm vọng nhìn được cả ban ngày và ban đêm, được gắn trên 2 trục; kính chỉ huy; thiết bị đo xa la-de YAG; động cơ đi-ê-den Teledyne Continental AVDS 1790-5A; tốc độ tối đa 48 km/giờ, cự ly cơ động liên tục trên địa hình phức tạp đạt 450km.



Nguồn : http://ttvnol.com/gdqp/393975
Logged

Miền Đông gian lao mà anh dũng
Hà Lan Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 21


USSR


« Trả lời #588 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 11:16:50 pm »

Zulfiqar (Iran)

Zulfikar (tiếng Ba Tư: ذوالفقار) là dòng xe tăng chiến đấu chủ lực thế hệ thứ hai của Iran, Chuẩn tướng Mir-Younes Masoumzadeh, Phó chỉ huy lực lượng mặt đất đã cho tiến hành nghiên cứu và sản xuất loại tăng này để tăng cường sức mạnh cho lực lượng Lục quân Iran. Cái tên Zulfiqar được đặt theo tên một thanh gươm truyền thuyết của người Iran. Hiện tại, dòng xe tăng này được phát triển thành ba biến thể: Zulfiqar 1, Zulfiqar 2 và Zulfiqar 3. Các phiên bản thử nghiệm của xe được hoàn thành vào năm 1993. Sáu phiên bản đầu tiên được sản xuất và thử nghiệm vào năm 1997.[2]

Thông số kỹ thuật

Loại : Xe tăng chiến đấu chủ lực
Quốc gia chế tạo : Iran
Năm thiết kế : 1993
Giai đoạn sản xuất : 1996–nay
Số lượng chế tạo : 100 Zulfiqar 1 năm 2001
Các biến thể : Zulfiqar 2, Zulfiqar 3
Trọng lượng : 36–41 tấn
Chiều dài : 7 m (23 ft 0 in)
Chiều rộng : 3,6 m (11 ft 10 in)
Chiều cao : 2,5 m (8 ft 2 in)
Kíp chiến đấu : 3–4
Bọc giáp : giáp composite
Vũ khí chính : Súng tăng nòng trơn 125 mm
Vũ khí phụ : Súng máy 12,7 mm và 7,62 mm
Động cơ Diesel 12 xy lanh 780 mã lực (630 kW)
Công suất/trọng lượng : 21,7 mã lực/ton
Hệ thống treo : torsion-bar
Tầm hoạt động ; 450 km (280 mi)
Tốc độ : 70 km/h (43 mph)

Tính cơ động

Zulfiqar có tính cơ động cao với động cơ V-12 Diesel có công suất lên đến 1000 mã lực và sử dụng hệ thống sang số tự động trong xe SPAT 1200. Mặc dù Zulfiqar không kín nước, nó có thể gắn ống thở dùng cho việc lội nước qua nơi sâu, việc chuẩn bị lội nước mất khoảng 20 phút. Nếu xe tăng chết máy giữa lòng sông, nó sẽ chìm do giảm áp suất hoặc cần 6 giây để tái khởi động. Zulfiqar có trọng lượng nhỏ hơn so với các xe tăng Phương Tây. Zulfiqar 3 nặng nhất nhưng chỉ khoảng 41 tấn, trong khi đó M1 Abrams bản nhẹ nhất đã là 61 tấn. Hệ thống giảm xóc cho xe được chế tạo theo thiết kế của xe tăng M-60. Tốc độ của xe đạt khoảng 60-70 km/giờ. Tầm hoạt động 500km.

Giáp trụ và hệ thống bảo vệ

Giáp trụ của Zulfiqar thay đổi tùy theo phiên bản. Nhưng nhìn chung, Zulfiqar có hệ thống giáp bảo vệ tốt. Mẫu Zulfiqar 1 dùng giáp thép đúc. Các mẫu Zulfiqar 2 và Zulfiqar 3 dùng giáp composite và trang bị thêm váy bảo vệ hông. Mẫu Zulfiqar 3 còn được trang bị thêm giáp phản ứng. Toàn bộ xe và tháp pháo được bọc giáp, tuy nhiên không rõ lớp giáp này dày bao nhiêu. Zulfiqar được trang bị thiết bị xác định tầm bắn bằng laser, hệ thống phát hiện phóng xạ PAZ, hệ thống chống phóng xạ, hệ thống bảo vệ NBC (bảo vệ xe tăng trước sự công phá của các loại vũ khí vũ khí hạt nhân, sinh học, hoá học). Zulfiqar có thiết bị sinh khói giống như mẫu T-72 của Liên Xô, các ống phóng lựu đạn khói được lắp ở hai bên sườn tháp pháo. Nhìn chung giáp trụ của Zulfiqar hoàn toàn có thể chịu được các loại đạn pháo nòng 120 ly thường thấy trên các xe tăng hiện đại phương Tây hoặc các loại đạn pháo bắn từ trên xuống nhằm vào phần nóc xe.

Hệ thống hỏa lực

Zulfiqar được trang bị vũ khí, đạn và hệ thống điều khiển hoả lực tương tự như T-72. Vũ khí chính của nó là pháo nòng trơn 125 ly. Hệ thống nạp đạn tự động gắn ở sau tháp pháo. Riêng phiên bản Zulfiqar 2 không được trang bị hệ thống nạp đạn tự động. Đạn phá giáp BK-27 HEAT gần đây có thêm mũi 3 cạnh tăng khả năng xuyên giáp quy ước và giáp ERA. Đạn BK-29 với đầu đạn cứng dùng để đối phó với giáp cảm ứng, đạn MP thì có thể vỡ mảnh dùng để sát thương bộ binh. Nếu đạn BK-29 HEAT-MP được sử dụng thì nó có thể thay thế hoặc bổ sung cho loại đạn Frag-HE (hiện đang được NATO dùng). Tầm bắn tối đa của pháo là 9,1 km, của tên lửa là 4 km. Chiếc xe tăng cũng được lắp những thiết bị đặt mìn chính xác. Zulfiqar dùng thiết bị nạp giống loại nạp đạn tự động T-72 . Tốc độ nạp là 6,5-15 giây/viên, tùy vị trí ổ quay nhưng độ tin cậy thấp, dễ có trục trặc nếu bảo dưỡng kém. Thiết bị tự nạp sẽ đẩy nòng súng lên cao 3 độ nhằm ấn đuôi nòng xuống để nạp đạn, nhưng không ảnh hưởng đến tầm ngắm độc lập của pháo thủ. Nói chung việc nạp đạn cũng không gây nhiều phiền hà, và vỏ đạn cũng dễ cầm hơn. Xe được lắp đặt thiết bị điểu khiển hỏa lực Fontana EFCS-3 do Slovenia sản xuất, chức năng của hệ thống này là : nhìn đêm và làm thiết bị dẫn bắn tên lửa chống tăng qua nòng. Trang bị vũ khí thứ hai gồm một đại liên 12,7 ly để đối phó với các mục tiêu trên không và trên bộ.[5]

Các phiên bản

Có ba biến thể khác nhau của Zulfiqar.



+ Zulfiqar 1 : là mẫu thiết kế đầu tiên trong dòng xe tăng Zulfiqar của Iran. Chiếc xe tăng này sử dụng nhiều bộ phận từ MBT M-60 của Mĩ và T–72 của Liên Xô, được sản xuất tại Iran. Trọng lượng của Zulfiqar 1 khoảng 40 tấn, được điều khiển bởi một kíp lái gồm ba thành viên: trưởng xe, pháo thủ và lái xe. Toàn bộ xe và tháp pháo được bọc giáp, tuy nhiên không rõ lớp giáp này dày bao nhiêu. Hỏa lực của xe gồm một pháo nòng trơn 125mm và thiết bị nạp đạn tự động (tương tự với pháo của xe tăng T-72). Ngoài ra, còn có súng máy phòng không 12,7mm trên nóc tháp pháo. Hệ thống điều khiển hỏa lực có nguồn gốc từ Slovenia. Còn hệ thống giảm xóc cho xe lại được chế theo thiết kế của xe tăng M-60. Zulfiqar 1 trang bị một động cơ diesel V12 (chưa rõ loại) 1.000 mã lực. Tốc độ của xe đạt khoảng 60-70 km/giờ. Tầm hoạt động 500km.



+ Zulfiqar 2 : là bước phát triển tiếp theo và không có quá nhiều sự thay đổi so với Zulfiqar 1. Dù vậy, Zulfiqar 2 vẫn có những điểm cải tiến. Hỏa lực của xe là pháo nòng trơn 125mm nhưng bỏ thiết bị nạp đạn tự động hoặc thay thế. Phần tháp pháo được làm mới, dài hơn và lớn hơn. Khung gầm xe được mở rộng và thay thế động cơ mới. Trên thực tế, Zulfiqar 2 là “bước đệm” cho sự ra đời của biến thể Zulfiqar 3 (Zulfiqar 2 không được sản xuất).


MBT Zulfiqar 3 mang hình dáng tương tự M - 1 Abram

+ Zulfiqar 3 : là thiết kế hoàn toàn dựa trên dòng Zulfiqar, tuy nhiên nó vẫn có hình dáng giống xe tăng chiến đấu hiện đại của quân đội Mĩ M–1 Abram. Giáp bảo vệ của Zulfiqar 3 được cải tiến tốt hơn so với Zulfiqar 1, phần giáp trước thân xe được gia cố lớp giáp tổng hợp. Vũ khí chính của Zulfiqar 3 là pháo nòng trơn 125mm, nhưng phía Iran chưa công bố có hay không thiết bị nạp đạn tự động. Hệ thống điều khiển hỏa lực cũng được nâng cấp. Động cơ tương tự với loại này được lắp trên Zulfiqar 2.

Sản xuất

Vào tháng 4 năm 1997, Quyền Tư lệnh các lực lượng mặt đất của Quân đội Iran, Trung tướng Mohammad Reza Ashtiani thông báo rằng việc sản xuất hàng loạt xe tăng Zulfikar bắt đầu vào năm 1996 đang được tiến hành thuận lợi. Vào cuối tháng 7 năm 1997, Tổng thống Iran Hashemi Rafsanjani chính thức khánh thành dây chuyền sản xuất xe tăng chiến đấu chủ lực Zulfikar và xe chiến đấu bộ binh Boragh.






Logged

Miền Đông gian lao mà anh dũng
halosun
Thành viên
*
Bài viết: 25


« Trả lời #589 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 10:18:48 am »

@hieuasm: bài viết của bạn về 2 loại xe tăng này khá hay, nhưng mình muốn đóng góp ý kiến ở vài điểm thế này:
-Giáp của M1A2 là giáp hỗn hợp gồm nhiều lớp thép, gốm, composite, kevlar cùng nhiều loại vật liệu tổng hợp khác, mãi đến khoảng năm 1990, M1A2 mới có thêm 1 lớp giáp thép và uranium nghèo được lắp vào phía trước tháp pháo và phía trước xát xi.
0Không biết bạn nói về trường hợp toàn bộ tổ lái của M1A2 bị tiêu diệt do trúng đạn là vụ nào. Bởi theo mình biết chưa từng có việc như vậy, vụ việc nghiêm trọng nhất là tháng 9 năm 2003. Một chiếc M1A2 bị loại khỏi vòng chiến đấu do vụ nổ gây ra bởi một khói thuốc nổ lớn đặt ven đường, tuy giáp xe không bị hư hại nặng nhưng xe bị lật ngược xuống hố sâu bên đường làm 2 thành viên tổ lái bị chết tại chỗ, 1 bị thương rất nặng, 1 bị xây xát. Chiếc xe này sau đó đưôc sửa lại và tiếp tục tham gia chiến đấu.
-Lô M1A2 sản xuất lần đầu năm 1992 đã được trang bị pháo nòng trơn M256 125mm, pháo M68 105mm chỉ được trang bị cho M1A1.
-Nếu chỉ xét về những đặc điểm kỹ thuật đơn thuần, bản thân chiếc M1A2 khó là chiếc xe tăng tốt nhất thế giới. Ví dụ như hệ thống điều khiển hoả lực và tác chiến điện tử của M1A2 kém hơn so với K2 của Hàn Quốc, giáp của M1A2 vẫn kém Challenger 2 và T-90. Nhưng còn phải xét đến 1 yếu tố khác, đó là khả năng triển khai của loại xe tăng này. Với tiềm lực của người Mỹ, việc sản xuất với số lượng khổng lồ là có thể. Thiết kế của M1A2 cũng khá đặc biệt, giống như các loại xe tăng trước của Mỹ, chiếc xe tăng này được thiết kế để tận dụng tiềm năng công nghiệp dân dụng nội địa (điều này giải thích việc M1A2 gần như không nhập các loại linh kiện phụ tùng của nước ngoài, dù việc này có thể làm giảm chi phí sản xuất). Trong trường hợp xảy ra chiến tranh, người Mỹ có thể điều động nền công nghiệp của họ sang sản xuất xe tăng. M1A2 cũng được thiết kế theo dạng module, các phần bị hỏng có thể thay thế riêng biệt mà không cần tốn quá nhiều thời gian. Hệ thống tự kiểm tra của xe có khả năng phát hiện các vấn đề để kịp thời thay thế và sửa chữa.
bác heavenshield này, sao em được biết là phần quan trọng nhất của xe tăng M1a2 là nòng pháo thì phải nhập khẩu từ đức mà? Mỹ tự sản xuất được tất cả các phần thì sao lại phải nhập khẩu phần quan trọng này nhỉ? giả sử trong chiến tranh Mỹ sản xuất được rất nhiều xe tăng nhưng việc nhập khẩu pháo tăng không thực hiện được thì ... rất buồn cười đấy ạ.
Bác viết là "Thiết kế của M1A2 cũng khá đặc biệt, giống như các loại xe tăng trước của Mỹ, chiếc xe tăng này được thiết kế để tận dụng tiềm năng công nghiệp dân dụng nội địa": bác có thể nói rõ hơn về câu nói này được không?
Bên cạnh đó thì hình như các xe tăng Mĩ không có hệ thống phòng vệ chủ động như Nga, Ixrael thì phải
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM